1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf

45 629 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Thương Mại Giữa Mỹ Và Khu Vực Châu Á - Thái Bình Dương
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 571,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong một thế giới tuỳ thuộc lẫn nhau

về kinh tế và chính trị, mà ở đó tri thức, thông tin, vốn nguyên liệu thô và các

sản phẩm chế tạo được lưu thông tự do qua các biên giới và đại dương Trong

thập kỷ vừa qua xu hướng chính trong nền kinh tế Mỹ là phát triển quan hệ kinh

tế đối ngoaị vượt trội hơn so với tăng trưởng kinh tế Quan điểm toàn cầu về tự

do hoá thương mại quốc tế và tự do hoá khu vực đã dần được lên vị trí số một

trong chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ Thêm vào đó, các hiệp định thương

mại khu vực được phổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nhân tố quan trọng

trong quan hệ kinh tế quốc tế Kinh tế Mỹ tăng trưởng liên tục trong nhiều tháng

qua là kết quả của việc đi đầu thế giới trong chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế

song những ngành hiện đại, đưa vào tri thức đồng thời thúc đẩy mạnh cạnh tranh

và mậu dịch tự do trên toàn thế giới Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới với

GDP khoảng 10000 tỉ USD, chiếm 1/3 GDP toàn cầu, 2/3 GDP khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương nên mỗi biến động trong chính sách kinh tế đối ngoại của

Mỹ đều có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới và khu vực Nghiên cứu

chính sách thương mại của Mỹ ta thấy rõ được những khó khăn và thuận lợi

trước mắt mà Việt Nam và các nước trong khu vực gặp phải Qua đó, ta sẽ có

những chiến lược phát triển mới phù hợp với tình hình và xu hướng chung của

thế giới Bài viết được chia làm 3 chương

Chương I: Những điều kiện kinh tế xã hội hình thành nên chính sách

kinh tế đối ngoại của Mỹ

Chương II: Chính sách thương mại của Mỹ

Chương III: Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái

bình dương

Do trình độ hiểu biết có hạn nên trong bài viết không thể tránh khỏi thiếu

sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI HÌNH THÀNH NÊN CHÍNH

SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ

I CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ

1 Điều kiện địa lý và dân số

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nằm ở khu vực Bắc Châu Mỹ, bao gồm 50 bang

(kể cả vùng Alaxca cực Bắc Châu Mỹ và đảo Haoai ở giữa Thái Bình Dương)

với tổng diện tích 9.437.680 km2 trong đó 59% là đất đai để canh tác

Mỹ là nước giàu tài nguyên khoáng sản, có trữ lượng rất lớn về dầu mỏ,

than đá, lưu huỳnh, phốt pho Theo thống kê, Mỹ sản xuất 30% nguồn năng

lượng của thế giới: 17% sản lượng khai khoáng, 5% số lượng bạc, 6% số lượng

thủy ngân, 4% số lượng vàng, 55% số lượng bôxit và 45% số lượng *** của

toàn thế giới

Dân số nước Mỹ khoảng 269,2 triệu người (năm 1997) trong đó 200 triệu

là người da trắng, 31 triệu người da đen, 17 triệu người gốc Tây Ban Nha, ngoài

ra còn có 8 triệu là người gốc Châu á, dân bản địa là người Anh điêng (1,5 triệu)

và người Eskimô Đa số dân Mỹ là người nhập cư, chủ yếu là từ Châu Âu và hội

tụ cả ba đặc tính mà không một nước nào khác trên thế giới có được: Là một

nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ văn hoá khoa học, tay nghề cao, với nhiều

quan niệm khác nhau, và là một thị trường tiêu thụ với mức cầu rất lớn

Văn hoá Mỹ là một nền văn hoá Anglôxac xong, mang đậm dấu ấn văn

hoá Tây Âu, nhất là văn hoá Anh Tuy nhiên cần thấy rằng văn hoá Mỹ là kết

quả của quá trình giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hoá lớn của nhân loại:

Văn hoá phương tây văn hoá của người da đen, văn hoá Châu á, văn hoá của

người Anh - điêng bản địa Những di sản, giá trị văn hoá của quý báu đó góp

phần quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế – xã hội và chính trị của nước Mỹ

ngày nay

Trang 3

2 Điều kiện lịch sử

Lịch sử của nước Mỹ tương đối ngắn, mới chỉ bao gồm 200 năm hình

thành và phát triển nhưng đã sớm trở thành cường quốc số một trên thế giới

Chắc chắn yếu tố đầu tiên là sức mạnh tuyệt đối về kinh tế Người ta không cần

phải là một người Macxit mới có thể nhận ra rằng mảnh đất thừa thãi của cải vật

chất, nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ, nền sản xuất công nghiệp đồ sộ,

nhưng mạng lưới đường sắt và đường bộ rộng lớn, những bến cảng bận rộn,

những nhà triệu phú của nước Mỹ đều hoàn toàn mang ý nghĩa chính trị và chiến

lược Đến đâu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, sản lượng quốc dân của Hoa

Kỳ đã bằng sản lượng quốc dân của tất cả các đại cường quốc khác gộp lại

Từ ngày dựng nước đến nay, lịch sử nước Mỹ có thể chia làm bốn giai

đoạn phát triển trong hệ thống quan hệ quốc tế

a Giai đoạn thứ nhất:

Từ khi dựng nước năm 1776 đến năm 1815: Trong giai đoạn này, lợi ích

chủ yếu của Mỹ là bảo vệ nền độc lập toàn vẹn lãnh thổ của mình và buôn bán

với Bắc Đại Tây Dương và khu vực Địa Trung Hải Vì vậy lúc ấy Mỹ phải theo

đuổi chính sách không phải là cô lập mà là trung lập Với mục tiêu ấy, Mỹ phát

triển dân quân hùng mạnh, chống lại sự xâm lược của người Châu Âu và xây

dựng hải quân với quy mô nhỏ, nhưng có sức mạnh để bảo vệ thuyền buôn của

Mỹ chống lại sự tập kích của quân Anh, Pháp và bọn hải tặc ở Bắc Phi

b Giai đoạn thứ hai, từ năm 1815 – 1989:

