1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biên soạn tài liệu Cơ sở khoa học và thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển” cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường

44 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 665,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ khai thác khoáng sản là một nhiệm vụ nặng nề, quan trọng, cần thực hiện song song, lâu dài với công tác khai thác và đòi hỏi phải được thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

-

THUYẾT MINH NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2017

Tên nhiệm vụ: Biên soạn tài liệu Cơ sở khoa học và thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các

mỏ sa khoáng ven biển” cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Đỗ Văn Bình

Tổ chức chủ trì: Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Thời gian thực hiện: Từ tháng 03 năm 2017 đến tháng 12 năm 2018

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Trang 2

THUYẾT MINH NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1 TÊN NHIỆM VỤ: Biên soạn tài liệu Cơ sở khoa học và

thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven

biển” cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường

Địa chỉ: Số 18 Phố Viên, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Họ và tên thủ trưởng tổ chức chủ trì: PGS.TS Lê Hải An

4 CHỦ NHIỆM NHIỆM VỤ

Họ và tên: Đỗ Văn Bình

Chức danh khoa học: Phó giáo sư

Địa chỉ cơ quan: số 18 Phố Viên, phường Đức

Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Điện thoại cơ quan: (+84-4) 37522492

E-mail: dovanbinh@humg.edu.vn

Học vị: Tiến sĩ Năm sinh: 1964 Điện thoại di động: 0903202733

Fax:

5 NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NHIỆM VỤ

TT Họ và tên

Đơn vị công tác và lĩnh vực chuyên môn

Nội dung thực hiện cụ thể được giao Chữ ký

1

PGS.TS Đỗ Văn

Bình

Trường Đại học Địa chất; Địa chất thủy văn, Môi trường

Mỏ Chủ trì nhiệm vụ,

- Xây dựng thuyết minh đề cương

- Thực hiện thực địa

bổ sung -Thực hiện xây dựng các chuyên đề liên quan đến nội dung tài liệu biên soạn

- Tổng hợp báo cáo và

tổ chức hội thảo khoa học

- Tổng hợp, viết báo cáo tổng hợp

Trang 3

2

TS Nguyễn Quốc

Phi

Trường ĐH Mỏ-Địa chất;

Địa chất môi trường

- Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Lấy mẫu, phân tích mẫu đất

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Tham gia tổ chức hội đồng đánh giá, nghiệm thu

4

Th.S Đỗ Thị Hải

Trường ĐH Mỏ-Địa chất; Địa chất TV, môi trường

- - Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thu thập tài liệu

- Khảo sát thực địa bổ sung

- Lấy và phân tích mẫu nước

- Tham gia tổ chức hội thảo khoa học

- Lấy ý kiến cán bộ, sinh viên

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Tham gia tổ chức hội thảo khoa học

6

ThS Trần Thị Kim

Trường ĐH Mỏ-Địa chất; Địa chất TV

- Thành viên thực hiện chính

- Tham gia xây dựng

đề cương nhiệm vụ

- Thực hiện thực địa bổ

Trang 4

sung

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Tham gia tổ chức hội đồng đánh giá, nghiệm thu

7 ThS Trần Thị Thu

Hương

Trường ĐH Mỏ-Địa chất; Sinh học

- Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Tham gia giảng thử nghiệm

- Tham gia tổ chức hội thảo khoa học; lấy ý kiến

8 Th.S Vũ Thị

Phương Thảo

Trường ĐH Mỏ-Địa chất; Môi trường

- Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Thu thập tài liệu liên quan

- Hoàn thiện tài liệu biên soạn, báo cáo tổng kết

Quang Minh

Trường ĐH Mỏ-Địa chất; Môi trường

- Thành viên thực hiện chính

- Thực hiện thực địa bổ sung

- Thực hiện xây dựng chuyên đề

- Thực hiện xây dựng bản đồ, bản vẽ

Trang 5

Nam, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)

Không riêng ở các tỉnh ven biển miền trung, trên hầu hết các khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam, khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang gây những ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, làm thay đổi địa hình, địa mạo, cảnh quan sinh thái; làm mất diện tích rừng, mất diện tích đất canh tác, trồng trọt, trồng cây xanh do việc mở khai trường và đổ đất đá thải; đặc biệt khai thác chế biến khoáng sản làm suy thoái, ô nhiễm nguồn nước thoái hóa đất đai, ô nhiễm kim loại nặng và những hóa chất độc hại Khi quá trình khai thác kết thúc, mỏ được đóng cửa (đóng cửa mỏ) thường để lại các dạng địa hình, các yếu tố chất lượng nước, đất, không khí bất lợi cho môi trường, cho con người, súc vật và các hệ sinh thái Cải tạo phục hồi môi trường mỏ sau khai thác có thể giải quyết những vấn đề bất lợi nói trên nhằm hạn chế những tái hại do khai thác gây

ra và đảm bảo trả lại cho môi trường các nguồn tài nguyên đất, nước, khí có chất lượng tốt góp phần cho sự phát triển bền vững Công tác cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ khai thác khoáng sản là một nhiệm vụ nặng nề, quan trọng, cần thực hiện song song, lâu dài với công tác khai thác và đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, bài bản trên cơ sở khoa học nhằm hoàn trả, phục hồi lại môi trường tự nhiên với mức tốt nhất để sử dụng hiệu quả nhất các tài nguyên đất, nước

Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã hướng dẫn chi tiết các nội dung về thực hiện quy định

về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản theo tinh thần của Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường Đây là văn bản pháp quy quan trọng quy định về trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận hoàn thành phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung đối với hoạt động khai thác khoáng sản Thông tư này đã thay thế thông tư

số 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản Với thông tư này các nội dung, hình thức và quy cách của các báo cáo cải tạo phục hồi môi trường được thống nhất và hướng dẫn thực hiện chi tiết đầy đủ

Trong những năm qua, công tác cải tạo, phục hồi môi trường của các mỏ khai thác khoáng sản đã đạt những kết quả nhất định Các cơ quan chức năng đã đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra xử lý các vi phạm về bảo vệ môi trường (BVMT) trong hoạt động khai thác khoáng sản; Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản đã thể hiện trách nhiệm trong việc thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường, tuân thủ các phương án cải tạo, phục hồi môi trường chi tiết được duyệt Nhiều bãi thải, mỏ hoặc khu vực mỏ kết thúc công tác, đã từng bước được cải tạo, phục hồi môi trường

Tuy nhiên thực tế cho thấy, còn có những hạn chế trong công tác thực hiện việc cải tạo, phục hồi môi trường Các mỏ, điểm mỏ thực hiện phục hồi chủ yếu bằng phương pháp tháo dỡ công

Trang 6

trình sau khi kết thúc khai thác, chế biến san gạt tạo mặt bằng, trồng cây phủ xanh trên diện tích san gạt Đây là phương pháp được thực hiện ở nhiều mỏ trải dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận Cây xanh được trồng với quy cách quy định, thông thường đào hố, phủ đất màu, phân bón và trồng cây Các loại cây thường được sử dụng là phi lao, keo lai, keo tai tượng… là những cây có khả năng sống và sinh trưởng tốt ở những vùng đất bị khô cằn, ô nhiễm Thực tế cho thấy, nếu được chăm sóc tốt các cây phát triển được trên đất cát nắng và gió Tuy nhiên số cây bị chết cũng đạt tỉ lệ khá cao (15-20%) thậm chí lớn hơn Vì vậy các đơn vị có trách nhiệm thường cho trồng dặm lại nhưng cũng có khu vực việc chăm sóc, trồng dặm chưa đạt yêu cầu, việc dặm lại cũng chưa đáp ứng yêu cầu thiết kế

Đối với các tỉnh vùng ven biển miền trung, chủ yếu khoáng sản là sa khoáng titan và các khoáng vật đi kèm (monazit, inmenite…) hoặc cát, sỏi xây dựng nên khi khai thác ảnh hưởng nhiều đến môi trường nước ngầm và dòng chảy Ở nước ta, việc cải tạo, khôi phục các dòng chảy nước mặt cũng như chất lượng các nguồn nước khỏi bị ô nhiễm, xâm nhập mặn sau khi đóng cửa

mỏ chưa được chú trọng và còn khá nhiều bất cập Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là ở các mỏ khai thác titan sa khoáng thường tồn tại các chất phóng xạ Khi trong môi trường có các chất phóng xạ, tùy mức độ, liều lượng tiếp xúc mà phóng xạ có thể gây tử vong ngay lập tức hoặc dẫn đến ung thư da, phổi, máu, tuyến giáp… Thế nên, việc đánh giá và cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ sa khoáng cần được quan tâm cải tạo và xử lý một cách phù hợp

