1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay

188 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu các quy định hiện hành về giao kết và thực hiện HĐDV logistics là cần thiết, hoàn thiện một số quy định về HĐDV logistics cần hệ thống hóa lý luận, thực trạ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ CẤM

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ CẤM

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tác giả Các tư liệu tài liệu, ý kiến khoa học được sử dụng trong luận

án có nguồn gốc rõ ràng và được chú thích đầy đủ Những kết luận của luận

án chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Kết quả nghiên cứu là quá trình lao động, nghiên cứu và học tập nghiêm túc, trung thực của tác giả

Tác giả

Đào Thị Cấm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 20

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS 24

2.1 Cơ sở lý luận về hợp đồng dịch vụ logistics 24

2.2 Điều chỉnh pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics 42

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 71

3.1 Thực trạng một số quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics 71

3.2 Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 97

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114

4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 114

4.2 Giải pháp hoàn thiện một số quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 118

4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng dịch vụ logicstics hiện nay 130

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 148

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tiếng Việt

BLDS Bộ luật Dân sự

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

HĐDV Hợp đồng dịch vụ

LTM Luật Thương mại

NCS Nghiên cứu sinh

NXB Nhà xuất bản

VLA Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam

Tiếng Anh

1PL First Party Logistics Logistics cấp độ thứ nhất

2PL Second Party Logistics Logistics cấp độ thứ hai

3PL Third Party Logistics Logistics cấp độ thứ ba

4PL Fourth Party Logistics Logistics cấp độ thứ tư

5PL Fifty Party Logistics Logistics cấp độ thứ năm

AFAS ASEAN Framework

EU European Union Liên minh châu Âu

EVFTA EU-Vietnam Free Trade

Agreement

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

LPI Logistics Performance

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Khối lượng hàng hoá vận chuyển theo thành phần kinh tế 98 Bảng 3.2: Bảng vận chuyển hàng hóa theo ngành vận tải 99 Bảng 3.3: Sản lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa trong và ngoài nước 99 Bảng 3.4: Bảng xếp hạng LPI của Việt Nam 104 Bảng 3.5: Một số LSP hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam 106

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Doanh thu hoạt động vận tải theo loại hình 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa, dịch vụ logistics có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong sản xuất và kinh doanh do mang lại những lợi ích về tối ưu hóa quá trình vận chuyển và tiết kiệm chi phí Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng dịch vụ logistics được các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thuê ngoài để giảm chi phí hoạt động và chi phí đầu tư Họ tập trung vào sản phẩm, dịch vụ cốt lõi và thuê ngoài các dịch vụ khác bao gồm dịch vụ logistics Những năm gần đây trên thế giới, các nước khu vực và ở Việt Nam xu hướng này tăng nhanh kéo theo sự ra đời của nhiều LSP

Dịch vụ logistics và HĐDV logistics đến nay vẫn là vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn vì chỉ đến năm 2005 dưới sức ép trong đàm phán với Hoa Kỳ về việc Việt Nam gia nhập WTO, dịch vụ logistics lần đầu tiên được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam bằng việc thừa nhận loại hình dịch vụ này với ý nghĩa là một chế định trong LTM năm 2005 Chế định dịch vụ logistics với vai trò là một loại hình dịch vụ thương mại đã tạo cơ sở vững chắc để phát triển, cải thiện môi trường pháp lý nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực này

Từ khi gia nhập WTO, thị trường logistics Việt Nam có sự chuyển biến tích cực với số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tăng mạnh Thống kê từ Cục Quản lý kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy số lượng các doanh nghiệp tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ logistics là khoảng 23.000 doanh nghiệp trong đó có 3000 doanh nghiệp hoạt động logistics quốc tế, chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận khoảng 70% [12, tr.71] Theo nghiên cứu của VLA, trong tổng số hơn 3000 doanh nghiệp thì 20% là công ty nhà nước, 70% là công ty trách nhiệm hữu hạn, 10%

là doanh nghiệp tư nhân [11, tr.88] Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển dịch vụ thuê ngoài logistics, gần đây là Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 với

Trang 8

mục tiêu: ―Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên‖ Nhiều Bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ hoặc đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến logistics, đặc biệt là thủ tục kiểm tra chuyên ngành

Bên cạnh việc gia nhập WTO, Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng và toàn diện các FTA thế hệ mới, theo đó Chính phủ đã cam kết mở cửa khá toàn diện cho lĩnh vực dịch vụ logistics Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường cung cấp dịch vụ logistics bằng việc giao kết các hợp đồng Vì Việt Nam có địa hình địa lý (bờ biển dài) thuận lợi cho giao thương quốc tế, các dịch

vụ logistics như vận chuyển hàng hóa, lưu kho, lưu bãi, dịch vụ hải quan được tận dụng tối đa và dự báo sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới nhằm thực hiện các cam kết của Việt Nam trong WTO, CPTPP, EVFTA

