1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC Y TẾ PHƯƠNG TÂY Ở BẮC KỲ TỪ NĂM 1873 ĐẾN NĂM 1945

185 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nội dung: Trong phạm vi của luận án, tác giả mong muốn trình bày sự hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 trên 05 phương diện chính: - H

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm

1945 là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Những thông tin, số liệu,

kết quả được trình bày trong luận án là trung thực, có trích dẫn khoa học rõ ràng Các ý kiến nhận xét, kết luận khoa học của luận án chưa từng được công

bố trong bất kì công trình của cá nhân nào khác

Hà Nội, ngày 9 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận án

Bùi Thị Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy - GS.TS Đỗ Quang Hưng Thầy luôn tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ, khích lệ tôi từ ngày đầu làm luận án và trong quá trình 3 năm học tập chương trình Nghiên cứu sinh Thầy là người truyền lửa nghề cho tôi, luôn động viên tôi trong cuộc sống cá nhân

và công việc chuyên môn, giúp tôi vươn lên, biết yêu nghề và gắn bó với nghề Xin được dành lời cảm ơn chân thành đối với PGS.TS Tạ Thị Thuý (Viện Sử học) đã gợi mở cho tôi hướng nghiên cứu về y tế Việt Nam thời thuộc địa và có nhiều giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu tài liệu, nghiên cứu luận án

Trong thời gian học tập và hoàn thành Luận án, tôi nhận được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các Thầy Cô của Khoa Sử học, Phòng Đào tạo Học viện Khoa học Xã hội Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ Thư viện Viện Sử học, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Việt Nam, Trung tâm EFEO Việt Nam, Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử-Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận với những nguồn tài liệu đa dạng

Chủ trương của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học là gắn những Đề tài Khoa học cấp cơ sở hàng năm với quá trình học tập Nghiên cứu sinh (đối với cán bộ đang tham gia chương trình đào tạo) thực sự đã đem lại hiệu quả tích cực đối với tôi Tôi trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Sử học đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện những Đề tài Khoa học cấp cơ sở trong những năm qua và đó là bước chuẩn bị đặc biệt quan trọng cho quá trình triển khai Luận án Đồng thời, qua những Hội đồng nghiệm thu Đề tài cấp cơ sở hàng năm, tôi nhận được những ý kiến phản biện quý báu, không chỉ giúp tôi hoàn thiện kiến thức phục vụ cho đề tài Luận án Tiến sĩ mà còn là những chỉ dẫn để hoàn thiện kỹ năng nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu khoa học lâu dài Tác giả luận án xin gửi lời tri ân chân thành tới các thành viên Hội đồng, là những nhà khoa học đã và đang công tác tại Viện Sử học

Chân thành cảm ơn gia đình đã tạo cho tôi ý thức không ngừng học tập từ tấm

bé, cảm ơn gia đình hai bên nội ngoại vì những hỗ trợ thiết yếu trong thời gian tôi làm Luận án và những người bạn, đồng nghiệp luôn quan tâm, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, năm 2019 Tác giả

Bùi Thị Hà

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ Dịch sang tiếng Việt

indigiène

Cứu trợ y tế cho dân bản xứ

naturelles

Vật lý, hoá học, khoa học tự nhiên

Chartres

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

8

1.1 Các nghiên cứu có liên quan đến y tế phương Tây ở Bắc Kỳ 1873 -

1945

8

1.4 Những nội dung luận án cần giải quyết 21

2 CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH Y TẾ PHƯƠNG TÂY Ở BẮC KỲ

TỪ NĂM 1873 ĐẾN NĂM 1918

24

2.1 Bối cảnh hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ 24

2.1.1 Tập quán chữa bệnh theo y học cổ truyền của người Việt 25

2.1.2.1 Nhu cầu thành lập các cơ sở y tế của Pháp ở Bắc Kỳ 25 2.1.2.2 Chủ trương của thực dân Pháp đối với vấn đề y tế 27

2.2 Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1902 33

2.2.4 Kết quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh 40

2.3 Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1902 đến năm 1918 41

3 CHƯƠNG 3: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA Y TẾ PHƯƠNG TÂY Ở 60

Trang 6

BẮC KỲ TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1929

3.2 Xây dựng các cơ sở y tế và đào tạo nhân viên y tế 61

3.3 Tình hình khám chữa bệnh và phòng ngừa dịch bệnh 79

3.3.2 Những kết quả trong phòng dịch và nghiên cứu khoa học 85

4 CHƯƠNG 4: Y TẾ PHƯƠNG TÂY Ở BẮC KỲ TỪ NĂM 1930

ĐẾN NĂM 1945

91

4.2 Hoạt động của các cơ sở y tế phương Tây ở Bắc Kỳ 94

4.3 Kết quả trong hoạt động khám chữa bệnh và phòng dịch 113

4.3.2 Những kết quả trong hoạt động phòng dịch, nghiên cứu khoa

học và truyền bá y tế phương Tây

116

Danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

2 Sơ đồ: Cơ sở khám chữa bệnh ở Bắc Kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1918 42

4 Bảng 2.3: Tình hìnhbệnh nhân bản xứ trong các cơ sở y tế ở Bắc Kỳ

1913-1918

57

5 Bảng 2.4: Bệnh nhân bản xứ tại bệnh viện bản xứ Kiến An 1914-1917 57

6 Bảng 3.1: Chi cho y tế Đông Dương từ năm 1919 đến năm 1929 60

7 Bảng 3.2: Tình hình khám chữa bệnh cho bệnh nhân ở Bắc Kỳ 1922-1929 79

8 Biểu đồ: Khám chữa bệnh cho bệnh nhân bản xứ ở Bắc Kỳ 1922-1929 80

10 Bảng 3.4: Tỷ lệ mắc các bệnh của người Âu tại bệnh viện Hải Phòng

14 Bảng 4.1: Ngân sách Bắc Kỳ chi cho y tế từ năm 1930 đến năm 1943 93

15 Bảng 4.2: Cơ sở y tế ở Bắc Kỳ từ ngày 31-12-1930 đến ngày 31-12-1935 96

16 Bảng 4.3: Cơ sở y tế ở Bắc Kỳ từ ngày 31-12-1936 đến ngày 31-12-1943 97

17 Bảng 4.4 : Số lượng bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ người Âu làm việc cho Cơ quan

19 Bảng 4.6: Số lượng bác sĩ, nha sĩ tự do ở Bắc Kỳ các năm 1931-1944 105

20 Bảng 4.7: Bác sĩ, y sĩ, dược sĩ bản xứ làm việc tại các cơ sở y tế của Cơ quan

Hỗ trợ y tế ở Bắc Kỳ từ năm 1930 đến ngày 31-12-1943

107

21 Bảng 4.8: Bác sĩ Đông Dương hành nghề tự do ở Bắc Kỳ 1931-1935 108

22 Bảng 4.9: Y tá bản xứ tại Bắc Kỳ từ năm 1930 đến năm 1943 110

23 Bảng 4.10: Bệnh nhân bản xứ trong các cơ sở y tế ở Bắc Kỳ 1930-1943 113

24 Bảng 4.11: Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện mắtHà Nội 1930-1943 114

Trang 8

26 Bảng 4.13: Tình hình bệnh nhân tại trại tâm thần Vôi Bắc Giang 1934-1943 115

27 Bảng 4.14: Hỗ trợ sinh sản ở Bắc Kỳ từ năm 1930 đến năm 1943 115

28 Bảng 4.15: Tình hình bệnh nhân phong hủi ở Bắc Kỳ từ năm 1930 đến

năm 1943

116

29 Bảng 4.16: Số người chữa dại tại Hà Nội từ năm 1930 đến năm 1943 117

30 Bảng 4.17: Thuốc ký ninh được phân phát ở Bắc Kỳ 1930-1943 118

31 Bảng 4.18: Giải phẫu bệnh học do viện Pasteur Hà Nội thực hiện các

năm 1930, 1939

120

32 Bảng 4.19: Viện Pasteur Hà Nội lấy mẫu nước tại một số tỉnh Bắc Kỳ 1939-1940 122

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Việt đã khéo léo kết hợp giữa lý luận y học phương Đông với tri thức y học bản địa để hình thành nên nền y học cổ truyền của dân tộc Với người Việt, việc chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền không chỉ là tập quán, là nghệ thuật, mà hơn nữa, đã trở thành một nét văn hóa được gìn giữ qua các thế hệ

Vào các thế kỷ XVII-XVIII, trong quá trình truyền giáo ở Đại Việt, đi cùng với tư trang

cá nhân như kinh thánh và những tặng phẩm quý hiếm, các giáo sĩ phương Tây còn mang theo nhiều loại Tây dược cùng những phương cách chữa bệnh mới đến từ Tây Âu Những liệu pháp y tế đó đã thu được những thành công nhất định và phần nào giành được thiện cảm của vua chúa, quan lại cũng như dân chúng Đại Việt lúc bấy giờ Các giáo sĩ phương Tây coi việc chữa bệnh là một trong những phương pháp tiếp cận hiệu quả với người bản xứ

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với quá trình xâm chiếm và cai trị thuộc địa, thực dân Pháp đã từng bước du nhập y tế phương Tây vào Bắc Kỳ Sự xuất hiện nền y tế hiện đại bên cạnh y học cổ truyền là một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên nền y tế thuộc địa ở Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX Cùng với y học cổ truyền, y tế phương Tây đã từng bước phát huy ưu thế trong quá trình chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đồng thời, việc thiết lập y tế phương Tây tại Bắc Kỳ đã mở ra quá trình tiếp cận với y học và khoa học hiện đại của người Việt Lần đầu tiên, một bộ phận dân chúng Việt Nam, nhất là những giai tầng bên trên của xã hội, được tiếp xúc, ứng dụng và thụ hưởng những thành tựu tiên tiến của khoa học kỹ thuật thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế

Dưới góc độ khoa học, việc triển khai đề tài luận án có ý nghĩa trong nghiên cứu lịch

sử Bắc Kỳ thời cận đại Bởi khi đặt vấn đề nghiên cứu vào bối cảnh lịch sử của thời kỳ cận đại, đề tài giúp người thực hiện không chỉ hiểu được quá trình du nhập và hoạt động của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945, mà còn có được những nhận thức đúng đắn hơn về lịch sử Bắc Kỳ thời kỳ này Đó là các vấn đề xâm chiếm và cai trị thuộc địa của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ, về tình trạng sức khoẻ, y tế và việc tiếp nhận những yếu tố mới trong đời sống dân sinh của người Việt ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa đối với lịch sử y tế phương Tây ở Bắc Kỳ nói riêng, ở Việt Nam nói chung Bởi nó cho thấy được quá trình hình thành và phát triển của một nền y tế mới, sự tiếp nhận của người Việt đối với y tế

Trang 10

ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, vấn đề này còn là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu lịch sử văn hoá cận đại, bởi y tế là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ cuộc

“Tiếp xúc văn hoá Đông-Tây” ở Việt Nam

Cuối cùng là, vào thời điểm hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước cải thiện và nâng cao sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống cho nhân dân, thì việc nghiên cứu đề tài này vẫn còn có ý nghĩa và tác dụng phục vụ thực tiễn nhất định, nhất là trong việc hoạch địch các chính sách về y tế

Từ xuất phát điểm như vậy cùng với khả năng nguồn tài liệu cho phép, tôi chọn

vấn đề “Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945” làm đề tài nghiên

cứu cho Luận án Tiến sỹ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm

1873 đến năm 1945

- Làm rõ quá trình phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945

- Tìm ra bản chất, vai trò và tác động của y tế phương Tây đối với Bắc Kỳ thời kỳ này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu đề ra, đề tài hướng tới giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ 1873-1945

- Xác định, phân tích bối cảnh, những cơ sở hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

- Tái hiện quá trình phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ 1873-1945: các biện pháp hành chính và tài chính của chính quyền thực dân; các lĩnh vực hoạt động và kết quả

- Đánh giá đặc điểm, vai trò và tác động của y tế phương Tây đối với Bắc Kỳ thời

kỳ 1873-1945, quá trình tiếp nhận y tế phương Tây của người Việt

Trang 11

3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945

3.2 hạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của y

tế phương Tây ở Bắc Kỳ (Việt Nam), gồm 23 tỉnh là Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hòa Bình, Hà Nam, Thái Bình, Lào Kay, Bắc Giang, Sơn La, Kiến An, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Cạn; 04 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hải Dương; 04 đạo quan binh là Hải Ninh, Cao Bằng, Hà Giang và Lai Châu [19; tr.557-

558]

Phạm vi thời gian: Vấn đề nghiên cứu diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1873

(khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất) đến năm 1945 (kết thúc sự cai trị thuộc địa của người Pháp ở Bắc Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung)

Phạm vi nội dung: Trong phạm vi của luận án, tác giả mong muốn trình bày sự

hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm

1945 trên 05 phương diện chính:

- Hệ thống các cơ quan quản lý, tổ chức y tế và cơ sở đào tạo y khoa;

- Hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm hai bộ phận là y tế công (các cơ

sở y tế quân sự và dân sự) và y tế tư nhân (các cơ sở y tế do tư nhân sáng lập và các

cơ sở y tế của các dòng truyền giáo phương Tây);

- Đội ngũ bác sĩ và nhân viên y tế;

- Hệ thống cơ sở Tây dược;

- Hệ thống cơ sở phòng dịch, nghiên cứu khoa học và truyền bá y tế phương Tây

- Một số khái niệm cần xác định

Y học phương Đông (hay còn gọi là Đông y): Hiện nay tại Việt Nam, thuật ngữ

Y học phương Đông hay Đông y được sử dụng song song với thuật ngữ Y học cổ truyền, dùng chỉ nền y học có nguồn gốc từ các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam… để phân biệt với y học phương Tây (hay còn gọi là Tây y) Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: Âm Dương, hướng tới việc cân bằng cơ thể khỏe mạnh, việc chữa bệnh nhằm lập lại trạng thái cân bằng của các yếu tố đó

Y học cổ truyền là toàn bộ những kiến thức, kỹ thuật và thực hành dựa trên lý luận lòng tin và kinh nghiệm vốn có của những nền văn hóa khác nhau Dù đã được giải

Trang 12

Y tế phương Tây được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết của y học phương Tây hiện đại, được xây dựng và phát triển trong các nước Tây Âu Ngành y tế này là một tổng thể bao gồm các cơ quan quản lý, tổ chức y tế, các cơ sở đào tạo y khoa, các cơ

sở khám chữa bệnh, sinh sản và phòng ngừa dịch bệnh, các cơ sở nghiên cứu khoa học về y học Về chuyên môn, nó dựa trên những thành tựu của y học phương Tây hiện đại như chủng đậu, giải phẫu lâm sàng, y học thực nghiệm, chống vi khuẩn, di truyền học, chủng lao, y học nhiệt đới

Y tế công là bộ phận y tế do nhà nước thực dân lập ra phục vụ các yêu cầu khám chữa bệnh cho hai bộ phận là quân sự và dân sự Y tế tư nhân là bộ phận y tế do các cá nhân hoặc các dòng truyền giáo lập ra, các cá nhân là người Pháp, người Hoa hoặc người Việt Cơ sở Tây dược là cơ sở sản xuất, phân phối hoặc bán các loại thuốc Tây Trong thời kỳ cận đại, thực dân Pháp chủ yếu nhập khẩu các loại thuốc Tây từ chính quốc sang tiêu thụ ở Việt Nam

Dịch tễ là ngành khoa học nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng, nguyên nhân gây bệnh, thời tiết, môi trường, vệ sinh, nguồn nước, thức ăn, không khí Ngành khoa học này tìm kiếm mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và yếu tố liên quan từ đó xây dựng giải pháp nhằm nâng cao sức đề kháng và sức khỏe nói chung Dịch tễ học là cơ sở để nghiên cứu y tế cộng đồng và y tế dự phòng, dựa trên khái niệm y học thực chứng (y học có bằng chứng, có qua kiểm nghiệm bằng khoa học và thực tiễn)

Viện Pasteur Đông Dương là hệ thống các viện nghiên cứu vi trùng học, vệ sinh dịch tễ và y tế dự phòng do chính quyền thực dân Pháp và các nhà khoa học Pháp lập ra ở Việt Nam và Đông Dương thời thuộc địa

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 hương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ

nghĩa Mác-Lê nin làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Vấn đề “Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945” được nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử cụ

thể cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, không gian là Bắc Kỳ Tác giả luận án đặt đối

Trang 13

5

tượng nghiên cứu trong sự vận động của lịch sử, xã hội Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX Vì vậy, nên có mối quan hệ giữa bối cảnh lịch sử, xã hội với sự du nhập của một nền y học mới, sự hình thành và phát triển của nền y tế hiện đại ở Bắc Kỳ Chúng tôi cũng đặt sự hình thành và phát triển của ngành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ trong cách tiếp cận về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân và dân tộc thuộc địa, cụ thể ở đây là Việt Nam Để từ đó nhìn nhận, đánh giá xem ngành y tế này đã mang lại những gì cho người dân Việt Nam hay nói đúng hơn, người Việt đã được hưởng gì từ ngành y tế này?

4.2 hương pháp nghiên cứu

Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp như sau:

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những phương pháp quan trọng được sử dụng trong khi nghiên cứu đề tài luận án Phương pháp lịch sử giúp cho tác giả luận án tìm hiểu phân tích quá trình du nhập, hình thành và hoạt động của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ theo tiến trình phát triển của sự kiện, mốc mở đầu, mốc kết thúc, diễn biến của quá trình này Phương pháp lo gic giúp tác giả luận án tìm được mối quan hệ giữa thực tế vận động của ngành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ với các vấn

đề có liên quan như bối cảnh, các chính sách thuộc địa của chính quyền thực dân Pháp, các biện pháp hành chính và tài chính trong lĩnh vực y tế, vai trò và tác động của y tế tới đời sống xã hội Bắc Kỳ lúc bấy giờ, từ đó tìm ra bản chất của nền y tế này Trên cơ sở đó tác giả luận án có thể đạt được sự khách quan và toàn diện trong việc đánh giá vấn đề nghiên cứu

- Bên cạnh đó, đề tài còn kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như thống kê,

so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp nghiên cứu liên ngành… Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả luận án đã tiếp xúc với rất nhiều nguồn tài liệu với những số liệu thống kê khác nhau, thậm chí trong một số trường hợp có sự vênh nhau khá lớn giữa các sử liệu, nhất là các số liệu

về vốn đầu tư, về số lượng nhân viên y tế cả người Âu và bản xứ, về số lượng cơ sở và

số người khám chữa bệnh qua các năm Vì vậy, tác giả phải so sánh, phân tích, đối chiếu các số liệu này để tìm ra và sử dụng số liệu hợp lý nhất Chúng tôi cũng đã tham vấn và lấy ý kiến chuyên gia nhất là những chuyên gia trong lĩnh vực lịch sử cận đại ở Việt Nam, đặc biệt là ở Viện Sử học, Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội để có cách nhìn tổng thể về lịch sử Bắc Kỳ thời cận đại Luận

án cũng là một đề tài nghiên cứu đặc thù thuộc ngành Y vì vậy trong quá trình tìm tài liệu và triển khai nghiên cứu, chúng tôi cũng đã trực tiếp phỏng vấn và hỏi ý kiến những chuyên gia, bác sĩ, nhà khoa học đang làm việc tại các cơ sở y tế tại Việt Nam

Trang 14

6

như Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Viện Răng Hàm Mặt Trung ương, Viện Vệ sinh và dịch tễ Trung ương để có được những hiểu biết căn bản về chuyên môn Y khoa Cùng với đó, tác giả cũng đã trực tiếp đi khảo sát một số địa điểm có liên quan hoặc trước đây từng là cơ sở y tế ở Bắc Kỳ thời cận đại như các bệnh viện, Đại học Y, nhà dòng của Công giáo, một số hiệu thuốc Tây lớn của Hà Nội Những chuyến đi điền dã

đã cung cấp cho tác giả những hiểu biết phong phú và kiến thức thực tế có liên quan đến đề tài luận án

4.3 Ngu n tài liệu

- Nguồn tài liệu lưu trữ: Trước tiên phải kể đến nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm

lưu trữ Quốc gia I Việt Nam Đó là những văn bản được ban hành bởi Phủ Toàn quyền Đông Dương, Sở Y tế Đông Dương, Sở Y tế Bắc Kỳ, của các tỉnh và thành phố về hoạt động của các cơ quan quản lý, tổ chức y tế, cơ sở đào tạo và cơ sở y tế ở Bắc Kỳ Đây là những tài liệu gốc, có giá trị tin cậy về mặt sử liệu, làm cơ sở để đối chiếu với các loại tài liệu khác

- Các công trình nghiên cứu: Đây là nguồn tài liệu phong phú bằng cả tiếng Việt

và tiếng Pháp, được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như sách, bài nghiên cứu, bài báo, hồi ký, sách ảnh, phim, bản vẽ thiết kế thi công

- Nguồn tài liệu điền dã: Đây được coi là một trong những nguồn tham khảo của tác

giả trong quá trình thực hiện luận án Đó là những cuộc khảo sát tại những cơ sở y tế của Pháp ở Bắc Kỳ trước kia, nay là các cơ sở y tế như Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Bệnh viện Hữu Nghị Việt-Đức, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Bạch Mai, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án góp phần hệ thống hóa và cung cấp nguồn tài liệu mới bằng tiếng Pháp và

tiếng Việt có liên quan đến vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945

- Luận án định hình một hướng nghiên cứu mới về lịch sử y tế phương Tây ở Bắc

Kỳ và Việt Nam thời cận đại: làm rõ các biện pháp hành chính và tài chính của chính quyền thuộc địa đối với các vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm

1945, sự ra đời và hoạt động của các cơ quan quản lý y tế, các cơ sở đào tạo y khoa, các cơ sở khám chữa bệnh và phòng dịch Đề tài bước đầu đưa ra nhận xét về đặc điểm, vai trò của y tế phương Tây trong đời sống xã hội ở Bắc Kỳ thời cận đại

- Luận án cũng có những đóng góp mang tính ứng dụng khi góp phần để lại những bài học kinh nghiệm trong việc hoạch định chính sách y tế như đầu tư, đào

Trang 15

7

tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng, kết hợp khám chữa và phòng bệnh, ngành sản khoa, dịch tễ, việc sử dụng vắc-xin, phân cấp và đãi ngộ nhân sự ngành y tế…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Y tế phương Tây là một trong những nét mới được du nhập vào Bắc Kỳ, gắn liền với quá trình thôn tính và đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta Thông qua việc thành lập và hoạt động của các cơ sở y tế phương Tây ở Bắc Kỳ, chúng tôi có thể hiểu hơn về quá trình xâm lược và cai trị xứ Bắc Kỳ của thực dân Pháp Nghiên cứu và giải quyết tốt các yêu cầu của đề tài chẳng những sẽ làm sáng tỏ quá trình du nhập và phát triển của y học phương Tây tại Việt Nam mà còn bổ sung nhận thức về tiến trình và hệ quả tiếp xúc văn hoá và khoa học Tây-Đông tại Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa đối với lịch sử y tế Việt Nam, nhất là đối với sự hình thành của ngành y tế ở miền Bắc Việt Nam sau này Đề tài luận án là một loại hình nghiên cứu lịch sử ngành nghề y tế, vì thế nó còn có ý nghĩa đối với lịch sử giáo dục, đặc biệt là với ngành Y khoa ở Việt Nam Ở Bắc

Kỳ, y tế phương Tây hiện đại được du nhập trong bối cảnh thực dân Pháp tiến hành công cuộc xâm chiếm và cai trị thuộc địa Vì vậy, vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời cận đại phải được nhìn nhận dưới cả góc độ sử học và y tế Cách nhìn biện chứng

đó đặt cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử y tế Việt Nam thời thuộc Pháp, thậm chí còn

là chìa khóa cho việc lý giải một số hiện tượng về văn hóa xã hội, lối sống mới của người Việt ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ

Về ý nghĩa thực tiễn, qua việc tìm hiểu lịch sử hình thành, cách tổ chức quản lý và phương thức hoạt động của y tế phương Tây tại Bắc Kỳtrong thời kỳ thuộc địa, đề tài có thể còn cung cấp thêm những kinh nghiệm quý, thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành y tế, nâng cao hiệu quả phòng, khám và chữa bệnh cho nhân dân hiện nay

7 Cấu trúc của luận án

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Sự hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1918 Chương 3: Sự phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1919 đến năm 1929

Chương 4: Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1930 đến năm 1945

Chương 5: Một số nhận xét

Trang 16

8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Vấn đề du nhập, hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu sử học và lịch sử y tế Việt Nam của các tác giả người Việt Nam và người nước ngoài Có thể phân loại các công trình này thành những nghiên cứu như sau:

1.1 Các nghiên cứu liên quan đến y tế phương Tây

- Nghiên cứu của các học giả trong nước: Những nghiên cứu bằng tiếng Việt có liên

quan đến y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ cận đại gồm có các công trình về lịch sử Việt Nam thời kỳ này, các nghiên cứu về Công giáo, nữ tu và các vấn đề y tế từ thiện của các

dòng tu Công giáo

Từ trước tới nay, mảng đề tài về y tế phương Tây còn khá ít ỏi trong các công trình nghiên cứu về lịch sử Cận đại Việt Nam Trong đó, công trình thông sử Việt Nam đầu tiên có đề cập tới một số vấn đề y tế phương Tây ở Việt Nam nói chung và Bắc Kỳ nói riêng thời kỳ 1873-1945 là Bộ Lịch sử Việt Nam các tập 7, 8, 9 của nhóm các tác giả Viện Sử học do PGS.TS.Tạ Thị Thuý làm Chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, in lần đầu vào năm 2013 và tái bản lần thứ nhất vào năm 2017

