Nếu như ở Việt Nam,công ty TNHH một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật Doanh nghiệp 1999 thì đối với pháp luật các nước trên thế giới, mô hình công ty này đã được thừanhận
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Thương Mại, em
đã nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trongtrường Qua quá trình học tập, em đã tích lũy được nhiều kiến thức quý báu để vận
dụng vào công việc của mình trong tương lai Với đề tài khóa luận “ Pháp luật về Công ty TNHH một thành viên – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thu Ngân”, em đã có cơ hội vận dụng những kiến thức của mình đã học tại Trường vào
thực tế để củng cố thêm vốn kiến thức và hiểu biết của mình
Sau thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thu Ngân đến nay em đã hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp của mình Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trongTrường Đại học Thương Mại , đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc Sỹ HoàngThanh Giang – người đã hết lòng hướng dẫn em hoàn thành khóa luận của mình Em cũngxin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể anh chị Phòng tổ chức hành chính, Công tyTNHH Thu Ngân đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về lý luận và kinh nghiệmthực tế nên khóa luận của em không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sựgóp ý của các thầy cô, các anh chị trong Công ty để bài viết của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Vũ Hồng Ngọc
i
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 2
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 4
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 6
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
4.3 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 9
1.1.1 Khái niệm chung về công ty và quá trình hình thành công ty TNHH một thành viên 9
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên 12
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 14
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 14
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 16
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 18
1.3.1 Nguyên tắc tự do ý chí và tự do kinh doanh 18
1.3.2 Nguyên tắc chịu trách nhiệm 19
ii
Trang 3CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
TNHH THU NGÂN 20
1.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên 20
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên 20
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH 21
2.2 Phân tích thực trạng quy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên 23
2.2.1 Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên 23
2.2.2 Quy định về tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên 32
2.2.3 Chế độ tài chính và vốn của công ty TNHH một thành viên 34
2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên 38
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên tại Công ty TNHH Thu Ngân 42
2.3.1 Thực trạng thực hiện các quy phạm quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh tại Công ty TNHH một thành viên 42
2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm quy định về tổ chức quản lý Công ty TNHH Thu Ngân 44
2.3.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm chế độ tài chính và vốn Công ty TNHH Thu Ngân 44
2.3.4 Thực trạng thực hiện các quy phạm quyền và nghĩa vụ của công ty, chủ sở hữu công ty TNHH Thu Ngân 46
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 47
2.4.1 Điểm tích cực 47
2.4.2 Điểm hạn chế 49
iii
Trang 4CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG
TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 50
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên 50
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên 52
3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về công ty nói chung và pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên 52
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty TNHH một thành viên 54
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 55
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO vi
iv
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời là sự kế thừa và phát huy của Luật Doanhnghiệp 2005 Đánh dấu một sự thay đổi trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam,đồng thời phản ánh được tư tưởng và mục tiêu nổi bật của Luật Doanh nghiệp 2014 làhình thành một khung pháp lý chung, bình đẳng, áp dụng thống nhất cho mọi loại hìnhdoanh nghiệp Việc ban hành Luật Doanh nghiệp 2014, càng lãm rõ hơn nguyên tắc tự
do kinh doanh mà pháp luật Việt Nam luôn ủng hộ, các doanh nghiệp việt Nam đã cóđiều kiện để hoạt động bình đẳng trong nền kinh tế thị trường Sự ra đời của LuậtDoanh nghiệp 2014 cũng đáp ứng được yêu cầu đối xử bình đẳng giữa các doanhnghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Luật Doanh nghiệp 2014 cũng có những điểm nổi bật quy đinh đối với loại hìnhcông ty TNHH một thành viên, tạo nhiều hành lang pháp lý thuận lợi cho loại hìnhnày Tuy nhiên, qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH Thu Ngân, em thấy đượcvẫn còn những hạn chế về pháp luật điểu chỉnh công ty TNHH Thu Ngân, thấy được
sự lung túng và khó khăn khi có sự thay đổi Luật Doanh nghiệp Do đó, em muốn đisâu vào nghiên cứu vấn đề pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên tạiCông ty để hiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng pháp luật về công ty TNHH một thành viêntại Công ty TNHH Thu Ngân cũng như trải nghiệm những kiến thức đã học được trongchuyên ngành Luật thương mại
Trang 71 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Ngày 21/12/1990, Quốc hội khóa VIII nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tưnhân, tạo cơ sở pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh như công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân phát triển, góp phần tolớn trong việc giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy nội lực, phục vụ sự nghiệp pháttriển kinh tế của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy nhanh thời kỳ quá độ chuyển từ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Tuy vậy, theo thời gian nhiều nội dungcủa hai đạo luật đó đã tỏ ra bất cập, không còn đáp ứng nhu cầu điều chỉnh hoạt độngcủa các loại hình doanh nghiệp giai đoạn mới Để đảm bảo phát huy nội lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinhtế; đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhàđầu tư; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh, Đảng
và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật Luật Doanhnghiệp1999 thay thế Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế Luật Doanhnghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2014 thay thế Luật Doanh nghiệp 2005
Công ty TNHH mặc dù ra đời muộn nhưng là loại hình doanh nghiệp được cácnhà đầu tư ưa chuộng bởi sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh vàcông ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô vừa và nhỏ Ngày 12/06/1999Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội thông qua Một trong những nội dung mới củađạo luật này là lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam ghi nhận một loại hìnhdoanh nghiệp mới, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nếu như ở Việt Nam,công ty TNHH một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật Doanh nghiệp
1999 thì đối với pháp luật các nước trên thế giới, mô hình công ty này đã được thừanhận cách đây nhiều năm và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn một loại hìnhkinh doanh phù hợp, phân tán được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễ dàng với cácchủ thể kinh doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý của doanh nghiệp
Tuy nhiên, loại hình công ty TNHH một thành viên trong Luật Doanh nghiệp
1999 vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động của cácloại hình doanh nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa Trước tình hình
