Những tình huống đặc biệt có thể làm cho việc hồi sức khó khăn và những vấn đề tiếp tục diễn tiến † Những điều trị tiếp theo cho trẻ sau khi hồi sức † Làm thế nào để có thể áp dụng những nguyên lý này cho trẻ cần hồi sức khi đã qua thời điểm ngay sau sinh hoặc ở ngoài phòng sanh của bệnh viện
Trang 17 Những Lưu Ý Đặc Biệt
Trong Bài 7 bạn sẽ học
† Những tình huống đặc biệt có thể làm cho việc hồi
sức khó khăn và những vấn đề tiếp tục diễn tiến
† Những điều trị tiếp theo cho trẻ sau khi hồi sức
† Làm thế nào để có thể áp dụng những nguyên lý
này cho trẻ cần hồi sức khi đã qua thời điểm ngay
sau sinh hoặc ở ngoài phòng sanh của bệnh viện
Trang 27 - 2
Bạn nên lưu ý những biến chứng
gì khi trẻ vẫn chưa tốt sau những
can thiệp hồi sức ban đầu?
Bạn đã học rằng hầu hết trẻ sơ sinh bị
tổn thương sẽ đáp ứng với kích thích và
các biện pháp cải thiện thông khí thích
hợp Một số ít có thể cần đến ấn ngực và
thuốc, một số rất ít sẽ chết dù có tất cả
các biện pháp hồi sức thích hợp
Tuy nhiên, một nhóm nhỏ trẻ sơ sinh
khác ban đầu đáp ứng với các biện pháp
hồi sức nhưng sau đó vẫn bị tổn thương
Những trẻ này có thể có dị tật bẩm sinh
hoặc nhiễm trùng hoặc đã bị một biến
chứng lúc sanh hoặc lúc hồi sức Đôi khi
bạn có thể biết trước những vấn đề này
nhờ vào siêu âm hoặc một số phương
pháp chẩn đoán tiền sản
Những khó khăn sau đó mà bạn phải đối
diện sẽ khác nhau tùy thuộc vào vấn đề
tiềm ẩn của từng trẻ Bạn có thể không
thông khí được cho vài trẻ dù bạn đã cố
gắng tối đa cho thở áp lực dương Bạn
có thể thông khí dễ dàng cho một số trẻ
nhưng chúng vẫn tím tái và có nhịp tim
chậm kéo dài Những trẻ khác vẫn chưa
có nhịp tự thở dù bạn đã thông khí áp
lực dương hiệu quả
Cách tiếp cận hiệu quả nhất đối với
những trẻ không tiếp tục cải thiện sau
hồi sức tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng
đặc hiệu
• Thông khí áp lực dương không thể
thông khí đầy đủ cho phổi?
• Trẻ vẫn tím tái và chậm nhịp tim dù
được thông khí tốt?
• Trẻ vẫn chưa tự thở được?
Mỗi câu trong 3 câu hỏi này sẽ được đề
cập riêng
Trẻ sanh ra
† Đủ tháng?
† Nước ối trong?
† Trẻ có thở hoặc khóc?
† Trương lực cơ tốt?
† Cung cấp oxy
† Cung cấp thông khí áp lực dương *
† Cung cấp thông khí áp lực dương*
† Tiến hành ấn tim*
Trẻ thở, TS tim > 100 nhưng tím
Kiểm tra lại hiệu quả của
† Thông khí
† Ấn ngực
† Nội khí quản
† Epinephrine Xem xét khả năng của
† Giảm thể tích
Xem xét:
† Dị tật đường thở
† Vấn đề ở phổi, như:
- Tràn khí màng phổi
- Thoát vị hoành
† Bệnh tim bẩm sinh
NT< 60/ tím tái kéo dài hoặc thông khí thất bại
Trang 3Điều gì xảy ra nếu thông khí áp lực dương không
thông khí đủ cho phổi?