Tại tập 7 (sách tái bản năm 2017), trong các trang từ 183 đến 193, các tác giả đã phác thảo những nét cơ bản về quá trình y học hiện đại từng bước được người Pháp đưa vào Việt Nam trong giai đoạn 1897-1918, trên các phương diện như đầu tư kinh phí, cơ sở y tế và đào tạo nhân viên y tế, tình trạng khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh, những yếu kém trong lĩnh vực y tế-sức khoẻ vào đầu thế kỷ XX Tại tập

8, trong các trang từ 239 đến 251, chúng tôi kế thừa được nhiều sử liệu mới về hoạt động của nền y tế phương Tây ở Việt Nam giai đoạn này mà các tác giả gọi là những “ưu tiên” cho hoạt động y tế những năm 1919-1930 Tại tập 9, với các trang

từ 576 đến 578, tác giả đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về tình hình y tế-sức khoẻ ở Đông Dương giai đoạn 1930-1945

Các tập 7, 8, 9 bộ Lịch sử Việt Nam không chỉ cho chúng tôi thấy được bối cảnh

du nhập của y học phương Tây ở Việt Nam thời kỳ 1897-1945 mà còn cung cấp nhiều sử liệu mới, nhiều quan điểm nghiên cứu mới về quá trình du nhập và hoạt động của y học phương Tây ở Việt Nam thời kỳ này Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của hệ thống y tế công mà chính quyền thực dân Pháp đã tạo dựng ở Đông Dương như các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước thực dân, các cơ sở đào tạo y khoa cho người bản xứ, hệ thống viện Pasteur Đông Dương, cùng những hoạt động dịch tễ như chủng ngừa cho dân chúng bản xứ Những nghiên cứu trên đây thực sự là những gợi ý quý giá, gợi mở cho chúng tôi hướng tìm tòi tài liệu mới và suy nghĩ

Trang 17

Với bài viết “Du nhập Tây y vào Việt Nam”, Tạp chí Xưa & Nay, năm 2002, Ngô

Văn Quỹ đã mô tả hoạt động y tế của các giáo sĩ Công giáo ở Đại Việt/Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX1 Những nghiên cứu của Ngô Văn Quỹ cung cấp cho tác giả những sử liệu nhất định về quá trình du nhập y tế phương Tây vào Bắc Kỳ trước thế kỷ XIX, thông qua hoạt động y tế của các giáo sĩ phương Tây Những hiểu biết hữu ích đó giúp tác giả luận án đi tới nhận định rằng, quá trình du nhập y tế phương Tây qua kênh truyền giáo đã bắt đầu từ trước thế kỷ XIX, và vẫn tiếp tục được nối dài vào thời kỳ sau, đặt nền móng cho hoạt động truyền bá y tế phương Tây của các dòng nữ tu Công giáo ở Bắc Kỳ từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi

“Recherche sur les Congrégations religieuses féminines au Vietnam dans la période coloniale Les Amantes de la Croix et les sœurs de Saint Paul de Chartres”, D.E.A de

“Sciences Religieuses”, École Pratique des Hautes Études, Paris,1999 của Nguyễn Thu Hằng sẽ cung cấp cho người đọc những sử liệu có giá trị về sự ra đời của một số cơ sở

y tế quân sự, hoạt động của các nữ tu dòng thánh Saint Paul de Chartres trong một số

cơ sở y tế Công giáo, cơ sở y tế quân sự ở Bắc Kỳ thời thuộc Pháp

“Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền” của Đỗ Quang Hưng, xuất bản

năm 2014 cung cấp cho chúng tôi những thông tin cần thiết về chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, đặc biệt là chính sách đối với Công giáo Thông qua nghiên cứu của Đỗ Quang Hưng, tác giả luận án có thể chắt lọc được những sử liệu có giá trị về mối quan hệ giữa nhà nước thực dân và Giáo hội Công giáo ở Đông Dương, hoạt động y tế từ thiện của các dòng tu đặc biệt là các dòng nữ tu Công giáo, sự hình thành của một số cơ sở y tế Công giáo ở Đông Dương nói chung, Bắc Kỳ nói riêng thời cận đại

“Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam” gồm 2 tập của Trương Bá Cần, Nhà xuất

bản Tôn giáo, Hà Nội, 2008 đã khái quát bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành và phát triển của Công giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến mùa thu năm 1945 Cơ sở dữ liệu được khai thác từ các thư viện và kho lưu trữ ở trong và ngoài nước đã giúp công trình

1 Những giáo sĩ Công giáo hoạt động y tế ở Đại Việt lúc này gồm có Siebert, Slamenski, Koffler, Antoine

de Vasconcello, Jean de Loureiro, Girard André, Xavier Koffler, Jean de Louleiro…

Trang 18

10

trở thành một ấn phẩm có giá trị và đáng tin cậy đối với các giáo dân và các nhà nghiên cứu tôn giáo, lịch sử Tác giả luận án cũng có thể chắt lọc và tìm thấy ở đây những tư liệu quý về các cơ sở y tế Công giáo của các hội dòng Công giáo ở Bắc Kỳ thời kỳ này, gồm các xứ Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài

“Documents historiques des Amantes de la Croix” của linh mục Đào Quang

Toản, xuất bản năm 2012 tại Paris là một nghiên khảo dày dặn về lịch sử quá trình hình thành và những đóng góp của dòng Mến Thánh Giá ở Việt Nam thời cận đại Linh mục Đào Quang Toản đã dày công sưu tầm những tài liệu bằng tiếng Pháp có giá trị về dòng Mến Thánh Giá ở Việt Nam, gồm những bức thư của các thừa sai, các tài liệu được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ của Pháp cùng những phân tích, đánh giá, nhận định của ông về hoạt động và những đóng góp, vị trí của dòng Mến Thánh Giá trong hoạt động mục vụ ở Việt Nam, nhất là các hoạt động về y tế, giáo dục, từ thiện xã hội Công trình gồm hai tập sách, tập I dành cho những nghiên cứu về Hội dòng ở Bắc Kỳ, tập II ở Nam Kỳ Đặc biệt, tập I là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho những nghiên cứu về lịch sử dòng Mến Thánh Giá nói chung và hoạt động của các cơ sở y tế của Hội dòng nói riêng ở Bắc Kỳ Trong đó, chúng ta

có thể tìm thấy nhiều tài liệu có giá trị về hoạt động xã hội của dòng tu nữ này: Công việc khám chữa bệnh của các chị em từ khi hội dòng mới hình thành, các cơ

sở y tế mới được Hội dòng sáng lập trong thời thuộc địa, một số cơ sở y tế phương Tây đầu tiên có mặt ở Bắc Kỳ cũng đồng thời là những cơ sở do chính các chị em sáng lập

Các nhà nghiên cứu Ngô Văn Quỹ, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Quang Hưng, Trương

Bá Cần và Đào Quang Toản đều thừa nhận nhân lực của các cơ sở y tế Công giáo ở Bắc Kỳ và Việt Nam thời thuộc địa chủ yếu thuộc về các dòng tu nữ, hoạt động theo phương châm tự nguyện, phi lợi nhuận Đặc tính hoạt động này nhìn chung bị quy định bởi các giá trị Công giáo hơn là chi phối của chính sách thuộc địa Tuy nhiên, Ngô Văn Quỹ và Nguyễn Thu Hằng cho rằng y tế từ thiện là một trong những công cụ để các dòng tu thực hiện công cuộc truyền giáo, tìm chỗ đứng trong lòng các xã hội thuộc địa Đỗ Quang Hưng với quan điểm nhìn từ phía bên ngoài, ông cho rằng y tế Công giáo là một sự chuyển tải giá trị châu Âu vào Việt Nam trong quá trình tiếp xúc văn hóa Đông-Tây Ngược lại, Trương Bá Cần thì quá đề cao tính bác ái, đạo đức Công giáo, ông cho rằng đó là sự lan tỏa Lời Chúa vào những miền đất ngoại Còn chúng tôi thì cho rằng y tế Công giáo là một kênh truyền bá quan trọng, đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nên nền y tế thuộc địa ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ Những công trình nói trên sẽ cung cấp những hiểu biết có

Trang 19

11

giá trị về y tế tôn giáo, làm cơ sở để lý giải mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Nhà nước thực dân, giữa Công giáo và người dân bản xứ ở Bắc Kỳ thời kỳ này Trong những công trình nói trên, quá trình du nhập y tế phương Tây vào Bắc Kỳ thời cận đại được ghi chép tản mạn dưới dạng các sự kiện, theo trình tự thời gian, đan xen với các sự kiện lịch sử khác Do đó, khi nghiên cứu, tác giả luận án phải chắt lọc

để có thể thu thập những tài liệu trực tiếp và gián tiếp phản ánh bối cảnh xã hội Bắc

Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cũng như vấn đề y học, hoạt động của các cơ sở

y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ này

-Nghiên cứu của các học giả nước ngoài: Những nghiên cứu của các học giả

nước ngoài có liên quan đến y tế phương Tây ở Bắc Kỳ có thể tìm thấy trong các công trình viết về tình hình Đông Dương nói chung hoặc những nghiên cứu về lịch sử Công giáo ở Việt Nam nói chung, Bắc Kỳ nói riêng

Tại nhóm thứ nhất là các công trình của các Toàn quyền Đông Dương như De

Lanessance, Paul Doumer, Paul Beau Trong đó, chính trị gia đầu tiên nghiên cứu

về các vấn đề có liên quan đến y tế ở Đông Dương là Toàn quyền De Lanessance

với “La colonisation française en Indochine, Nhà xuất bản Ancienne Librairie

Germer Baillière et Cie, Paris, năm 1895 Cuốn sách trình bày và phân tích quá trình thực dân hoá, xâm lược và cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương Trong đó, tác giả dành ra một số trang viết trình bày về các cơ sở y tế quân sự đầu tiên ở Việt Nam: trạm cứu thương di động, các bệnh viện quân sự tại Hà Nội, Quảng Yên, Hải Phòng, Lạng Sơn, Phủ Lạng Thương, Việt Trì, Yên Bái, Sơn Tây, Móng Cái, Phả Lại Công trình là nguồn tham khảo hữu ích cho tác giả khi tìm hiểu và nghiên cứu quá trình du nhập và hình thành những cơ sở y tế phương Tây đầu tiên tại Việt Nam và

Bắc Kỳ Tại nhóm thứ hai là một số công trình nghiên cứu về lịch sử Công giáo Việt Nam, trong đó tiêu biểu là “Mère Benjamin” của nữ tu Marie Paul Bord Đây là một

nghiên cứu bằng tiếng Pháp của nữ tu Marie Paul Bord, xuất bản năm 1982 tại Paris về cuộc đời và sự nghiệp của nữ tu Benjamin Cuốn sách đã dành toàn bộ dung lượng để viết về tiểu sử, thân thế của nữ tu Benjamin, cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của bà: Thời kỳ ở Hồng Kông, ở Việt Nam, sang Pháp rồi quay lại Sài Gòn, đến Nhật rồi quay về Bắc Kỳ và mất tại đây Cuốn sách là nguồn tư liệu quý cho giới nghiên cứu Công giáo và y tế Công giáo, y tế quân sự ở Bắc Kỳ thời thuộc địa

1.2 Các nghiên cứu về y tế phương Tây

1.2.1 Các nghiên cứu về y tế phương Tây ở Việt Nam

-Nghiên cứu của các học giả nước ngoài: Những nghiên cứu về y tế phương Tây

thời cận đại của các học giả nước ngoài, mà chủ yếu là các học giả Pháp gồm hai loại

Trang 20

12

là những công trình của các tác giả được viết trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX; và những công trình của các tác giả được viết trong những năm

từ cuối thế kỷ XX đến nửa đầu thế kỷ XXI

Tại nhóm thứ nhất là những nghiên cứu về y tế phương Tây của các bác sĩ, thanh tra y

tế, giám đốc sở y tế người Pháp như Grall (Ch), Gaide, Genevray (J), De Raymond (Arrnand) xuất hiện trong những năm nửa đầu thế kỷ XX Những nghiên cứu này thường bắt đầu từ những trường hợp bệnh học cụ thể cho đến những vấn đề lý luận mang tính khái quát về y tế phương Tây và thực tiễn du nhập, hoạt động của nó ở Việt Nam

Công trình đầu tiên trực tiếp viết viết về y tế phương Tây ở Việt Nam là “Hygiène

de l'Indo-Chine” của bác sĩ-thanh tra Grall, Nhà xuất bản Baillière et fils, tại Paris, năm 1908 “Hygiène de l'Indo-Chine” là một nghiên cứu chuyên sâu về vệ sinh, dịch

tễ của bác sĩ, thanh tra Ch.Grall Cuốn sách nghiên cứu về các vấn đề vệ sinh dịch tễ của Việt Nam và Đông Dương như khí hậu, sự phát triển của vi khuẩn, tập quán sinh hoạt của nhân dân ở các vùng; bệnh sốt rét, bệnh lị ở vùng nhiệt đới; tình hình sức khỏe của người Âu và người bản xứ; vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng; các cơ sở chữa bệnh