Trang 8đó, ngày 29/11/2005 Luật Doanh nghiệp 2005 đã được Quốc hội ban hành và có hiệulực ngày 01/07/2006 Luật Doanh nghiệp 2005 có nhiều nội dung đổi mới mà trong đóđáng chú ý nhất là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làchủ sở hữu đã cải thiện một bước to lớn môi trường kinh doanh ở Việt Nam Cải cáchmột bước quan trọng thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp yên tâm hơn trong quátrình sản xuất kinh doanh
Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đang không ngừng được hoàn thiện để tạo
cơ sở pháp lý thuận lợi cho các công ty TNHH một thành viên hoạt động, Luật Doanhnghiệp 2014 được ban hành với những quy định mới hơn so với Luật Doanh nghiệp
2005, tuy nhiên trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập như: quy định chưa rõràng dẫn đến việc áp dụng luật trên thực tế còn nhiều vướng mắc, có những vấn đềphát sinh trong thực tiễn chưa được luật điều chỉnh gây khó khăn cho các chủ thể khiđiều hành quản lý hoạt động của công ty TNHH một thành viên Doanh nghiệp nóichung và công ty TNHH một thành viên nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế Việt Nam Việc học tập kinh nghiệm của các nước có nềnkinh tế phát triển trên thế giới và trong khu vực có giá trị to lớn đối với Việt Namtrong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về loại hình công ty TNHH một thànhviên, tạo điều kiện thúc đẩy nó phát triển hiệu quả bên cạnh các loại hình công tytruyền thống khác, đồng thời tạo ra sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luậtcác nước
Tại Công ty TNHH Thu Ngân, việc thực hiện theo đúng pháp luật luôn đượccoi là yếu tố hàng đầu để giúp công ty phát triển và vững mạnh Từ lúc thành lập chotới nay, công ty đáp ứng đúng những quy định cũng như điều kiện đặt ra đối với loạihình công ty TNHH một thành viên Công ty thành lập năm 2008 nên khi thành lậpcông ty phải tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp 2005 và cho đến nay là Luật Doanhnghiệp 2014 thay thế Luật doanh nghiệp 2005 Mặc dù việc sửa đổi luật giúp cho cáccông ty nói chung và Công ty TNHH Thu Ngân nói riêng giảm thiểu các thủ tục hànhchính, hiểu quả về mặt tổ chức cũng như quản lý tài chính nhưng nó cũng khiến cáccông ty phải thay đổi kịp thời phù hợp với luật định Điều này làm cho các công tylung túng trong việc thực hiện đúng theo pháp luật hiện hành
Trang 9Trước những khó khăn trong quá trình thay đổi hoàn thiện đáp ứng theo đúng
pháp luật của Công ty TNHH Thu Ngân , tôi xin đưa ra đề tài “ Pháp luật về Công ty TNHH một thành viên – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thu Ngân” làm bài
nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình Tôi hi vọng kết quả của việc nghiêncứu này sẽ mang lại lợi ích cho bản thân trong việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luậtcũng như có thể nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về công ty TNHH một thànhviên tại Công ty TNHH Thu Ngân
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Những vấn đề pháp luật quy định về các loại hình Công ty nói chung và quyđịnh về Công ty TNHH một thành viên nói riêng đã được đề cập trong giáo trình củamột số trường Đại học như Giáo trình Luật Thương mại 1 của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế Trường Đạihọc Thương Mại…nhưng mới chỉ dừng lại ở việc trang bị các kiến thức cơ bản Ngoài
ra, vấn đề pháp luật quy định về Công ty TNHH một thành viên còn được nghiên cứumột cách sâu rộng cùng các phương pháp liệt kê, so sánh, kịp thời… ở những côngtrình nghiên cứu tiêu biểu sau:
_Luận văn Thạc sỹ “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các
tổ chức chính trị, chính trị xã hội thành công ty TNHH một thành viên – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn” của tác giả Phạm Thị Thúy Hồng, người hướng dẫn tiến sỹ
Dương Đăng Huệ, năm 2003, đã nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũngnhư thực tiễn các quy định của pháp luật về vấn đề chuyển đổi DNNN, doanh nghiệpcủa các tổ chức chính trị, chính trị xã hội thành công ty TNHH một thành viên Luậnvăn còn đưa ra thực trạng thực hiện pháp luật và những hạn chế trong quy định củapháp luật để từ đó nêu những giải pháp kiến nghị hoàn thiện luật
_ Luận văn Thạc sỹ “Công ty TNHH một thành viên theo Luật Doanh nghiệp
2005 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê Thị Tú Hồng, người hướng
dẫn Tiến sỹ Nguyễn Viết Tý, năm 2006, luận văn làm rõ những quy định của pháp luật
về Công ty TNHH một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2005 đồng thời nêu ranhững vấn đề thực tiễn xoay quanh pháp luật về công ty TNHH một thành viên theoLuật Doanh nghiệp 2005 Đưa ra những kiến nghị giải pháp với mục đích nâng caohiệu quả áp dụng luật vào doanh nghiệp hiện nay
Trang 10_ Luận văn Thạc sỹ “Chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay” của Ngô Thị Ngọc Hương, Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2012, người hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Hoài Thu đã nghiêncứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn các quy định của pháp luật
về vấn đề chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên; tổ chức quản lýDNNN sang công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi; quyền lợi của người laođộng khi chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên Đưa ra kiến nghịnhằm đem lại hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau chuyển đổi sang công tyTNHH một thành viên và phương hướng tiếp theo sau chuyển đổi
_ Luận văn Thạc sỹ “Công ty TNHH một thành viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng Hòa Pháp” của tác giả Đinh Thị An, năm 2004, đã
nghiên cứu làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của Cộng HòaPháp về công ty TNHH một thành viên Luận văn có sự so sánh giữa hai hệ thốngpháp luật hai nước quy định về công ty TNHH một thành viên đề từ đó đưa ra nhữngbài học kinh nghiệm và những giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về công tyTNHH một thành viên
_ Luận văn Thạc sỹ “Pháp luật về Công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam”
của Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Nga, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014,người hướng dẫn khoa học là Tiến sỹ Bùi Ngọc Cường đã nghiên cứu làm rõ nhữngquy định về Công ty TNHH một thành viên theo pháp luật hiện hành – Luật Doanhnghiệp 2005 Ngoài ra , luận văn còn chỉ ra những thực trạng pháp luật và nêu lênnhững bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật, đồng thời tác giả cũng đưa ramột số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh về công ty TNHHmột thành viên
_ Bài báo “Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Tiễn sỹ Bùi Ngọc Cường, tạp chí Luật học trường Đại học Luật Hà Nội,
số 06/2004, tr 28-30
_ Bài báo “Quan niệm về Luật Doanh nghiệp – Một số vấn đề phương pháp luận” của tác giả Đồng Ngọc Ba, tạp chí Luật học trường Đại học Luật Hà Nôi, số
02/2004, tr 13-17
Trang 11_ Bài viết “Nên hay không nên thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân ở Việt Nam” của Công ty Luật Minh Khuê, bài viết đưa ra những quan điểm
nhận định về công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ ở Việt Nam trong dựthảo luật (thống nhất) 2005, đưa ra những ưu điểm và hạn chế của loại hình công tynày để từ đó đưa ra những lý do cần có có sự xuất hiện của công ty TNHH một thànhviên là cá nhân ở Việt Nam
_ Bài viết “Báo cáo đánh giá những điểm mạng và yếu của Luật Doanh nghiệp
và kiến nghị những giải pháp bổ sung sửa đổi” của Tác giả Nguyễn Đình Cung, năm
2004
Mỗi bài viết, đề tài nghiên cứu đều hướng tới các nội dung liên quan đến nhữngvấn đề pháp lý của các loại hình doanh nghiệp đặc biệt là loại hình công ty TNHH mộtthành viên nhưng theo cách tiếp cận tổng quát, chưa có một công trình riêng biệt vềpháp luật công ty TNHH một thành viên và thực tiễn thực hiện của các công ty hiệnnay như thế nào?