Năm 1815 hệ thống quốc tế bước vào giai đoạn “hoà bình dưới sự thống

trị của nước Anh” Lúc ấy, Mỹ đang được hạm đội Anh và ngoại giao Anh che

chở Trạng thái cô lập đã trở thành điều kiện sinh tồn của Mỹ Tiến hành bành

trướng và phát triển kinh tế trên đại lục Bắc Mỹ trở thành mục tiêu ưu tiên xem

xét của nước Mỹ Năm 1823 “Chủ nghĩa Mônrơe” xuất hiện đánh dấu một mốc

quan trọng Lúc ấy tổng thống Monroe tuyên bố: “Châu Mỹ là người Mỹ, bất cứ

Châu Âu nào cũng không được xí phần công việc Châu Mỹ” Trong giai đoạn

này, Mỹ đã tiến hành 2 cuộc chiến tranh ở Bắc Mỹ Lần thứ nhất là chiến tranh

Trang 4

Mỹ – Mêhicô những năm 1846 – 1848, gây chiến để bành trướng liên bang; Sau

đấy là chiến tranh Nam – Bắc những năm 1861 – 1865 để bảo vệ liên bang

c Giai đoạn thứ ba, từ năm 1898 – 1945

“Hòa bình dưới sự thống trị của nước Anh” cáo chung khi thế kỷ XIX

chấm dứt với sự đồng khởi tranh giành trung tâm quyền lực giữa Pháp, Nhật,

Nga và Mỹ

Năm 1898 Mỹ thắng Tây Ban Nha và trở thành nước thực dân lớn thứ hai,

có vai trò quan trọng trên sân khấu thế giới

Trong giai đoạn này chiến lược của Mỹ đã thay đổi: bành trướng từ đại

lục của Châu Mỹ chuyển ra nước ngoài Mỹ đã tiến hành ba cuộc chiến tranh

nhằm cân bằng lực lượng Châu Âu và Châu á, phát động chiến tranh với Tây

Ban Nha, tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) và

chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)

d Giai đoạn thứ tư, từ năm 1945 – 1991

Sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ trở thành cường quốc đứng đầu phe tư

bản chủ nghĩa Thể chế quan hệ quốc tế lấy “chiến tranh lạnh” làm nội dung

chính bắt đầu hình thành Mục tiêu của Mỹ lúc này là đối đầu, ngăn chặn Liên

Xô và các nước XHCN Năm 1991 Liên Xô giải thể, tình hình thế giới chuyển

sang thời kỳ mới

Bốn giai đoạn trên cho thấy, giai đoạn 1 và 2 là thời kỳ Mỹ bành trướng

trên đại lục; giai đoạn ba và giai đoạn bốn là thời kỳ Mỹ bành trướng ra nước

ngoài trong khoảng gần 100 năm

II TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ LỰC LƯỢNG CỦA MỸ HIỆN NAY

Khi định ra chiến lược đối ngoại của nhà nước, về cơ bản Mỹ dựa vào lý

luận địa – chính trị của Phương Tây, tức là bảo đảm sự cân bằng của đại lục Âu

- á, không để xuất hiện siêu cường đối chọi với Mỹ Mỹ ra sức phát huy lực

lượng của mình trong quan hệ quốc tế Hơn 200 năm từ ngày lập nước đến nay,

Mỹ phát triển nhanh chóng và thịnh vượng

Phát triển kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng nhất thể hiện sức

mạnh và vai trò của Mỹ trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ có

Trang 5

sức mạnh kinh tế không nước nào sánh kịp Sáu nước công nghiệp hàng đầu thế

giới (kể cả Mỹ được gọi là G7) có giá trị GDP chỉ đạt 75% GDP của Mỹ

Năm 1999, GDP của Mỹ đứng đầu thế giới, của Anh là 5493 tỷ USD

(bằng 59,3% của Mỹ) Nhật Bản: 4.349 tỉ USD (gần bằng 47%) Đức 2.105 tỷ

USD (22,7%) Pháp 1425 tỉ USD (13,4%) Italy 1163 tỷ USD (12,6%) Canada

643 tỉ USD (6,9%) Như vậy, nếu có mức tăng trưởng kinh tế như thời gian qua,

phải mất nhiều thập kỷ nữa các nước có GDP cao bậc nhất thế giới (Trung Quốc

có GDP theo sức mua đạt 44,9% của Mỹ, 4.175 tỷ USD) mới có thể có được sức

mạnh kinh tế của Mỹ hiện nay

Trong những năm 1982 – 1991, tốc độ tăng trưởng trung bình của nền

kinh tế (GDP thực) của các nước G7 là 3,0%, của Mỹ là 2,9% Trong 10 năm

tiếp theo, chỉ số tương ứng là 2,6% và 3,6% Điều này cho thấy GDP tuyệt đối

của các nước công nghiệp phát triển nhất không tăng mạnh như của Mỹ, và Mỹ

có khả năng mở rộng khoảng cách phát triển so với các nước này, và rõ ràng khó

có sự thách thức tổng thể nào đối với sự chi phối thế giới về kinh tế của Mỹ

Tình hình tăng trưởng xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài của Mỹ cũng

khả quan hơn nhiều nước công nghiệp phát triển khác Năm 1999, kim ngạch

xuất nhập khẩu hàng hoá của Mỹ đạt 1.715,5 tỷ USD, trong khi đó của Nhật Bản

là 684,1 tỷ USD Trong cùng năm đó Mỹ huy động vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài là 282,5 tỉ USD, Nhật chỉ thu hút được 12,31 tỉ USD Đồng thời Mỹ đầu

tư ra nước ngoài 152,16 tỉ USD và Nhật có lượng FDI ra nước ngoài là 22,27 tỉ

USD

1 Về khoa học – công nghệ

Năm 1996, Mỹ có 4,63 triệu nhà khoa học Mỹ giữ vị trí then chốt trong

nhiều lĩnh vực của thế giới như: tin học, hoá học, dược phẩm, nông nghiệp, vũ

trụ, dầu lửa, phim ảnh, mỹ phẩm Những năm gần đây Hoa Kỳ đã đầu tư cho

khu vực tri thức mới, truyền bá tri thức khoảng 20% GDP Trong đó đầu tư cho

giáo dục là 10%, bồi dưỡng nâng cao 5%, nghiên cứu và phát triển (R & D) 5%

Hiện nay khoảng 60% công nhân của Hoa Kỳ là công nhân tri thức và có 80%

ngành nghề mới được tạo ra từ tri thức Tỷ trọng những ngành công nghệ cao

Trang 6

trong tổng giá trị của công nghệ chế biến và giá trị xuất khẩu các sản phẩm

thuộc các ngành công nghệ cao đang tăng nhanh

2 Về quân sự

Từ năm 1945 đến nay, Mỹ đã sản xuất khoảng 60.000 vũ khí nguyên tử,

nhưng theo con số của Lầu Năm góc thì chỉ có 18000 được triển khai và sử dụng

như một lực lượng răn đe chiến lược

Về vũ khí thông thường, Mỹ luôn duy trì sự có mặt của lực lượng quân sự

tuyến trước, cho phép Mỹ có thể nhanh chóng triển khai ở những nơi cần thiết

Ở Châu Âu Mỹ đang duy trì khoảng 100.000 quân và 700 đầu đạn hạt nhân ở

Châu á, tính đến năm 1993, Mỹ chỉ mới cắt giảm 15.000 quân trong số hơn

100.000 đang có mặt tại Nhật Bản, Nam Triều Tiên và trước đó là Philipin

3 Về chính trị – xã hội

Với chế độ chính trị tư sản hiện hành do hai đảng Cộng hoà và Dân chủ

thay nhau cầm quyền Mỹ chú trọng các cơ quan và tổ chức để vạch ra chiến

lược, chính sách đối ngoại

Đầu năm 1995 Bill Clintơn công bố “Chiến lược anh minh, quốc gia cam

kết và mở rộng” nhằm mục tiêu: Ra sức củng cố và phát huy sức mạnh mọi mặt

của Mỹ trong nước cũng như trên thế giới, bảo vệ an ninh và các lợi ích chiến

lược của Mỹ trên thế giới; tập trung sức mạnh chấn hưng nền kinh tế Mỹ, xây

dựng trật tự thế giới mới, bảo đảm “sự lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới” và