Sau bác sĩ-thanh tra Chrall, bác sĩ Gaide là người thứ hai dụng tâm nghiên cứu

về các vấn đề y tế phương Tây ở Việt Nam và Đông Dương Ông đã có 05 công trình nghiên cứu gồm sách, bài tạp chí viết về vấn đề nghiên cứu khoa học trong y học, cứu trợ y tế ở Đông Dương, nghiên cứu các loại bệnh cụ thể như sốt, lao, hoa liễu Nghiên cứu đầu tiên về y tế phương Tây ở Đông Dương của bác sĩ Gaide là

công trình “Congrès scientifiques et sanitaires en Extrême-Orient 1908 à 1930”,

Nhà xuất bản Extrême-Orient, năm 1930 Gaide đã thống kê và phân tích các công trình nghiên cứu khoa học của các thầy thuốc và dược sĩ Đông dương trong lĩnh vực lâm sàng và trong phòng thí nghiệm, được trình bày tại các hội nghị quốc tế Viễn Đông từ năm 1905 đến năm 1930, những tác động của các công trình này đối với vấn đề nghiên cứu y học và y tế ở Đông Dương nói riêng, trong toàn vùng Viễn Đông nói chung Điều đó trở thành một chỉ dẫn quan trọng cho tác giả luận án để có những hiểu biết nhất định về thành tựu của ngành y tế ở Đông Dương lúc bấy giờ, được tổng kết và nghiên cứu bởi các bác sĩ Pháp Nó cho thấy

sự quan tâm nhất định của các nhà khoa học, bác sĩ Pháp đối với các vấn đề bệnh học ở Việt Nam và Đông Dương, sự tham gia của Đông Dương trên bản đồ nghiên cứu y học Viễn Đông những năm nửa đầu thế kỷ XX

Cùng trong năm 1930, Gaide cũng đã xuất bản một chùm những nghiên cứu về các

vấn đề bệnh học cụ thể ở Đông Dương như sốt, lao, hoa liễu Trong “Le péril

Trang 21

13

vénérien en Indochine”, bác sĩ Gaide nghiên cứu các bệnh hoa liễu ở Đông Dương do

nạn mại dâm gây ra như: số lượng gái mại dâm, các nhà chứa, các cơ sở phòng bệnh: khám định kỳ gái mại dâm, đăng ký gái mại dâm, chữa bệnh miễn phí cho gái mại dâm, trang bị các phương tiện phòng bệnh do nhà nước cung cấp cho các nhà chứa; tỷ

lệ tử vong do bệnh hoa liễu ở Đông Dương: ở môi trường dân sự, quân đội; nghiên cứu lâm sàng bệnh giang mai ở Đông Dương; phòng bệnh hoa liễu bằng cách giáo dục quần chúng: giáo dục ở trường học cho học sinh lớn, tuyên truyền trong quần

chúng Nếu “La Tuberculose et sa prophylaxie en Indochine Française” nghiên cứu

về bệnh lao và việc phòng bệnh lao ở Việt Nam và Đông Dương, tác dụng của việc tiêm vắc-xin BCG hạn chế được sự lan tràn của bệnh lao từ vùng ôn đới sang vùng

nhiệt đới thì “La fièvre récurrente et le béribéri en Indochine” phân tích tình hình

môi trường, nguyên nhân gây bệnh và sự phát triển bệnh sốt hồi qui ở An nam vào năm 1906, nguyên nhân chính gây bệnh và tình trạng bệnh tê phù năm 1929 Những nghiên cứu của Gaide trong các công trình nói trên không chỉ cung cấp những thông tin cụ thể về tình hình dịch bệnh ở Việt Nam mà còn làm rõ vai trò của các viện Pasteur Đông Dương đối với công tác dịch tễ ở thuộc địa này

Một nghiên cứu khá quan trọng của Gaide khi viết về y tế Việt Nam và Đông

Dương chính là công trình “L'Assistance médicale et la protection de la santé publique”, xuất bản tại Hà Nội, năm 1931 Trong tác phẩm này, với tư cách là bác sĩ

của Quân đội thuộc địa, Tổng thanh tra của Tổng Nha y tế Đông Dương, Gaide đã phác thảo một bức tranh khá toàn diện về lịch sử và hoạt động của nền y tế Đông Dương qua các thời kỳ: trước năm 1858 với hoạt động của y tế thời Nguyễn, từ năm

1858 trở đi với những hoạt động y tế của các dòng nữ tu Công giáo trong các cơ sở y

tế quân sự Pháp, từ năm 1905 khi ngành y tế thuộc địa được thành lập chính thức đến năm 1930 Qua đó cung cấp những dữ liệu và đánh giá của tác giả về hoạt động của ngành y tế và tổ chức vệ sinh công cộng, quy chế tổ chức ngành dược, tình hình các bệnh dịch đang hoành hành ở Đông Dương: tả, hạch, đậu mùa, quá trình khắc phục các bệnh dịnh bằng các chiến dịch chủng ngừa vắc-xin, phát thuốc ký ninh chống sốt rét, quá trình hình thành và hoạt động của các viện Pasteur Đông Dương, sự ra đời của hệ thống các nhà thương lây, các bác sĩ Pháp tiếp xúc với y học cổ truyền Việt Nam… Tuy phạm vi nghiên cứu của Gaide về hoạt động của nền y tế Đông Dương chỉ đến năm 1930 nhưng thực sự nó cung cấp những sử liệu quý giá, tương đối toàn diện về quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở y tế phương Tây ở Đông Dương nói chung và Bắc Kỳ nói riêng từ năm 1873 đến năm 1930, làm cơ sở quan trọng để tác giả luận án bắt đầu tìm hiểu và triển khai những nghiên cứu của mình

Trang 22

14

Cùng với các nghiên cứu về nền y tế thuộc địa ở Việt Nam nói chung, chúng tôi

cũng hướng sự quan tâm của mình tới các nhân vật y tế tiêu biểu “Alexandre Yersin 1863-1943:Un pasteurien en Indochine” của H.H.Mollaret và J.Brossollet cũng là

một nghiên cứu như thế Công trình đã viết về một trong những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng nhất tới nền y tế Đông Dương và Bắc Kỳ thời thuộc Pháp-bác sĩ Alexandre Yersin Ông được biết đến là Tổng giám đốc của Viện Pasteur Đông Dương, là người sáng lập đồng thời cũng là hiệu trưởng đầu tiên của trường Y khoa Đông Dương Người ta thường hay nghĩ tới dấu ấn của bác sĩ Yersin ở Việt Nam là những năm tháng ông sống và làm việc ở viện Pasteur Nha Trang Quả là như vậy khi nơi đây chiếm phần lớn thời gian sống và làm việc của vị bác sĩ này Nhưng còn có một khoảng thời gian khác cũng không kém phần sôi nổi của ông-những ngày tháng

là hiệu trưởng của trường y khoa Đông Dương, nơi ông để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp

và vai trò đặc biệt quan trọng với nền y tế phương Tây ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ Các tác

giả đã trân trọng gọi Alexandre Yersin là “một Paxtơ ở Đông Dương” Những nghiên

cứu nói trên không chỉ cung cấp cho luận án những sử liệu cần thiết về các nhân vật tiêu biểu của nền y tế Đông Dương mà còn giúp tác giả hướng suy nghĩ của mình đến những vấn đề mới Tác giả luận án nhận thấy rằng, các bác sĩ Pháp kể trên đã vượt ra khuôn khổ của một viên chức trong bộ máy thực dân, mà đem trí tuệ và tâm huyết của mình phục vụ hoạt động y tế ở xứ thuộc địa Họ không chỉ là những người tuyên truyền phổ biến y tế phương Tây vào trong đời sống Việt Nam mà còn góp phần đào tạo cho các sinh viên y khoa người Việt, phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho người bản xứ, ca ngợi và khuyến khích việc sử dụng Đông y trong các hoạt động y tế Đó là lý do giải thích vì sao, một số bác sĩ Pháp đã hoà mình vào đời sống xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, thậm chí có người còn được người bản xứ trìu mến gọi bằng cái tên rất Việt “Ông Năm” và trở thành công dân danh dự Việt Nam như trường hợp của bác sĩ Alexandre Yersin

Bên cạnh đó, chúng tôi còn được tiếp cận với một số công trình nghiên cứu về các

cơ sở đào tạo y khoa Có thể kể đến “École de médecine et de pharmacie de plein exercice de l'Indochine” Công trình cung cấp cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh

về lịch sử thành lập trường Y Đông Dương (ngày 8-1-1902 bởi Toàn quyền Doumer) Đến ngày 30-8-1923 thì trường được đổi tên thành trường Đại học Y Dược Đông Dương và vẫn có một ban đào tạo y sĩ và dược sĩ trung cấp Bệnh viện thực tập của trường là Bệnh viện René Robin (Bạch Mai), có các ban Y (học 6 năm), ban Dược (4 năm), ban Nha khoa (3 năm), ban đào tạo bà đỡ (2 năm) Các chương trình học, các vấn đề sinh viên và bằng cấp tốt nghiệp

Trang 23

15

Chính quyền thực dân và các bác sĩ Pháp rất quan tâm đến các vấn đề dịch tễ và y tế

dự phòng ở Đông Dương Bởi nếu làm tốt được công đoạn này, họ đã ngăn ngừa và tránh được sự phát tán của nhiều bệnh lây trong quân đội và khối viên chức, kiều dân Pháp Vì thế, những công trình nghiên cứu về dịch tễ khá phong phú và luôn chiếm tỷ

lệ áp đảo trong các nghiên cứu y tế nói chung ở Đông Dương Tuy nhiên trong khả năng tiếp cận tài liệu hiện thời của mình, tác giả luận án hướng sự quan tâm đến các nghiên cứu về lịch sử ngành dịch tễ Đông Dương và các trường hợp bệnh học cụ thể Chúng tôi cũng tìm thấy nhiều thông tin bổ ích về các trường hợp bệnh học cụ thể ở Bắc Kỳ năm 1940 trong bài viết chung của hai bác sĩ J.Dodero và Hoang Tich Tri là

“Formule leucocytaire et image d'Arneth dans le traitement antirabique pasteurien”, Extrait de la Revue médicale française d'Extrême-Orient, N0 6, juin-juillet,1940, H: Impr d'Extrême-Orient, 1941, p.235-238 Bài viết là sự tổng hợp những kết quả

nghiên cứu về thí nghiệm điều trị bệnh dại theo Phương pháp Pasteur qua theo dõi

30 bệnh nhân Bắc Kỳ

Tại nhóm thứ hai là sự xuất hiện một số công trình của các nhà nghiên cứu nước

ngoài như Rousselot (Laurence Monnais), Kagawa (Shiho Aoyama), Rayssac (Mathieu) trong những năm nửa cuối thế kỷ XX, nửa đầu thế kỷ XXI Luận án

“Médecine et colonisation: L'aventure Indochinoise 1860-1939” của tiến sĩ Laurence

Monnais Rousselot xuất bản tại Canada năm 1999 là một chuyên khảo đặc biệt quan trọng đối với đề tài nghiên cứu luận án Với 489 trang viết chính văn kèm các bảng, biểu thống kê, Laurence Monnais Rousselot đã phác thảo bức tranh toàn diện và cụ thể về ngành y tế phương Tây ở Đông Dương thời kỳ 1860-1939 Đó là vấn đề trang

bị của Pháp đối với các hoạt động y tế ở Việt Nam: nghiên cứu và phổ biến vắc-xin, giáo dục vệ sinh, thành lập Hội cứu trợ y tế, xây dựng các cơ sở y tế công của nhà nước thực dân (bao gồm trong đó là các cơ sở y tế phục vụ mục đích quân sự) như những bệnh viện, phòng khám, nhà hộ sinh, cơ sở cấp phát thuốc Tây, sự phổ biến và phát triển của các cơ sở y tế phương Tây ở Việt Nam… Năm 1893, trong một bức thư của Delcassé-Phó Quốc vụ khanh phụ trách Các vấn đề thuộc địa gửi Bộ trưởng Bộ

Ngoại giao Pháp-y tế được ví như“khoa học bổ trợ cho quá trình thực dân hóa”

[141; tr.56-57] Tức là quá trình du nhập y tế phương Tây vào Việt Nam thực chất là một loại công cụ phục vụ đắc lực và gắn chặt với quá trình thực dân hoá của người Pháp Chúng tôi đồng tình và kế thừa quan điểm của Laurence Monnais Rousselot

khi gọi nền y tế mà người Pháp tạo dựng ở Đông Dương lúc bấy giờ là một nền y tế thực dân Bởi mục đích ban đầu và xuyên suốt của quá trình du nhập y tế phương Tây

và sự thiết lập các cơ sở y tế Tây phương chỉ nhằm hướng tới việc chăm sóc sức

Trang 24

16

khoẻ, chữa bệnh cho quân nhân, viên chức và các nhà thực dân người Pháp ở Đông Dương, phục vụ quá trình xâm chiếm và khai thác thuộc địa Đông Dương của người Pháp, chứ không chủ đích dành cho người bản xứ Chủ trương này xuyên suốt quá trình xâm chiếm và cai trị thuộc địa của người Pháp ở Việt Nam nói chung và Bắc Kỳ nói riêng, chi phối đến việc đầu tư y tế của các nhà cầm quyền Đông Dương, cũng như hoạt động của hệ thống các cơ sở y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ này