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Báo cáo môi trường 2014), chỉ tính từ năm 2008 đến cuối năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt 114 Đề án cải tạo, phục hồi môi trường với tổng số tiền phê duyệt ký quỹ trên 1.720 tỷ đồng; trên cả nước có trên 2.900 dự án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt với tổng số tiền ký quỹ trên 2.000 tỷ đồng; đã có 39/63 tỉnh,; thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Quỹ bảo vệ môi trường địa phương để tiếp nhận và hoàn trả tiền ký quỹ; Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đã tiếp nhận tiền

ký quỹ của 159 đơn vị, với tổng số tiền trên 97 tỷ đồng và đã hoàn trả cho các đơn vị với số tiền trên 5 tỷ đồng (Báo cáo môi trường 20140) Nhìn chung, công tác bảo vệ môi trường cũng như công tác cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã có những chuyển biến tích cực trong những năm vừa qua Nhiều mỏ đã thực hiện khá tốt công tác hoàn thổ, phục hồi và bảo vệ môi trường Tuy nhiên vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chưa nghiêm túc và chưa quan tâm thực hiện Một nguyên nhân quan trọng là do chưa có hướng dẫn kỹ thuật cụ thể, đầy đủ về cải tạo, phục hồi môi trường cho từng loại hình khai thác khoáng sản Ví dụ quy trình cải tạo phục hồi và bảo vệ nguồn tài nguyên nước trong khai thác mỏ sa khoáng titan khác với quy trình cải tạo phục hồi khu vực khai thác cát sỏi Vì thế việc thực hiện quá trình phục hồi môi trường ở các mỏ khai thác thực tế còn có nhiều lúng túng và vướng mắc Do đó, việc có được các hướng dẫn cụ thể, chi tiết từ quy trình đến các dạng mỏ cụ thể để thực hiện tốt vấn đề cải tạo phục hồi môi trường là rất cần thiết

+ Đối với việc đào tạo nguồn nhân lực môi trường cho đất nước, việc trang bị những kiến thức cơ bản, kiến thức bổ trợ là rất quan trọng Vì vậy rất cần thiết biên soạn để có những tài liệu cho công tác đào tạo, nâng cao trình độ sinh viên và những người quan tâm đến việc cải tạo phục hồi môi trường mỏ Tuy nhiên vấn đề tài liệu để thực hiện các nội dung cải tạo cho từng loại mỏ

Trang 7

với loại đất khác nhau, phương thức khai thác, đổ thải khác nhau còn rất hạn chế

+ Năm 2014, Bùi Phương Mỹ Dung đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường đối với một số mỏ khai thác quặng sa khoáng titan thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận” Luận văn đã đánh giá hiện trạng môi trường khu mỏ và đánh giá sự phù hợp và hiệu quả phương án cải tạo, phục hồi môi trường khu vực dự án khai thác titan ven biển thuộc huyện Hàm Thuận Nam Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra nguyên nhân cải tạo phục hồi môi trường kém hiệu quả để từ đó đề xuất các giải pháp cải tạo phục hồi môi trường hiệu quả hơn (Bùi Mỹ Dung- Luận văn thạc sĩ)

+ Năm 2015, Mai Văn Định đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường tại một số mỏ khai thác khoáng sản lộ thiên” Tác giả đã đề cập đến công tác cải tạo phục hồi môi trường các mỏ khai thác lộ thiên trong đó có nhấn mạnh cải tạo phục hồi môi trường mỏ khai thác inmenite ở mỏ Kỳ Khang, Hà Tĩnh Tác giả cũng đã đề cập đến các biện pháp chống xói mòn khu vực đã cải tạo nhằm đạt hiệu quả tốt nhiệm

vụ phục hồi môi trường Tuy nhiên quy trình và phương pháp thực hiện cải tạo phục hồi môi trường đối với mỗi khu mỏ, dự án là khác nhau nên cần có những giải pháp cụ thể (Mai Văn Định-Luận văn thạc sĩ)

+ Năm 2009, TS Nguyễn Thúy Loan đã thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng mô hình ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và hoàn thổ phục hồi môi trường trong khai thác chế biến sa khoáng ven biển” Nội dung chính của nhiệm vụ là xây dựng mô hình ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường cho ngành khai thác và chế biến sa khoáng titan ven biển Việt Nam Tác giả đã cho thấy bức tranh về hiện trạng khai thác khoáng sản sa khoáng Miền trung trong thời gian thực hiện nhiệm vụ và đề xuất các giải pháp cải tạo, hoàn thổ phục hồi môi trường Trên cơ sở đánh giá đó, tác giả đã xây dựng mô hình ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và những vấn đề cần lưu ý khi xây dựng mô hình cải tạo phục hồi cho các cơ

sở tại Việt Nam (Theo Nguyễn Thúy Lan-2009)

+ Năm 2007, PGS.TS Nguyễn Xuân Tặng đã tổng hợp các vấn đề môi trường do ảnh hưởng của việc khai thác khoáng sản titan ven biển từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận trong bài viết: “Những

vấn đề môi trường trong các khu vực khai thác sa khoáng titan ven biển miền trung Việt Nam”

Trong đó tác giả đã tổng hợp được những tác động chính khi khai thác sa khoáng titan đã ảnh hưởng đến điều kiện tự nhiên và môi trường vùng ven biển bao gồm: Chiếm dụng diện tích đất lớn để làm khai trường và xây dựng các công trình phụ trợ Tổng diện tích đất cát được cấp cho khai thác titan (đến 2007) là 3.000 ha (Nguyễn Xuân Tặng-2007), trong đó diện tích rừng phòng

hộ và trảng cây ước tính khoảng 1.000 ha Khai thác titan đã làm mất thảm cỏ, cây bụi là yếu tố giữ ổn định vùng cát, chặt hạ rừng dương phòng hộ, chắn cát, tạo ra sự lồi lõm mặt đất bởi các

hố khai thác, đụn cát thải, làm giảm khả năng giữ nước mưa Và do vậy làm suy giảm nguồn nước ngầm trong cồn cát Khai thác titan đã sử dụng một lượng nước rất lớn, đó là nguồn nước ngọt rất quý giá trong cồn cát Do vậy làm cạn kiệt trữ lượng nước, hạ thấp mực nước ngầm, gây nên hiện tượng xâm nhập mặn tầng chứa nước Sự đào bới, xáo trộn đất cát làm tăng khả năng rửa lũa các khoáng vật nặng trong nước, dầu mỡ công nghiệp sử dụng cho các thiết bị khai thác

Trang 8

ngập trong nước… là những yếu tố gây ô nhiễm tầng chứa nước (tăng các khoáng vật nặng, dầu

mỡ hòa tan…) Việc vận chuyển vật tư, thiết bị, quặng bằng ôtô làm xuống cấp hệ thống giao, hư hỏng hệ thống đường giao thông nông thôn của các khu vực mỏ Các loại máy nổ, máy bơm và phương tiện vận tải gây nên tiếng ồn, tác động đến dân (75 - 85dBA) Khai thác titan ven biển tràn lan, thiếu kế hoạch và quy hoạch đã làm phá vỡ quy hoạch của Nhà nước về tài nguyên khoáng sản, sử dụng đất của các địa phương, ảnh hưởng đến du lịch, nuôi trồng thủy hải sản…

Và như vậy việc cải tạo và phục hồi môi trường trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