Mặc dù HĐDV logistics là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu, đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhưng đa số doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì sự hiểu biết về quy trình, thủ tục giao kết và quá trình thực hiện hợp đồng còn rất hạn chế nên khi tranh chấp xảy ra họ gặp rất nhiều bất lợi do hợp đồng quy định không đúng hoặc không đầy đủ Logistics lại là một ngành dịch vụ có đối tượng điều chỉnh rất đa dạng, phức tạp, luôn luôn thay đổi cùng với sự phát triển của công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế nên đòi hỏi pháp luật cần có những điều chỉnh kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và tạo môi trường khuyến khích phát triển hơn Trong bối cảnh đó, nghiên cứu các quy định hiện hành về giao kết và thực hiện HĐDV logistics là cần thiết, hoàn thiện một số quy định về HĐDV logistics cần

hệ thống hóa lý luận, thực trạng giao kết và thực hiện HĐDV logistics để tìm ra

những điểm bất cập, vì vậy, NCS lựa chọn đề tài: “Hợp đồng dịch vụ logistics

theo pháp luật Việt Nam hiện nay” cho luận án tiến sỹ luật học của mình

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện một

số quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Luận giải và hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ

bản về logistics và HĐDV logistics ở nhiều giác độ tiếp cận khác nhau, trong đó NCS đặc biệt nhấn mạnh vấn đề lý luận về HĐDV logistics dưới giác độ luật học, phân tích và đánh giá thực trạng HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ thứ nhất: Luận án làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận và điều chỉnh pháp

luật về HĐDV logistics, tìm ra bản chất và cấu trúc pháp luật của HĐDV logistics như khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại, nguồn luật điều chỉnh, nguyên tắc và trình tự giao kết, hình thức, chủ thể, nội dung, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu của HĐDV logistics, trường hợp miễn trách và giới hạn trách nhiệm của các LSP

Nhiệm vụ thứ hai: Luận án đánh giá thực trạng HĐDV logistics theo pháp

luật Việt Nam hiện nay thông qua việc phân tích các hợp đồng cụ thể, đánh giá kết quả đạt được trong việc giao kết và thực hiện HĐDV logistics, vấn đề đặt ra đối với chủ thể của HĐDV logistics và cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động logistics trước bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu làm cơ sở đưa ra giải pháp hoàn thiện một số quy định pháp luật về HĐDV logistics

Nhiệm vụ thứ ba: Từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực trạng

giao kết và thực hiện HĐDV logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay, luận án luận giải các quan điểm hoàn thiện pháp luật về HĐDV logistics và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một số quy định về HĐDV logistics, nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quy định pháp luật về HĐDV logistics, thực tiễn giao kết và thực hiện HĐDV logistics, điều kiện giao dịch chung và HĐDV logistics theo mẫu của một số doanh nghiệp tại Việt Nam Ngoài ra trước bối cảnh Việt Nam đang đàm phán, ký kết, gia nhập nhiều FTA thế hệ mới, luận

án còn nghiên cứu một số cam kết quốc tế và hiệp định có liên quan đến dịch vụ logistics

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Luận án phân tích những nội dung cơ bản nhất về hợp

đồng như khái niệm, nguồn luật điều chỉnh, nguyên tắc giao kết, trình tự giao kết, hình thức, chủ thể, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu của HĐDV logistics, trường hợp miễn trách và giới hạn trách nhiệm của các LSP Tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện HĐDV logistics là một lĩnh vực có nội dung mới, nội hàm rất rộng, liên quan đến các thủ tục tố tụng nên luận án không đề cập đến Luận án nghiên cứu HĐDV logistics theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, pháp luật của các quốc gia khác, các ví dụ về HĐDV là nguồn đối chiếu học hỏi để NCS đưa ra đánh giá toàn diện pháp luật về HĐDV logistics ở Việt Nam trong xu thế hội nhập toàn cầu Theo nghiên của của NCS thì lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về HĐDV logistics rất rộng WTO quy định dịch vụ logistics như

là dịch vụ hỗ trợ vận tải và được chia thành từng nhóm dịch vụ Nghị định 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch

vụ logistics có 16 dịch vụ logistics và để mở ―Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc

cơ bản của Luật Thương mại‖ Để thực hiện chúng, doanh nghiệp thường ký kết HĐDV logistics, mỗi loại dịch vụ này có quyền và nghĩa vụ khác nhau, có quy định pháp luật điều chỉnh riêng Ví dụ, hợp đồng vận chuyển hàng hóa khác với hợp đồng thuê kho bãi, hợp đồng dịch vụ hải quan khác với hợp đồng bảo hiểm hàng hóa…Trong khuôn khổ luận án, NCS không đi sâu phân tích từng loại hợp

Trang 11

đồng cụ thể, các hợp đồng cụ thể chỉ mang tính minh họa, làm sáng tỏ các vấn đề chung

Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu các vấn đề liên quan đến HĐDV

logistics theo pháp luật Việt Nam, trong đó khảo sát một số doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam và tham khảo pháp luật một số quốc gia trên thế giới và khu vực

Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về HĐDV logistics Việt

Nam kể từ thời điểm LTM năm 2005 lần đầu tiên ghi nhận dịch vụ này, số liệu luận án đưa ra trong phạm vi 05 năm gần nhất, đề xuất giải pháp thực hiện từ nay cho đến năm 2030

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nền kinh tế thị trường, dịch vụ logistics trong điều kiện tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, NCS sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể là:

Chương 1: NCS thu thập thông tin và phân tích, so sánh, đánh giá các nghiên

cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân tích những vấn đề đã được giải quyết, những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 2: NCS sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật

lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp NCS phân tích, nhận định quan điểm và nội dung HĐDV logistics gắn vào những điều kiện kinh tế, xã hội

cụ thể và trong giai đoạn lịch sử cụ thể NCS phân tích, tổng hợp các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò, nguyên tắc giao kết, trình tự giao kết, nguồn luật điều chỉnh, chủ thể, hình thức, nội dung cơ bản, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu HĐDV logistics, trường hợp miễn trách và giới hạn trách nhiệm của các LSP

Chương 3: NCS áp dụng phương pháp thu thập tài liệu, sử dụng các báo cáo

chuyên ngành của các cơ quan liên quan nhằm đánh giá thực trạng giao kết và

Trang 12

thực hiện HĐDV logistics theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay Luận án cũng sử dụng phương pháp hệ thống nhằm kế thừa và tổng hợp kết quả nghiên cứu đã công bố, áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy định pháp luật liên quan đến nội dung cơ bản của hợp đồng

Chương 4: NCS áp dụng phương pháp phân tích, dự báo đưa ra những yêu

cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật

về HĐDV logistics và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp trao đổi khoa học thông qua việc tham gia các hội thảo khoa học về các chủ đề, các lĩnh vực liên quan đến đề tài luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

So với tình hình nghiên cứu hiện nay, luận án có những đóng góp mới sau:

Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận và điều chỉnh pháp luật về

HĐDV logistics, lý giải khái niệm HĐDV logistics, đặc điểm, cách phân loại và vai trò của HĐDV logistics Luận án cũng hệ thống được nguồn luật điều chỉnh

về HĐDV logistics, nguyên tắc và trình tự giao kết hợp đồng, hình thức, chủ thể, đối tượng, nội dung cơ bản, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu của HĐDV logistics, trường hợp miễn trách và giới hạn trách nhiệm của các LSP Ngoài ra, luận án kết hợp đan xen phân tích quy định pháp luật Việt Nam cùng với các tài liệu nước ngoài, kinh nghiệm một số quốc gia khu vực và trên thế giới làm cơ sở để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật Việt Nam về HĐDV logistics

Thứ hai, luận án làm rõ HĐDV logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay bao

gồm các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng giao kết và thực hiện HĐDV logistics Luận án nêu được bất cập về khái niệm, nguyên tắc giao kết, chủ thể, hình thức, trình tự giao kết HĐDV logistics, chỉ ra những kết quả đạt được, các vấn đề đặt ra, cơ hội và thách thức đối với các chủ thể HĐDV logistics trong bối cảnh hội nhập toàn cầu

Trang 13

Thứ ba, trên quan điểm hoàn thiện pháp luật về HĐDV logistics và đánh giá

thực trạng giao kết và thực hiện HĐDV logistics, luận án đưa ra giải pháp hoàn thiện một số quy định pháp luật về HĐDV logistics

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về HĐDV logistics, làm phong phú thêm kho tàng lý luận về HĐDV nói chung và HĐDV logistics nói riêng Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo liên quan đến pháp luật về dịch vụ logistics và HĐDV logistics, quản trị hợp đồng logistics và quản trị logistics, quản trị chuỗi cung ứng

Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và thương mại điện tử toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng nhiều hơn vào chuỗi cung ứng với tư cách là chủ thể của HĐDV logistics Luận án nghiên cứu về HĐDV logistics chính là nghiên cứu cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan khi có tranh chấp phát sinh HĐDV logistics đóng vai trò như luật của các bên, buộc các bên phải tuân thủ, nếu như có vi phạm sẽ bị áp dụng các chế tài Vì vậy, luận án là tài liệu giúp các doanh nghiệp hiểu biết thêm về HĐDV logistics cũng như các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, giúp doanh nghiệp quản trị tốt hợp đồng, hạn chế rủi ro và nâng cao sức cạnh tranh trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh có liên quan đến dịch vụ logistics

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án bao gồm 4 Chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về dịch vụ logistics và pháp luật về dịch vụ logistics

Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ lý luận, thực tiễn về dịch vụ logistics và pháp luật về dịch vụ logistics Những công trình khoa học đã nêu không phải là toàn bộ hệ thống các nghiên cứu liên quan về logistics nhưng đã phản ánh được trạng thái và xu hướng cũng như quy mô nghiên cứu về lĩnh vực này

Đầu tiên là các giáo trình, sách chuyên khảo như: “Logistics, những vấn đề

cơ bản”[150] và “Quản trị cung ứng”[149] của Đoàn Thị Hồng Vân, “Giáo trình quản trị logistics kinh doanh”[96] của An Thị Thanh Nhàn, “Quản lý logistics”[73] của Đỗ Ngọc Hiền, “Quản trị chuỗi cung ứng”[77] của Nguyễn

Thành Hiếu cung cấp cho NCS những kiến thức cơ bản liên quan đến khái niệm logistics, quản trị logistics, quản trị chuỗi cung ứng, thiết kế chuỗi cung ứng, đo lường hoạt động của chuỗi cung ứng, các dịch vụ liên quan đến hàng hóa như dịch vụ phân phối, dịch vụ khách hàng, dịch vụ kho bãi và công nghệ thông tin Tác giả Đặng Đình Đào có nhiều công trình nghiên cứu về dịch vụ logistics

và hệ thống logistics cho thấy bức tranh toàn cảnh của ngành này trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, tiêu biểu là các công trình

như: “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế”[62], “Một số về vấn đề phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước

ta trong hội nhập quốc tế”[72] phân tích tổng thể dịch vụ logistics và hệ thống

logistics, thực trạng phát triển dịch vụ logistics và hệ thống logistics Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế về phát triển dịch vụ logistics và hệ thống logistics, những vấn đề cần giải quyết trong quá trình phát triển, đề xuất định hướng và luận giải được các giải pháp có tính khả thi cao nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ

logistics ở Việt Nam trong điều kiện mở cửa thị trường Cuốn sách: “Logistics,

Trang 15

những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”[60] và “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”[61] là tập hợp các bài viết khoa học về các

nội dung chủ yếu của đề tài liên quan đến dịch vụ logistics, pháp luật về dịch vụ logistics bao gồm khái niệm dịch vụ logistics, vai trò logistics, tiêu chí đánh giá dịch vụ logistics, các quy định pháp lý đầu tiên có liên quan đến phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam, đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở cho logistics, quá trình phát triển và thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam, xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics, nguồn nhân lực cho phát triển logistics, cơ hội và thách thức lớn đối với các chủ thể cung cấp dịch vụ logistics và cũng là chủ thể của HĐDV logistics, giải pháp phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Chi phí logistics (đặc biệt là chi phí vận tải) là vấn đề mang tính cạnh tranh của các LSP và là yếu tố làm nên phí/giá của HĐDV logistics Với đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ: “Giải pháp nhằm giảm thiểu chi phí vận tải và giao nhận

đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay” tác giả Phạm

Thị Cải [27] đã đánh giá được tầm quan trọng của việc giảm thiểu chi phí vận tải, giao nhận, thực trạng chi phí vận tải giao nhận và một số giải pháp giảm thiểu chi phí hiện nay

Vận chuyển hàng không là một phương thức quan trọng trong các phương thức vận chuyển, đóng góp doanh thu không nhỏ cho ngành dịch vụ logistics

Nghiên cứu đề án cấp Bộ: “Nghiên cứu phát triển dịch vụ logistics trong ngành

hàng không Việt Nam đến năm 2020, định hướng sau năm 2020” của Nguyễn

Hải Quang [125] cung cấp cho NCS bức tranh của ngành hàng không Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh khắc nghiệt hiện nay Tác giả đề cập về những vấn đề

ý luận về dịch vụ logistics ngành hàng không, xây dựng phương pháp và công cụ

đo lường giá trị dịch vụ logistics trong ngành hàng không vào GDP, nghiên cứu đánh giá thực trạng hệ thống dịch vụ logistics trong lĩnh vực hàng giao thông vận tải hàng không ở Việt Nam, nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế xã hội, giao thông vận tải và giao thông vận tải hàng không đến năm 2020, tầm nhìn

2030, nhận dạng những cơ hội và thách thức trong tình hình mới

Trang 16

Quản lý và phát triển dịch vụ logistics cũng là một trong nhiều đề tài luận án tiến sỹ của nhiều tác giả cung cấp cho NCS tiếp cận nhiều góc độ và phương pháp đánh giá, tiêu biểu là luận án của các tác giả Vũ Thị Quế Anh, Nguyễn Quốc Tuấn, Bùi Duy Linh, Đinh Lê Hải Hà

Vũ Thị Quế Anh với luận án tiến sỹ đề tài: “Phát triển logistics một số nước

Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”[2] phân tích những vấn

đề lý luận cơ bản về logistics, kinh nghiệm phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á, đánh giá thực trạng logistics ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ này ở Việt Nam