“Mỹ có vai trò lãnh đạo toàn cầu” mở rộng và phổ biến giá trị của Mỹ ra thế giới

và ngăn chặn không để xuất hiện đối thủ cạnh tranh với Mỹ

Tất nhiên việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế của một nước phụ

thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chính sách được hoạch định cho từng giai

đoạn Và chính sách tham gia rộng rãi vào các quan hệ quốc tế của Mỹ dường

như mang lại hiệu quả cao hơn cho sự phát triển nền kinh tế trong những năm

90

Kết quả quan trọng của chính sách phục hưng nước Mỹ và thúc đẩy phát

triển kinh tế là nước Mỹ đã thu hút được một lực lượng lao động trong nước

ngày một nhiều hơn, năm 1990 cả nước Mỹ có 118,8 triệu lao động, năm 1997

Trang 7

là 129,6 triệu (tăng gần 11 triệu người) Có thể nói tăng việc làm giảm thất

nghiệp trong những năm 90 là một thành công lớn của nước Mỹ, giúp cho Mỹ

có điều kiện mở rộng quy mô kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội

Thu nhập trên đầu người hàng năm của người dân Mỹ đạt rất cao, nếu tính

theo chỉ số sức mua của GDP hiện nay Mỹ đứng đầu thế giới (33,872 nghìn

USD)

Điều tiết lạm phát cũng là một thành công trong phát triển kinh tế Mỹ,

trong nhiều năm gần đây, chỉ số lạm phát hàng năm luôn ở mức dưới 2%, bảo

đảm cho nền kinh tế Mỹ phát triển khá ổn định

Một trong những nguyên nhân quan trọng khác khiến cho nền kinh tế Mỹ

phát triển nhanh chóng và ổn định trong những năm 90 và có thể cả trong những

thập niên đầu thế kỷ 21 là Mỹ đã đi đầu thế giới trong việc chuyển mạnh cơ cấu

kinh tế sang những ngành hiện đại, dựa vào tri thức, ở Mỹ gọi là nền kinh tế

mới Thực ra, Mỹ đã chuyển hướng cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghiên cứu khoa học

(thông qua chi phí vốn cho R & D) nhiều năm trước đây hướng vào các ngành

điện tử, tin học sau này này được gọi phổ biến là các ngành công nghệ thông tin

và các ngành liên quan Mỹ phát triển mạnh ngành giáo dục - đào tạo với chi phí

khoảng 9 – 10% GDP, và vào nghiên cứu triển khai khoảng 2,8% GDP (khoảng

1000 tỉ USD cho hai lĩnh vực này hàng năm), đồng thời Mỹ cũng đã đẩy mạnh

ứng dụng và thương mại hoá kết quả nghiên cứu khoa học, kể cả việc bán các

sản phẩm công nghệ cao Mỹ cũng chủ trương quốc tế hoá đời sống kinh tế,

thương mại điện tử toàn cầu nhằm mở cửa mọi biên giới kinh tế quốc gia cho

hàng hoá dịch vụ quốc tế lưu thông tự do

Những thành quả mà Mỹ đã có được là do “nền kinh tế mới” đem lại Vậy

những “cái mới” của nền kinh tế quốc dân Mỹ hiện nay nằm ở đâu?

Thứ nhất, về phương diện quản lý: hoạt động kinh doanh theo phương

thức “hợp tác bình đẳng” ngày càng phổ biến, nguồn gốc trí tuệ được coi trọng

chưa từng thấy Mỹ đã giải quyết triệt để sự bất bình đẳng giữa người với người,

giữa quản đốc và công nhân trong mô hình sản xuất cơ bản của nền kinh tế

công nghiệp truyền thống: phân công lao động rõ ràng, sản xuất hàng loạt

Trang 8

Thứ hai, về mặt tổ chức doanh nghiệp: cơ cấu tổ chức hình “kim tự tháp”

nay đã được mạng hoá, làm giảm một khoản chi phí khá lớn về tổ chức Thông

tin qua mạng làm cho hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng trở nên rõ

ràng, minh bạch Giờ đây thời gian làm việc được rút ngắn nhưng hiệu quả hơn,

không gian được thu hẹp, trách nhiệm công việc được phân công rõ ràng hơn, cơ

cấu tổ chức được thắt chặt lại

Thứ ba, về mặt hợp lý giữa doanh nghiệp và chính phủ:

Mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và chính phủ là “sợi dây liên kết”

mới được hình thành, ở đó nguồn nhân lực rất được coi trọng Họ đặt nguồn

nhân lực và kinh phí cho nghiên cứu sáng tạo khoa học kỹ thuật lên hàng đầu

Lợi ích của dân tộc chỉ được bảo đảm khi lợi thế so sánh của các công ty Mỹ

trong nền kinh tế thế giới được nâng cao Trong nền kinh tế mạng, quốc tịch gốc

đã thiếu mất cơ sở hiện thực suy cho cùng “bản vị tin tức” và “bản vị trí tuệ” đã

thay thế cho “bản vị tiền” và “quyền lực”

Thứ tư, trong quan hệ hợp tác quốc tế: Ra sức tận dụng ưu thế của mạng

tin tức và tìm kiếm lợi ích “ngoài khu vực”

Mỹ từ lâu đã rất giỏi trong việc tận dụng nguồn tài nguyên toàn cầu Từ

việc cung cấp vũ khí cho các cuộc chiến tranh đến hệ thống đô la Mỹ, hiệp định

mậu dịch thuế quan, tổ chức tài chính tiền tệ thế giới, ngân hàng thế giới

Trong thời kỳ dịch vụ mạng đang hết sức phát triển này, người Mỹ lại một lần

nữa biết lợi dụng ưu thế của mình để làm lợi cho chính mình

Tuy nhiên, sau gần 10 năm tăng trưởng cao, nền kinh tế Mỹ bắt đầu giảm

sút vào giữa năm 2000 vừa qua Số liệu tăng trưởng GDP của Mỹ năm 200 và

đầu năm 2001 như sau: (Bảng 1)

Năm 2000 Năm 2001 dự báo

Trang 9

Qua số liệu trên ta thấy sự giảm sút của nền kinh tế Mỹ là đáng kinh ngạc

Điều đó làm cho toàn thế giới đáng lo ngại Hội nghị Bộ trưởng tài chính các

nước G7, diễn đàn Kinh tế Davos vừa qua đã nhấn mạnh sự lo ngại này Nhiều

nước, nhiều nhà kinh tế thế giới đã nói đến sự tác động tiêu cực của kinh tế Mỹ

đối với kinh tế thế giới, Châu Âu, Châu á Giữa năm 2000 đã có những dấu

hiệu chững lại của nền kinh tế Mỹ người ta bắt đầu nói tới sự suy thoái của nó

Đầu năm 2001 ông A.Greenspan lại phát biểu kinh tế Mỹ đang phát triển với tốc

độ số không khiến cho những lo ngại của thế giới tăng thêm Đặc biệt sau cuộc

tấn công vào hai trung tâm kinh tế và quân sự của Mỹ hôm 11/9, nền kinh tế Mỹ

lại bước vào thời kỳ suy thoái mới Chỉ số chứng khoán ở các thị trường chứng

khoán liên tục giảm mạnh cộng thêm sự giảm giá của đồng USD Các nhà kinh

tế cho rằng, thời gian tới kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng âm, một thị trường kém ổn