+ Năm 2015, TS Mai Thế Toản đã hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng dự án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò ở Việt Nam” Tác giả đề tài đã nêu tổng quát các nghiên cứu về cải tạo, phục hồi môi trường trên thế giới và ở Việt Nam Tác giả cho rằng yếu tố địa hình, địa mạo sau khi khai thác, những yêu cầu cần đạt được sau khi cải tạo, phục hồi môi trường có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ cải tạo phục hồi môi trường Đồng thời tác giả cũng đã chỉ

ra những rủi ro tiềm ẩn do các hoạt động cải tạo, phục hồi môi trường sau khi khai thác và chế biến khoáng sản Trên cơ sở phân tích khoa học, tác giả đề tài đã xây dựng đề án điển hình cho

mỏ khai thác sa khoáng titan ở Bình Thuận - Ninh Thuận và xây dựng hướng dẫn quy trình cải tạo, phục hồi môi trường tại Việt Nam Đây là một đề tài có nội dung sâu và rộng liên quan đến công việc xây dựng đề án, thực hiện đề án về cải tạo phục hồi môi trường mỏ khoáng sản phù hợp với điều kiện Việt Nam

+ Năm 2014, Th.s Vũ Thị Hằng đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định quy luật dịch chuyển đất đá và biến dạng bãi thải mỏ lộ thiên bằng phương pháp địa tin học phục

vụ hoàn thiện quy định về cải tạo phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản” Tác giả đã ứng dụng địa tin học để giải bài toán dịch chuyển đất đá từ bãi thải nhằm đánh giá ổn định của khối chất thải rắn đối với môi trường Đề tài đã xác lập cơ sở khoa học và phương pháp luận về ứng dụng địa tin học trong nghiên cứu sự biến dạng bãi thải đồng thời ứng dụng công nghệ GNSS xác định các đại lượng dịch chuyển biến dạng bãi thải chính Bắc thuộc Công ty than Núi Béo - Vinacomin

+ Năm 2012, tác giả Trần Đình Bình đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp quản lý cải tạo phục hồi môi trường nước thải ở ven biển xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa” Đề tài tuy không nghiên cứu trực tiếp việc xả thải từ hoạt động khai thác mỏ nhưng có liên quan đề môi trường nước do hoạt động khai thác tài nguyên (cát, sỏi) xây dựng… Tác giả đã đánh giá mức độ ô nhiễm tiềm năng nước biển khu vực xã Ngư Lộc và giải pháp nâng cao bảo vệ môi trường nước, phục hồi chất lượng môi trường Trong đè tài tác giả đã đề cập đến các vấn đề quỹ môi trường và trợ cấp môi trường nhằm thực hiện tốt nội dung bảo vệ môi trường một cách tổng thể, toàn diện

+ Trong những năm qua, chỉ tính riêng trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, đã có hàng trăm

dự án cải tạo phục hồi môi trường được thực hiện Nhìn chung với khả năng và nguồn lực Việt Nam, các dự án tuy còn có những hạn chế nhất định nhưng đã góp phần cải tạo, phục hồi môi trường các mỏ trong và sau khai thác tốt dẫn hơn

Những hạn chế còn tồn tại trong cải tạo phục hồi môi trường các mỏ khoáng sản:

Trang 9

1 Việc thực hiện cải tạo phục hồi môi trường thực hiện chưa đồng bộ với quá trình khai thác khoáng sản Những mỏ sa khoáng titan ven biển chủ yếu khai thác và hoàn thổ theo phương pháp tịnh tiến, nghĩa là khai thác đến đâu hoàn thổ đến đấy, nên sau khi kết thúc khai thác mặt bằng khu vực mỏ ít ghồ ghề lởm chởm hơn các mỏ vật liệu xây dựng và các mỏ đá Vì vậy công tác san gạt ở những mỏ này có phần thuận lợi hơn Tuy nhiên việc trồng cây sau khi hoàn thổ trên khu vực mỏ Titan lại là vấn đề khó Bởi lẽ cát sau khai thác đã mất liên kết, mất các chất khoáng nên cây trồng khó sống và hơn nữa do gần biển nên có sự xâm nhập của nước biển làm cây non trồng trên cát khó tươi tốt

2 Vấn đề mặt bằng có thể được san gạt dễ dàng nhưng nguồn nước ngầm vốn rất tốt trong các cồn cát lại bị ô nhiễm hoặc nước biển xâm nhập vào gây nhiễm mặn, tạo nên môi trường khác xa môi trường trước khi khai thác nên tác động đến sự tồn tại của các hệ sinh thái (vi sinh vật, sinh vật, tảo…và các động vật nước ngọt khác) Thậm chí trong và sau khai thác có thể tạo

ra dòng chảy axit mỏ nguy hiểm đối với sự sống (mỏ sắt Thạch Khê nằm sát biển và có độ sâu thân quặng đến 350m) Bởi vậy vấn đề bảo vệ và cải tạo chất lượng nguồn nước đang là một khó khăn tồn tại, cần được nghiên cứu và giải quyết

3 Đối với việc trồng cây sau khi san lấp mặt bằng mỏ, chưa có những nghiên cứu về chất đất, loại cây phù hợp với từng loại đất nên có những khu vực, sau khi trồng cây xong, cây khó phát triển thậm chí bị chết gây ảnh hưởng đến chất lượng cải tạo, phục hồi môi trường

4 Việc tiến hành các nội dung cải tạo, phục hồi môi trường mỏ tuy có quy định và hướng dẫn nhưng chưa có những hướng dẫn cụ thể về loại mỏ nào, đất nào thì nên hoàn thổ và trồng cây gì Hiện nay các mỏ đều thực hiện theo hướng dẫn của các văn bản pháp quy là trồng cây theo số lượng, kỹ thuật quy định theo đề án Cải tạo phục hồi môi trường được duyệt Chính điều này dẫn đến những hạn chế, cứng nhắc và không triệt để trong quá trình thực hiện Việc trồng cây, cải tạo do đó cũng chưa thu được kết quả như mong muốn

5 Trong cải tạo phục hồi môi trường chưa có những liên hệ sâu sắc với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương Nhiều mỏ thậm chí không thực hiện nghiêm nội dung đề án cải tạo phục hồi môi trường được duyệt Hình 1 Thể hiện moong khai thác chưa được san lấp và hình 2 moong đang khai thác titan

6 Sau khi cải tạo phục hồi môi trường, việc xác nhận đảm bảo yêu cầu về chất lượng, khối lượng của địa phương với các chủ mỏ cũng chưa đầy đủ và chặt chẽ Vì thế chưa có chế độ bảo hành về kết quả thực hiện của chủ mỏ

7 Lợi ích trong khai thác tài nguyên có những xung đột giữa chủ mỏ với nhân dân trong vùng Việc cải tạo phục hồi môi trường cũng vậy, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu lợi ích hài hòa giữa các bên liên quan Việc tính toán giá thành sử dụng đất sau khi phục hồi cũng còn cứng nhắc, cần cụ thể hóa để phù hợp thực tế hơn nhằm đảm bảo lợi ích của các bên liên quan

8 Cán bộ, nhân viên thực hiện công tác cải tạo phục hồi môi trường nhìn chung chưa có kiến thức chuyên môn sâu nên chất lượng và hiệu quả thực hiện chưa cao Do vậy việc cung cấp nhân lực có kiến thức phổ cập là rất quan trọng và cần thiết

Trang 10

Hình 1 Moong khai thác chưa được san lấp Hình 2 Khai thác sa khoáng Titan ven biển

(Ảnh được lấy từ mạng internet)

7.2 Ngoài nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu và thực hiện các vấn đề đặt ra của nhiệm vụ trên thế giới, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)

Trên thế giới, công tác cải tạo phục hồi môi trường được quan tâm và thực hiện khá tốt Nhiều mỏ sau khi ngừng khai thác được cải tạo và xây dựng thành những công viên, khu vui chơi, khu du lịch sinh thái Công tác cải tạo phục hồi môi trường thường được tiến hành đồng thời từ khi mở mỏ đến khi khai thác và đóng cửa mỏ Bởi vậy công tác cải tạo phục hồi luôn được thực hiện thường xuyên, có kiểm chứng và đảm bảo yêu cầu như đề án được duyệt Chính

vì vậy nhiều mỏ sau khi khai thác có điều kiện môi trường rất tốt

Phần lớn các mỏ sa khoáng ilmenite trên thế giới nằm dọc vùng bờ biển các nước Australia, Nam Phi, Ấn Độ, Braxin, Madagasca và Mỹ Khoáng chất này cũng có mặt ở các mỏ