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Công ty TNHH một thành viên là một loại hình công ty đơn giản nhưng thựctiễn thực hiện vẫn còn rất nhiều phức tạp, chưa tách biệt được hay chưa hiểu được rõvai trò cũng như đặc điểm pháp lý của loại hình công ty này so với loại hình công ty tưnhân Xuất phát từ thực tiễn Công ty TNHH Thu Ngân, là một công ty TNHH một
thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu nên tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật về công ty TNHH một thành viên- thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thu Ngân” với mong
muốn đi sâu tìm hiểu bản chất, nội dung, hình thức, chủ thể và các vấn đề pháp lý củacông ty TNHH một thành viên nhằm hiểu rõ những ưu điểm, hạn chế của loại hìnhcông ty này và đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên từthực tiễn Công ty TNHH Thu Ngân So với các công trình nghiên cứu đã kể trên thìkhóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những vẫn đề pháp lý xoay quanh công ty TNHHmột thành viên và liên hệ trực tiếp với thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Thu Ngân
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam vềcông ty TNHH một thành viên, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quy định của
Trang 12Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định
78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/11/2015 và thay thế Nghịđịnh 43/2010/NĐ-CP , 05/2013/NĐ-CP , Nghị định 96/2015/NĐ-CP Quy định chi tiếtmột số điều của Luật doanh nghiệp có hiệu lực kể từ ngày 08/12/2015 và thay thế Nghịđịnh 102/2010/NĐ-CP, Thông tư 127/2015/TT-BTC hướng dẫn cấp mã số doanh nghiệpthành lập mới và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp, Côngvăn 4211/BKHĐT-ĐKKD hướng dẫn áp dụng quy định về đăng ký doanh nghiệp Cácquy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên và thực tiễn áp dụngtại Công ty TNHH Thu Ngân
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài khóa luận nhằm hệ thống hóa những quy định pháp luật
về hợp đồng đại lý thương mại nhằm làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật điều chỉnh loạihình công ty TNHH một thành viên, phân tích thực trạng áp dụng, tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về công ty TNHH một thành viên tại Công ty TNHH Thu Ngân,đồng thời nêu lên được những bất cập đang tồn tại trong quy định về công ty TNHHmột thành viên Ngoài ra, bài khóa luận còn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện phápluật về công ty TNHH một thành viên và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụngpháp luật công ty TNHH một thành viên tại Công ty TNHH Thu Ngân
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, bài khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu các quy địnhcủa pháp luật về công ty TNHH một thành viên dựa trên Luật Doanh nghiệp 2005 vàLuật Doanh nghiệp 2014 thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 liên quan đến các vấn đềsau: điều kiện đăng kí thành lập doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp,quy định về vốn và quản lý tài chính… Từ đó liên hệ với thực tiễn tại Công ty TNHHThu Ngân
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, khóa luận sử dụng phối hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn tài liệu;Phương pháp phân tích, tổng hợp các kiến thức từ pháp luật và phân tích thực tiễn đểphát hiện và đánh giá việc thực hiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên tạiCông ty TNHH Thu Ngân Các phương pháp nghiên cứu trong khóa luận được thực
Trang 13hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng, trên cơ sở quan điểm, đườnglối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung của bài khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh Công ty TNHH một
thành viên
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên
và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thu Ngân
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Công ty TNHH một thành
viên
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
kỷ XIV, các công ty Anh thế kỷ XVII Những công ty thương mại đối nhân đầu tiênchính thức xuất hiện vào thế kỷ thứ XIII ở một số thành phố của các nước Châu Âu,nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán Sang thế kỷ XVIII, XIX,cùng với quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở Châu Âu, Châu Mỹ, đã xuất hiệncác công ty cổ phần đáp ứng được nhu cầu tập trung nguồn vốn của các nhà đầu tư.Trong khoảng 100 năm trở lại đây, số lượng các loại hình công ty đã phát triển rấtnhanh, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế nói riêng và đời sống
xã hội nói chung.Sự ra đời các công ty xuất phát từ những nhu cầu tất yếu khách quancủa đời sống xã hội Cụ thể:
Trong xã hội, khi việc sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhấtđịnh, xuất hiện nhu cầu cần phải mở mang kinh doanh Từ nhu cầu mở mang quy môkinh doanh, xuất hiện các nhu cầu về vốn Để đáp ứng nhu cầu này, các nhà kinhdoanh phải liên kết với nhau Đầu tiên, những người quen biết nhau, tin cẩn nhau liênkết với nhau, tạo ra các công ty đối nhân Sau đó sự liên kết này được mở rộng tới cácthành viên có thể không quen biết nhau mà chỉ cần có vốn, có tài sản Trên cơ sở đó,các công ty đối vốn xuất hiện Như vậy, một mô hình tổ chức kinh doanh mới đã ra đời
- đó là các công ty.Ngoài ra, trong một xã hội có nền sản xuất hàng hóa phát triển, luônluôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường Đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các công ty Trong nền kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư thấp thường rơi vào vị trí bất lợi trong quá trình cạnh
Trang 15tranh Để tránh sự bất lợi đó, các nhà kinh doanh cần liên kết nhau lại thông qua hìnhthức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp nhằm tạo thế đứng vững chắc trên thịtrường Mặt khác, trong kinh doanh thường phát sinh rủi ro Trong trường hợp đó đòi hỏicác nhà kinh doanh phải liên kết với nhau để có thể phân chia rủi ro cho nhiều người.
Tóm lại, khi hai hay nhiều người cùng góp vốn thành lập một doanh nghiệp đểtiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau đã hình thành một loại hình doanhnghiệp gọi là công ty Trong thực tế, mô hình liên kết này tỏ ra phù hợp với nền kinh
tế thị trường và rất hấp dẫn đối với nhiều nhà kinh doanh Sự ra đời của công ty là sảnphẩm tất yếu của quá tình liên kết, hợp tác, phản ánh sự phát triển mang tính quy luậtcủa nền kinh tế thị trường Xét thấy, sự ra đời của mô hình công ty là kết quả tất yếucủa việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội
Vậy khái niệm chung về công ty được hiểu như thế nào?