định như vậy sẽ hạn chế các luồng vốn đầu tư lớn chảy vào nước Mỹ Thêm vào

đó , chính phủ Mỹ phải tiêu tốn một lượng lớn ngân sách cho cuộc tấn công trả

đũa Apganixtan hôm 8/10 vừa qua Cho dù FED liên tục cắt giảm lãi suất cho

vay xuống chỉ còn 2,5% thì nền kinh tế Mỹ vẫn không thể tránh khỏi suy thoái

trong thời gian tới

Trang 10

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA MỸ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chính sách kinh tế đối ngoại là hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện

pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để thực hiện, điều chỉnh các hoạt động

kinh tế đối ngoại của một quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu của chiến lược

phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó

Chính sách thương mại là một bộ phận cấu thành chính sách kinh tế đối

ngoại nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia

Chính sách thương mại quốc tế bao gồm một hệ thống các chính sách,

công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt

động thương mại quốc tế của một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định nhằm

đạt được những mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của

quốc gia đó

Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế:

- Một là, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị

trường ra nước ngoài nhằm tăng quy mô xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh

trên thị trường thế giới

- Hai là, bảo vệ thị trường trong nước trước sự xâm nhập ngày càng mạnh

mẽ của các hàng hoá và dịch vụ nước ngoài Các hình thức của chính sách

thương mại quốc tế của một quốc gia: Trong thực tế, chính sách thương mại

quốc tế khác nhau giữa các quốc gia và thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, chúng

được biểu hiện dưới các hình thức cụ thể khác nhau nhưng có hai dạng điển hình

là chính sách mậu dịch tự do và chính sách bảo hộ mậu dịch

Chính sách mậu dịch tự do là chính sách thương mại quốc tế trong đó

Chính phủ nước chủ nhà không phân biệt hàng hoá nước ngoài với hàng hoá nội

địa trên thị trường nước mình, do đó không thực hiện các biện pháp cản trở hàng

hoá nước ngoài xâm nhập vào thị trường nước mình

Trang 11

Chính sách bảo hộ mậu dịch là chính sách thương mại quốc tế trong đó

Chính phủ của một quốc gia Áp dụng các biện pháp để cản trở và điều chỉnh

dòng vận động của hàng hoá nước ngoài xâm nhập vào thị trường nước mình

Trong thực tế, chính sách mậu dịch tự do chủ yếu được áp dụng giữa các

quốc gia trong một liên kết kinh tế khu vực còn giữa các quốc gia không thuộc

một liên kết kinh tế khu vực thì mức độ tự do thường bị hạn chế Một số nước

phát triển có xu hướng đòi hỏi các nước khác thực hiện chính sách mậu dịch tự

do đối với hàng hoá của họ, song thực tế hầu hết các quốc gia vẫn bằng cách này

hay cách khác thực hiện việc bảo hộ hàng hoá do nước mình xuất ra

Chính sách thương mại quốc tế bao gồm: chính sách mặt hàng, chính

sách thị trường, chính sách hỗ trợ Ba bộ phận này có liên quan hữu cơ với nhau

Chính sách mặt hàng bao gồm danh mục các hàng hoá khuyến khích xuất nhập

khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu, cấm xuất nhập khẩu Chính sách thị trường bao

gồm định hướng và các biện pháp mở rộng, thâm nhập thị trường nước ngoài

với sự chú ý tới các thị trường trọng điểm và thị trường quan hệ hữu hảo Chính

sách hỗ trợ bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động gián

tiếp đến các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia đó như chính sách đầu

tư hàng xuất khẩu, chính sách tín dụng ưu đãi xuất – nhập khẩu

Các công cụ của chính sách thương mại quốc tế bao gồm:

Thuế quan: là thuế đánh vào các hàng hoá xuất nhập khẩu hoặc quá cảnh

nhằm mục tiêu mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động thương mại quốc tế

Hạn ngạch là quy định của chính phủ về hạn mức được xuất – nhập khẩu

một mặt hàng trong một khoảng thời gian nhất định

Quy định tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh là quy định của chính phủ về xuất –

nhập khẩu hàng hoá nhằm đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Là công cụ mà một nước yêu cầu, một

nước khác tự nguyện hạn chế xuất khẩu sang nước mình nếu không sẽ áp dụng

biện pháp trả đũa

Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ ưu đãi cho doanh nghiệp trong xuất khẩu:

miễn - giảm – hoãn – hoãn thuế, khấu hao, cấp tín dụng

Trang 12

Tỷ giá hối đoái: Phá giá đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu, ngoài ra còn

có quy định và sử dụng nguồn nhân lực địa phương, quy định mức ưu đãi khi sử

dụng nguồn nhân lực trong nước

Trong thương mại quốc tế các chính sách này được sử dụng rất linh hoạt,

mềm dẻo và khéo léo, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của từng nước

II CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA MỸ

Năm 1492, Critxtốpcôlômbô tìm ra châu Mỹ Năm 1776 bản tuyên ngôn

nhân quyền đánh dấu sự ra đời của hợp chủng quốc Hoa Kỳ (USA) Trải qua

nhiều giai đoạn phát triển, nền kinh tế Hoa Kỳ đã trở thành một trong những nền

kinh tế có tiềm lực lớn trên thế giới

Chiến lược kinh tế đối ngoại của Mỹ bao gồm các nhiệm vụ và lợi ích

mang tính quốc gia và tư nhân rất khác nhau, được hình thành dưới sự tác động

của các lực lượng nhiều khi trái ngược nhau Phục vụ nhu cầu hướng ra thị

trường bên ngoài của nền kinh tế đang ngày càng phát triển của đất nước cũng

như của đại tư bản, chiến lược kinh tế đối ngoại phải tính đến địa vị và các điều