đá tại Na Uy và Canada Ba nước hàng đầu thế giới về khai thác và chế biến titan là Australia, Nam Phi và Canada Trong đó Australia là nước dẫn đầu về sản xuất ilmenite (chiếm 28% lượng sản xuất được trên thế giới), rutile (chiếm 53%) và zircon (chiếm 46%), phần lớn rutile và zircon xuất khẩu Việc khai thác titan đã làm mất nhiều diện tích rừng phòng hộ, trồng màu và diện tích thảm thực vật, cây bụi và các loài động - thực vật địa phương Bên cạnh đó là các tác động tới các thành phần môi trường đất, nước, không khí làm trầm trọng thêm các tác động tới môi trường sinh thái Việc cải tạo phục hồi môi trường thường là san lấp, trồng lại rừng hoặc tạo nên cảnh quan sinh thái du lịch Việc cải tạo này có thể kéo dài nhiều năm và chủ mỏ hoặc đơn vị chức năng có trách nhiệm thực hiện đến khi được chính quyền và tổ chức môi trường nghiệm thu đồng ý mới tiếp tục đưa vào sử dụng cho những mục đích khác

Những mỏ sa khoáng ven biển thường có đặc điểm là có độ sâu nhỏ nhưng bề mặt rộng, các nghiên cứu và kết quả thực hiện công tác cải tạo ở các nước chỉ ra rằng, việc cải tạo phục hồi môi trường thường thực hiện bằng cách san gạt mặt bằng, cải tạo đất, cải tạo địa hình sau khai thác cho bằng phẳng sau đó sử dụng đất đã cải tạo cho canh tác, trồng trọt, hoặc du lịch, thể thao Công tác cải tạo phục hồi môi trường, mà cốt lõi là công tác cải tạo đất thường được quan tâm chú trọng Tiếp sau đó là quá trình quan trắc chất lượng đất, nước, hoàn chỉnh mặt bằng sau đó đưa vào sử dụng Công tác này thường mất từ 2 đến 4 năm sau khi ngừng khai thác và được sử dụng nhiều ở các nước Asean

Những nghiên cứu và công bố về cải tạo phục hồi môi trường trên thế giới khá dồi dào và đa dạng Song nhìn chung đều nêu các phương pháp cải tạo, biện pháp và kết quả thực hiện Có thể

Trang 11

nêu một số tiêu biểu là:

1 Ở Úc, quốc gia có ngành công nghiệp khai khoáng phát triển thì việc cải tạo phục hồi môi trường luôn luôn là một phần không thể tách rời với quá trình khai thác Kế hoạch thực hiện

và kinh phí cho cải tạo phục hồi môi trường phải được hoàn thiện trước khi quá trình khai thác được bắt đầu Kinh phí cải tạo phục hồi môi trường thường đạt trung bình tới 10.000 USD/ha Công tác cải tạo phục hồi môi trường thường được thực hiện qua 4 giai đoạn là: 1/ Xác định phương thức sẽ sử dụng đối với cải tạo đất sau khi khai thác; 2/ San lấp mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc trồng cây; 3/Thực hiện trồng cây hoặc gieo hạt trực tiếp trên khu vực cải tạo; 4/ Quan trắc và nghiên cứu quá trình cải tạo phục hồi môi trường đồng thời có những tác động phù hợp, kịp thời với công tác cải tạo sao cho đảm bảo các thông số môi trường với sự thành công của dự án Như vậy công tác cải tạo phục hồi môi trường được thực hiện trước khi khai thác mỏ và kéo dài nhiều năm sau khi quá trình khai thác kết thúc Đây là một trong những vấn đề mà Việt Nam chưa thực hiện được

2 Tại mỏ đồng – vàng Batu Hijau trên đảo Sumbawa, một trong những mỏ đồng-vàng lớn nhất thế giới, việc cải tạo phục hồi môi trường chủ yếu là san gạt và trồng cây xanh Việc trồng cây xanh được thực hiện hàng năm song song với quá trình khai thác đồng-vàng Mỗi năm mỏ trồng thêm khoảng 40.000 cây xanh nhằm suy trì sự đa dạng sinh học và phát triển các hệ sinh thái theo thời gian khai thác mỏ Những nỗ lực trong việc duy trì và phát triển các hệ sinh thái này khiến sự thực hiện công tác cải tạo phục hồi môi trường mỏ đạt được hiệu quả cao

3 Tập đoàn Alcoa (Úc) đã phục hồi hàng ngàn ha đất sau khi khai thác quặng sắt Kết quả cải tạo rất thành công với sự phát triển đầy đủ thảm thực vật và động vật trên và dưới mặt đất

Có được thành công đó là do Alcoa đã: có chính sách và mục tiêu đúng trong công tác cải tạo phục hồi môi trường; có nguồn tài chính, nguồn nhân lực và công nghệ dồi dào, sử dụng hợp lý; xác định rõ nhiệm vụ và nội dung trước khi bắt đầu khai thác, trong quá trình khai thác và sau khi kết thúc khai thác, đóng cửa mỏ Đặc biệt công ty đã xử lý tốt các quyền lợi, lợi ích của doanh nghiệp và cộng đồng, giữa đất đai với môi trường Điều này các mỏ và các công ty ở Việt Nam chưa có những chính sách và chưa thực hiện được

4 Ở Malayxia là một nước rất gần với Việt Nam, sau khi khai thác, mỏ được cải tạo phục hồi thành khu vui chơi giải trí, hoạt động thể thao, du lịch Tiêu biểu như mỏ thiếc Paya indah Sanctuary đóng cửa năm 1997 nay đã trở thành một khu du lịch thể thao nổi tiếng Khu vực này còn được dự định xây dựng một khu trung tâm nghiên cứu sinh thái hàng đầu Châu Á trong tương lai

5 Tại Pháp, sau khi đóng cửa mỏ Albi Carmaux năm 1997 có diện tích rộng tới 650 ha thì đến năm 2003 đã xây dựng một khu giải trí phức hợp gồm cả du lịch, nghỉ dưỡng, trượt tuyết, lướt ván và bảo tàng khai khoáng Đến nay khu vực này đã thu hút nhiều khách du lịch Châu Âu

và các nơi khác trên thế giới tham quan

6 Ngay tại Côn Minh, Trung Quốc một mỏ lưu huỳnh lớn bậc nhất khu vực cũng đang được khai thác và cải tạo phục hồi môi trường Khu vực phía Bắc mỏ hiện vẫn đang được khai thác quặng nhưng khai thác đến đâu được cải tạo phục hồi môi trường đến đấy theo một kịch bản xây dựng trước Khu vực phía Nam mỏ hiện đã trở thành một khu du lịch sinh thái với đầy

đủ tiện ích như sân bóng đá, bể bơi, khu thi đấu thể thao và khu rừng sinh thái tuyệt đẹp

Nhìn chung công tác cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ khai thác khoáng sản trên thế giới

đã đạt được những thành tựu đáng kể Kết quả cải tạo phục hồi mang lại giá trị sử dụng của tài nguyên đất rất đáng kể Đây là những điều Việt Nam cần học tập và thực hiện trong giai đoạn

Trang 12

tiếp theo

7.3 Danh mục các công trình đã công bố thuộc vấn đề đặt ra của chủ nhiệm và những thành

viên tham gia nhiệm vụ (họ và tên tác giả; bài báo; ấn phẩm; các yếu tố về xuất bản)

a) Của chủ nhiệm nhiệm vụ

1 Đỗ Văn Bình (2011), “Cơ sở Địa sinh thái” – Bài giảng cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

2 Đỗ Văn Bình (2012), “Các phương pháp Điều tra Địa sinh thái và Môi trường”, Bài giảng cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường, Trường Đại học Mỏ-Địa Chất

3 Đỗ Văn Bình (2009), “Quản lý và phát triển sinh thái tài nguyên nước”, Bài giảng cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường, Trường Đại học Mỏ-Địa Chất

4 Đỗ Văn Bình (2012) “Cơ sở Địa môi trường” – Bài giảng cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

5 Đỗ Văn Bình (2000) “Địa chất thủy văn và tháo khô các mỏ khoáng sản rắn”, Bài giảng cho sinh viên ngành Khai thác mỏ, Trường Đại học Mỏ-Địa Chất