Nếu bạn đã làm sạch đường thở, đặt đầu trẻ đúng tư thế hơi
ngưœa, bảo đảm mặt nạ áp kín vào mặt trẻ và sử dụng thông khí
áp lực dương đầy đủ thì nhịp tim, màu da, trương lực cơ phải
cải thiện Nếu nhịp tim vẫn còn chậm, bạn phải chắc chắn rằng
lồng ngực có nâng lên theo mỗi lần bóp bóng và nghe rõ được
luồng khí ra và vào phổi khi nghe phổi Nếu bạn không thấy
lồng ngực di động và cũng không nghe rõ được luồng khí, có
thể có một trong những vấn đề sau:
Tắc nghẽn cơ học đường thở, có thểõ do:
• Phân su hoặc chất nhày trong hầu hoặc trong khí quản
• Hẹp lỗ mũi sau
• Dị dạng đường thở vùng hầu (như hội chứng Robin)
• Các tình trạng hiếm gặp khác (như màng ngăn thanh quản)
Suy yếu chức năng phổi, có thểõ do:
• Tràn khí màng phổi
• Tràn dịch màng phổi bẩm sinh
• Thoát vị hoành bẩm sinh
• Thiểu sản phổi
• Cực non
• Viêm phổi bẩm sinh
Trang 47 - 4
Tắc nghẽn cơ học đường dẫn khí
Tắc nghẽn do đàm nhớt hay do phân su
Hãy nhớ rằng cho đến khi sinh, đường dẫn khí chưa bao giờ được kiểm tra Nếu việc hút phân su ban đầu hay sử dụng các biện pháp không xâm lấn khác như chỉnh lại tư thế đầu và hút mũi miệng không thể làm thông thoáng đường thở thì nên hút sâu hơn trong miệng và mũi với ống hút lớn hơn (cỡ 10 và 12 F)
Cách tốt nhất để hút đàm nhớt hay phân su trong đường thở là đặt ống nội khí quản và nối vào bộ phận hút (như đã mô tả trong Bài 2 và 5) Đôi khi ở em bé bị tẩm nhuận phân su, đường thở có thể bị tắc nghẽn bởi những khối phân su lớn
Hẹp lỗ mũi sau
Giải phẫu đường mũi của trẻ phải thông để khí có thể đi vào phổi trong suốt thời kỳ thở tự phát Trẻ không thể thở dễ dàng bằng đường miệng trừ khi khóc to Do đó nếu đường mũi bị tắc nghẽn bởi phân su hay đàm nhớt hay lỗ mũi sau bị hẹp, trẻ có thể bị suy hô hấp nặng (Hình 7.1) Dù ta vẫn có thể thông khí cho trẻ bị hẹp lỗ mũi sau với áp lực dương qua đường miệng hầu nhưng trẻ lại không thể tự thông khí qua đường mũi hầu đã bị tắc
Kiểm tra tình trạng hẹp lỗ mũi sau bằng cách đưa một ống hút đường kính nhỏ vào vùng hầu sau qua từng lỗ mũi Hướng ống hút vuông góc với mặt trẻ theo hướng nền của đường mũi Nếu ống thông không qua được khi đã hướng ống đúng cách, có thể trẻ bị hẹp lỗ mũi sau Khi đó cần đặt một ống thông đường thở bằng chất dẻo hoặc một ống nội khí quản đưa qua miệng (Hình 7.2) đến vùng hầu sau (mà không cần đưa vào tận khí quản) để thông khí qua miệng
Dị dạng đường thở vùng hầu (hội chứng Robin)
Trẻ sinh ra có hàm dưới nhỏ làm hẹp đường thở vùng hầu đáng kể (Hình 7.3) Trong vài tháng đầu sau sinh, hàm dưới sẽ phát triển làm đường thở đủ rộng, nhưng ngay sau sinh trẻ sẽ thở khó khăn Vấn đề chính lúc sinh là lưỡi nằm ở phía sau tụt sâu vào vùng hầu làm tắc đường thở ngay phía trên thanh quản