kiện tồn tại đặc biệt của các nhóm xã hội, các ngành kinh tế riêng biệt cũng như

các mục đích trong chính sách đối ngoại của Mỹ Các xu hướng ly tâm cũng như

hướng tâm khách quan vốn có trong sự phát triển của hệ thống kinh tế thế giới

thể hiện trong chiến lược làm cho nó thêm mâu thuẫn Các nhân tố có tính chất

tình huống ngắn hạn và dài hạn, sự thay đổi các ưu tiên trong chính sách của

giới cầm quyền, vị trí của đất nước trong hệ thống phân công lao động quốc tế,

tình hình ngoại thương và thanh toán cũng để lại dấu ấn nhất định trong chiến

lược kinh tế đối ngoại ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định

Mặc dù vậy, bắt đầu từ những năm 30, hướng cơ bản của chiến lược kinh

tế đối ngoại đã định hình khá rõ ràng Đó là mở rộng các mối quan hệ kinh tế thế

giới bằng cách loại bỏ triệt để các hàng rào nhân tạo trên con đường lưu thông

hàng hoá, dịch vụ và vốn trên thế giới

Xét từ khía cạnh kinh tế, đường lối chiến lược này dựa trước hết vào hkát

vọng khách quan vốn có của chủ nghĩa tư bản nhằm mở rộng đến vô hạn nền sản

xuất mà các nhà khoa học thuộc các trường phái và xu hướng khác nhau đã

Trang 13

nhiều lần lưu ý đến, và quan niệm về thị trường tự do như một cơ chế tối ưu để

tổ chức các hoạt động kinh tế Chủ nghĩa bành trướng mà nền tảng của nó là

lòng khát khao tăng lợi nhuận và quy luật cạnh tranh thể hiện, chẳng hạn ở sự

tìm kiếm không mệt mỏi các thị trường mới, các lĩnh vực đầu tư mới có lợi dẫn

đến chỗ đưa các quá trình tái sản xuất vượt ra khỏi biên giới quốc gia của từng

nước và thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới phát triển

Trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, chính sách mậu dịch tự do tạo điều kiện

thuận lợi tới mức tối đa để nền kinh tế quốc gia tham gia một cách có hiệu quả

vào hệ thống phân công lao động quốc tế và hình thành một cơ cấu hợp lý nhất

(hoàn toàn theo quan điểm kinh tế) của nền sản xuất xã hội Ricacdo đã viết

“trong hệ thống mậu dịch tự do vô hạn, mỗi nước đều trao vốn của mình, lao

động của mình cho việc sử dụng mà mình có lợi nhất “Tựa như một thực thể cốt

lõi của chính sách kinh tế đối ngoại trong điều kiện các quan hệ hàng hoá tiền tệ

phát triển, mục tiêu hướng tới của chủ nghĩa tư bản là tăng trưởng không ngừng

và do vậy nó gắn chặt với xu hướng mở rộng và củng cố nền tảng tổ chức thị

trường của nền kinh tế tư bản thế giới

Trong các nước phương Tây, Mỹ nổi lên là một nước trung thành về mặt

tư tưởng đối với các cơ sở của kinh tế chính trị tư sản cổ điển và tin tưởng vào lý

thuyết “lợi thế so sánh” của Đ Ricado, tức là lý thuyết lấy sự cần thiết của quan

hệ thị trường tự do giữa các quốc gia làm tiền đề Theo lời của tổng thống Rigân

“Sự thịnh vượng và phát triển kinh tế sẽ không thể có nếu thiếu sự tự do kinh tế”

cũng như không thể “bảo vệ những tự do cá nhân và chính trị của chúng ta nếu

thiếu tự do kinh tế”

Tổng thống W Bush cha khẳng định rằng chính quyền của ông đặt cho

mình mục đích đạt cho được việc cùng chuyển sang các thị trường mở, chống lại

chính sách bảo hộ mậu dịch, kiên quyết bác bỏ lời kêu gọi thực hiện chế độ

buôn bán có quản lý bởi vì “các ý đồ của chính phủ khi không tính tới các giải

pháp của thị trường thế giới và việc quản lý buôn bán hoặc các nguồn đầu tư,

nhất định sẽ làm yếu đi mức linh hoạt của nền kinh tế và làm giảm mức sống”

Trang 14

Coi cạnh tranh trên thế giới không phải là một sự đe doạ mà như một hiện

tượng mở ra những khả năng mới cho Mỹ và các bạn hàng của Mỹ “Bỏ qua

cạnh tranh chúng ta không còn là người có khả năng cạnh tranh” đã là một bộ

phận cấu thành trong quan điểm kinh tế đối ngoại của Mỹ Cần khẳng định rằng,

chính sách tự do buôn bán gắn chặt với nhiệm vụ bảo đảm vị trí đứng đầu của

nước Mỹ trong thế giới tư bản Các nguyên tắc mới trong chiến lược kinh tế đối

ngoại của Mỹ thể hiện trong các chương trình của các thoả thuận buôn bán trên

cơ sở có đi có lại năm 1934 và cùng với nó đã thực sự bắt đầu một phong trào

trên toàn thế giới huỷ bỏ hệ thống mậu dịch được coi là có một ý nghĩa đặc biệt

giống như “một viên đá tảng cần thiết cho toà nhà thế giới” (Lời của Hall – Bộ

trưởng ngoại giao trong chính phủ Roosevelt) giới cầm quyền Mỹ thừa nhận

rằng “chỉ bằng việc buôn bán tự do chúng ta mới có thể được đảm bảo vẫn còn

là những người có khả năng cạnh tranh”

Với những cơ sở lý luận trên chính sách thương mại quốc tế của Mỹ được

xem xét qua các giai đoạn sau:

1 Giai đoạn những năm 1950 và 1960

Mục tiêu chủ yếu của chính sách kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai

đoạn này là khôi phục nền kinh tế của các nước sau chiến tranh và gia tăng ảnh

hưởng về kinh tế của Mỹ đối với các nước khác Đến cuối những năm 1960,

chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ được xem là một phương tiện để phát triển

hoạt động đối ngoại, chính phủ đã không chú ý đến việc phát triển kinh tế trong

nước nhưng lại cố gắng mở rộng hoạt động thương mại trên quy mô toàn thế

giới

Đến năm 1950, chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ đã được xác định rõ

hơn nhằm phục vụ hai chiến lược phát triển quốc tế chủ yếu Chiến lược thứ

nhất là viện trợ tài chính hữu hiệu cho các nước Tây Âu và Nhật Bản để phục

hồi kinh tế sau chiến tranh Ngược lại, sự phát triển kinh tế của Tây Âu và Nhật

Bản sẽ tạo điều kiện ổn định chính trị và hạn chế sự ban rộng của các nước xã

hội chủ nghĩa Hoa Kỳ rất chú trọng lớn đến hoạt động viện trợ quốc tế thông

qua việc phát triển mạnh các quan hệ thương mại nhằm liên kết các nước công

Trang 15

nghiệp lại với nhau trong một trật tự thương mại quốc tế không phân biệt, đôi

bên cùng có lợi dung hoà và ổn định

Chiến lược thứ hai là chiến lược viện trợ thân thiện cho các nước ở Châu

Mỹ La Tinh và các nước độc lập “mới nổi lên” ở Châu á và Châu Phi Quốc hội

Hoa Kỳ đưa ra chính sách chú ý nhiều đến việc khuyến khích hoạt động nhập

khẩu và công nhận quyền của các nước khác được thực hiện hạn chế nhập khẩu

bằng phân biệt đối xử và áp dụng các hạn chế về số lượng Đây là một vấn đề cơ

bản được đưa ra trong cuộc đàm phán vào năm 1947 để thành lập tổ chức

thương mại quốc tế (ITO) Nhiều ý kiến cho rằng ITO có quá nhiều ngoại lệ

trong điều lệ và hoạt động thương mại của Hoa Kỳ phải là đối tượng chịu nhiều

hạn chế và phân biệt hơn trước đây Ngay khi hội nghị của ITO bị thất bại vào

năm 1949 trong việc phê chuẩn thành viên Hoa Kỳ, chính quyền Ai – xen – hao

quyết định trình điều lệ của ITO vào kỳ họp tiếp theo Năm 1994 tổ chức thương

mại thế giới (WTO) ra đời

Chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản vào những

năm 1950 được gắn với chiến lược đối đầu với Tây Âu Hiệp định thương mại

song phương được ký kết giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản được ký vào năm 1955 là