Nghiên cứu tiếp theo có thể kể đến “Les médecins de l’Assistance médicale en Indochine: 1905-1939” của tác giả Rayssac (Mathieu), Éditions l’Harmattan, Paris,

năm 2015 Cuốn sách viết về đội ngũ các bác sĩ làm việc cho Cơ quan Hỗ trợ y tế ở Đông Dương trong những năm từ 1905 đến 1939 Mathieu cho rằng việc thiết lập những cơ quan quản lý y tế của Pháp ở Đông Dương được bắt đầu từ năm 1905 với

sự thành lập Cơ quan Hỗ trợ y tế và một đoàn bác sĩ Cứu trợ y tế Những vấn đề này phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ Đông Dương Y tế dự phòng và chữa bệnh, cũng như y tế nói chung, là sự phối hợp giữa chăm sóc, nghiên cứu, giảng dạy và giao tiếp Nghiên cứu của Mathieu không chỉ cung cấp những thông tin cụ thể về tình hình bác sĩ, nhân viên y tế làm việc trong Cơ quan Hỗ trợ y tế ở Đông Dương

mà còn làm rõ về sự can thiệp trên lĩnh vực y tế, những khó khăn của việc hình thành hệ thống y tế của Pháp ở châu Á

-Nghiên cứu của các học giả Việt Nam: Có thể kể đến các tác giả Bửu Hiệp,

Trương Xuân Nam, Tập thể các tác giả Bộ Y tế Việt Nam, Lê Hùng Lâm, Tạ Thị Thuý

và Shaun Kingslay Malarney

Bửu Hiệp dành nhiều trang viết từ “La médecine française dans la vie annamite”, Nhà in Le Van Phuc, 1936 để trình bày sự hiện diện của y tế phương Tây trong đời

sống người Việt từ năm 1906 đến năm 1930 Trong đó ông ưu tiên các nghiên cứu của mình cho việc thống kê và phân tích đội ngũ nhân viên y tế người Đông Dương như bác sĩ, dược sĩ, y tá, các cơ sở y tế, ngân sách dành cho cứu trợ y tế, số lượt người khám và chữa bệnh, tình hình sản khoa từ năm 1906 đến năm 1930, sự tiếp nhận của người Việt đối với y tế phương Tây, tình hình Đông y Việt Nam thời kỳ này, sự phổ biến y tế phương Tây ở Việt Nam Những nghiên cứu của Bửu Hiệp đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu có giá trị về tình hình y tế và hoạt động chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam thời kỳ 1906-1930 Tuy tiếp thu nhiều sử liệu về y tế Đông Dương nhưng chúng tôi lại không đồng tình với luận điểm của ông khi cho rằng quá trình du nhập y học phương Tây là một sự khai sáng văn minh của người Pháp đối với dân chúng Việt Nam Bửu Hiệp kết luận rằng, ảnh hưởng của y học phương Tây vẫn chỉ ở tầng lớp trên và trong các khối dân thành thị hoặc ở những nơi có nhiều cơ

Trang 25

17

sở y tế của Pháp Vì thế, ông hy vọng rằng, với sự nỗ lực của các bác sĩ (được ông gọi

là những sứ giả văn minh đầu tiên)2 và chính quyền thuộc địa, y tế phương Tây ngày càng được phổ biến sâu rộng hơn trong đời sống người Việt Nam

Trương Xuân Nam là sinh viên Đại học Y Dược Hà Nội trong các năm 1934-1937, sang Pháp học tiếp năm cuối và tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất đại học tại Paris năm

1939, sau đó ông về nước mở hiệu thuốc tại thị xã Quy Nhơn, Bình Định Ông là người

Việt Nam đầu tiên xuất bản sách về lịch sử ngành dược Việt Nam Cuốn sách “Góp phần xây dựng lịch sử ngành Dược Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí

Minh, năm 1985 là công trình nghiên cứu tâm huyết và có giá trị tham khảo lớn về dược học của ông Tác giả đã phác thảo quá trình hình thành và phát triển của ngành dược Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Dù chỉ chiếm một dung lượng khiêm tốn nhưng những trang viết về cơ sở Tây dược sẽ cho người đọc có được những hình dung nhất định về quá trình hình thành ngành Tây dược ở Bắc Kỳ thời thuộc địa

“Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam tập 1” là công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả

Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1995 đã dành toàn bộ chương II với dung lượng

20 trang chính văn, từ trang 61 đến trang 81 để trình bày về nền y tế Việt Nam từ khi Pháp vào Đông Dương cho đến năm 1945 Các tác giả của công trình đã đi từ việc phân tích quá trình du nhập của y tế phương Tây vào Việt Nam thông qua các giáo sĩ trong các thế kỷ XVII-XVIII-XIX, đến phân tích tổ chức và hoạt động của y tế Việt Nam thời Pháp thuộc (các cơ quan quản lý y tế, cơ sở phòng dịch, cơ sở khám chữa bệnh); Những nét đặc trưng về sức khoẻ bệnh tật của nhân dân ta dưới thời Pháp thuộc Chúng tôi đồng tình và tiếp thu những quan điểm chung nhất của các tác giả công trình khi cho rằng, tổ chức y tế chủ yếu phục vụ cho kiều dân, binh sĩ Pháp, quan lại, người giàu có Người dân nghèo không được quan tâm và chăm sóc về y tế Sức khoẻ và tình trạng vệ sinh của đại đa số người Việt Nam đầu thế kỷ XX chưa thực sự được cải thiện

so với trước đó Ở nông thôn, miền núi hầu như không có tổ chức và cán bộ y tế Người dân vẫn phải tự chăm lo sức khoẻ của mình bằng cách tìm đến các thầy lang hoặc các bài thuốc dân gian

Công trình“Lịch sử y học” của Lê Hùng Lâm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1998

cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về lịch sử phát triển của y học thế giới Ông đặt ra khái niệm lịch sử y học, trình bày lịch sử hình thành và phát triển của y học thế giới, đặc biệt là dành nhiều trang viết về thành tựu của y học phương Tây hiện đại3 Lê Hùng

2

Premiers ambassadeurs de la civilisations-Bửu Hiệp, 1936

3 Đó là chủng đậu, giải phẫu lâm sàng, y học thực nghiệm, chống vi khuẩn, di truyền học, chủng lao, y học nhiệt đới

Trang 26

18

Lâm cũng đã khái quát về quá trình phát triển của y tế Việt Nam, những kết luận rút ra

từ lịch sử y tế thế giới và Việt Nam.Tác giả luận án kế thừa được ở đây những sử liệu

có giá trị như sự ra đời của Sở Y tế Đông Dương năm 1888, sự ra đời và hoạt động của trường Y khoa Đông Dương, những nghiên cứu bệnh học vùng nhiệt đới, việc thành lập Viện Pasteur Đông Dương, tỷ lệ dịch bệnh, số lượng bác sĩ, y sĩ, dược sĩ, y tá, nữ

hộ sinh, một số tấm gương tiêu biểu của ngành y tế Việt Nam như các bác sĩ Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng

“Đại học Y Hà Nội 100 năm trưởng thành và phát triển (1902-2002)” của Đại học

Y Hà Nội, xuất bản năm 2002 là tập hợp các bài nghiên cứu phân tích lịch sử hình thành của trường Y Đông Dương-trường y khoa phương Tây đầu tiên ở Bắc Kỳ và Việt Nam, quá trình đào tạo y khoa cho người Đông Dương, các thế hệ sinh viên, bác

sĩ tiêu biểu của nhà trường, những đóng góp của trường Y khoa Đông Dương-Đại học

Y Hà Nội đối với sự phát triển của ngành y tế ở Bắc Kỳ và Việt Nam trong một thế

kỷ qua Nghiên cứu nói trên đã khắc hoạ những nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp của một số sinh viên y khoa Đông Dương tiêu biểu, là những nhà khoa học, thầy thuốc, bác sĩ lớn của nền y tế hiện đại tại Bắc Kỳ và Việt Nam sau này Những sinh viên y khoa nói trên không chỉ góp phần du nhập nền y tế phương Tây hiện đại vào Bắc

Kỳ và Việt Nam, tích cực chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cộng đồng, mà còn hết lòng phục vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần xây dựng nền y tế Việt Nam hiện đại

Bài viết “Người Pháp với quá trình du nhập y học hiện đại vào Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX” của các tác giả Tạ Thị Thuý và Shaun Kingslay Malarney, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, năm 2012, số 9 đã trình bày những “cố gắng”

của người Pháp trong việc du nhập nền y học hiện đại hay còn gọi là Tây y vào Việt Nam và Đông Dương trong những năm đầu thế kỷ XX, nhất là trong khuôn khổ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp Bằng nguồn sử liệu và quan điểm nghiên cứu mới, các tác giả cho thấy sự du nhập và hình thành của y tế phương Tây được thể hiện qua từng thời Toàn quyền Đông Dương, trên nhiều lĩnh vực, trong

từng xứ Kể từ năm 1913, dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut, việc “làm cho người bản xứ được hưởng những tiến bộ về vệ sinh và khoa học y học” đã trở thành một trong những biện pháp chủ yếu để triển khai chính sách “hợp tác với người bản xứ” Với những cố gắng của chính quyền thuộc địa, bằng nguồn kinh phí ít ỏi so với

ngân sách chung, một mạng lưới cơ sở Tây y được lập ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam Mạng lưới này gồm các cơ quan quản lý, cơ sở y tế, cơ sở đào tạo y khoa, với

số lượng người được thăm khám, chữa bệnh ngày càng tăng Chính quyền cũng đã

Trang 27

19

áp dụng các biện pháp để phòng chống các loại dịch bệnh ở Việt Nam như thành lập

và mở rộng một số viện Pasteur, phát động các chiến dịch chủng ngừa bằng vắc-xin trong khối quần chúng bản xứ, phát thuốc, các chiến dịch vệ sinh tẩy uế các khu dân

cư có chứa ổ dịch, lập nhà thương lây để cách ly bệnh dịch Luận án kế thừa quan điểm của các tác giả Tạ Thị Thuý và Shaun Kingslay Malarney khi cho rằng nền y tế hiện đại được du nhập vẫn chủ yếu và trước hết phục vụ cho nhu cầu sức khoẻ và y tế của bộ máy chính quyền thực dân Pháp và một số ít tầng lớp trên người Việt, chứ không nhằm phục vụ cho đại đa số người dân Việt Nam

Nhìn chung những nghiên cứu bằng tiếng Việt về một số vấn đề y tế phương Tây ở Đông Dương và Việt Nam thời cận đại còn khá ít, hoặc được đan xen trong các công trình thông sử về lịch sử Việt Nam cận đại, hoặc được thể hiện trong một số ít những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này Tuy ít ỏi nhưng những nghiên cứu đó là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, cung cấp những sử liệu về bối cảnh chung, một số vấn

đề về du nhập y học phương Tây, được chúng tôi chắt lọc và kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

1.2.2 Các nghiên cứu về y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

-Nghiên cứu của các học giả nước ngoài: Từ rất sớm, các học giả nước ngoài gồm

các nhà nghiên cứu, các bác sĩ đã có những nghiên cứu trực tiếp về một số cơ sở y tế phương Tây ở Bắc Kỳ Có thể điểm ra ở đây 3 nghiên cứu như sau:

“L’hôpital militaire de Hanoї” được đăng tải trên tạp chí Revue Indo-chinoise, số 9,

tháng 4 năm 1894 là nghiên cứu sớm nhất trực tiếp về y tế phương Tây ở Bắc Kỳ Nghiên cứu này đã cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn về quá trình hình thành của một bệnh viện quân sự ở Hà Nội, các dự án xây dựng, thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan đến kỹ thuật xây dựng của bệnh viện, kết cấu của bệnh viện, số lượng giường bệnh, khả năng tiếp nhận khám và điều trị của bệnh viện…

“Un hôpital d’État colonial: l’hôpital de Lanessance à Hanoї” của P.Huard và A.Bigot được đăng trên tập san Revue médicale française d’Extrême-Orient, số 5,

tháng 5 năm 1938 Những nghiên cứu của hai bác sĩ trên đã phác qua những nét sơ lược về lịch sử y tế ở Việt Nam dưới thời Nguyễn, lịch sử hình thành bệnh viện De Lanessance qua các thời kỳ: thời kỳ đầu tiên khi hình thành các cơ sở y tế ở Hà Nội (1884-1894), quá trình xây dựng bệnh viện qua 6 dự án, những chi tiết về kỹ thuật xây dựng bệnh viện, tình hình nhân sự phụ trách bệnh viện qua các giai đoạn, sơ đồ bệnh viện Đặc biệt, nghiên cứu này còn cung cấp cho chúng ta một loại tài liệu có giá trị tham khảo quan trọng, là những bản vẽ thiết kế thi công của bệnh viện, bản