Hình 7.1 Tắc mũi sau
Hình 7.2 Đặt ống miệng - họng khi
hẹp mũi sau
Tắc nghẽn vùng hầu họng
sau bẩm sinh
Ống thông đường thơœ qua miệng
Trang 5Động tác đầu tiên cần làm là đặt trẻ nằm sấp Điều này thường
giúp lưỡi ngã ra trước và mở thông đường thở Nếu vẫn không
thành công, biện pháp hiệu quả nhất tiếp theo là đặt một ống
thông lớn (cỡ 12F) hoặc một ống nội khí quản nhỏ (2.5 mm) qua
đường mũi vào đến tận vùng hầu sau (Hình 7.4) Ống này giúp
trẻ nút tốt hơn mà không làm lưỡi bít đường thở Hai biện pháp
trên (đặt trẻ nằm sấp và đặt ống thông mũi hầu) thường giúp trẻ
có thể tự thở tốt mà không cần thông khí áp lực dương
Đặt nội khí quản ở trẻ bị hội chứng Robin thường rất khó
khăn Đặt trẻ nằm sấp và đặt ống thông mũi hầu thường đủ
để làm thông đường thơ û
Trong trường hợp tất cả các biện pháp trên đều thất bại, và thử
đặt nội khí quản cũng không thành công, vài bác sĩ lâm sàng
lại thấy đặt ống mặt nạ thanh quản có thể giúp thông khí tốt
(Xem Bài 5)
Những tình huống hiếm gặp khác
Các dị tật bẩm sinh, như màng ngăn thanh quản, u nang nhầy
hay phình giáp bẩm sinh đã được ghi nhận là những nguyên
nhân hiếm gặp gây tắc nghẽn đường thở ở trẻ sơ sinh Đa số,
nhưng không phải là tất cả, những bất thường này có thể được
nhận biết qua thăm khám bên ngoài Nếu không thể đưa ống
nội khí quản qua được, phải mở khí quản cấp cứu Thủ thuật
này không được mô tả ở đây
Hình 7.3 Trẻ sơ sinh bình thường và trẻ sơ sinh mắc hội chứng Robin
Hình 7.4 Nằm sấp và đặt ống thông
vào vùng hầu sau thường thông được đường thở ở trẻ mắc hội chứng Robin
!
Cằm Lưỡi
Hàm nhoœ bất thường Lưỡi làm tắc nghẽn đường thơœ ơœ vùng hầu sau
Sơ sinh bình thường
Sơ sinh với hội chứng Robin
Trang 67 - 6
Suy giaœm chức năng phổi
Sự tích tụ bất kỳ chất nào giữa vùng ngoài phổi và trong lồng ngực đều cản trở phổi dãn nở trong lồng ngực Điều này gây suy hô hấp, trẻ có thể tím kéo dài và chậm nhịp tim
Tràn khí màng phổi
Không hiếm gặp trường hợp những dò khí nhỏ diễn tiến nặng lên vì phổi trẻ sơ sinh đầy khí Khả năng bị tràn khí tăng cao khi có thông khí áp lực dương, nhất là trong trường hợp hít phân su hay thoát vị hoành (Xem trang 7-8) Khí thoát ra từ phổi và tích tụ trong khoang màng phổi được gọi là tràn khí màng phổi (Hình 7.5) Khi lượng khí trong khoang màng phổi đủ lớn sẽ tạo áp lực ngăn phổi dãn nở và cũng có thể ngăn máu lên phổi gây suy hô hấp, tím tái và chậm nhịp tim
Giảm phế âm bên bị tràn khí Chẩn đoán xác định bằng X quang Soi đèn qua lồng ngực là một phương pháp tầm soát hữu ích
Lưu ý: Mất phế âm bên phổi trái cũng có thể do đặt nội khí quản vào quá sâu trong phế quản gốc phải.