6 Đỗ Văn Bình, Nguyễn Văn Hoàn (2012) Nước thải mỏ than và phương pháp xử lý – Tạp chí Công nghiệp mỏ tháng 4/2012

7 Đỗ Văn Bình, Trần Thị Thanh Thuỷ, “Đánh giá hiện trạng môi trường nước tỉnh Thái

Bình Đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng hợp lý” Tạp chí Công nghệ mỏ số tháng 8/2012

8 Đỗ Văn Bình (2011- chủ nhiệm), Biên soạn tài liệu Cơ sở Địa sinh thái phục vụ giảng dạy – học tập ngành Kỹ thuật môi trường ở Trường Đại học Mỏ - Địa Chất Nhiệm vụ cấp bộ, Mã số B2011- 07 MT

9 Nguyễn Quang Minh, Đỗ Văn Bình và nnk (2011) “Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm môi trường nước của khu vực khai thác và chế biến (tuyển) khoáng sản Apatit Lào Cai” Mã số: B2009-02-07

10 Bùi Học (chủ nhiệm), Đỗ Văn Bình (thư ký đề tài), (2005) và nnk: “Nghiên cứu sự chu

chuyển của các hợp chất hữu cơ khó phân huỷ (POP5) ở một số khu vực kinh tế trọng điểm” Đề

tài khoa học trọng điểm cấp Bộ

11 Đỗ Văn Bình (2016), “Hướng dẫn các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường trong đề

án CPM đối với loại hình khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên” chuyên đề thuộc đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập đề án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò ở Việt Nam” do

TS Mai Thế Toản chủ trì

12 Đỗ Văn Bình và nnk (2016), “Đề xuất cách xác định phương án cải tạo phục hồi môi trường và cách tính giá trị trượt giá đối với các mỏ khoáng sản nằm trong cụm mỏ của khu vực”, chuyên đề thuộc đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập đề

án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò

ở Việt Nam” do TS Mai Thế Toản chủ trì

13 Đỗ Văn Bình (2016), “Nghiên cứu các phương án cải tạo, phục hồi môi trường cho từng

loại hình dự án khai thác khoáng sản bằng phương pháp hầm lò, kết hợp với kết quả thực hiện CPM của các mỏ tương tự đã thực hiện để để xuất phương án CPM có hiệu quả cao”, chuyên đề thuộc đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập đề án cải tạo,

Trang 13

phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò ở Việt Nam” do TS Mai Thế Toản chủ trì

14 Đỗ Văn Bình (2016), “Hướng dẫn cách tính chi phí CPM và ký quỹ CPM đối với từng loại hình dự án khai thác khoáng sản bằng phương pháp hầm lò”, chuyên đề thuộc đề tài

“Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập đề án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò ở Việt Nam” do TS Mai Thế Toản chủ trì

15 Đỗ Văn Bình (2016), “Hướng dẫn tính chi phí CPM và ký quỹ CPM đối với các mỏ khai thác bằng phương pháp hầm lò đã khai thác và triển khai dự án mở rộng, nâng công suất”, chuyên đề thuộc đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng hướng dẫn kỹ thuật lập đề

án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên và hầm lò

ở Việt Nam” do TS Mai Thế Toản chủ trì

b) Của các thành viên tham gia nhiệm vụ

1 Đỗ Thị Hải (2012), Đặc điểm môi trường nước ngầm khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Nghệ An, Hội nghị khoa học trường lần thứ 20, ĐH Mỏ-Địa Chất

2 Đỗ Thị Hải (2012), Features of Arsenic distributed in groundwater in Nam Dinh, Proceedings of the 2nd international conference on advances in mining and tuneling (tham gia)

3 Đỗ Thị Hải (2014), Tiềm năng sử dụng năng lượng sạch từ các nguồn nước nóng ở Việt Nam phục vụ đới sống dân sinh Hội nghị khoa học trường ĐH Mỏ-Địa Chất lần thứ 22 (tham gia)

4 Đỗ Thị Hải (2015) Đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Hội thảo Kỷ niệm 10 xây dựng và phát triển bộ môn Địa sinh thái và CNMT

5 Trần Thị Thu Hương (2012): “Nghiên cứu xử lý benzene, toluen và xylen trong môi trường không khí bằng sơn nano apatit/TiO2”, Tạp chí Khoa học và công nghệ 50 (2B) (2012), T213 – 220

6 Trần Thị Thu Hương (2014) “Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi sinh vật sinh chất hoạt hoá bề mặt sinh học (CHHBMSH) từ vi sinh vật biển nhằm xử lý mùn khoan trong ngành công nghiệp dầu khí”; tuyển tập báo cáo NCKH trường năm 2014

7 Trần Thị Thu Hương và cộng sự (2015),“Ảnh hưởng của một số vật liệu nano kim loại đến sinh trưởng của chủng vi khuẩn lam Microcystis aeruginosa KG”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ 53(6A), (2015), T50-57

8 Tran Thi Thu Huong et al (2015), “Effect of engineered nanoparticles on cyanobacteria strain”, Hội nghị Khoa học dành cho nghiên cứu sinh và các nhà Khoa học trẻ đến từ các nước ASEAN, 2015, Bangkok, Thailand

9 Trần Thị Thu Hương và cộng sự (2016), “Ảnh hưởng của vật liệu nano bạc đến sinh trưởng của bèo Lemna sp.”, Tạp chí Công nghệ Sinh học, 14(2), 1-8 (2016)

10 Thi Thuy Duong, Thi Thu Huong Tran et al (2016), Inhibition effect of engineered silver nanoparticles to bloom forming cyanobacteria, journal Adv Nat Sci.: Nanosci Nanotechnol issue 3, volume 7

11 Trần Thị Thu Hương (2015), “Bước đầu nghiên cứu chế tạo vật liệu nano đồng bằng phương pháp polyol để xử lý vi khuẩn lam Mycrosystin aeruginosa”, Kỷ niêm Hội thảo kỷ niệm

Trang 14

10 năm thành lập bộ môn Địa sinh thái và CNMT

12 Trần Thị Thu Hương et al, 2016: “Nanoparticles as a control for cyanobacterial bloom”, Journal of Vietnamese environment, ISSN 2193-6471, 2016

13 Nguyễn Quang Minh (2000), Sự suy giảm của Laser trong môi trường bụi than, Tạp chí khoa học, Đại học Mỏ - Địa chất

14 Nguyễn Quang Minh (2009), Environmental impacts of exploitation and processing of apatite at Lao cai apatite mine, 2009, International training workshop on natural disaster reduction, Taiwan

15 Nguyễn Quang Minh (2009), Nghiên cứu sử dụng Xốp Polystyrol xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, Tuyển tập khoa học Laser và Mụi trường Mỏ, Đại học Mỏ - Địa chất

16 Nguyễn Quang Minh (2010), Các tác động đến môi trường nước từ hoạt động của Nhà máy tuyển Apatit Tằng Loỏng, Lào Cai, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học lần thứ 21, ĐH

19 Nguyễn Quang Minh (2014), Mô phỏng tai biến đá rơi, trượt bằng phần mềm PFC-Particle Flow Code, Hội thảo: Tai biến địa chất, các phương pháp dự báo, phân tích và phòng tránh, tổ chức ngày 30/5/2014

20 Nguyễn Quang Minh (2016), Dự báo ảnh hưởng mưa đến sụt trượt bãi thải bằng phần mềm PFC, Tạp KHCN Mỏ

21 Nguyễn Quang Minh (2016), GIS-based parameter rating approaches for landslide susceptibility mapping along mountainous road corridors from Bao Thang to Lao Cai, northwest

of Vietnam (in press) International Conference on Environmental Issues in Mining and Natural Resources Development (EMNR 2016), HUMG, Hnoi, Vietnam

22 Nguyễn Quang Minh (2016), Multi criteria decision modeling using Analytical Hierarchical Process for ecotourism regions A case study of Dehradun City, India, 2016, International Conference on Environmental Issues in Mining and Natural Resources Development (EMNR 2016), HUMG, Hnoi, Vietnam