đồ khu Nhượng địa Hà Nội những năm cuối thế kỷ XIX… Tuy nhiên chúng tôi

Trang 28

20

nhận thấy phần lớn nội dung về quá trình xây dựng bệnh viện De Lannessance của

P.Huard và A.Bigot năm 1938 trùng khớp với bài viết “L’hôpital militaire de Hanoї”, được đăng tải trước đó trên tạp chí Revue Indo-chinoise, số 9, tháng 4 năm 1894 Chúng

tôi nghĩ tới hai khả năng, hoặc P.Huard và A.Bigot đã kế thừa toàn bộ nghiên cứu trước đó mà không ghi rõ nguồn trích dẫn, hoặc họ là tác giả của cả hai bài viết này Một nhà nghiên cứu khác cũng dày công nghiên cứu về các vấn đề y tế Bắc Kỳ là bác sĩ Genevray Những trải nghiệm sâu sắc trong thời gian làm việc tại viện Pasteur

Hà Nội đã giúp Genevray có được những nghiên cứu khá tỉ mỉ, kỳ công về các viện Pasteur ở Đông Dương thời cận đại Genevray đã có 3 công trình nghiên cứu về viện

Pasteur Hà Nội là Rapport sur le fonctionnement de l’Institut Pasteur de Hanoї en

1940, Rapport sur le fonctionnement de l’Institut Pasteur de Hanoї en 1941, và Rapport sur le fonctionnement de l’Institut Pasteur de Hanoї en 1942, xuất bản tại Hà

Nội lần lượt vào các năm 1941, 1942, 1943 Đây không chỉ là các báo cáo số liệu mà còn là những nghiên cứu cụ thể về cơ cấu tổ chức, nhân sự, các lĩnh vực hoạt động của các viện Pasteur thành viên, trong đó có viện Pasteur Hà Nội như nghiên cứu khoa học

và đào tạo, hoạt động thực nghiệm Thông qua đó, Genevray giúp tác giả luận án có thể thấy rõ hơn vai trò của viện Pasteur Hà Nội trong hệ thống viện Pasteur Đông Dương thời cận đại và nhất là trong công tác dịch tễ ở Bắc Kỳ thời gian này

- Nghiên cứu của các học giả Việt Nam: Tiêu biểu trong số đó là “Sơ lược lịch sử

85 năm Bệnh viện Bạch Mai” của Trần Thị Thịnh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1997

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của các tác giả Việt Nam viết về một trong những cơ sở y tế dân sự lớn của Pháp ở Bắc Kỳ-bệnh viện René Robin Cuốn sách nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của bệnh viện Bạch Mai từ năm 1911 đến năm 1997 Năm 1911, Nhà thương Cống Vọng được lập ra để thu nhận và điều trị bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm Từ năm 1935, Bệnh viện mang tên René Robin được xây dựng, là cơ sở thực hành chính của trường Đại học Y khoa Đông Dương Năm 1945, bệnh viện được mang tên Bệnh viện Bạch Mai, và giữ tên gọi này đến ngày nay

“Lịch sử Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (1945-2000)”, Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2001 đã ghi lại những chặng đường lịch sử xây dựng và trưởng thành, sự phấn đấu và hy sinh của tập thể cán bộ và công chức viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, những thành tích mà Viện đã đạt được trên lĩnh vực dịch tễ và y tế dự phòng Tác giả luận án đã thể kế thừa ở đây những sử liệu về bối cảnh và quá trình hình thành của hệ thống viện Pasteur Đông Dương, trong đó có viện Pasteur Hà Nội, tiền thân của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Trang 29

21

“Lịch sử bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1951-2001)” của tác giả Trần

Ngọc Duy, xuất bản tại Hà Nội năm 2001 là một trong những nghiên cứu hiếm hoi bằng tiếng Việt về các cơ sở y tế quân sự của Pháp ở Bắc Kỳ Cùng với việc phác thảo một bức tranh tổng thể về lịch sử bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ năm

1951 đến năm 2001, công trình đã giúp tác giả luận án có những hình dung nhất định

về hoạt động của bệnh viện này trước năm 1945 với tư cách là bệnh viện quân sự Hà Nội, bệnh viện De Lanessance khi còn trực thuộc sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp

Nhìn chung, phạm vi thời gian của những nghiên cứu về các cơ sở dịch tễ, cơ sở

y tế dân sự và quân sự nói trên chỉ bắt đầu từ năm 1945 Vì vậy, tác giả luận án sẽ chắt lọc những dữ liệu ít ỏi về các cơ sở y tế phương Tây ở Bắc Kỳ trước năm 1945, được phản ánh xen kẽ trong các phần viết về bối cảnh và hoạt động của các bệnh viện và viện Pasteur

1.3 Những nội dung luận án kế thừa

Nhìn chung trong những chừng mực nhất định, vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

từ năm 1873 đến năm 1945 đã được thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu, kể cả trong và ngoài nước

Về nội dung: Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến những khía cạnh

khác nhau về sự hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 trên những nguồn tài liệu và phương pháp tiếp cận khác nhau Những công trình đó đã cung cấp cho tác giả luận án những nét lớn về bức tranh xã hội Bắc

Kỳ thời cận đại, vừa với tư cách là bối cảnh, vừa là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trình hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ Những công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, được chúng tôi kế thừa khi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ đã làm rõ một số vấn đề: quá trình hình thành và phát triển của hệ thống y tế công do nhà nước bảo hộ như các cơ sở khám chữa bệnh như bệnh viện, phòng khám, nhà hộ sinh, sự hình thành và phát triển của viện Pasteur Hà Nội cùng các cơ sở phòng ngừa dịch bệnh, cùng với đó là sự xuất hiện của hàng loạt các

cơ sở đào tạo y khoa cho người bản xứ và một đội ngũ sinh viên y khoa, bác sĩ thầy thuốc người bản xứ ngày càng tăng trưởng về số lượng và chất lượng…

Về tư liệu: Các công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp những tư liệu khá đa

dạng có liên quan đến đề tài luận án như: tư liệu về bối cảnh, tiền đề quá trình hình thành nền y tế phương Tây ở Bắc Kỳ, hoạt động của y tế thuộc địa trên hai phương diện là khám chữa bệnh và dịch tễ, những tư liệu về các nhân vật là các bác sĩ người

Trang 30

22

Pháp và người bản xứ… Các công trình này cũng đã cung cấp một số tư liệu nhất định, mang đến nhiều góc nhìn đa chiều về vấn đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ và gợi mở nhiều hướng tiếp cận cho tác giả khi nghiên cứu đề tài Luận án

Về phương pháp nghiên cứu: Trong các công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả

đã vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để giải quyết vấn đề được đặt

ra Đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó là một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, phỏng vấn, lấy

ý kiến chuyên gia, phương pháp nghiên cứu liên ngành Đó là những tiền đề và gợi mở

có giá trị tham khảo lớn cho tác giả trong quá trình vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào việc triển khai đề tài luận án

1.4 Những nội dung luận án cần giải quyết

Từ kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có thể nhận thấy, tuy được nhìn nhận ở những mức độ khác nhau, nhưng những công trình đó là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, được chúng tôi kế thừa khi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình.Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm

1873 đến năm 1945 từ trước đến nay chỉ đề cập tới những trường hợp cụ thể như hoạt động của một số cơ sở y tế, cơ sở đào tạo y khoa, những vấn đề bệnh học cụ thể, mà chưa tạo thành những nghiên cứu mang tính hệ thống về diện mạo, đặc điểm quá trình hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời thuộc địa Cũng chưa có công trình nào đặt y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 thành một vấn đề nghiên cứu riêng biệt, độc lập Đây chính là khoảng trống còn đang đặt ra cần đến sự giải quyết trong nghiên cứu của luận án Trên cơ sở đó, luận án tiếp

tục đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ hơn về Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 với các vấn đề sau:

Thứ nhất, phân tích bối cảnh ra đời, quá trình hình thành và phát triển của y tế

phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ 1873-1945: biện pháp hành chính và tài chính của chính quyền thuộc địa, quá trình hình thành và các lĩnh vực hoạt động, vai trò và tác động của quá trình này đối với sự cai trị của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ và Việt Nam, đối với đời sống xã hội ở Bắc Kỳ lúc này, cũng như với sự phát triển của y tế Việt Nam

Thứ hai, phân tích quá trình tiếp nhận y tế phương Tây của người Việt để thấy rõ

hơn tác động của quá trình hình thành và phát triển của y tế phương Tây đối với đời sống xã hội Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX

Thứ ba, rút ra một số kinh nghiệm từ sự hình thành và phát triển của y tế phương

Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945

Trang 31

là công cụ hỗ trợ, gắn liền với quá trình thực dân hóa của người Pháp ở Đông Dương (ý kiến này chiếm đa số) Điều đó cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận, nghiên cứu về vấn đề hình thành và phát triển của y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

và Việt Nam thời cận đại qua các thời kỳ lịch sử khác nhau

Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, cùng với nguồn tài liệu mới, tác giả luận án mong muốn góp phần phục dựng lại một cách toàn diện, đầy đủ và hệ thống bức tranh về y tế phương Tây ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1945 Từ đó, có thế thấy rõ hơn cuộc tiếp xúc văn hóa Đông-Tây trên lĩnh vực y

tế, làm cơ sở để nhận thức đầy đủ hơn và khách quan hơn đối với những ảnh hưởng của y tế phương Tây trong đời sống người Việt đương thời, cũng như vai trò của nó đối với sự hình thành của một nền y tế hiện đại ở Bắc Kỳ và Việt Nam sau này

Trang 32

24

CHƯƠNG 2

SỰ HÌNH THÀNH Y TẾ PHƯƠNG TÂY Ở BẮC KỲ TỪ NĂM 1873 ĐẾN NĂM 1918 2.1 Bối cảnh hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

2.1.1 Tập quán chữa bệnh theo y học cổ truyền của người Việt

Tục ngữ Việt Nam có câu “Đói ăn rau, đau uống thuốc” Câu nói nằm lòng quen

thuộc ấy không chỉ phản ánh vai trò của rau và thuốc đối với sinh hoạt và sức khỏe, mà còn trở thành lẽ sinh tồn của người Việt Trải qua nhiều thiên niên kỷ thích nghi với điều kiện tự nhiên và xã hội, từ những hiểu biết về cơ thể con người, những khám phá về thế giới động-thực vật đã được các thế hệ người Việt đúc kết thành tri thức y học bản địa Cùng với việc tiếp thu tinh hoa từ các nền y học của nhân loại, người Việt đã hình thành nên nền y học cho dân tộc mình-mà ngày nay người ta quen gọi là y học cổ truyền

Ở Việt Nam, y học cổ truyền bao gồm ba bộ phận là y học dân gian, y học bác học Việt Nam và những thành tựu kế thừa từ y học Trung Hoa Từ rất sớm, người Việt đã đúc kết thành những tri thức y học bản địa như các bài thuốc Nam, mẹo chữa bệnh dân gian những phương thuốc cổ truyền của các dân tộc thiểu số Song song với đó, việc chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của người Việt đã chịu nhiều ảnh hưởng của y học Trung Hoa như dùng thuốc Bắc, kỹ thuật sấy tẩm, tên các loại thuốc đều lấy theo Hán Ngữ (phục linh, đương quy, bạch truật, hoàng kỳ…), thuyết âm dương ngũ hành, kỹ thuật châm cứu, thôi miên [21; tr.2] Từ thời Bắc thuộc, do ảnh hưởng bởi Đạo giáo, y học của người Việt đã mang màu sắc tôn giáo, chữa bệnh bằng bùa chú, phép thuật Đến thời Nguyễn, Thái y viện được lập ra và phục vụ cho nhà vua và triều đình [22; tr.138] Từ năm 1814, tại Huế rồi đến các tỉnh trong cả nước, mỗi làng thành lập

“Dưỡng tế” hoặc “Dưỡng tế sự” [52; tr.29] để chữa bệnh cho dân chúng Thời

Nguyễn cũng đã xuất hiện một số đề nghị cải cách Đông y của Nguyễn Trường Tộ, Thái Khắc Tuy Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh đến việc cải cách dùng thuốc, bằng cách tìm kiếm, gây trồng tại chỗ và thí nghiệm (phân tích theo phương Tây) những vị thuốc giống thuốc Bắc (Trung Quốc), vị thuốc dân gian và của người dân tộc thiểu

số, nhằm tăng cường việc sử dụng thuốc Nam Chia sẻ quan điểm với Nguyễn Trường Tộ, vào năm 1879, Thái Khắc Tuy cũng đã dâng lên vua Tự Đức bản điều trần xin dùng Nam dược thay thế Bắc dược [48; tr.22-23] Ý tưởng cải cách thuốc của Thái Khắc Tuy đã được triều đình Tự Đức chấp thuận và tiếp nối vào thời vua Khải Định sau này

Có thể thấy, y học cổ truyền đã không chỉ tạo ra một nghệ thuật chữa bệnh mà còn trở thành một thói quen, một tập quán và một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Tuy vậy, y học cổ truyền cũng tồn tại một số hạn chế nhất định: không chú