Luận án tiến sỹ của Nguyễn Quốc Tuấn với đề tài: “Quản lý nhà nước đối

với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng”[145] phân tích cơ sở lý luận về quản lý

Nhà nước đối với dịch vụ logistics, kinh nghiệm quản lý Nhà nước về dịch vụ logistics tại một số các quốc gia trên thế giới, thực trạng quản lý Nhà nước đối với dịch vụ logistics tại Hải phòng và đề xuất các giải pháp và chính sách về quản lý Nhà nước đối với dịch vụ logistics tại Hải Phòng

Bùi Duy Linh trong luận án tiến sỹ: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của

ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”[87]

nghiên cứu lý luận về năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ logistics tại một số quốc gia, phương pháp nghiên cứu định lượng về năng lực cạnh tranh, thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, định hướng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics của Việt Nam trong những năm tới

Luận án tiến sỹ của Đinh Lê Hải Hà với đề tài: “Phát triển dịch vụ logistics ở

Việt Nam”[67] nghiên cứu tổng quan tình hình phát triển logistics, lý luận cơ

bản về logistics và phát triển logistics của nền kinh tế, phân tích thực trạng phát triển logistics của Việt Nam giai đoạn 1986-2011, giải pháp định hướng phát triển logistics của Việt Nam 2013-2020

Trung tâm logistics là nơi tập kết, chia tách và trung chuyển hàng hóa có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ logistics

Trang 17

Tác giả Trần Sỹ Lâm có công trình: “Phát triển trung tâm logistics cho Việt

Nam, tham khảo thành công một số nước châu Âu và châu Á”[84] phân tích

những vấn đề lý luận về logistics, khái niệm và phân loại trung tâm logistics, kinh nghiệm xây dựng thành công trung tâm logistics tại một số nước châu Âu, châu Á và đề xuất giải pháp phát triển trung tâm logistics tại Việt Nam

Xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics trong nhiều năm gần đây rất phát triển

và là một trong những chiến lược kinh doanh quan trọng của nhiều doanh nghiệp

được phản ánh qua bài viết: “Giải pháp lựa chọn và quản lý nhà cung cấp dịch

vụ thuê ngoài logistics tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh” của An Thị

Thanh Nhàn [95] đề cập đến thực trạng LSP Việt Nam (chủ thể của HĐDV), tình hình lựa chọn LSP, giải pháp lựa chọn và quản lý LSP tại các doanh nghiệp Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam có một số ấn phẩm phát hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kiến thức cơ bản về logistics và kinh doanh

dịch vụ logistics như cuốn: “Sổ tay nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ logistics”[75]

ban hành các điều kiện kinh doanh chuẩn tại Việt Nam, những hiểu biết cơ bản

về kinh doanh dịch vụ logistics, kiến thức về vận đơn hàng hóa; “Sổ tay giải

thích thuật ngữ về dịch vụ logistics”[76] giải thích các thuật ngữ chuyên ngành

kinh doanh logistics và cung cấp thêm một số vụ kiện điển hình về logistics và freight forwarding (dịch vụ giao nhận vận tải)

Cũng như ở Việt Nam, các công trình nước ngoài liên quan đến dịch vụ logistics đều đề cập đến những nội dung giống nhau như khái niệm dịch vụ logistics, quản trị chuỗi cung ứng, quản lý kho bãi, các vấn đề tồn kho, các kênh phân phối, dịch vụ khách hàng, vấn đề toàn cầu hóa, công nghệ thông tin…dưới nhiều góc độ tiếp cận như kinh tế học, quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, luật học

Đầu tiên là công trình của nhóm tác giả Douglas M Lambert, James R

Stock, Lisa M Ellram: “Fundermental of Logistics Management”[160] nghiên

cứu về khái niệm logistics, quản trị logistics, dịch vụ khách hàng, mua sắm, gia công, quản lý tồn kho, đóng gói, vận chuyển, phân phối, các vấn đề logistics

Trang 18

toàn cầu, vận tải, tài chính, chiến lược, xây dựng, quản lý hệ thống thông tin và

tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động logistics Tiếp theo là nhóm tác giả John Mangan, Chandra Lalwani, Tim Butcher and Rouya Javadpour trong cuốn sách:

“Global Logistics and Supply Chain Management”[166] cũng luận giải về

logistics và quản trị logistics như: Định nghĩa logistics, định nghĩa chuỗi cung ứng, mối quan hệ của chuỗi cung ứng, chiến lược và thiết kế chuỗi cung ứng, các vấn đề

về vận tải, vận tải đa phương thức, vấn đề kho bãi, quản lý nguyên vật liệu và hàng tồn kho Đặc biệt ở cuốn sách này là còn thiết kế thêm các tình huống (case studies)

để nghiên cứu và minh họa cho lý luận

Trong công trình mang tên: “Handbook of Logistics and Distribution

Management”[157] và: “Handbook of Logistics and Distribution Management: Understanding the Supply Chain”[158] các tác giả Alan Rushton, Phil