Công ty được hiểu trên nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau.Ở góc độ kinh
tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thươngnghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tếchuyên hoạt động sản xuất.Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công
ty khác nhau Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nóichung có một số điểm cơ bản chung thống nhất Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốnthành lập Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty.Khái niệm vềcông ty của các nước như Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác nhau đều chứađựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết thì phải có nhiều người Công ty sẽ không thỏamãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập Chủ thể ở đây có thểhiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cánhân với nhau
Năm 1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãban hành Luật Công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước LuậtCông ty 1990 định nghĩa: Công ty TNHH và công ty cổ phần gọi chung là công ty, làdoanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùngchịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty
Trang 16Luật Công ty ghi nhận công ty là doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH vàcông ty cổ phần Công ty có tư cách pháp nhân độc lập, các thành viên công ty chỉchịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ đãgóp vào công ty Việc thành lập công ty ở đây dựa trên yếu tố liên kết đó là vốn gốpcủa các thành viên Công ty được hiểu theo nghĩa truyền thống, đó là sự liên kết giữacác cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Công ty ởđây chỉ bao gồm hai loại công ty là công ty TNHH và công ty cổ phần Tại thời điểmnày, khái niệm công ty ở Việt Nam giống khái niệm công ty ở Mỹ, đó là chỉ có loạihình công ty đối vốn Pháp luật Mỹ chỉ phân biệt hai trường hợp: công ty có phát hành
cổ phiếu và công ty không phát hành cổ phiếu
Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 của nước CHXHCN Việt Nam, các nhàlàm luật không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụthể về các loại hình công ty Công ty theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 1999 đãđược mở rộng: công ty bao gồm công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh.Trong đó công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công tyTNHH hai thành viên Như vậy, Luật Doanh nghiệp 1999 bổ sung thêm loại hình công
ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty hợp danh
Theo Luật Doanh nghiệp 1999 thì khái niệm công ty không còn nguyên vẹntheo nghĩa truyền thống của nó nữa Công ty có thể là doanh nghiệp do một người làmchủ sở hữu, tức là pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH mộtthành viên cũng có nghĩa là phá vỡ ý nghĩa “liên kết” của công ty Một thành viên là tổchức có thể độc lập thành lập công ty, có tư cách pháp nhân Luật Doanh nghiệp 2005không đưa ra định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể của cácloại hình công ty: công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 38, LuậtDoanh nghiệp 2005), công ty TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều63, Luật Doanhnghiệp 2005), công ty cổ phần (khoản 1 Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005), công tyhợp danh Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 không có
sự thay đổi nhiều về các khái niệm cụ thể các loại hình công ty: Công ty TNHH haithành viên trở lên (Khoản 1, Điều 47, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty TNHH mộtthành viên (Khoản 1, Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty cổ phần (Khoản 1,
Trang 17Điều 110, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty hợp danh(Khoản 1, Điều 172, LuậtDoanh nghiệp 2014).
Nhìn một cách khái quát thì “công ty” theo Luật Doanh nghiệp 2005 được thaythế bằng Luật Doanh nghiệp 2014 được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loạihình công ty TNHH một thành viên là cá nhân Đây là sự thay đổi phù hợp với tìnhhình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển doanh nghiệp ở nhiều nướctrên thế giới.Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảmcho các thành phần kinh tế có thể tham gia một cách dễ dàng vào hoạt động sản xuấtkinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo tâm lý yêntâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế ổnđịnh, bền vững.Do vậy, việc ban hành Luật Doanh nghiệp thống nhất không những chỉbảo đảm sự công bằng về chế độ pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước mà cònđảm bảo sự công bằng về chế độ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên
Khái niệm:
Theo Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014 nêu rõ khái niệm về công ty TNHH
mộtthành viên: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.”
Thực tiễn kinh doanh ở nước ta, các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức chínhtrị xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như công ty TNHH mộtthành viên (một chủ sở hữu) Luật Doanh nghệp năm 1999 chỉ quy định công tyTNHH một thành viên là tổ chức, Luật Doanh nghiệp 2005 đã phát triển và mở rộng
cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên Công ty TNHHmột thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân nhưng không cóquyền phát hành cổ phiếu Còn đối với người nước ngoài tại Việt Nam và người ViệtNam tại nước ngoài thì họ được quyền thành lập công ty TNHH một thành viên theochính sách khuyến khích đầu tư trong nước và họ se hoạt động theo luật khuyến khíchđầu tư trong nước và luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 18Những đặc điểm riêng biệt của công ty TNHH một thành viên là:
_ Là loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu: Tuy nhiên, khác với doanh nghiệp
tư nhân, chủ sở hữu ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức Quy định về chủ sở hữu củacông ty là một điểm mới của Luât Doanh nghiệp năm 2005 Theo quy định của LuậtDoanh nghiệp 1999 thì chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chỉ có thể là tổchức, không chấp nhận cho các chủ sở hữu là cá nhân Với quy định về chủ sở hữucông ty TNHH một thành viên là cá nhân đã tạo thêm một cơ hội cho các nhà đầu tưđược lựa chọn loại hình doanh nghiệp phụ hợp với mục đích và hoàn cảnh của mình,
và thể hiện rõ hơn nữa quyền tự do kinh doanh đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
_ Chế độ trách nhiệm của công ty là chế độ trách nhiệm hữu hạn: Vốn điều lệ
của công ty TNHH một thành viên được hiểu là số do thành viên góp và ghi vào Điều
lệ công ty Vốn điều lệ của công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, giá trịquyền sử dụng đất, giá trị quyền sử dụng trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tàisản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu phát sinh các khoản nợ và ngoài tài sảnkhác của công ty thì chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ
đã góp hoặc cam kết góp vào công ty chứ không phải đưa tài sản riêng của cá nhân, tổchức ra để thanh toán các khoản nợ đó Như vậy, trong công ty TNHH một thành viên,
có sự phân tách tài sản giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty Đây
là một đặc điểm cho phép phân biệt công ty TNHH một thành viên với doanh nghiệp
tư nhân vốn được coi là một loại hình doanh nghiệp một chủ truyền thống Doanhnghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làmchủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh.Trong doanh nghiệp tư nhân, không có sự tách bạch về tài sản cá nhân của chủ doanhnghiệp và tài sản của chính doanh nghiệp tư nhân đó
_ Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Cá nhân hay tổ chức thành lập công ty TNHH