Nếu tràn khí màng phổi gây suy hô hấp trầm trọng, nên đặt một kim luồn, kim tiêm xuyên da hay một ống dẫn lưu vào khoang màng phổi (xem trang 7.7) Tràn khí màng phổi lượng ít có thể tự hấp thu và không cần điều trị gì
Tràn dịch màng phổi
Tích tụ dịch trong khoang màng phổi có thể gây triệu chứng giống như tràn khí màng phổi Đôi khi dịch phù, dưỡng trấp hay máu tích tụ trong khoang màng phổi làm cản trở sự dãn nở của phổi Thường trẻ có những triệu chứng khác gợi ý bệnh nguyên, như phù toàn thân (phù nhau thai)
Chẩn đoán sự hiện diện của dịch trong khoang màng phổi dựa vào X quang Nếu suy hô hấp nặng nên đặt một kim luồn, kim tiêm xuyên da hay ống dẫn lưu dịch vào khoang màng phổi, như mô tả trong phần sau
Trang 7Chi tiết cách đặt ống dẫn lưu màng phổi không nằm trong nội
dung chương trình này Tuy nhiên, trong tình huống cấp cứu,
khi trẻ bị suy hô hấp do tràn khí hay tràn dịch màng phổi, có
thể đặt một kim luồn hoặc kim tiêm xuyên da để dẫn lưu
Nếu nhịp tim chậm dần kèm với tím tái và mất phế âm một
bên sau hồi sức ban đầu, cần chọc cấp cứu một kim luồn
hay kim tiêm xuyên da vào trong khoang màng phổi bên
giảm phế âm trong khi chờ kết quả X quang
Đặt trẻ ở tư thế nghiêng bên
với phía tràn khí hướng lên
trên cho khí dâng lên Đâm
kim luồn 18 hay 20 theo hướng
vuông góc với lồng ngực, ở
ngay bờ trên xương sườn trong
khoảng gian sườn 4 đường nách
trước (Hình 7.6 - trên) Khoảng
gian sườn 4 nằm trên đường
nối hai núm vú Rút nòng kim
ra và nối kim luồn vào một ba
chia có gắn sẵn một ống tiêm
20 mL (Hình 7.6) Mở khóa
ba chia cho kim luồn thông
thương với ống tiêm rồi dùng
ống tiêm hút khí hoặc dịch ra
Khi ống tiêm đầy, đóng khóa
ba chia hướng về phía lồng
ngực lại trong khi làm trống ống tiêm Sau đó, mở khóa
3-chia phía lồng ngực lại và tiếp tục hút thêm khí hoặc
dịch ra cho đến khi tình trạng trẻ được cải thiện Nên
chụp lại X quang để kiểm tra tình trạng khí, dịch còn
tồn dư trong khoang màng phổi
Nếu không có kim luồn xuyên da cỡ thích hợp, có
thể sử dụng kim cánh bướm số 19 hay 21 Lúc đó có
thể gắn trực tiếp khóa 3-chia vào bầu kim luồn Tuy
nhiên, khó chọc dò màng phổi bằng kim bướm để hút
khí hoặc dịch ra
!
Hình 7.6 Đâm kim luồn xuyên da để dẫn lưu tràn khí hoặc tràn dịch
màng phổi (xem bài) Chú ý rằng kim tiêm đã được rút ra sau khi hút
và chỉ có kim luồn được lưu lại trong khoang màng phổi
Kim đưa vào trong một nòng an toàn
Trang 87 - 8
Thoát vị hoành bẩm sinh
Bình thường, cơ hoành phân cách các tạng bụng với tạng ngực Khi cơ hoành không được hình thành hoàn chỉnh, vài tạng bụng (thường là ruột non, dạ dày và đôi khi là gan) sẽ chui vào lồng ngực và ngăn phổi bên thoát vị phát triển bình thường Thoát
vị hoành thường được chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm Nếu không được chẩn đoán tiền sản, trẻ sinh ra sẽ bị suy hô hấp không thể lường trước được
Trẻ bị thoát vị hoành có biểu hiện suy hô hấp kéo dài, bụng phẳng bất thường (lòng thuyền), vì lúc đó bụng chứa ít tạng hơn Phế âm giảm bên thoát vị Trẻ cũng bị tăng áp động mạch phổi kéo dài, và do đó, có thể tím tái kéo dài do lưu lượng máu phổi kém
Khi trẻ được sinh ra, phần phổi giảm sản không thể dãn nở bình thường Nếu hồi sức bằng thông khí áp lực dương qua mặt nạ, một phần khí sẽ vào dạ dày và ruột (Hình 7.7) Vì ruột nằm trong lồng ngực nên phổi càng lúc càng kém dãn nở Hơn nữa, áp lực dương vào vùng phổi giảm sản dễ gây tràn khí màng phổi
ƠŒ trẻ nghi ngờ hay biết chắc có thoát vị hoành, không được hồi sức kéo dài với áp lực dương qua mặt nạ Phải đặt nội khí quản và đặt ống thông miệng dạ dày cỡ lớn (10F) để làm trống dạ dày (Hình 7.8) Một ống thông hai nòng (Replogle) là hiệu quả nhất.