Croucher, Peter Baker nghiên cứu về logistics, chuỗi cung ứng, tích hợp chuỗi logistics, quản trị chuỗi cung ứng, dịch vụ khách hàng, các kênh phân phối, các vấn đề quản trị kho bãi, các phương thức vận tải

Tác giả G.Don Taylor với cuốn sách: “Logistics engineering

handbook”[161] nghiên cứu tổng quan về logistics, ảnh hưởng của logistics đối

với kinh tế, thiết kế chuỗi logistics, quản lý tồn kho, dịch vụ khách hàng, mua bán hàng, quản trị hệ thống phân phối, hệ thống nguyên liệu, quản trị vận tải, tồn kho, công suất, giá cả, logistics ngược, các vấn đề về công nghệ thông tin và internet, khuynh hướng phát triển của logistics, logistics xanh, vấn đề đóng gói, logistics toàn cầu, vận tải đa phương thức, thuê ngoài bên thứ ba

Với công trình tựa đề: “Global Logistics –New Directions In Supply Chain

Management”[159] tác giả Donal Waters tập trung phân tích những xu thế mới

phát triển logistics, logistics ở châu Âu, Đông Âu, xu hướng logistics toàn cầu, chiến lược quản trị logistics của nhà cung cấp, chuỗi cung ứng, quản trị dịch vụ và marketing, vấn đề thuê ngoài, tầm quan trọng của công nghệ thông tin, các phương pháp tiếp cận logistics, logistics ở Bắc Mỹ và Trung Quốc

Trang 19

1.1.2 Nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ và pháp luật về hợp đồng dịch vụ

Nghiên cứu về HĐDV và pháp luật về HĐDV giúp NCS hiểu rõ hơn lý luận và thực tiễn về vấn đề này làm nền tảng cho việc nghiên cứu HĐDV logistics, một dạng HĐDV đặc thù Những công trình khoa học tiêu biểu gần đây là các luận án

tiến sỹ của Hà Công Anh Bảo, Kiều Thị Thùy Linh, Hoàng Thị Vịnh

Hà Công Anh Bảo với luận án tiến sỹ: “Hợp đồng thương mại dịch vụ và giải

quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam”[4] đã đề cập đến

những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại dịch vụ, tranh chấp hợp đồng thương mại dịch vụ, thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại dịch

vụ, giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại dịch vụ, các giải pháp giúp doanh nghiệp thành công trong kinh doanh

Kiều Thị Thùy Linh trong công trình: “Hợp đồng dịch vụ theo pháp luật dân

sự Việt Nam hiện hành- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”[88] đã nghiên cứu

lý luận về HĐDV gồm khái niệm và đặc điểm HĐDV, phân biệt hợp HĐDV với hợp đồng phi dịch vụ, kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về HĐDV, thực trạng các quy định pháp luật về đối tượng, chủ thể, giá dịch vụ, quyền và nghĩa

vụ các bên, việc thực hiện HĐDV, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật dân sự trong giải quyết tranh chấp về HĐDV và các kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự về HĐDV

Hoàng Thị Vịnh trong luận án: “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam”[154]

nghiên cứu những vấn đề về HĐDV pháp lý, hợp đồng này có tính thương mại

và tính đối nhân cao, là một dạng HĐDV đặc thù nên có những đặc điểm và cách phân loại khác biệt Tác giả cũng phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng này

ở Việt Nam, phân tích các quy định về chủ thế, nội dung hợp đồng, thực hiện hợp đồng (bao gồm các nguyên tắc thực hiện, cách thức thực hiện hợp đồng, nghiệm thu và bàn giao), các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, quan điểm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng, các giải pháp chủ yếu hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Về các nguyên tắc chung của hợp đồng thương mại, NCS nghiên cứu cuốn

sách: “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”[153] của Viện Thống

Trang 20

nhất tư pháp quốc tế, Roma Italia luận giải về nguyên tắc chung của hợp đồng, cách thức soạn thảo các điều khoản

Về giải quyết tranh chấp hợp đồng, NCS nghiên cứu công trình: “Tranh chấp

hợp đồng thương mại quốc tế”[143] của Trung tâm thông tin thương mại Việt Nam

đề cập đến các loại tranh chấp, ngăn ngừa tranh chấp thương mại, đàm phán hợp đồng, các điều khoản miễn trừ và sửa đổi, các phương thức giải quyết tranh chấp Các nghiên cứu về hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung giúp cho NCS hiểu được tầm quan trọng và lợi ích của nó đối với doanh nghiệp và nên chuẩn hóa hợp đồng mẫu và kiểm soát các điều kiện giao dịch chung trong một số ngành cụ

thể của dịch vụ logistics Bài viết: “Bàn về điều kiện giao dịch chung của doanh

nghiệp” [94]và “Điều kiện giao dịch chung: Một số khía cạnh theo Bộ luật Dân sự năm 2015”[82] của tác giả Tăng Văn Nghĩa cho NCS góc nhìn tổng quát nhất về