một thành viên được coi là có tư cách pháp nhân, tức là đáp ứng đầy đủ 4 điều kiệnluật định, đó là: được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
Trang 19chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan
hệ pháp luật một cách độc lập
_ Công ty không được phép phát hành cổ phiếu, phần vốn góp không thể hiệndưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài Như vậy, các thànhviên công ty TNHH dù đã góp đủ phần vốn góp của mình vẫn không được cấp một thứchứng khoán nào đồng thành lập công ty Pháp luật các nước thường quy định như vậy
vì trong công ty TNHH cũng như trong công ty hợp danh, sự tín nhiệm giữa các thànhviên là một yếu tố quan trọng Thành viên là những người quen biết nhau, tín nhiệmlẫn nhau Nếu các thành viên được cấp chứng khoán về phần vốn góp của mình, họ sẽ
có khả năng chuyển nhượng vốn góp này cho một người khác Phần vốn góp của cácthành viên chỉ có thể được chuyển nhượng ra bên ngoài trong khuôn khổ những điềukiện do luật định
_ Việc chuyển nhượng phần vốn góp của chủ sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật Phần vốn góp của chủ sở hữu chính là toàn bộ vốn điều lệ của
công ty Do vậy khi chủ sở hữu chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của mình cho một cánhân hay tổ chức khác thì công ty đã thay đổi chủ sở hữu Còn nếu chủ sở hữu chuyểnnhượng một phần vốn góp cho người khác thì công ty trở thành loại hình hai thànhviên trở nên và phải đăng ký chuyển đổi
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
Trang 20quyền và lợi ích của nhà nước, các chủ sở hữu công ty, của các thành viên tham gia gópvốn…đòi hỏi nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các loại hình công
ty, nhất là công ty TNHH nói chung và công ty TNHH một thành viên nói riêng
ra đời ghi nhận loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần tại Việt Nam Đến năm
1999, Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời thay thế cho Luật Công ty 1990, công ty baogồm công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh Trong đó công ty TNHH baogồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên Nhưvậy Luật Doanh nghiệp 1999 bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là
tổ chức và công ty hợp danh Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 1999 đã hạn chế chủ sởhữu công ty TNHH một thành viên, chỉ có chủ sở hữu là tổ chức Luật Doanh nghiệp
2005 đã khắc phục được hạn chế đó thông qua việc mở rộng đối tưởng là chủ sở hữucông ty TNHH một thành viên bao gồm cả tổ chức và cá nhân Đây là một điểm mớicủa Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 không có sự thay đổi về điểmnày, nó phù hợp với sự phát triển kinh tế và đảm bảo sự thống nhất, nhất quán trongquy định về công ty TNHH giữa Việt Nam và Thế giới, đáp ứng kịp thời nhu cầu củanền kinh tế vừa và nhỏ
Cơ sở về xã hội
Trong nhà nước pháp quyền, mọi quan hệ xã hội đều cần được điều chỉnh bởipháp luật Quan hệ pháp luật, là một phần của quan hệ xã hội, công ty TNHH mộtthành viên có tư cách pháp nhân, mà pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật, nhưvậy nó phát sinh mối quan hệ kinh tế giữa pháp nhân với chủ thể khác Cụ thể, mốiquan hệ giữa pháp nhân với Nhà nước thực chất là sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm
Trang 21thực hiện mục tiêu nhất định, nếu như bên Nhà nước hướng tới mục tiêu quản lý vềmặt pháp luật, thức đẩy phát triển nền kinh tế đất nước phù hợp với những mục tiêuphát triển kinh tế xã hội thì bên pháp nhân nhằm kiếm thù lao kinh doanh, phù hợptình hình tài chính cũng như cơ cấu tổ chức doanh nghiệp Việc ban hành các quy địnhpháp luật về công ty TNHH một thành viên sẽ đảm bảo quyền và lợi ích của các chủthể tham gia, từ đó tạo điều kiện xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốtđẹp giữa mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội
Ngoài ra, Việt Nam là một thị trường rộng lớn, nhưng nền kinh tế chưa pháttriển, các nhà đầu tư còn hạn chế và tài chính và mô hình tổ chức nên việc thành lậpmột công ty TNHH một thành viên là sự lựa chọn phù hợp nhất cho các mô hình kinh
tế vừa và nhỏ
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
Khái niệm pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhànước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện bởi quyền lực Nhà nước để điềuchỉnh những quan hệ xã hội giữa các cá nhân, tổ chức Tại Việt Nam, những quy tắc
xử sự (hay cách xử sự mẫu) dùng để tác động nên hành vị xử sự của con người trongnhững hoàn cảnh, điều kiện nhất định, pháp luật định hướng cho các quan hệ xã hộivận động theo những chiều hướng nhất định phù hợp đa số tầng lớp nhân dân trong xãhội Như đã phân tích ở trên mối quan hệ xã hội của công ty TNHH một thành viên làthể hiện mối quan hệ giữa hai chủ thể là pháp nhân và Nhà nước nhằm hướng tớinhững lợi ích nhất định nên chúng được điều chỉnh bởi các quy định, quy tắc xử sựchung của Nhà nước
Như vậy, pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên là tập hợp những quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa những chủ thể trong công ty, giữa công ty với Nhà nước…nhằm xác lập, thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên
Nguồn luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh công ty TNHHmột thành viên được thể hiện cụ thể và chi tiết trong các văn bản pháp luật sau:
Trang 22Thứ nhất, cần kể đến Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Hiến pháp năm 2013 có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất, là pháp luậttối cao thể hieej ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân trong một nhànước pháp quyền Tại Điều 33 của chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân có quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh những ngànhnghề mà pháp luật không cấm Theo đó, Hiến pháp cho phép các cá nhân và tổ chức cóquyền thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề mà pháp luật không cấm Nhưvậy, với việc Hiến pháp cho phép các cá nhân, tổ chức được thành lập doanh nghiệpthì hiển nhiên cá nhân, tổ chức có quyền thành lập doanh nghiệp sản xuất kinh doanhngành nghề trong khuôn khổ pháp luật
Thứ hai, là Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 Đây là
nguồn luật chủ yếu quy định về các loại hình công ty nói chung và công ty TNHH mộtthành viên nói riêng Luật Doanh nghiệp 2014 quy định nội dung về công ty TNHHmột thành viên từ Điều 73 đến Điều 87 tại Mục II Công ty TNHH một thành viên,chương III Công ty TNHH
Nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
Trên cơ sở Luật Doanh nghiệp 2014 là căn cứ pháp lý quan trọng nhất điềuchỉnh về công ty TNHH một thành viên, nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHHmột thành viên có thể chia thành các nhóm quy phạm sau:
_ Các quy phạm về đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên: đã là một
công ty TNHH một thành viên phải đáp ứng đủ những đặc điểm pháp lý là loại hìnhdoanh nghiệp một chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn, khôngđược phát hành cổ phiếu và chuyển nhượng vốn bị hạn chế
_ Các quy phạm vốn gồm vốn góp thành lập doanh nghiệp và thay đổi vốn điều lệ: Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể về vốn điều lệ thời điểm đăng ký doanh
nghiệp và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với nghĩa vụ tài chính của công ty do khônggóp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ Cùng với đó là các trường hợpthay đổi vốn điều lệ, việc tăng vốn điều lệ và hệ quả của việc tăng vốn điều lệ
_ Các quy phạm về cơ cấu tổ chức quản lý trong công ty TNHH một thành viên:
bao gồm cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sởhữu và cơ cấu tổ chức công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu Như
Trang 23vậy, cơ cấu tổ chức công ty TNHH một thành viên được quy định rõ ràng và cụ thể tùythuộc vào chủ sở hữu công ty là cá nhân hay tổ chức.