một ví dụ về hy sinh lợi ích quốc gia để đạt được lợi ích của chính sách đối

ngoại Vì lý do an ninh, đây là một hiệp định không cân bằng về lợi ích trong đó

Nhật bản đưa ra các nhượng bộ về thuế quan còn Hoa Kỳ mở rộng việc cắt giảm

thuế quan cho tất cả hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản

Hoa Kỳ còn đề cập đến vai trò của trưởng đoàn đàm phán của Hoa Kỳ

trong vòng đàm phán ở Dillon năm 1962 Các nước đã tích cực tham gia đàm

phán để thành lập một tổ chức thống nhất trên cơ sở đại diện các quốc gia thành

viên nhằm bảo vệ lợi ích của các quốc gia Chính quyền Kenơđi đã đồng ý

nhượng bộ thuế quan thấp hơn mức thấp nhất là mức tối thiếu cần thiết bảo hộ

do hội đồng thuế quan độc lập đưa ra Thất bại của vòng đàm phán Dillon thể

hiện ở việc không thực hiện được mục tiêu cắt – giảm thuế của chính quyền

Kenơđy Việc trợ cấp thực hiện theo phương châm hoặc là mở rộng buôn bán

Trang 16

hoặc là đóng cửa hoàn toàn đã được chính quyền Kenơdy đưa ra thảo luận quốc

hội để thực hiện cắt giảm thuế ở phạm vi rộng nhất

Năm 1962, Đạo luật thương mại mở rộng có hiệu lực được đưa ra, đạo

luật này được xây dựng trên nguyên tắc có đi có lại nhằm giảm 50% thuế quan

nhưng có một số ngoại lệ Kể cả mức thuế 5% hoặc thấp hơn có thể bị loại trừ

hoàn toàn Đạo luật này đưa ra thoả thuận cắt giảm thuế quan trong 5 năm và

thời hạn cuối cùng là năm 1967 Mức thuế quan trung bình giữa các nước công

nghiệp sau khi được cắt giảm thuế thấp hơn 60% Lúc này, hàng rào phi thuế

quan lại trở thành cản trở chủ yếu đối với việc bán hàng hoá chế tạo giữa các

nước

Đến cuối những năm 60, nền kinh tế thế giới có những biến động lớn, các

chính sách kinh tế vĩ mô không đúng nguyên tắc đã làm giảm sức mạnh kinh tế

của Hoa Kỳ Trên lĩnh vực đối ngoại, sự đe doạ của Nhật Bản và Tây Âu không

lớn bằng sự đe doạ của các nước XHCN Vì vậy, Hoa Kỳ phải đề cao mục tiêu

an ninh quốc gia và sử dụng hạn chế hàng rào cản trở hoạt động nhập khẩu trong

quan hệ các nước này Sự giảm sút của tính chất quốc tế hoá nền kinh tế thế giới

có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách thương mại của Hoa Kỳ

2 Giai đoạn những năm 1970 và 1980

Hoa kỳ bắt đầu thực hiện điều chỉnh chính sách thương mại của mình vào

cuối những năm 1960 Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế gắn với tiềm lực về

quân sự bảo đảm cho Hoa Kỳ tiếp tục sự duy trì lãnh đạo kinh tế toàn cầu Đạo

luật thương mại những năm 70 quy định áp dụng hạn ngạch đối với sự tổng hợp

và các sản phẩm dệt khác Đạo luật cũng có quy định áp dụng trong trường hợp

các nhà sản xuất trong nước bị thiệt hại “lớn” do hàng hoá nhập khẩu cạnh

tranh Các đạo luật đã được thông qua bởi hai nghị viện nhưng nhiệm kỳ của

quốc hội đã kết thúc trước khi những sự khác nhau của hai đạo luật được chấp

thuận

Các vấn đề mà chính sách thương mại chưa thực hiện đã được đưa vào

đạo luật Burke – Hartlce năm 1971 Mặc dù đạo luật chưa có hiệu lực thi hành

nhưng điều có ý nghĩa là ở chỗ nó đã chuyển một tổ chức quyền lực về mặt

Trang 17

chính trị AFL – CIO (Liên đoàn lao động Hoa kỳ và hiệp hội các tổ chức công

nghiệp) thành một hàng rào bảo hộ Đạo luật này đưa ra quy định áp dụng các

hạn ngạch nhập khẩu có tính chất liên ngành và nó đã làm thay đổi hệ thống

xuất – nhập khẩu của Hoa Kỳ đến mức làm cho các khoản đầu tư trực tiếp của

Hoa Kỳ trở nên không có lợi nhuận

Hiệu lực thực hiện của hệ thống pháp luật thương mại bảo hộ giảm xuống

vì có sự điều chỉnh lớn trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nich – Xơn Nền

kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu gặp phải các khó khăn đặc biệt là lạm phát đi đôi với suy

thoái trong nước gánh nặng về quốc phòng và bảo vệ các liên minh, Tây Âu và

Nhật Bản đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và cán cân thanh toán thặng dư

đang đối đầu với Hoa Kỳ, nguy cơ khủng hoảng tiền tệ do việc bán một khối

lượng lớn đôla trên thị trường ngoại hối và những vấn đề phức tạp nảy sinh do

giảm lượng vàng dự trữ gắn với thâm hụt cán cân thanh toán

Hoa Kỳ chính thức áp dụng mức thuế nhập khẩu 10% và chấm dứt việc

đổi đôla ra vàng trong các ngân hàng trung ương nước ngoài từ ngày 15/8/1971

Việc hình thành một vòng đàm phán thương mại đa phương mới đã làm

xuất hiện nhu cầu thành lập một cơ quan chuyên môn có chức năng giám sát

việc thực hiện các điều khoản về tự do hoá thương mại Đạo luật năm 1974 đã

tạo điều kiện thúc đẩy chế độ thương mại tự do Đạo luật đã mở rộng phạm vi

điều chỉnh và đưa thêm các điều khoản huỷ bỏ nhằm tạo cơ sở để xác định mức

độ thiệt hại đang hoặc sẽ xảy ra Quốc hội đã hình thành được hàng rào tốt hơn

cho các nhà sản xuất nội địa bằng cách ủng hộ các quyết định của tổng thống bỏ

qua đề nghị của tổ chức thương mại quốc tế theo điều khoản huỷ bỏ

Điểm quan trọng nhất trong các vấn đề pháp lý chủ yếu được đưa ra trong

đạo luật thương mại (1974) là nó đã phản ánh được kết quả của vòng đàm phán

thương mại Tokyo Do các quan hệ kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ bị thu hẹp các

vòng đàm phán không còn mang trên những người tuyên ngôn của chính phủ

nữa mà mang tên địa điểm ký kết hiệp định Cùng với việc cắt giảm thuế quan ở

các nước công nghiệp khác việc tiến hành đàm phán để cắt giamr các hàng rào

Trang 18

phi thuế quan cũng được thực hiện Điều này còn bao hàm cả việc thoả thuận để

đưa ra các “mã số chỉ dẫn” áp dụng đối với hoạt động thương mại

Yếu tố thứ hai của đạo luật năm 1974 là gia tăng mức độ bảo hộ đối với

các công ty của Hoa Kỳ trước sự cạnh tranh gay gắt của hàng hoá nhập khẩu từ

Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá (NICs) ở Đông á như Hàn Quốc,