điều kiện giao dịch chung trong kinh doanh bao gồm lý luận và thực tiễn, những ưu

và nhược điểm của điều kiện giao dịch chung ở Việt Nam trong bối cảnh tự do thương mại và hội nhập hiện nay

Tác giả Đỗ Giang Nam có bài viết: “Bình luận về các quy định liên quan đến

hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi)”[93] đề cập đến các thách thức của việc sử dụng điều khoản mẫu đối với nguyên

tắc tự do hợp đồng, cơ chế kiểm soát tính công bằng của nội dung điều khoản mẫu

và các các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi)

Cuốn sách: “Pháp luật về hạn chế rủi ro cho người tiêu dùng trong hợp đồng

theo mẫu”[97] của Doãn Hồng Nhung (chủ biên) đề cập đến lý luận, đặc điểm,

vai trò của hợp đồng theo mẫu, sự cần thiết của hợp đồng theo mẫu, những rủi

ro, hạn chế rủi ro, các giải pháp để thực hiện hợp đồng theo mẫu Cuốn sách:

“Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh thương mại và đầu tư & các mẫu hợp đồng thông dụng” của hai tác giả Quốc Cường và Thanh Thảo[129] làm rõ khái

niệm, nguyên tắc và nội dung chung của hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh doanh thương mại, các mẫu hợp đồng mua bán dịch vụ, xây dựng, bất động sản Cuốn

sách: “Hợp đồng thương mại quốc tế” của Nguyễn Trọng Đàn [56] phân tích mối

Trang 21

quan hệ pháp luật và hợp đồng, ngôn ngữ tiếng Anh trong hợp đồng, các vấn đề cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế như dịch thuật, các bên liên quan, hàng hóa, giao hàng, điều khoản thanh toán, bảo hành, phạt hợp đồng, kỹ năng soạn thảo các hợp đồng thương mại quốc tế, luật áp dụng và một số hợp đồng theo mẫu

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2010 cũng đã xuất bản cuốn:

“Cẩm nang hợp đồng thương mại” [98] trong đó phân tích những vấn đề chung về

hợp đồng thương mại và liệt kê một số loại mẫu HĐDV để các cá nhân, tổ chức kinh doanh thương mại có thể tham khảo thiết lập các hợp đồng của riêng mình Nhận thấy dịch vụ bảo hiểm hàng hóa là một khâu quan trọng trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, NCS có nghiên cứu về vấn đề này qua cuốn sách:

“Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển: Lý thuyết, thực tiễn kinh doanh và một số bài tập cơ bản” của Trần Sỹ Lâm (chủ biên) [70] và cuốn sách:

“Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiềm hàng hóa vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trong thương mại quốc tế” [78] của Nguyễn Vũ Hoàng có

một phần nội dung đề cập đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển như khái niệm, phân loại, hình thức và nội dung của hợp đồng, các vấn đề liên quan đến rủi ro, tổn thất, giám định tổn thất, khiếu nại, bồi thường Cuốn sách:

“Phân tích các điều khoản về bảo hiểm hàng hóa của Hiệp hội bảo hiểm London 2009” của Đoàn Minh Phụng [100] cho thấy khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng

hóa cần tham khảo các điều khoản bảo hiểm hàng hóa của Hiệp hội bảo hiểm London được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có quy định trách nhiệm của người chuyên chở, trách nhiệm của người nhận ủy thác hàng hóa

1.1.3 Nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ logistics và pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics

Theo nghiên cứu của NCS thì số lượng các bài báo, tạp chí, sách tham khảo, luận án tiến sỹ về HĐDV logistics ở Việt Nam còn hạn chế Hiện có một số nghiên cứu về HĐDV vận chuyển hàng hóa như sau:

Luận án tiến sỹ đề tài: “Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường

biển và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam” [80] là một công trình chuyên sâu

của tác giả Hà Việt Hưng trình bày những vấn đề lý luận, đánh giá thực tiễn, xác

Trang 22

định quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển, các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam Tác giả nêu

rõ khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa, đặc điểm, phân loại, lý luận về hợp đồng vận chuyển, lịch sử hình thành, nguồn hợp đồng thuê tàu chợ, thuê tàu chuyến, đối tượng, chủ thể nội dung, quyền và nghĩa vụ, đặc thù giải quyết tranh chấp, các quan điểm hoàn thiện pháp luật như hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hàng hải cho phù hợp với thông lệ quốc tế, ký kết và gia nhập công ước về chuyên chở hàng hóa, một số giải pháp góp phần đẩy mạnh và đảm bảo hiệu quả thực thi