Hình 7.7 Suy giảm chức năng phổi
do thoát vị hoành bẩm sinh
Hình 7.8 Điều trị ổn định bệnh cho trẻ bị thoát vị hoành (nội khí quản nằm đúng chỗ và ống
thông dạ dày ở trong dạ dày)
!
Trang 9Thiểu sản phổi
Cần phải có nước ối để phổi có thể phát triển bình thường Bất
cứ nguyên nhân nào gây thiểu ối nặng (ví dụ bất sản thận) đều
có thể gây thiểu sản phổi Cần thông khí với áp lực bóp cao
nên dễ bị tràn khí màng phổi Trẻ bị thiểu sản phổi trầm trọng
thường không thể sống sót
Cực non
Khó thông khí cho trẻ có phổi cực non, ngay cả khi đã dùng áp
lực bóp rất cao (Xem Bài 8)
Viêm phổi bẩm sinh
Dù cho viêm phổi bẩm sinh thường hiện diện như là một bệnh
phổi nặng dần sau sinh, vài bệnh lý nhiễm trùng quá nặng (như
bệnh do Streptococcus nhóm B) có thể gây suy hô hấp lúc sinh
Hít nước ối, nhất là nếu có phân su, cũng có thể gây suy hô
hấp nặng
Điều gì xảy ra nếu trẻ vẫn tím tái và nhịp tim chậm
dù đã thông khí tốt?
Đầu tiên phải chắc chắn rằng lồng ngực di động đủ, phế âm
nghe đều hai bên lồng ngực và đã cung cấp oxy 100% Nếu
trẻ vẫn tím tái và/hoặc nhịp tim chậm, có thể có bệnh tim bẩm
sinh Cần chụp X quang, đo ECG, và/hoặc siêu âm tim để xác
định chẩn đoán Tuy nhiên, trong trường hợp này, cần nhớ rằng
nguyên nhân block tim bẩm sinh hoặc tim bẩm sinh tím hiếm
gặp hơn là thông khí không đủ
Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh ít khi biểu hiện nặng ngay sau
sinh Vấn đề đi kèm với hồi sức hầu như luôn là do thông
khí không thành công.
!
Trang 107 - 10
Điều gì xảy ra nếu trẻ không tự thở?
Nếu thông khí áp lực dương đã giúp nhịp tim và màu da trở lại bình thường nhưng trương lực cơ vẫn yếu và trẻ không thể tự thở, hoạt động não hoặc cơ của trẻ có thể bị ức chế do
• Tổn thương não (bệnh lý não do thiếu oxy mô-thiểu dưỡng [HIE]), toan máu nặng hay rối loạn thần kinh cơ bẩm sinh hoặc
• Tác dụng của các thuốc giảm đau (đã được chỉ định cho mẹ trước đó) đi qua nhau đến thai
Thuốc giảm đau có thuốc phiện được chỉ định ở bà mẹ đang chuyển dạ có thể gây ức chế điều hòa hô hấp và cử động của trẻ sơ sinh Trong trường hợp này, cần chỉ định naloxone (chất đối vận của thuốc phiện) cho trẻ nhằm đối kháng tác dụng của thuốc phiện
Liệu pháp điều chỉnh đầu tiên cho trẻ không tự thở không phải là chất đối kháng thuốc phiện Hành động điều chỉnh trước tiên là thông khí áp lực dương.