Singapore, Đài Loan và Hồng Kông Việc kết hợp giữa chủ nghĩa bảo hộ đơn

phương của những năm 30 và xu hướng tự do hoá thương mại của những năm

1960 mà Hoa Kỳ và EEC là những nước thực hiện chủ yếu được gọi là “chủ

nghĩa bảo hộ mới”

Biện pháp đầu tiên được áp dụng trong những năm 1970 hướng tới chủ

nghĩa bảo hộ được hợp pháp hoá ở Hoa Kỳ làm phát sinh hai vấn đề quan trọng

là việc giảm giá của đồng đôla Mỹ và các cơ quan quản lý sẵn sàng áp dụng các

biện pháp hạn chế nhập khẩu một cách đơn phương đối với bất kỳ sản phẩm

nào Kể từ năm 1980 chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ có sự ổn định

tương đối Tuy nhiên điêu này đã bị chấm dứt do các biện pháp điều chỉnh về

mặt chính sách được thực hiện không phù hợp với các xu hướng vận động chung

về mặt kinh tế

3 Giai đoạn đầu những năm 80 và đầu những năm 90

Chính sách thương mại trong giai đoạn này chịu sự tác động lớn của chính

sách kinh tế trong nước được thực hiện từ năm 1981 theo “Học thuyết kinh tế

của Rigân”, việc giảm thuế mạnh và thâm hụt ngân sách gia tăng do tác động

của chính sách tiền tệ thắt chặt đã làm tăng mức chi tiêu quốc gia cao hơn so với

sản xuất và xuất hiện các khoản tiền tiết kiệm không hợp lý Tình trạng này càng

trầm trọng hơn do tình trạng thâm hụt cán cân thương mại gia tăng và tăng

lượng vốn đầu tư vào trong nước Tháng 12/1985, Tổng thống Rigân đã tuyên

bố yêu cầu các nước phải loại bỏ các cam kết bất hợp lý để thực hiện chế độ tự

do hoá thương mại Các sáng kiến được đưa ra trong chính sách tiền tệ và

thương mại và việc thực hiện các biện pháp nhằm làm giảm bớt thâm hụt thương

mại của Hoa Kỳ đã được áp dụng nhưng vẫn không đáp ứng được mục tiêu đặt

ra của quốc hội

Trang 19

Đạo luật cạnh tranh và thương mại Omnibus năm 1988 đã tạo ra các cơ sở

pháp lý cho việc hoạch định các chính sách thương mại chiến lược của Hoa Kỳ

cũng như thắt chặt mối quan hệ giữa Quốc hội và chính phủ Luật thương mại

năm 1988 cũng đã đưa ra được cách tiếp cận mà phần lớn các vấn đề thương

mại của Hoa Kỳ đã vượt ra ngoài khả năng điều tiết của các công cụ của chính

sách thương mại truyền thống và đòi hỏi phải có các phản ứng tinh vi hơn như

việc phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô trong các nước thuộc nhóm G7 Vào

những năm 1990, một vấn đề được đặt ra là tăng cường biện pháp chống phá

giá Khi biện pháp này được áp dụng các bạn hàng chủ yếu của Hoa Kỳ là Nhật

Bản và Trung Quốc đã tìm cách vô hiệu hoá chúng hoặc tìm cách trả đũa Hoa

Kỳ

Gần đây, có nhiều ý kiến cho rằng điều khoản sở hữu trí tuệ của lý thuyết

thương mại tự do – một nguyên tắc của lợi thế so sánh không được thực hiện

Những người này đã chú ý đến các lý thuyết mới có tính cấp tiến về kinh tế công

nghiệp công nghệ cao và họ cho rằng mô hình hợp tác giữa các nhà kinh doanh

với chính phủ một cách hoàn hảo như Nhật Bản có thể tạo được “Lợi thế cạnh

tranh nhân tạo” trong ngành sản xuất có hàm lượng trí tuệ cao

Việc hoạch định các chính sách thương mại trong những năm 1990 không

còn chịu sự áp đặt cứng nhắc của các quan điểm có tính chất cực đoan là hoặc

chỉ ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, hoặc chỉ thừa nhận tự do hoá thương

mại Cuối những năm 90 Mỹ đã dần dần đưa ra chiến lược kinh tế đối ngoại

quốc gia mới và những quan điểm mới về tự do hoá thương mại quốc tế

Thực chất của những thay đổi này là với những nhiệm vụ kinh tế đối

ngoại chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của tư bản tư nhân quốc tế

theo nghĩa rộng, Mỹ nỗ lực giải quyết các vấn đề không chỉ trên cơ sở đa

phương mà còn trên cơ sở song phương và đặc biệt là ở cấp khu vực Việc tiếp

cận các quan điểm như vậy về tự do hoá thương mại quốc tế là do một loạt các

nguyên nhân, trong đó có sự thất vọng của Mỹ về những biện pháp tự do hoá

thương mại đa phương liên quan đến hoạt động của GATT/WTO, và những thay

đổi mang tính cách mạng trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại –

Trang 20

những nhân tố cho phép quốc tế hoá và toàn cầu hoá cơ sở sản xuất và nghiên

cứu khoa học không chỉ đối với các hãng lớn mà còn đối với cả các hãng khá

nhỏ

4 Quan điểm đa phương về tự do hoá thương mại quốc tế

Quan điểm toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại quốc tế là tốt nhất vì nó

bao hàm tới các thành viên nước ngoài tham gia và tạo khả năng tránh những

lệch lạc về kinh tế, mạo hiểu về chính trị, có liên quan đến việc phân biệt quan

hệ giữa các đối tác thương mại Bởi vậy, ngay từ đầu quá trình tồn tại của Hiệp

định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tuy không nhất trí với một loạt

các điều khoản của hiệp định đa phương này, song Mỹ vẫn tham gia vào công

việc của tổ chức này, góp phần tạo điều kiện cho quá trình tự do hoá thương mại

quốc tế Hoạt động của GATT được thực hiện trực tiếp qua các vòng đàm phán

đa phương đã không ngừng làm giảm mức thuế quan trung bình tại các nước

công nghiệp phát triển là thành viên của hiệp định: từ 40 – 50% năm 1948 còn

4% vào cuối thập kỷ 90

Trong khuôn khổ các vòng đàm phán đa phương của GATT, những kết

quả của vòng đàm phán Uru – goay (1986 – 1994) là quan trọng nhất đối với

thương mại thế giới Vòng đàm phán này không chỉ tạo điều kiện tiếp tục tự do

hoá mậu dịch hàng công nghiệp, mà còn đưa ra những quy tắc quốc tế về nhập

khẩu và xuất khẩu hàng nông sản – nhưng mặt hàng chủ yếu còn chịu sự quản lý

của nhà nước Hơn nữa, lần đầu tiên đã đưa ra các biện pháp về điều hành mậu

dịch dịch vụ quốc tế Cuối cùng, vòng đàm phán này đã thông qua các vấn đề

trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả và các quyền khác đối với sở hữu trí tuệ –