23 Vũ Thị Phương Thảo, (2012) “Nghiên cứu về khả năng làm sạch nước nhiễm các hợp chất nitơ của Bèo tấm tím (Spirodela polyrhiza) bằng mô hình động lực tăng trưởng toán học” Các công trình nghiên cứu Địa chất và địa vật lý biển 2011, trang 241-257, ISSN: 1859-3070

24 Vũ Thị Phương Thảo, (2015) “Khả năng tích tụ kim loại chì của cây rau muống và ngổ dại thu được trên sông Nhuệ đoạn từ Cầu Tó tới Cống Thần” Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường, ISSN: 0866-7608 số 7, tháng 3/ 2015

25 Vũ Thị Phương Thảo, (2014) “Content of some heavy metals in water and in Impomoea aquatic collecting from Nhue River” International conference on Advances in Mining and

tunneling, 10/2014, Vung Tau, Vietnam Publishing House for Science and Technology ISBN:

Trang 15

978-604-913-248-3

26 Vũ Thị Phương Thảo et al, (2016) “Effect of using Cyperus alternifolius to improve water quality of Nhue river” International conference on Earth Sciences and sustainable Geo- resource Development 11/2016, Hanoi, Vietnam Transport publishing House ISBN 978-604- 76-1171-3

(Những công trình được công bố trong 5 năm gần nhất)

8 TÍNH CẤP THIẾT CỦA NHIỆM VỤ

Dải ven biển miền trung có nhiều mỏ sa khoáng đã và đang được khai thác chế biến quặng các loại, chủ yếu là titan và khoáng sản đi kèm titan như monazit, inmenite Trong hơn 2 thập kỷ qua, khai thác sa khoáng titan ở Việt Nam trở nên vô cùng sôi động Tại các tỉnh miền Trung, đã

có trên 40 đơn vị tổ chức khai thác ở 38 khu mỏ, 18 xưởng tuyển tinh quặng ra đời với hơn 2 triệu tấn quặng được khai thác Việc khai thác chế biến quặng titan và khoáng sản đi kèm tràn lan tác động rất mạnh đến môi trường và con người, tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; gây ô nhiễm và suy thoái vùng đất cát ven biển; làm thay đổi địa hình cồn cát ven biển; làm cạn kiệt và nhiễm mặn nguồn nước ngọt cồn cát một nguồn tài nguyên rất quý và giá trị; tàn phá thảm thực vật và rừng phòng hộ ven biển, phá huỷ sự đa dạng sinh học, nguy cơ xói lở bờ biển, hoang mạc hóa, phát tán các chất phóng xạ vào môi trường, gây mất an ninh trật tự ở khu vực, tạo nên hiện tượng cát bay, cát chảy, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của người dân, đến các hoạt động kinh tế - xã hội của khu vực và gây tổn thất lớn đến tài nguyên quốc gia Những hoạt động này đã và đang nhanh chóng phá vỡ cân bằng sinh thái hình thành từ hàng chục nghìn năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, nhiều vùng đã có biểu hiện ô nhiễm đất, nước, phóng xạ, vì vậy vấn đề cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác đã trở nên cấp bách trong thời gian gần đây

Khai thác khoáng sản ở các mỏ sa khoáng của nước ta trong một thời gian dài đã làm phá hủy môi trường tự nhiên khá nhiều Có mỏ môi trường trở nên nghiêm trọng do phá hủy tầng chứa nước ngot, tăng xâm nhập mặn, phá hủy vai trò của rừng phòng hộ Do vậy việc bảo vệ môi trường, bảo vệ con người và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, rất cần thiết phải thực hiện các biện pháp đồng bộ về quy hoạch, tổ chức và khoa học công nghệ Những năm qua, việc cải tạo phục hồi môi trường các mỏ khai thác sa khoáng ven biển ở nước ta tuy đã được quan tâm nhưng thực tế còn chưa tương xứng, chưa bền vững

Theo tài liệu của Trung tâm tư vấn và công nghệ môi trường - Tổng cục Môi trường (năm

2014), riêng tỉnh Bình Thuận có trữ lượng titan đạt hơn 600 triệu tấn, chiếm 92% trữ lượng cả

nước Lượng khoáng sản này phân bố trong tầng cát xám và cát đỏ trên diện tích khoảng 800

km2 dọc ven biển Đã có đến 67 dự án khai thác titan ở đây, nên mức độ tàn phá môi trường là

vô cùng lớn (theo PGS.TS Lê Trình -Viện Khoa học Môi trường và Phát triển) Sau khi khai

thác một số công ty không hoàn thổ không đúng yêu cầu nên mặt đất bị cày nát, hố trũng loang

lổ, mất hẳn địa hình tự nhiên Một số đồi cát xanh tự nhiên trước đây giờ trở thành vùng đất chết không có cây cối, không có động vật nào sinh sống

Trang bị tài liệu, kiến thức chuyên sâu phục vụ giảng dạy cho sinh viên ngành kỹ thuật môi trường nhất là chuyên sâu về môi trường mỏ là một nhiệm vụ quan trọng Khoa Môi trường Đại học Mỏ - Địa Chất là nơi đào tạo cán bộ môi trường đi sâu về cải tạo phục hồi môi trường các

mỏ khoáng sản Đây là khoa mới thành lập được hơn 6 năm nên tài liệu phục vụ học tập, giảng dạy còn có những hạn chế Tuy vậy, Khoa có thế mạnh trong đào tạo sinh viên có kiến thức tổng hợp từ địa chất, khai thác mỏ, tài nguyên nước, sinh học đến những vấn đề môi trường khác như

Trang 16

phóng xạ, ô nhiễm đất, nước, khí Trên nền kiến thức tổng hợp ấy, việc thực hiện cải tạo phục hồi sẽ có những thuận lợi và bài bản hơn so với sinh viên được tào tạo từ những cơ sở khác Thực tế cho thấy sinh viên được đào tạo từ Đại học Mỏ - Địa chất, ra trường có khả năng đảm nhận tốt các công tác đảm bảo tốt các vấn đề kỹ thuật và chuyên môn trong các vấn đề môi trường mỏ trong đó có cải tạo phục hồi môi trường Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu phục vụ giảng dạy sinh viên môi trường mang tính căn bản, tổng hợp và logic về cải tạo phục hồi môi trường mỏ sa khoáng sau khai thác

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và nhu cầu thực tế của các cơ sở giảng dạy về cải tạo phục hồi môi trường mỏ khai thác sa khoáng, việc biên soạn tài liệu “Cơ sở khoa học

và thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển” cho sinh viên các ngành

kỹ thuật môi trường là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết trong đào tạo cũng như quản lý, để đáp ứng nhu cầu người học cũng như thực tế công việc đòi hỏi

9 MỤC TIÊU CỦA NHIỆM VỤ

Biên soạn và thử nghiệm được tài liệu “Cơ sở khoa học và thực tiễn cải tạo phục hồi môi

trường các mỏ sa khoáng ven biển” cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường

Mục tiêu cụ thể nhằm trang bị cho người học hiểu biết về đặc điểm chung các mỏ sa khoáng ven biển (loại mỏ, loại đất thải, đổ thải, nước thải, phương thức khai thác, các phương pháp cải tạo phục hồi môi trường mỏ sa khoáng), làm kiến thức nền, cơ bản và từ đó nắm được nội dung phương pháp cải tạo phục hồi môi trường mỏ trong giai đoạn hiện nay

10 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

10.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu là tổng hợp cơ sở lý thuyết và thực tiễn đối với các loại mỏ sa khoáng titan ven biển để biên soạn tài liệu “Cơ sở khoa học và thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển” cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường

10.2 Phạm vi

Nhiệm vụ được tiến hành:

- Trong phòng để thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp các mỏ sa khoáng titan ven biển miền Trung

- Thực địa bổ sung tại một mỏ titan phân bố ở Hà Tĩnh và một mỏ phân bố ở Bình Thuận để lấy ví dụ thực tiễn, sau đó biên soạn tài liệu