Khi chỉ định chích naloxone, cần có cả hai điều kiện sau đây :
• Hô hấp vẫn bị ức chế dù thông khí áp lự dương đã giúp nhịp tim và màu da trở về bình thường
và
• Mẹ có tiền sử dùng thuốc có thuốc phiện trong vòng 4 giờ qua.Sau khi chích naloxone, tiếp tục thông khí áp lực dương cho đến khi trẻ thở bình thường Cần theo dõi trẻ thật sát vì tình trạng ức chế hô hấp có thể tái phát, do thời gian tác dụng của naloxone ngắn hơn của thuốc phiện; trong trường hợp này cần lặp lại các liều naloxone
Lưu ý: Không tiêm naloxone cho trẻ có mẹ nghiện thuốc phiện hay đang trong giai đoạn duy trì methadone vì có thể gây co giật cho trẻ.
Các thuốc khác dùng cho mẹ như magne sulfat, thuốc gây mê hay giảm đau không có thuốc phiện cũng có thể gây ức chế hô hấp ở trẻ nhưng không đáp ứng với naloxone Trong trường hợp mẹ không dùng thuốc có thuốc phiện khi hay naloxone không thể giúp trẻ tự thở, nên chuyển trẻ đến phòng dưỡng nhi để đánh giá và kiểm tra sâu hơn trong khi vẫn tiếp tục thông khí áp lực dương
!
!
Khuyến cáo về nồng độ =
Dung dịch 1 mg/mL
Khuyến cáo về đường dùng =
Tốt nhất là tĩnh mạch; có thể
dùng đường tiêm bắp nhưng
tác dụng sẽ chậm hơn Chưa
có nghiên cứu về tính hiệu quả
của đường qua nội khí quản
Khuyến cáo về liều =
0,1 mg/kg
Naloxone hydrochloride:
Trang 11Ôn tập
(Đáp án ở phần trước và ở cuối bài học.)
1 Có thể loại trừ hẹp lỗ mũi sau bằng cách nào?
2 Những trẻ có hội chứng Robin bị tắc nghẽn đường hô hấp
trên có thể cải thiện được bằng cách đặt một
quản ở những trẻ này thường (dễ) (khó)
3 Nên nghĩ đến tràn khí màng phổi hay thoát vị hoành nếu phế
âm nghe (đều) (không đều) ở hai phế trường
4 Nên nghi ngờ thoát vị hoành nếu bụng
Không nên hồi sức những trẻ này bằng
5 Nhịp tim chậm kéo dài và tím tái trong suốt giai đoạn hồi sức
thường do (các vấn đề về tim) (thông khí không đủ)
6 Trẻ không có nhịp tự thở và mẹ chúng có dùng thuốc có
thuốc phiện trước đó, trước tiên cần được
và sau đó, nếu vẫn không có nhịp tự thở,
✔
Trang 12bị tổn thương đa cơ quan mà có thể không biểu hiện ngay lập tức.
Đừng xem một trẻ vừa mới được hồi sức thành công như một trẻ khỏe mạnh và có thể điều trị thường qui như một trẻ sơ sinh bình thường.
Sau hồi sức, một số trẻ sẽ tự thở, trong khi một số trẻ khác vẫn tiếp tục cần thông khí hỗ trợ Tất cả những trẻ này
cần có nhịp tim trên 100 l/p và hồng trung ương
Một khi đã cần hồi sức thật sự, trẻ cần được theo dõi ở một nơi có đầy đủ phương tiện chăm sóc Như đã đề cập trong Bài 1, việc chăm sóc sau hồi sức bao gồm kiểm soát thân nhiệt, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn và dự phòng các biến chứng Cần tiếp tục theo dõi độ bão hòa oxy, nhịp tim và huyết áp Cần làm các xét nghiệm như Hct và đường huyết Khí máu động mạch cũng có thể cần thiết
Khả năng xuất hiện các biến chứng sau hồi sức tăng theo thời gian và qui mô của cuộc hồi sức Đo pH và kiềm thiếu từ máu cuống rốn hoặc máu của trẻ ngay sau hồi sức có thể giúp ích trong việc đánh giá mức độ tổn thương.Những biến chứng thường gặp ở trẻ
sơ sinh đã phải hồi sức sẽ được mô tả sau đây
Trẻ sanh ra
† Đủ tháng?