Trang 33

25

trọng nhiều đến vệ sinh, dịch tễ, coi trọng chữa bệnh hơn phòng bệnh; tỷ lệ bà mẹ

và trẻ sơ sinh tử vong còn khá lớn Những đặc điểm nói trên của y dược học cổ truyền Việt Nam sẽ được khắc phục và bổ sung khi có sự du nhập và hình thành nền

y tế phương Tây mà thực dân Pháp là những người đi tiên phong cho quá trình này

2.1.2 Cơ sở hình thành y tế phương Tây ở Bắc Kỳ

2.1.2.1 Nhu cầu thành lập các cơ sở y tế của Pháp ở Bắc Kỳ

Năm 1873, thực dân Pháp tấn công xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất Để rồi, sau

đó vào năm 1882 Pháp tiếp tục đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai, gây sức ép buộc triều Nguyễn phải từng bước ký các hiệp ước đầu hàng vào các năm 1874,

1883, 1884 chấp nhận chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ cho Bắc Kỳ, còn Trung Kỳ là đất bán bảo hộ trong khi vẫn duy trì sự tồn tại của triều Nguyễn

Để xâm chiếm xứ này, người Pháp đã sử dụng cuộc chiến tranh chính quy, tổng lực với lực lượng quân viễn chinh gồm các bộ phận khác nhau, được trang bị phương tiện và kỹ thuật hiện đại Trong quá trình xâm lược Bắc Kỳ, thực dân Pháp đã vấp phải

sự kháng cự mạnh mẽ của dân chúng nơi đây Quân đội Pháp đã tổ chức nhiều đợt trấn áp các cuộc khởi nghĩa của người Việt, và trong những cuộc giao tranh này, binh lính Pháp cũng chịu nhiều thương vong Thêm vào đó, bệnh dịch nhiệt đới-một loại

bệnh thời khí [8; tr.15-16] theo cách gọi của người Pháp bấy giờ-cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sức chiến đấu của quân đội Pháp Người châu Âu “khi còn ở nước nhà thì rất khoẻ mạnh, sang ở bản xứ, chỉ trong vài ba năm, đã thấy mệt nhọc phải giở về mẫu quốc để tĩnh dưỡng” [8; tr.15] Bệnh dịch nhiệt đới đã tàn sát nhiều

người sống ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ khi mà trung bình cứ 6 quân nhân tử nạn thì có 5 người chết vì bệnh [211] Khi bàn về việc đánh chiếm Bắc Kỳ, các dân biểu Pháp đã

“trách chính phủ đang gởi binh lính đến một nơi xa trong khi việc quốc phòng trong nước đang cần Các đội quân đó gồm những người thanh niên đến để chết tại Bắc

Kỳ vì các bệnh nhiệt đới” [32; tr.474] Các viện dân biểu Pháp có lý do khi phàn nàn như vậy bởi “Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1885, 12.000 quân viễn chinh sung sức, tràn trề khí thế, thực sự là tinh hoa của quân đội Pháp, đã được gửi tới vùng đất Bắc Kỳ Chỉ trong vòng mấy tháng, họ đã bị chết hàng loạt vì bệnh tật 1/3 trong số họ hoặc bị căn bệnh sốt rét quật ngã, hoặc buộc phải hồi hương sau 4 hoặc 5 tháng ” [160; tr.313] Bệnh tả trong vòng 2 năm đã làm thiệt mạng

88 bác sĩ, dược sĩ, y tá và nhân viên hành chính [213] Thương vong do chiến trận,

bệnh dịch đã đặt ra nhu cầu phải thành lập các cơ sở y tế phục vụ chữa bệnh và phòng dịch tại chỗ cho quân đội Pháp

Hơn nữa, vào những năm cuối thế kỷ XIX, trước sự đe doạ của các đế quốc Anh,

Đức, Nhật ở Viễn Đông, thực dân Pháp đã xây dựng quân đội gắn với việc phòng thủ

Trang 34

26

Đông Dương Pháp lập hai căn cứ hải quân ở Ô Cấp và Hòn Gai, lập đồn binh ở Côn

Đảo án ngữ lối vào các sông Đồng Nai và Cửu Long [33; tr.60] Đến đầu năm 1897, Đông Dương đã có 3 liên đội bộ binh gồm 8 đại đội, 4 đại đội và 2 trung đội lê dương (được phân bố thành 10 đại đội ở Bắc Kỳ, còn lại ở Trung và Nam Kỳ) Lực lượng lính bản xứ cũng tăng lên thành 3 liên đội ở Bắc Kỳ và 1 liên đội ở Trung Kỳ, 3 đại đội ở Nam Kỳ [33; tr.60] Bên cạnh lực lượng chính quy, còn có đội lính khố xanh là lực lượng bổ sung cho quân đội thuộc địa, được xây dựng tại cả 3 kỳ Với hệ thống quân đội và việc phòng thủ thuộc địa như thế đòi hỏi phải có một hệ thống hậu cần và quân y tương xứng, phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho quân đội Pháp lâu dài Do đó, việc lập ra các dịch vụ và cơ sở y tế phương Tây không chỉ phục vụ cho hoạt động xâm lược

và bình định quân sự ở Bắc Kỳ, mà còn hướng tới nhu cầu y tế, sức khoẻ của quân đội Pháp trong việc phòng thủ thuộc địa ở cả bên trong và bên ngoài sau này

Sau khi căn bản chinh phục và bình định về quân sự, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Việt Nam (1897-1914) Pháp chủ trương không công nghiệp hóa Việt Nam, chỉ phát triển công nghiệp khai mỏ, công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ Trong những năm 1897-1913, sản lượng khai thác than của Việt Nam đạt 5.652 tấn các loại [3; tr.111] Từ 1900-1910, Pháp đã khai thác 137,5 tấn thiếc và 225,8 tấn quặng vonfram ở thượng du Bắc Kỳ, 35,781 tấn quặng kẽm, 386,7 kg vàng, 310 tấn ăngtimoan [30; tr.1160] Nông nghiệp Việt Nam được khai thác trên hai lĩnh vực: đồn điền và truyền thống Từ 1897-1900, diện tích đồn điền ở Bắc Kỳ là 164.272 ha, ở Trung Kỳ là 21.076 ha, ở Nam Kỳ là 35.431 ha [136; tr.225] Từ 1870-1880, diện tích trồng lúa của Việt Nam là 2.640.000 ha, đến năm 1913 đã lên đến 3.130.000 ha [15; tr.136] Từ 1899-1903, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 140 triệu đồng, những năm 1909-1913 tăng lên

197 triệu đồng [38; tr.66] Nhiều nghề thủ công ở Việt Nam bị phá sản, một số nghề mới được du nhập vào Việt Nam như làm mũ bằng rút (1902), mây đan (1903), đăng ten (1913) Tính đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Việt Nam đã có nhiều tuyến đường bộ và 3 tuyến đường sắt chính: Hà Nội-Hải Phòng, Hà Nội-Lào Cai và

Hà Nội-Sài Gòn Nhiều cây cầu được xây dựng như Tràng Tiền (1901), Long Biên (1902), Bình Lợi (1902) Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã làm xuất hiện ở Việt Nam hệ thống các đô thị, các trung tâm kinh tế mới theo kiểu phương Tây, với 3 cấp: cấp I gồm có Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn; cấp II: Hải Dương, Nam Định, Mỹ Tho ; cấp III: các thị xã, lỵ sở của tỉnh

Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển nhất định Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được du nhập đã phá vỡ thế độc canh truyền thống của nông nghiệp, gắn nông nghiệp

Trang 35

27

với sản xuất hàng hóa Một nền công nghiệp mới ra đời với hệ thống nhà máy và hầm

mỏ Hệ thống giao thông hiện đại ra đời phục vụ cho các hoạt động kinh tế và dân sinh Cũng từ đó, nền sản xuất và thương mại của Việt Nam được gắn liền với thị trường thế giới Tuy nhiên, trong khi du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Pháp vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng lạc hậu, phát triển không cân đối và lệ thuộc vào chính quốc Cuộc khai thác thuộc địa làm phân hóa sâu sắc các giai tầng trong xã hội Việt Nam Các giai cấp cũ như nông dân, thợ thủ công bị bần cùng hóa, hình thành các giai tầng mới là công nhân, tiểu

tư sản, tư sản Cuộc khai thác đã bóc lột triệt để và làm bần cùng hóa đời sống người dân Việt Nam, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển lên một bước mới, từ phạm trù phong kiến sang phạm trù dân chủ tư sản trong những năm đầu thế kỷ XX

Ngày 1-8-1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ Pháp tham chiến với tư cách là nước thuộc khối Hiệp ước Bom đạn Đức tàn phá nền kinh tế Pháp, tàu ngầm Đức tuần tra ráo riết trên biển đã cản trở việc giao thương giữa Pháp và thế

giới Trước tình hình đó, chính phủ Pháp thực thi chính sách “tổng động viên” trên

mọi lĩnh vực trong đó có y tế nhằm đảm bảo nguồn cung cấp sức người, sức của cho chính quốc, hướng toàn bộ nền kinh tế thuộc địa phục vụ cho nhu cầu tham chiến của chính quốc

Phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, cần phải có một hệ thống y tế tương xứng, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho người Pháp và một bộ phận tầng lớp trên người bản xứ; cũng như tạo ra nguồn nhân công dồi dào cho công cuộc khai thác kinh tế và viên chức bản xứ cho bộ máy chính quyền thực dân Pháp tại thuộc địa Hơn nữa, người Pháp phát triển y học dựa trên thí nghiệm và phân tích thực nghiệm chứ không dựa nhiều vào tâm linh và kinh nghiệm nên khó chấp nhận các cách chữa trị của vùng thuộc địa (dựa chủ yếu vào tổng kết kinh nghiệm) Đó cũng chính là sự khác biệt trong lối tư duy về y học giữa Đông và Tây, không phải các tinh hoa phương Đông đã được người Pháp chấp nhận ở buổi ban đầu Có nghĩa là

họ phải tạo ra một cơ sở y tế được chấp nhận trong tư duy và nhận thức của họ, đồng thời đẩy lùi ảnh hưởng của Đông y vốn đã ăn sâu bén rễ trong đời sống của thuộc địa này từ hàng ngàn năm qua Bên cạnh đó, cùng với các chính sách đồng hóa trên các lĩnh vực khác như giáo dục, điện ảnh, thời trang, kiến trúc…, y tế sẽ là lĩnh vực hỗ trợ tích cực cho công cuộc cai trị của chính quyền thực dân ở Bắc Kỳ nói riêng và trên toàn Đông Dương nói chung Cũng với mục tiêu phục vụ sự cai trị của người Pháp ở Đông Dương, để thu hút người Pháp sang Đông Dương sinh sống đòi hỏi nhà nước thực dân phải có một cơ sở hạ tầng tốt trên mọi lĩnh vực, trong đó

Trang 36

28

có y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Vì vậy một hệ thống y tế theo quy chuẩn phương Tây được dựng lên ở thuộc địa đã trở thành đòi hỏi bức thiết, nhu cầu chính đáng trong công cuộc cai trị, bóc lột thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương nói chung, tại xứ Bắc Kỳ nói riêng

Như vậy, khi y tế được ví như “khoa học bổ trợ cho quá trình thực dân hóa” [141;

tr.56-57] thì những yếu tố trên đây là cơ sở quan trọng về quân sự, chính trị, xã hội để thực dân Pháp lập ra các cơ sở và dịch vụ y tế phương Tây đầu tiên tại Bắc Kỳ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

2.1.2.2 Chủ trương của thực dân Pháp đối với vấn đề y tế

- Biện pháp tài chính

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp cũng chưa có một chính sách cụ thể nào cho vấn đề

y tế ở Việt Nam nói chung, Bắc Kỳ nói riêng Bởi từ cuối thế kỷ XIX cho đến suốt nhiệm kỳ của Paul Doumer, ngân sách Đông Dương chưa có mục nào dành riêng cho

y tế Nó trái ngược hoàn toàn với bản tổng kết nhiệm kỳ của Doumer vào năm 1902:

“Riêng trong lĩnh vực y tế và sức khỏe, gần 50 năm nỗ lực có tính toán đã trang bị cho Đông Dương một cơ sở đầy đủ ” [134]

Ngày 1-7-1902, Jean Bastipe Paul Beau được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương Để tiếp tục cuộc khai thác thuộc địa do người tiền nhiệm để lại, cũng như làm

dịu phản ứng của dân bản xứ, Toàn quyền Beau đã thi hành “Chính sách hợp tác với người bản xứ”, với chủ trương “Bảo vệ cho họ (người bản xứ) chống lại các thảm hoạ đe doạ đối với sở hữu của họ và con người của họ: giặc cướp, dịch bệnh, nghèo đói” [33; tr.32] Năm 1908, Paul Beau cho rằng chính quyền chỉ có thể đảm bảo khám chữa bệnh cho người bản xứ và còn quá sớm để bãi bỏ tất cả những khoản trợ cấp của các cơ sở được lập ra bởi những sáng kiến tư nhân [139; tr.93] Như vậy, vấn đề

bảo vệ sức khoẻ cho dân bản xứ lần đầu được đề cập trong chính sách thuộc địa của Paul Beau Toàn quyền Klobukowski thì cho rằng vấn đề hỗ trợ y tế ở Đông Dương khá khó khăn, đặc biệt là ở phía Bắc Hỗ trợ y tế cần tập trung vào các biện pháp phòng chống và vệ sinh dịch tễ, vấn đề vệ sinh được đưa vào trường học cho trẻ em [118; tr.10]