11 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Trang 17

Đối tượng nghiên cứu là các mỏ sa khoáng ven biển Việt Nam mà chủ yếu tập trung vào các

mỏ titan ven biển từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận Bởi vậy tác giả sẽ tiếp cận đối tượng một cách tổng hợp với những thông tin từ tự nhiên đến xã hội Những điều kiện tự nhiên, đặc điểm mỏ và phương thức khai thác đều tác động đến môi trưởng và do đó cần có những phương pháp, quy trình cải tạo phục hồi khác nhau Bởi vậy nên đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, hệ thống và tổng hợp trên cả vùng lãnh thổ mới giải quyết được mục tiêu đề ra

b/ Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu đã có một cách chọn lọc:

Vùng ven biển Việt Nam đã và đang khai thác sa khoáng, đã và đang có các biện pháp cải tạo phục hồi môi trường Bởi vậy đã có nhiều nguồn tài liệu đã và chưa được công bố Tiến hành thu thập, hệ thống hóa các tài liệu ở tất cả các mỏ sa khoáng ven biển đang khai thác titan phục vụ thực hiện các nội dung của nhiệm vụ là một cách tiếp cận quan trọng và quý giá Cách tiếp cận này sẽ tiến hành:

+ Thống kê và hệ thống hóa toàn bộ các mỏ đã và đang khai thác titan, hệ thống hóa tài liệu cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ đó

+ Tổng hợp lý thuyết và thực tiễn để xác định phương pháp luận về cơ sở cải tạo phục hồi môi trường các mỏ khai thác sa khoáng ven biển

+ Khảo sát thực địa nghiên cứu thực tế một số mỏ điển hình (titan ở Hà Tĩnh và Bình Thuận) + Lấy mẫu đất, mẫu nước, phân tích mẫu đó làm cơ sở thông tin để đối sánh và viết nội dung tài liệu

c/ Tiếp cận trực tiếp và gián tiếp đối tượng nghiên cứu

+ Tiến hành nghiên cứu, tiếp cận thực tế bằng việc khảo sát thực địa, hỏi đáp, phỏng vấn cán

bộ và nhân dân về thực hiện và hiệu quả, tác động của công tác khai thác, cải tạo phục hồi môi trường bằng phiếu điều tra, phỏng vấn

+ Sử dụng ảnh viễn thám để phân tích, đánh giá việc phục hổi môi trường, đề xuất phương pháp quan trắc, giám sát bằng GIS và ảnh viễn thám

11.2 Phương pháp thực hiện nhiệm vụ

- Phương pháp kế thừa, thu thập tài liệu, xử lý thống kê số liệu:

+ Tiến hành thu thập, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu: địa lý tự nhiên, địa chất, thổ nhưỡng, địa chất thủy văn, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, đặc điểm mỏ khoáng sản, phương pháp khai thác, chế độ đổ thải, xả thải, biện pháp cải tạo phục hồi môi trường đã thực hiện…

+ Đánh giá tài liệu về mức độ đầy đủ, tin cậy và viết các chuyên đề về tổng quan tài liệu (địa

lý, địa chất, khí tượng thủy văn, ô nhiễm đất, nước, hiện trạng khai thác, tác động do khai thác, cải tạo môi trường…)

- Phương pháp khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát thực địa bổ sung, nghiên cứu tổng hợp các nội dung liên quan đến cải tạo phục hồi môi trường (địa hình, địa mạo, đổ thải, xả thải và quy trình cải tạo phục hồi môi trường nhất là cải tạo đất và nước) Đánh giá mức độ thực hiện công tác cải tạo phục hồi của cơ sở mỏ ngoài thực tế và đối chiếu tài liệu được phê duyệt Dự kiến thực địa 2 mỏ titan (01 mỏ ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh và 01 mỏ ở Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), mỗi mỏ tiến hành 01 đợt thực địa Khảo sát thực địa còn nhằm mục đích thu thập thêm

Trang 18

các tài liệu thực tế, bổ sung thông tin, đánh giá thực trạng các công tác cải tạo môi trường

- Phương pháp GIS:

Sử dụng công nghệ GIS và viễm thám để xử lý, chồng lặp các bản đồ, bản vẽ chuyên môn, quan trắc và giám sát việc cải tạo phục hồi môi trường các mỏ nhằm đánh giá sự biến đổi cảnh quan, môi trường khu vực mỏ và hiệu quả của công tác cải tạo

- Phương pháp lấy và phân tích mẫu:

+ Tiến hành lấy các loại mẫu đất,mẫu nước và đo phóng xạ tại các khu vực mỏ và phụ cận để đánh giá thực trạng chất lượng môi trường khu vực trong và ngoài khu khai thác, cải tạo phục hồi môi trường

+ Phân tích các mẫu đất, mẫu nước phân tích trong phòng thí nghiệm, đánh giá chất lượng các thông số môi trường phục vụ cho việc xây dựng phương án cải tạo phục hồi môi trường cụ thể

- Phương pháp phân loại thống kê:

+ Thống kê tài liệu, phân loại liên quan về cải tạo phục hồi môi trường dựa trên lý thuyết và thực tế khảo sát, điều tra

+ Phân loại mỏ sa khoáng theo qui mô, phương pháp cải tạo phục hồi môi trường và chất lượng thông số môi trường ở các mỏ khai thác khoáng sản

- Phương pháp chuyên gia:

Tổ chức các hội thảo chuyên đề, hội thảo khoa học để xin các ý kiến chuyên gia phục vụ xây dựng tài liệu cải tạo phục hồi môi trường mỏ sa khoáng Tổng hợp và tham khảo ý kiến của các chuyên gia theo lĩnh vực nghiên cứu

12 NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

12.1 Nội dung thực hiện nhiệm vụ (Mô tả chi tiết những nội dung thực hiện)

- Thu thập tài liệu, tổng hợp số liệu liên quan đến cải tạo phục hồi môi trường

+ Tiến hành thu thập các tài liệu về điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm địa chất, địa chất thủy văn, khí tượng thủy văn, hải văn, đặc điểm các mỏ khoáng sản sa khoáng ven biển, công nghệ khai thác, hiện trạng khai thác, đổ thải, xả thải, tác động khai thác đến môi trường và các phương pháp cải tạo phục hồi môi trường ở các mỏ trong khu vực nghiên cứu

+ Nghiên cứu thống kê, phân loại tài liệu thu thập các mỏ sa khoáng theo các đặc điểm tổng hợp về địa chất, địa chất thủy văn, đổ đất thải, chất lượng đất, nước, môi trường, biện pháp cải tạo và phục hồi môi trường

+ Hệ thống hóa các tài liệu thu thập

+ Thu thập thông tin thêm trong quá trình khảo sát điều tra thực địa bổ sung

- Nghiên cứu cơ sở khoa học cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển

+ Nghiên cứu đặc điểm phân bố, hình thành các mỏ sa khoáng ven biển

+ Nghiên cứu các tác nhân liên quan tác động đến môi trường khi khai thác mỏ

+ Nghiên cứu quy trình khai thác ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường

Trang 19

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ và phương pháp khai thác tác động đến môi trường + Nghiên cứu cơ sở khoa học, quy trình thực hiện cải tạo môi trường

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển

+ Tiến hành khảo sát thực địa bổ sung 2 đợt tại 2 mỏ (dự kiến khảo sát tại mỏ titan Nghi Xuân, Hà Tĩnh và mỏ titan ở Hàm Thuận Nam, Bình Thuận) Mục tiêu khảo sát là thu thập các thông tin tổng hợp về chất lượng đất, nước, phương thức khai thác, hiện trạng cải tạo phục hồi môi trường, đo phóng xạ, thực hiện các phiểu hỏi đáp để thu thập thông tin thực tế Đánh giá thực trạng về cải tạo và phục hồi môi trường đối với từng mỏ khảo sát

+ Lấy mẫu đất, mẫu nước để phân tích chất lượng môi trường đất và nước Mỗi khu vực mỏ lấy 10 mẫu đất, 10 mẫu nước

+ Đo bổ sung hàm lượng phóng xạ ở 2 khu mỏ khảo sát nêu trên, mỗi mỏ 10 điểm

+ Nghiên cứu, đánh giá sự phù hợp, hiệu quả của phương pháp cải tạo phục hồi môi trường của từng mỏ đã thực hiện

+ Đánh giá thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ở Việt Nam Những vấn

đề thực tiễn trong cải tạo phục hồi các mỏ sa khoáng và giải pháp thực hiện

- Xây dựng đề cương và xin ý kiến chuyên gia về đề cương của tài liệu “Cơ sở khoa học và

thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển”