_ Các quy phạm về quyền và nghĩa vụ: Luật Doanh nghiệp 2014 quy định rõ
ràng về quyền, nghĩa vụ chủ chủ sở hữu công ty và thực hiện quyền chủ sở hữu trongnhững trường hợp đặc biệt Ngoài ra, luật còn quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụcác chức vụ trong cơ cấu tổ chức quản lý công ty bao gồm Hội đồng thành viên, chủtịch, giám đốc, tổng giám đốc, kiểm soát viên
_ Các quy phạm về thù lao tiền lương và lợi ích: Theo Luật Doanh nghiệp 2014
quy định về thu lao, tiền lương và lợi ích của người quản lý công ty và kiểm soát viên
sẽ theo kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty Chủ sở hữu công ty quyết địnhmức thù lao, tiền lương và lợi ích khác của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịchcông ty và Kiểm soát viên
_ Các quy phạm về hợp đồng, giao dịch công ty với những người có liên quan:
Luật quy định cụ thể các trường hợp công ty TNHH một thành viên giao dịch vớingười có liên quan mà trong Điều lệ công ty không có quy định thì phải có sự xem xéthay chấp thuận của ban lãnh đạo công ty
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên
1.3.1 Nguyên tắc tự do ý chí và tự do kinh doanh.
Nguyên tắc tự do ý chí, tự do kinh doanh được xem là nền tảng cơ bản thể hiệnbản chất pháp lý của công ty Học thuyết tự do ý chí, tự do kinh doanh dựa trên nềntảng của tự do cá nhân, có ý nghĩa là không ai có thể ép buộc làm hay không làm mộtviệc gì đó ngoài ý muốn của họ, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm mộtviệc gì mà không xuất phát từ lợi ích của bản thân họ Tuy nhiên, tự do cá nhân sẽ bịhạn chế trong lợi ích chung của cả cộng đồng, vì thế pháp luật đưa ra những quy định
có tính bắt buộc để điều tiết các quan hệ cá nhân vì một lợi ích lớn hơn đó là sự tồn tại
và phát triển của xã hội
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, người dân tự loliệu cuộc sống của mình thông qua sự lựa chọn cách thức làm ăn đó là bước vào hoạtđộng kinh doanh thông qua việc thành lập công ty Nhà nước với quyền lực được nhândân giao cho, có trách nhiệm tạo ra môi trường pháp lý và cung cấp phương tiện, chỉdẫn cách thức để từng cá nhân có thể đáp ứng được các nhu cầu vật chất và tinh thần
Trang 24ngày càng cao của mình Công ty TNHH một thành viên sẽ giúp các tổ chức, cá nhângia tăng lợi nhuận cũng được đáp ứng ngày một tốt hơn, con người trao đổi sản phẩm
và phục vụ lẫn nhau Qua những phân tích trên, chúng ta có thể thấy công ty TNHHmột thành viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh màpháp luật đã thừa nhận Do vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo vệ loại hìnhcông ty TNHH một thành viên bên cạnh các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại vàphát triển ở Việt Nam
1.3.2 Nguyên tắc chịu trách nhiệm
Trong nền kinh tế thị trường, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn phần nào giúpcho các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiều người,đồng thời giúp cho các nhà kinh doanh đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh tế nào có lợicho cá nhân họ, có lợi cho xã hội Trường hợp đầu tư kinh doanh mà phải chịu tráchnhiệm vô hạn thì họ sẽ không dám đầu từ vào những lĩnh vực, ngành nghề có rủi rolớn và như vậy thì môi trường kinh doanh sẽ bị hạn chế, gây tổn hạn đến lợi ích chungcủa toàn xã hội Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp rất tiện lợicho chủ sở hữu công ty Một cá nhân có thể lựa chọn phương thức thành lập công tyTNHH một thành viên để tiến hành hoạt động kinh doanh mà không bắt buộc phải liênkết với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Điều này đáp ứng nguyện vọng của người kinhdoanh muốn mình là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp và doanh nghiệp đó hoạtđộng theo quy chế của công ty TNHH một thành viên Với mô hình này, nhà kinhdoanh cảm thấy an toàn, phân tán được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễ dàng vớicác chủ thể kinh doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý của doanh nghiệp
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
TNHH THU NGÂN.
1.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên
Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới từ nửa cuối thập niên 1980, với mongmuốn xóa bỏ dần cơ cấu bao cấp quan liêu của nền kinh tế kế hoạch hóa, phát triểnnền kinh tế năng động và hiện đại hơn Một chủ trương lớn của chính phủ Việt Nam làhướng tới tự do hóa thương mại và thúc đẩy kinh tế tư nhân Với nhiều biện pháp xérào, giải tỏa bớt các ròa cản cho kinh tế tự do lưu thông, nền kinh tế Việt nam nóichung, trong đó chủ yếu là nền kinh tế tư nhân cá thể bắt đầu phát triển mạnh Nhưngnhững thành phần kinh tế tư nhân này còn rất manh mún Việc thành lập công tydoanh nghiệp phải trải qua các thủ tục giấy tờ rườm rà phức tạp Dù gặp nhiều khókhăn nhưng sức phát triển của khu vực kinh tế tư nhân vô cùng mạnh mẽ Tìm cáchđáp ứng những nhu cầu quản lý sự phát triển mạnh mẽ của khối kinh tế tư nhân LuậtCông ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (cùng được Quốc hộiKhóa VIII thông qua ngày 21/12/1990) là các văn bản pháp lý đầu tiên cho phép thànhlập các tổ chức kinh tế thuộc tư hữu, bao gồm các loại hình là: công ty TNHH và công
ty cổ phần (thành lập theo Luật Công ty) và doanh nghiệp tư nhân (thành lập theo LuậtDoanh nghiệp tư nhân)
Sau gần 9 năm thi hành Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhânnăm 1990 thì Luật Doanh nghiệp 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 12tháng 06 năm 1999, thay thế Luật Công ty 1990, quy định chi tiết hơn các laoij hình tổchức kinh tế tư hữa đã có trước đó (công ty TNHH, công ty cổ phần, và doanh nghiệp
tư nhân) và bổ sung thêm một loại hình mới là công ty hợp danh Luật Doanh nghiệp
1999 cũng lần đầu tiên quy định về hình thức công ty TNHH một thành viên, nhưngquy định chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên chỉ có thể là tổ chức
Từ năm 2005 đến nay là giai đoạn mà nước ta có nhiều thay đổi, đặc biệt là mởcửa hội nhập mạng mẽ của nền kinh tế Trong giai đoạn này, để hội nhập với quốc tế ,chúng ta gần như thay đổi và hoàn thiện toàn bộ pháp luật của mình, trong đó có sự