Toàn quyền Albert Sarraut coi y tế như một trong những nhân tố cho sự thành công

của chính sách “Hợp tác với người bản xứ” khi hướng tới việc “làm cho người bản xứ được hưởng những tiến bộ về vệ sinh và khoa học y tế” [33; tr.34] Y tế được coi là

công cụ hữu hiệu để chính quyền thuộc địa triển khai chính sách hợp tác với người bản

xứ trên thực tế Chương trình“Cải thiện những điều kiện cơ bản của dân sinh” được Albert Sarraut đề ra gồm hai phần: “Đường lối đầu tiên và khẩn cấp trước hết là tiếp tục trong toàn liên bang những công việc về vệ sinh, dự phòng bệnh dịch địa phương,

Trang 37

29

bệnh lây Đường lối thứ hai là Cứu trợ y tế được thực hiện bởi các hoạt động khám chữa bệnh tại các trại phong, trại tâm thần, đặc biệt hướng tới những phụ nữ trong thai kỳ, lúc sinh nở và sau khi em bé chào đời…” [126; tr.46] Đến thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất, với chủ trương“Tổng động viên” của chính phủ Pháp, trên cơ sở tiếp tục thi hành chính sách “hợp tác với người bản xứ”, nhân sự và các cơ sở y tế

thuộc địa phải ưu tiên cho sự tham chiến của chính quốc trên chiến trường

Như vậy, những biện pháp y tế được chính quyền thực dân Pháp ban hành và thực thi ở Việt Nam đều hướng tới phục vụ người Pháp và một bộ phận tầng lớp trên người Việt trong công cuộc xâm chiếm và khai thác, bóc lột thuộc địa, chứ không có chủ đích dành cho người bản xứ Tuy nhiên, ở những giai đoạn nhất định, khi cần tranh thủ sự ủng hộ tại thuộc địa, hoặc với mục tiêu nhân công cho công cuộc khai thác thuộc địa, nhà cầm quyền Đông Dương cũng đã dành cho dân bản xứ những sự quan tâm nhất định về y tế Đường hướng đó đã chi phối chính quyền thực dân trong việc phác thảo những biện pháp tài chính và hành chính trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam, thể hiện trước hết ở việc đầu tư trong những năm đầu thế kỷ XX:

Bảng 2.1: Đầu tư cho y tế Đông Dương các năm 1906-1918

Đơn vị: Đồng Đông Dương

Nguồn: Gaide (1931), L’Assistance médicale et la protection de la santé publique,

Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, tr.93

Bảng số liệu trên cho thấy, khoản chi cho y tế tại Đông Dương tăng trưởng trong các năm 1908-1909-1910, giảm đi trong các năm 1911,1912,1913 và tăng trở lại trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất do chính sách “Tổng động viên” của chính quốc Pháp Sự thay đổi trong số vốn đầu tư thể hiện khá rõ nét những biến đổi trong chính sách thuộc địa của các Toàn quyền Trong tình hình đó, năm 1906 Bắc Kỳ được nhận 244.572 đồng Đông Dương tiền cho hoạt động cứu trợ y tế, gồm ngân sách cấp

xứ là 86.248 đồng, cấp tỉnh là 98.324 đồng (trong đó có 53.856 đồng cho trang thiết bị, 44.468 đồng cho nhân sự), cấp thành phố là 30.000 đồng, khoản được hiến tặng và các

tổ chức từ thiện là 30.000 đồng Đông Dương [109; tr.102] Năm 1913, ngân sách Bắc

Kỳ chi cho cứu trợ y tế 413.000 đồng Đông Dương [147; tr.105]; các nguồn ngân sách chi cho cứu trợ y tế ở Bắc Kỳ trong các năm 1914-1918 lần lượt là 627.000 đồng Đông

Trang 38

30

Dương (1914), 653.000 đồng Đông Dương (1915), 395.000 đồng Đông Dương (1916), 606.000 đồng Đông Dương (1917), 666.000 đồng Đông Dương (1918) [146; tr.77]

- Biện pháp hành chính

Cũng giống như trong lĩnh vực tài chính, vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chưa

có biện pháp hành chính cụ thể nào trong lĩnh vực y tế ở Đông Dương Thế nhưng từ đầu thế kỷ XX trở đi, với chủ trương coi y tế là một trong những lĩnh vực của chính sách hợp tác với người bản xứ, phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chính quyền thực dân Pháp cũng lần lượt đề ra các biện pháp hành chính cho việc tạo dựng những cơ sở đầu tiên của y tế phương Tây ở Việt Nam: lập ra các cơ quan quản

lý về y tế và các cơ sở đào tạo y khoa cho người bản xứ ở Đông Dương

- Các cơ quan quản lý và tổ chức y tế

Một trong những cơ quan quản lý y tế đầu tiên được thành lập tại Bắc Kỳ là Các

Tiểu ban vệ sinh (Les sous-commissions d’hygiène) Theo Nghị định ngày

31-12-1902, các Tiểu ban vệ sinh được lập ra tại Hà Nội và Hải Phòng nhằm giám sát việc bảo vệ sức khoẻ, kiểm tra nơi ở, đồ uống và thực phẩm Tiểu ban gồm 3 thành viên, một bác sĩ, một dược sĩ và một đại biểu của Hội đồng thành phố Từ chỗ chỉ có ở Hà Nội và Hải Phòng thì đến Thông tư ngày 31-1-1907, các Tiểu ban này được lập ra tại các tỉnh Bắc Kỳ Bên cạnh đó, Ủy ban vệ sinh cấp xứ Bắc Kỳ và Ban vệ sinh hàng tỉnh chuyên nghiên cứu các vấn đề vệ sinh đô thị, nước ăn, lấp ao, thoát nước cũng đã được lập ra [221]…

Một dấu mốc khá quan trọng đối với ngành y tế của Đông Dương nói chung và Bắc Kỳ nói riêng là vào ngày 20-1-1904, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định

thành lập Tổng nha Sức khỏe Đông Dương (La Direction générale de la santé de l’Indochine), phụ trách các vấn đề y học và vệ sinh dịch tễ toàn Đông Dương Nghị

định này giao cho Tổng thanh tra vai trò chỉ đạo tất cả các cơ sở y tế dân sự và quân

sự của thuộc địa Giúp việc cho Tổng thanh tra là Giám đốc y tế của các kỳ, với thẩm quyền được quy định trong sắc lệnh năm 1897 Tổng nha Sức khỏe Đông Dương gồm các bộ phận: y tế quân đội viễn chinh, các bệnh viện, thanh tra y tế, dịch tễ và vệ sinh, nhân sự, hội đồng y tế thuộc địa

Ngày 30-6-1905, Toàn quyền Beau thành lập Cơ quan Hỗ trợ y tế

(L’Assistance médicale) có nhiệm vụ hỗ trợ Tổng nha sức khỏe Đông Dương

trong công tác dịch tễ, cứu trợ y tế cho người bản xứ Cơ quan này được thành lập với bốn mục tiêu như sau: 1.Chăm sóc y tế cho các viên chức và gia đình họ, cho thường dân người Âu và bản xứ./2.Tổ chức các cơ sở khám chữa bệnh trên ngân sách Liên bang, cấp xứ, cấp tỉnh và thành phố./3.Tổ chức giám sát y tế, bệnh dịch, vệ sinh và sức khỏe công cộng./4.Tổ chức những phòng khám của Viễn Đông,

Trang 39

Có thể nói việc thành lập Tổng Nha sức khỏe Đông Dương và Cơ quan Hỗ trợ y

tế là những sự kiện quan trọng, có tính bước ngoặt đối với ngành Tây y ở Đông Dương nói chung và Bắc Kỳ nói riêng Từ đây, ngành y tế mà chính quyền thực dân Pháp tạo dựng đã bắt đầu được tổ chức quy củ, đứng đầu là Tổng Nha sức khỏe Đông Dương, giúp việc có các cơ quan trực thuộc như Cơ quan Hỗ trợ y tế Tại mỗi

xứ, chính quyền thực dân cũng thành lập Sở y tế chung cho từng xứ, Sở y tế tại các tỉnh và các cơ quan, tổ chức y tế khác

Với Bắc Kỳ, một loạt các cơ quan y tế của xứ đã được lập ra vào những năm đầu thế

kỷ XX như Sở Y tế Bắc Kỳ, Sở Y tế tại các tỉnh, Khu y tế Nam Định-Ninh Bình-Hà Nam Sở Y tế Bắc Kỳ được lập ra với nhiệm vụ phụ trách các vấn đề y tế của cac tỉnh Bắc Kỳ như giám sát các bệnh viện, các vấn đề vệ sinh, dịch tễ Đứng đầu Sở y tế là Giám đốc Sở Y tế, thường là một bác sĩ hạng nhất Nghị định ngày 2-1-1915 cho biết bác sĩ Le Roy des Barres (Andrien-Charles) làm Giám đốc Sở Y tế Bắc Kỳ Dưới Sở Y

tế Bắc Kỳ là Sở Y tế của từng tỉnh, phụ trách bệnh viện lớn của tỉnh, chỉ đạo chuyên môn, bổ nhiệm nhân sự ngành y Điển hình là Sở Y tế Thái Bình thành lập năm 1914, với các viên chức của Sở gồm: 01 bác sĩ y khoa người Pháp hoặc người Việt làm giám đốc; 02 y sĩ người Việt; 01 dược sĩ người Việt; 01 thanh tra y tế người Âu, 05 bà đỡ tốt nghiệp trường nữ hộ sinh Hà Nội; 12 y tá nam và 01 y tá nữ [37] Năm 1915, Sở Y tế Bắc Kỳ quyết định thành lập khu Y tế Nam Định-Ninh Bình-Hà Nam nhằm chỉ đạo về chuyên các cơ sở y tế 3 tỉnh và trại phong Vân Môn Khu Y tế đóng ở thành phố Nam Định do một bác sĩ y khoa người Pháp làm giám đốc, hoạt động từ năm 1915 đến năm

1924 thì giải thể, các bệnh viện tỉnh từ đó về sau đều do Giám đốc Sở Y tế Bắc Kỳ chỉ đạo [37]

- Các cơ sở đào tạo y khoa phương Tây

Một trong những biện pháp hành chính quan trọng nữa để thiết lập y tế phương Tây

ở thuộc địa là phải mở ra các cơ sở đào tạo y khoa cho người bản xứ tại chỗ Việc đào tạo nghề y cho người bản xứ diễn ra tại các trường Y khoa, các khoa trực thuộc các bệnh viện, các viện Pasteur Đông Dương Người dân sống ở Bắc Kỳ ngoài việc học nghề y trong các cơ sở đào tạo tại thuộc địa thì còn có một số ít khác được tham gia học tập tại nước ngoài, chủ yếu tại Pháp Những cơ sở đào tạo y khoa sớm nhất ở Việt Nam

Trang 40

đỗ trong kỳ thi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng y khoa, được bổ vào một ngạch quan lại, được thi vào bệnh viện bản xứ trong 2 năm giống sinh viên nội trú hoặc như giáo viên trợ giảng của trường [6; tr.708]

Ban đầu, trường dựng tại làng Kinh Lược, ấp Thái Hà [175], sau đó chuyển vào trung tâm thành phố với một thư viện, một bệnh viện gồm 5 phòng, 40 giường và một phòng giải phẫu Mùa tuyển sinh đầu tiên, có 500 thí sinh nộp đơn dự tuyển, trong đó

có 121 người Bắc Kỳ [111; tr.21] Năm học đầu tiên có 28 học sinh được học bổng, bao gồm 15 học sinh Bắc Kỳ, 05 học sinh Trung Kỳ, 08 học sinh Nam Kỳ và 01 học

sinh Cao Miên Để phục vụ công tác đào tạo, trường Y khoa Đông Dương còn có

những cơ sở thực hành như Bệnh viện thực hành [47; tr.23], Bệnh viện bảo hộ bản

xứ, Bệnh viện đa khoa của người bản xứ (11-1907), Bệnh viện tư người Âu (1907), Khoa thú y, Khoa nữ hộ sinh, Viện mắt, Bệnh viện tâm thần Vôi, Viện giải phẫu4 Năm 1905, Khoa nữ hộ sinh được thành lập, đào tạo bà đỡ bản xứ cho Bắc

và Trung Kỳ [33; tr.191] Ngày 4-5-1907, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định

mở Ban Quân y, đào tạo bác sĩ phụ tá bản xứ [6; tr.746] Sau khi tốt nghiệp, họ được cấp bậc thiếu uý hoặc trung uý Trong hai năm 1907-1908, trường gồm 40 học sinh

4

Nay là Viện giải phẫu trực thuộc Đại học Y Hà Nội, tọa lạc trên phố Tăng Bạt Hổ, Hà Nội

Ngày đăng: 19/04/2020, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w