† Nước ối trong?
† Trẻ có thở hoặc khóc?
† Trương lực cơ tốt?
† Cung cấp oxy
† Cung cấp thông khí áp lực dương *
† Cung cấp thông khí áp lực dương*
† Tiến hành ấn tim*
Trẻ thở, TS tim > 100 nhưng tím
Không
* Có thể cân nhắc đặt nội khí
quản trong một số bước.
30 giây
30 giây
30 giây
Kiểm tra lại hiệu quả của
† Thông khí
† Ấn ngực
† Nội khí quản
† Epinephrine Xem xét khả năng của
† Giảm thể tích
Xem xét:
† Dị tật đường thở
† Vấn đề ở phổi, như
- Tràn khí màng phổi
- Thoát vị hoành
† Bệnh tim bẩm sinh
TS tim< 60/ tím tái kéo dài
hoặc thông khí thất bại
Thông khí hiệu quả,
TS tim >100 và hồng
Chăm sóc sau hồi sức
!
Trang 13Cao áp phổi
Như đã giải thích trong Bài 1, mạch máu phổi bào thai co thắt
mạnh Sự thông khí và oxy hóa máu lúc sinh là kích thích chủ yếu
làm dãn nở các mạch máu, cho phép máu lên phổi để lấy oxy
Mạch máu phổi ở những trẻ đã bị stress nặng lúc sinh có thể
vẫn giữ nguyên trạng thái co thắt, gây ra hạ oxy máu do cao
áp phổi và cần phải cung cấp oxy hỗ trợ Cao áp phổi nặng
gây ra hạ oxy máu có thể cần điều trị bằng các liệu pháp tối
tân, như hít nitric oxide hay oxy hóa máu qua màng ngoài cơ
thể (ECMO)
Tình trạng co thắt mạch máu phổi thêm vào có thể dự phòng được
bằng cách tránh các cơn hạ oxy máu sau khi đã hồi sức trẻ
Hãy dùng máy đo độ bão hòa oxy và/hoặc làm khí máu để
chắc chắn rằng trẻ vẫn được oxy hóa máu đầy đủ sau khi
hồi sức.
Viêm phổi và các biến chứng khác ở phổi
Các trẻ cần hồi sức có nguy cơ cao bị viêm phổi, do hội chứng
viêm phổi hít hoặc do một bệnh lý nhiễm trùng bẩm sinh là
nguyên nhân gây ra tình trạng suy sụp chu sinh Viêm phổi sơ
sinh cũng kết hợp với cao áp phổi
Nếu một trẻ sau khi hồi sức vẫn tiếp tục cho thấy bất kỳ triệu
chứng của suy hô hấp tiến triển nào hoặc vẫn cần phải thở oxy,
cần truy tìm viêm phổi hay nhiễm trùng huyết do vi trùng và
khởi đầu kháng sinh đường tiêm
Nếu trẻ có tình trạng suy sụp hô hấp cấp tính xảy ra trong hoặc
sau khi hồi sức, hãy kiểm tra xem có tràn khí màng phổi không;
hoặc; nếu vẫn còn lưu ống nội khí quản sau hồi sức, hãy xem
ống có bị tuột ra hay bị tắc không
Toan chuyển hóa
Dù cho việc sử dụng sodium bicarbonate trong khi hồi sức còn
đang bàn cãi, có thể vẫn cần phải điều chỉnh toan chuyển hóa
do tích tụ lactic acid Lactic acid được hình thành khi mô bị thiếu
oxy Toan chuyển hóa nặng làm giảm co thắt cơ tim và gây co
thắt mạch máu phổi, do đó lưu lượng máu lên phổi kém và sự
oxy hóa máu ở phổi bị hạn chế
Tuy nhiên, sodium bicarbonate có thể gây hại, đặc biệt là nếu
chỉ định quá sớm trong khi hồi sức Hãy bảo đảm rằng đã thông
khí phổi tốt Sodium bicarbonate kết hợp với acid sẽ tạo ra
carbon dioxide (CO2) Phổi phải được thông khí tốt để thải CO2
ra ngoài
!