Trang 26thay đổi hai văn bản pháp luật đáng chú ý là Bộ Luật dân sự và Luật Doanh nghiệp Đểđẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội Khóa XI
đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm
2006 Luật Doanh nghiệp 2005 đã thống nhất các quy định về thành lập và quản lý cácdoanh nghiệp, gần như không có sự phân biệt là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nướchay sở hữu tư nhân về phương diện tổ chức quản trị Luật Doanh nghiệp 2005 đã thaythế Luật Doanh nghiệp 1999 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, công tyTNHH một thành viên có thể thuộc sở hữu của tổ chức hoặc của cá nhân Như vậy, tathấy Luật Doanh nghiệp 2005 đã đánh dấu một bước qua trọng vì xét về đối tượngđiều chỉnh, phạm vi áp dụng đến nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp, có thể nói LuậtDoanh nghiệp đã góp phần vào việc thực hiện chính sách đổi mới và nhất là việc quyđịnh rõ ràng và mở rộng về loại hình công ty TNHH một thành viên
Dù Luật Doanh nghiệp 2005 đã cải cách một cách rõ nét phù hợp với nhu cầuđổi mới và hội nhập của đất nước nhưng qua quá trình áp dụng vẫn bộc lộ những hạnchế nhất định Đó chính là cơ sở cho việc ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 thay thếcho Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định chi tiết và sửa đổinhững nội dung về vốn điều lệ, quyền hạn trách nhiệm các chủ thể chủ sở hữu công ty,Chủ tịch công ty, Giám đốc, Tổng giám đốc … đối với công ty TNHH một thành viên
Tuy nhiên, từ thực trạng của nền kinh tế thị trường đang diễn ra mạnh mẽ hiệnnay thì không ít những trường hợp các công ty TNHH một thành viên lợi dụng những
sơ hở của luật pháp để làm trái quy định pháp luật Điều này làm cho Nhà nước thiệthại về kinh tế, các doanh nghiệp cạch tranh không lành mạnh hay dẫn đến việc quản lýyếu kém hay những công ty ma được thành lập Do đó, cần có sự quan tâm sâu rộng từphía Nhà nước để tình trạng này không diễn ra và làm ảnh hưởng tới tình hình kinh tếđất nước
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH
Nhân tố chủ quan
Nhân tố con người
Con người đóng vai trò trung tâm, là chủ thể chính của mọi hoạt động, quyếtđịnh trực tiếp tới sự hình thành doanh nghiệp và kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh Đối với công ty TNHH một thành viên, yếu tố con người vô cùng quan trọng,
Trang 27để công ty có thể tồn tại và phát triển,thì cần phải có một hệ thống cơ cấu tổ chức quản
lý tốt Muốn có được một cơ cấu quản lý công ty tốt thì những thành phần nằm trong
cơ cấu tổ chức như chủ sở hữu, chủ tịch công ty, tổng giám đốc, các thành viên tronghội đồng thành viên … luôn phải là những con người, nhân tố có kiến thức và kinhnghiệm để có thể lãnh đạo và điều hành công ty một cách tốt nhất
Nguồn tài chính
Tài chính hay vốn là nhân tố cực kỳ quan trọng và quyết định đến sự tồn tại củadoanh nghiệp Trước khi muốn thành lập được doanh nghiệp nói chung hay công tyTNHH một thành viên nói riêng thì phải có một số vốn nhất định để có thể đăng kýthành lập doanh nghiệp Với khả năng huy động vốn tốt của chủ sở hữu công ty TNHHmột thành viên sẽ đảm bảo sự thành lập công ty cũng như duy trì được các hoạt độngsản xuất kinh doanh
Nhân tố chính trị và pháp luật
Mức độ ổn định về chính trị và pháp luật của một quốc gia cho phép doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh và ảnh hưởngcủa nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và phápluật là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường.Sự ổnđịnh về chính trị, đường lối ngoại giao, sự cân bằng các chính sách của Nhà nước, vai
Trang 28trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, sự điều tiết và khuynhhướng can thiệp của chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội, các quyết định về cho phépthành lập doanh nghiệp, điều kiện thành lập doanh nghiệp… sự hoàn thiện và thực thichúng có ảnh hưởng rất lớn tới công ty TNHH một thành viên
Các chính sách bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm, hồ
sơ thành lập doanh nghiệp, hay các quy định đối với hình thức công ty…tạo ra mộthành lang cho các chủ sở hữu doanh nghiệp nhìn vào đó, theo quy chuẩn đó để thựchiện, mọi hoạt động liên quan đến doanh nghiệp đều phải dựa vào các quy định củapháp luật.Công ty TNHH một thành viên phải chấp hành các quy định của pháp luật,phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với Nhà nước, với xã hội, với các thành viêntrong công ty như thế nào là do pháp luật quy định (nghĩa vụ nộp thế, nghĩa vụ đảmbảo vốn điều lệ, trách nhiệm bảo vệ môi trường, đảm bảo đời sống cán bộ công nhânviên trong công ty, tuân thủ các điều kiện khi thành lập doanh nghiệp
2.2 Phân tích thực trạng quy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên
2.2.1 Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên
Quy chế thành lập
Mọi cá nhân, tổ chức, không phân biệt quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng bịcấm thành lập công ty đều có quyền thành lập công ty tại Việt Nam Công ty TNHHmột thành viên được thành lập theo hai con đường: thành lập mới và chuyển đổi loạihình công ty Thành lập mới là việc một cá nhân hoặc một tổ chức đứng ra tiến hànhthành lập theo trình tự thủ tục luật định Pháp luật nói chung và Luật Doanh nghiệp
2014 nói riêng đều thừa nhận quyền tự do thành lập công ty Mọi cá nhân, tổ chức đều
có quyền lựa chọn ngành nghề lĩnh vực kinh doanh để thành lập công ty TNHH mộtthành viên theo quy định của pháp luật Thành lập công ty TNHH một thành viên củamột tổ chức hay cá nhân đều gắn với mục đích lợi nhuận, làm tăng tài sản của các nhàđầu tư, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Quyền được thành lập công ty xuất phát từquyền tự do kinh doanh của mỗi người mà pháp luật cần thiết phải ghi nhận và bảo vệ.Việc thừa nhận quyền này và sự điều chỉnh kịp thời của Nhà nước có ý nghĩa rất quan
Trang 29trọng đối với cuộc sống của các thương nhân cũng như với sự phát triển toàn diện củađất nước.
Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được xem như mộtquyền tất yếu của con người, bao gồm quyền được bảo đảm sở hữu với tài sản, quyền
tự do thành lập doanh nghiệp, quyền tự cạnh tranh theo luật định Quyền thành lậpcông ty bao giờ cũng gắn liền với việc đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, việc thành lậpcông ty bị hạn chế ở một số đối tượng theo quy định tại Khoản 2, Điều 18, Luật Doanhnghiệp 2014
Bên cạnh con đường thành lập mới, công ty TNHH một thành viên còn đượcthành lập thông qua con đường chuyển đổi doanh nghiệp: chuyển doanh nghiệp nhànước sang công ty TNHH một thành viên Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày của
Chính phủ đã quy định cụ thể về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Đối tượng chuyển đổi phải đáp ứng các điềukiện quy định tại Điều 8 của Nghị định này
Đăng ký kinh doanh
Đăng ký kinh doanh là thủ tục luật định nhằm khai sinh về mặt pháp lý chocông ty, tức là thừa nhận tư cách pháp lý của công ty và công ty sẽ được đảm bảo vềmặt pháp lý kể từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh Theo pháp luật Việt Nam,việc đăng ký kinh doanh cho công ty TNHH một thành viên được thực hiện tại phòngđăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi công ty đặt trụ sở chính (sau đâygọi là phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh) Người thành lập công ty phải lập và nộp đủ
hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ tại phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và phải chịutrách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh Hồ
sơ đăng ký kinh doanh của công ty TNHH một thành viên bao gồm giấy đề nghị đăng
ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quyđịnh, dự thảo điều lệ công ty, các giấy tờ kèm theo Các giấy tờ kèm theo có thể là:nếu công ty TNHH một thành viên là cá nhân thì cần phải có bản sao giấy chứng minhnhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủyquyền; xác nhận vốn pháp định của cơ quan; tổ chức có thẩm quyền đối với công tykinh doanh các ngành nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định;
Trang 30chứng chỉ hành nghề đối với công ty kinh doanh ngành nghề mà theo quy định củapháp luật phải có chứng chỉ hành nghề Khi tiếp nhận hồ sơ, phòng đăng ký kinhdoanh cấp tỉnh phải trao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp nếu xét thấy doanh nghiệp có
đủ các điều kiện theo quy định về đăng ký kinh doanh tại Khoản 1, Điều 28 LuậtDoanh nghiệp 2014 “Công ty phải có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, tên công tyđược đặt đúng theo quy định của Luật Doanh nghiệp, có trụ sở chính và công ty đăng
ký kinh doanh những ngành nghề không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh” Đồng thời,công ty phải nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh Lệ phí đăng ký kinh doanh được xácđịnh căn cứ vào số lượng ngành nghề đăng ký kinh doanh, mức lệ phí cụ thể do Chínhphủ quy định Trường hợp hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp không hợp lệhoặc tên doanh nghiệp đặt không đúng theo quy định thì phòng đăng ký kinh doanhcấp tỉnh phải thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết Thôngbáo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi bổ sung (nếu có) Trường hợp hồ sơ hợp lệ,sau ba ngày kể từ ngày nộp hồ sơ doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân, có quyền hoạt độngkinh doanh theo luật định Trừ trường hợp công ty đăng ký kinh doanh kể từ ngày cơquan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh theo quy định của pháp luật.Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh có hiệulực trên phạm vi toàn quốc Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,công ty TNHH một thành viên phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia
về đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và trả phí theo quy định Đây là thủ tụcluật định nhằm công khai hóa hoạt động của công ty TNHH một thành viên, cung cấpđầy đủ thông tin cần thiết về công ty cho công chúng Thực tế cho thấy những cải cáchđơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014 đãtạo ra bước đột phá trong cải thiện môi trường kinh doanh, huy động vốn, phát triểnkinh tế, tạo việc làm và tăng đóng góp cho ngân sách Tuy vậy, xét theo chuẩn mực vàthông lệ quốc tế, mức độ thuận lợi trong thành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanhvẫn thấp hơn chuẩn mực trung bình của quốc tế Sau khi cấp Giấy chứng nhận, công tyTNHH một thành viên vẫn phải tiến hành thủ tục tại cơ quan công an để lấy con dấu
Trang 31và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu Do đó, thời gian hoàn thành việc thành lập vẫnkhông nhanh chóng
Tổ chức lại công ty TNHH một thành viên
Việc tổ chức lại doanh nghiệp một cách linh hoạt được quy định khá cụ thểtrong Luật Doanh nghiệp 2014 Mục đích và ý nghĩa của Luật Doanh nghiệp khi quyđịnh về các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp là nhằm tạo điều kiện hết sức thuận lợicho các nhà đầu tư Bởi vì, cùng là một loại hình kinh doanh, nhưng tại giai đoạn nàythì phù hợp nhưng sang giai đoạn khác không còn phù hợp nữa Do đó, quy định cácbiện pháp tổ chức lại doanh nghiệp đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư thay đổi hìnhthức kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, tránh tình trạng phải giải thểhay phá sản một cách không cần thiết Hơn nữa việc đưa ra một khung pháp lý để tổchức lại doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, bảo vệ lợi ích củacác bên liên quan như chủ nợ, người lao động, lợi ích Nhà nước là vấn đề hết sứcquan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc tạo lập và ổn định môi trường kinhdoanh Các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp cũng phong phú và đa dạng, gồm: sápnhập, hợp nhất, chia, tách và chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Thứ nhất, về vấn đề chia doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên được
chia thành một số công ty cùng loại Việc chia công ty được thông qua quyết định củachủ sở hữu công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty Quyếtđịnh chia công ty phải có các nội dung chủ yếu sau: tên, trụ sở công ty bị chia, tên cáccông ty sẽ thành lập, nguyên tắc và thủ tục chia tài sản công ty, phương án sử dụng laođộng, thời hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn góp, nguyên tắc giải quyết các nghĩa vụcủa công ty bị chia, thời hạn thực hiện chia công ty Quyết định chia công ty phải đượcgửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động Khi chia công ty TNHHmột thành viên, chủ sở hữu công ty bị chia vẫn là chủ sở hữu công ty mới được thànhlập Chủ sở hữu công ty mới được thành lập thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệmchủ tịch Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiếnhành đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Hồ sơ đăng ký kinhdoanh phải kèm theo quyết định chia theo công ty Sau khi đăng ký kinh doanh cáccông ty mới, công ty bị chia chấm dứt tồn tại Quyết định phân chia tách nhiệm củacác công ty mới thành lập đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị
Trang 32chia không có hiệu lực pháp lý đối với chủ nợ, đối với người có quyền và lợi ích liênquan, trừ trường hợp công ty mới thành lập và chủ nợ có liên quan có thỏa thuận khác.Tất cả các công ty mới được thành lập từ công ty bị chia đều phải liên đới chịu tráchnhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bịchia, trừ trường hợp chủ nợ và công ty mới thành lập từ công ty bị chia có thỏa thuậnkhác Khi các khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả thì chủ nợ cóquyền yêu cầu một trong các công ty mới được thành lập từ công ty bị chia thanh toánkhoản nợ đến hạn đó, đồng thời có quyền yêu cầu các công ty còn lại hoàn trả lại phầntương ứng mà họ phải gánh chịu
Thứ hai, về vấn đề tách doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên có thể
tách bằng cách chuyển một phần tài sản công ty hiện có (gọi là công ty bị tách) đểthành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại (công ty được tách) chuyển một phầnquyền hoặc nghĩa vụ của công ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứttồn tại của công ty bị tách Thủ tục tách công ty TNHH một thành viên được quy địnhnhư sau: Chủ sở hữu công ty thông qua quyết định tách công ty theo quy định tại LuậtDoanh nghiệp và Điều lệ công ty Quyết định tách công ty phải có các nội dung chủyếu sau: tên, trụ sở công ty bị tách, tên công ty được tách, phương án sử dụng laođộng, giá trị tài sản, các quyền và nghĩa vụ được chuyển từ công ty bị tách sang công
ty được tách, thời hạn thực hiện tách công ty Quyết định tách công ty phải được gửiđến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn mười lămngày, kể từ ngày thông qua quyết định Chủ sở hữu công ty bị tách đồng thời là chủ sởhữu công ty được tách hoặc công ty bị tách làm chủ sở hữu công ty được tách Sau khitách, công ty được tách phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo luật định Sau khi đăng
ký kinh doanh, công ty được tách và công ty bị tách phải cùng liên đới chịu tráchnhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản kháccủa công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ,khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thỏa thuận khác Trường hợpcông ty bị tách trở thành chủ sở hữu của công ty được tách thì công ty bị tách vẫn hoàntoàn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán,công ty được tách không chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa công ty bị tách