lĩnh vực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong trao đổi quốc tế và vấn đề điều

tiết đầu tư trực tiếp Kết quả quan trọng nhất của vòng đàm phán đa phương này

là việc thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO

Tự do hoá thương mại thế giới thực hiện theo đường hướng của WTO tạo

ra những ảnh hưởng có lợi đối với nền kinh tế thế giới được nhiều nhất trong

quá trình này là Mỹ và các nước phát triển khác Theo số liệu của các chuyên gia

Mỹ, nguồn lợi trung bình mỗi năm trên quy mô toàn thế giới trong những năm

Trang 21

trước mắt là 96 tỉ USD và trong tương lai xa 171 tỉ USD Đối với Mỹ chỉ tiêu

này tương ứng là 13,3 tỉ và 27 tỉ USD Theo số liệu thống kê chính thức của Mỹ,

khoảng 1/3 khối lượng ngoại thương của Mỹ là thuộc hoạt động thương mại

được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động sản xuất của chính các công ty của

Mỹ Ngoài ra nhiều nhà kinh tế phương tây trong thập kỷ 90 đã có xu hướng

xem xét hoạt động ngoại thương của các công ty Mỹ như là bộ phận tiếp theo

hợp lý trong nguồn vốn đầu tư nước ngoài của họ Trong giai đoạn 1990 – 1997,

khối lượng mậu dịch tự do quốc tế đã tăng khoảng 60% (tính theo đồng USD)

trong đó đầu tư nước ngoài trực tiếp tăng gấp đôi Tình hình này đã làm thay

đổi mạnh không chỉ quan điểm về vai trò của đầu tư nước ngoài trực tiếp, mà

còn cả vai trò về các hạn chế thuế quan và chính các mức thuế nhập khẩu Trong

hoạt động ngoại thương thời gian qua Mỹ đã tích cực nỗ lực để đầu tư nước

ngoài ngày càng phù hợp với luật của các nước về hoạt động đầu tư

Kể từ khi thành lập WTO (tháng giêng năm 1995), Mỹ đã tích cực tham

gia vào công việc của tổ chức này, góp phần không chỉ với việc mở rộng lĩnh

vực hoạt động mà còn tăng số lượng thành viên tham gia Theo sáng kiến của

Mỹ tổ chức này đã làm thúc đẩy quá trình đàm phán về các ngành dịch vụ như

taì chính, viễn thông, dịch chuyển các thể nhân làm cung ứng dịch vụ ra nước

ngoài Đồng thời Mỹ tích cực kêu gọi mở rộng tổ chức bằng cách kết nạp thêm

các đối tác thương mại mới

Mặc dù mới ra đời song WTO đã trở thành một tổ chức quốc tế có sức

ảnh hưởng đối với việc điều tiết mang tính toàn cầu về nền thương mại thế giới

bằng cách áp dụng các công cụ hiệu quả, thống nhất các cam kết và thực hiện

các quy tắc thương mại Các nước thành viên của tổ chức này chiếm phần lớn

hoạt động thương mại thế giới (hơn 90%)

Dưới đây là số liệu về số lượng các nước thành viên, (trong ngoặc là tỷ

trọng của các nước trong tổng xuất khẩu thế giới)

Trang 22

Bảng 2 Các nước thành viên WTO và vai trò của chúng trong xuất khẩu

thế giới

Số nước thành viên

Số nước đã tuyên

bố tiếp nhận

Số nước thành viên tiềm năng Châu Phi 41 (1,7%) 4 (0,2%) 9 (0,2%)

Việc hỗ trợ tổ chức rộng lớn này để tiếp tục tự do hoá hệ thống thương

mại thế giới là một trong những hướng ưu tiên trong chính sách của chính quyền

Mỹ hiện nay Đồng thời theo chính phủ Mỹ, quan điểm đa phương về tự do hoá

thương mại không đáp ứng được các nhiệm vụ về mở rộng hoạt động ngoại

thương trong lĩnh vực mà Mỹ đặc biệt mong muốn tăng cường vị thế của giảm

thuế quan sẽ không thủ tiêu hoàn toàn được các hàng rào thuế quan trong

thương mại của các nước phát triển đối với các mặt hàng như dệt may, giầy,

nông sản những mặt hàng vẫn thuộc danh mục ưu tiên xuất khẩu của Mỹ Hơn

nữa, trong thời gian gần đây, trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính

tiền tệ Châu á, chính quyền Clintơn đã tích cực nỗ lực để mở vòng đàm phán

mới trong khuôn khổ GATT/WTO

5 Tự do hoá các quan hệ kinh tế khu vực

Trong thập kỷ qua, quan điểm về quan hệ khu vực đã dần được đưa lên vị

trí số một trong chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ Các hiệp định thương mại

khu vực đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nhân tố quan trọng

trong quan hệ kinh tế quốc tế Trong hơn 50 năm qua đã có 153 hiệp định

thương mại khu vực được ký kết, trong đó phần lớn vẫn còn đang hoạt động

khoảng một nửa trong số các hiệp định đó được ký kết trong các thập kỷ 80 và

90 Trên thực tế tất cả các thành viên của WTO đều là thành viên của một hoặc

một số hiệp định khu vực Cuối thập kỷ 90, 61% thương mại thế giới được thực

Ngày đăng: 25/10/2012, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các nước thành viên WTO và vai trò của chúng trong xuất khẩu  thế giới. - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
Bảng 2. Các nước thành viên WTO và vai trò của chúng trong xuất khẩu thế giới (Trang 22)
Bảng  3.  Tốc  độ  tăng  trưởng  xuất  khẩu  trung  bình  nằm  trong  giai  đoạn  1987 – 1997 - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
ng 3. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình nằm trong giai đoạn 1987 – 1997 (Trang 27)
Bảng 4: Tỷ trọng GDP, xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, dân số một số nước  và nhóm nước năm 1998 - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
Bảng 4 Tỷ trọng GDP, xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, dân số một số nước và nhóm nước năm 1998 (Trang 31)
Bảng 5. Dự báo kinh tế Mỹ 2001. - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
Bảng 5. Dự báo kinh tế Mỹ 2001 (Trang 35)
Bảng 6. Thương mại hai chiều giữa Mỹ với các nền kinh tế Đông á  (tỉ USD) - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
Bảng 6. Thương mại hai chiều giữa Mỹ với các nền kinh tế Đông á (tỉ USD) (Trang 37)
Bảng 7: Quan hệ buôn bán Việt Nam – Hoa kỳ ( triệu USD) - Quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực Châu á - Thái bình dương.pdf
Bảng 7 Quan hệ buôn bán Việt Nam – Hoa kỳ ( triệu USD) (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w