Mở đầu

Nội dung 1: Chương 1 Tổng quan về cải tạo phục hồi môi trường mỏ khai thác khoáng sản

Chuyên đề 1: Tổng quan tài liệu thu thập

Chuyên đề 2: Tổng quan về các phương pháp cải tạo phục hồi môi trường mỏ sa khoáng ven biển

Nội dung 2: Chương 2 Đặc điểm và phân loại cải tạo môi trường mỏ sa khoáng ven biển

Chuyên đề 3: Đặc điểm phân bố các mỏ sa khoáng ven biển

Chuyên đề 4: Những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường khi khai thác sa khoáng ven biển Chuyên đề 5: Ảnh hưởng của phương pháp và quy trình công nghệ khai thác mỏ sa khoáng đến môi trường

Nội dung 3: Chương 3 Hiện trạng khai thác và vấn đề môi trường các mỏ sa khoáng ven

biển Việt Nam

Chuyên đề 6: Hiện trạng môi trường nước các mỏ sa khoáng ven biển

Chuyên đề 7: Hiện trạng môi trường đất các mỏ sa khoáng ven biển

Chuyên đề 8: Đặc điểm và hiện trạng môi trường phóng xạ các mỏ sa khoáng ven biển Chuyên đề 9: Hiện trạng cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển Việt Nam

Nội dung 4: Chương 4 Đặc điểm địa sinh thái khu vực nghiên cứu

Chuyên đề 10: Tổng quan về địa sinh thái - Đặc điểm địa sinh thái khu vực nghiên cứu

Trang 20

Nội dung 5: Chương 5 Phương pháp cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển

Chuyên đề 11: Những vấn đề bất cập và tồn tại trong cải tạo phục hồi môi trường mỏ sa khoáng ở Việt Nam

Chuyên đề 12: Cơ sở thực tiễn phục vụ cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ở Việt Nam

Chuyên đề 13: Nội dung và trình tự cải tạo môi trường các mỏ sa khoáng ven biển

Nội dung 6: Chương 6 Ứng dụng công nghệ GIS trong quan trắc, giám sát cải tạo phục hồi

Tài liệu tham khảo

- Nghiên cứu định hướng áp dụng cho chương trình đào tạo Kỹ thuật môi trường, khoa Môi trường, trường Đại học Mỏ - Địa chất

Tài liệu biên soạn sẽ được áp dụng trong giảng dạy cho sinh viên ngành Kỹ thuật môi trường Việc áp dụng sẽ theo lộ trình: sau khi được giao nhiệm vụ, tiến hành ngay các nội dung nêu trong đề cương Tiếp theo biên soạn tài liệu cùng đồng thời tiến hành các hoạt động cụ thể

để đưa tài liệu dần thành môn học Trước hết trong 2 năm đầu kể từ khi nghiệm thu (từ 2019) vừa tiến hành giảng dạy vừa bổ sung hoàn thiện để nâng cấp tài liệu thành giáo trình

2018 Khuyến nghị cách thức đưa tài liệu “Cơ sở khoa học và thực tiễn cải tạo phục hồi môi trường các mỏ sa khoáng ven biển” vào chương trình đào tạo cho sinh viên ngành kỹ thuật môi

trường Do chương trình giảng dạy đã thành khung từ lâu nên cần có lộ trình để đưa tài liệu vào môn học chính thức Trước hết, năm 2017 đưa một số nội dung vào bồi dưỡng trong Câu lạc bộ Môi trường Các giảng viên sẽ phổ biến, hướng dẫn các em theo từng chương để tập huấn Tiếp theo sẽ tổ chức tập huấn ở một số sinh viên về các mỏ theo hoạt động dã ngoại của Khoa kết hợp với mỏ (dự kiến mỏ titan ở Hà Tĩnh Sau một thời gian là 01 học kỳ tiếp theo sẽ tiếp cận đưa vào phần môn học ĐTM và cải tạo phục hồi môi trường

+ Trong thời gian thực hiện tổ chức hội thảo xin ý kiến chuyên gia Dự kiến hội thảo với quy

mô 25-30 đại biểu là giảng viên giảng dạy các môn liên quan và nhà quản lý để xin ý kiến hoàn thiện tài liệu Thời gian tổ chức vào tháng thứ 10 kể từ khi nhiệm vụ được phê duyệt

+ Tiến hành triển khai thử nghiệm, giảng cho sinh viên ngành Kỹ thuật Môi trường của trường

ĐH Mỏ - Địa chất và trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội Tiếp tục xin ý kiến

Trang 21

phản hồi thông qua phiếu điều tra và các kênh thông tin khác để chỉnh sửa cho phù hợp

+ Sau khi có những giảng thử, thử nghiệm, tổ chức các buổi sinh hoạt học thuật, góp ý phương pháp triển khai, khắc phục những khó khăn trong thực tế để hoàn thiện Tài liệu và biên tập thành bài giảng chính thức Sau khoảng 2 năm giảng dạy sẽ bổ sung, hoàn thiện thành giáo trình giảng dạy

- Họp hội đồng báo cáo tổng kết, nghiệm thu nhiệm vụ biên soạn tài liệu (hội đồng cấp cơ

sở và cấp Bộ)

12.2 Tiến độ thực hiện

Stt Các nội dung, công việc thực hiện Sản phẩm

Thời gian (bắt đầu-kết thúc)

Người thực hiện

1 Xây dựng đề cương nhiệm vụ,

đề cương được phê duyệt

Đề cương 01/2017 Đỗ Văn Bình

Trần Thị Kim Hà Nguyễn Quốc Phi

2 Thu thập thông tin trong và

ngoài nước có liên quan đến tài

liệu biên soạn

Bộ tài liệu 01-03/2017 Đỗ Thị Hải

Đỗ Cao Cường Trần Thị Thu Hương

3 Xây dựng thuyết minh đề cương

tài liệu biên soạn

Đề cương 02/2017 Đỗ Văn Bình

Trần Thị Kim Hà Nguyễn Quốc Phi

4 Hội thảo xin ý kiến chuyên gia

về đề cương chi tiết, chỉnh sửa

bổ sung hoàn thiện đề cương

Đề cương hoàn chỉnh

06/2017 Đỗ Văn Bình

Trần Thị Kim Hà Nguyễn Quốc Phi

Đỗ Thị Hải Đào Đình Thuần Trần Thị Thu Hương

Vũ Thị Phương Thảo

Đỗ Cao Cường Nguyễn Quang Minh

6 Xây dựng các chuyên đề liên

quan đến nội dung tài liệu biên

Đỗ Thị Hải

Trang 22

Đào Đình Thuần Trần Thị Thu Hương

Vũ Thị Phương Thảo

Đỗ Cao Cường Nguyễn Quang Minh

7 Tổng hợp các báo cáo chuyên đề

biên soạn nội dung tài liệu “Cơ

sở khoa học và thực tiễn cải tạo

phục hồi môi trường các mỏ sa

khoáng ven biển”

Báo cáo 09/2017 Đỗ Văn Bình

Đỗ Thị Hải Nguyễn Quốc Phi

8 Hội thảo xin ý kiến đóng góp

của đại diện giáo viên các trường

giảng dạy kỹ thuật môi trường,

các nhà quản lý đối với tài liệu

“Cơ sở khoa học và thực tiễn cải

tạo phục hồi môi trường các mỏ

sa khoáng ven biển”

Hội thảo 10/2017 Đỗ Văn Bình

Nguyễn Quốc Phi Đào Đình Thuần Trần Thị Kim Hà

9 Tiến hành triển khai giảng thử

nghiệm, lấy ý kiến phản hồi của

giảng viên và sinh viên thông

qua mẫu phiếu đánh giá

Phiếu 10/2017 Nguyễn Quốc Phi

11 Họp hội đồng báo cáo tổng kết,

nghiệm thu nhiệm vụ biên soạn

tài liệu (hội đồng cấp cơ sở và

cấp bộ)

12/2017 Đỗ Văn Bình

Trần Thị Kim Hà Đào Đình Thuần Nguyễn Quang Minh Nguyễn Quốc Phi

Ngày đăng: 19/04/2020, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w