Trong luận án tiến sỹ kinh doanh và quản lý đề tài: “Tổ chức kế toán quản trị

chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam” tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Lan [85] trình bày cơ sở lý luận về tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải, thực trạng và hoàn thiện

tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường

bộ Việt Nam

Trần Văn Duy có bài viết: “Nhận diện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng

đường biển quốc tế và một số kiến nghị đối với các chủ thế trong quan hệ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển quốc tế hiện nay” [63] đề cập đặc điểm nhận

diện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển quốc tế, phân loại hợp đồng này và đưa ra các kiến nghị cho chủ thể của hợp đồng khi tham gia các giao dịch vận chuyển hàng hóa

Cuốn sách: “101 hỏi đáp về hợp đồng dịch vụ, vận chuyển” của luật gia Hoàng

Lê [86] nêu khái niệm HĐDV, quyền nghĩa vụ các bên hợp đồng, các mẫu HĐDV hữu ích cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận chuyển

Cuốn sách: “100 câu hỏi về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng

đường biển” Võ Nhật Thăng [128] là tập hợp các câu hỏi và giải đáp các kiến

thức chuyên sâu về vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển như vận đơn, vận chuyển hàng hóa theo chuyến, khiếu nại, khiếu kiện người vận chuyển, đại

lý, môi giới, các vấn đề về giải quyết tổn thất chung

Trang 23

Trước bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang phát triển rất mạnh mẽ trên toàn cầu thì việc nghiên cứu các vấn đề về hợp đồng điện tử và chữ ký số rất quan trọng

để hoàn thiện HĐDV logistics điện tử Tác giả Trần Văn Biên có nhiều công

trình nghiên cứu như luận án tiến sỹ với đề tài: “Hợp đồng điện tử theo pháp

luật Việt Nam” [8] cung cấp cho NCS kiến thức cơ bản liên quan đến hợp đồng

điện tử như khái niệm, đặc điểm, lợi ích và rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử, kinh nghiệm xây dựng hợp đồng của một số quốc gia, thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử, những yêu cầu đối với việc hoàn thiện và giải pháp hoàn thiện

pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam; Công trình “Chữ ký trong giao kết

hợp đồng điện tử” [7] phân tích các vấn đề về chữ ký số điện tử, trình tự giao kết

hợp đồng có sử dụng chữ ký điện tử; Bài viết “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trong giao kết hợp đồng điện tử qua internet” [6] đề cập đến nhu cầu điều chỉnh

pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử, thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam

Bài viết: “Phòng tránh rủi ro trong giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại

điện tử”[89] của Nguyễn Thành Luân và bài viết: “Rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử” của Nguyễn Ngọc Hà [68] đề cập đến khái niệm hợp đồng điện tử, sự khác

biệt giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống, rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử, thực trạng giao kết hợp đồng điện tử cũng như những rủi ro thường gặp tại Việt Nam, các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử

Trên thế giới có một số các nghiên cứu chuyên về HĐDV logistics dưới góc

độ kinh tế hoặc quản trị kinh doanh, tiêu biểu nhất phải nhắc đến là công trình

nghiên cứu: “The handbook of logistics contracts- A Practical Guid to a

Growing Field” [165] của nhóm tác giả Joan Jane and Alfone de Achoa đã nêu

lên những vấn đề cơ bản về dịch vụ thuê ngoài logistics, xu hướng thuê ngoài logistics trên thế giới, nội dung HĐDV logistics, một số HĐDV logistics cơ bản như hợp đồng chuyên chở hàng hóa đường bộ, sắt, biển, hàng không, vận tải đa phương thức, hợp đồng thuê kho bãi

Trang 24

Mari Olander, Andreas Norrman trong bài báo quốc tế tựa đề: “Legal

analysis of a contract for advanced logistics services”[167] phân tích mối quan

hệ của các nhà cung cấp dịch vụ logistics cấp độ 3PL và 4PL với các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác trong chuỗi phân phối hàng hóa, phân tích phương pháp tiếp cận hợp đồng giữa các nhà cung cấp dịch vụ logistics cấp độ 3PL và 4PL với khách hàng và những điểm đáng lưu ý của hợp đồng này Bản hợp đồng logistics mẫu:

“Logistics services contract template”[162] do Global Negotiator Business

Publications đăng lên trang điện tử là mẫu HĐDV logistics với đầy đủ các điều khoản cơ bản giúp cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ này tham khảo

1.1.4 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án kế thừa

Các công trình nghiên cứu trên đây đều đề cập đến những vấn đề rất chung, phổ biến về logistics như định nghĩa, quản trị logistics, quản trị chuỗi cung ứng, vai trò của dịch vụ logistics và quản trị logistics, các kênh phân phối, các vấn đề kho bãi, vận tải đa phương thức, logistics toàn cầu, dịch vụ khách hàng, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics, logistics xanh, dự báo xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics Nội dung dịch vụ logistics đều thống nhất gồm có các dịch vụ cụ thể như giao nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, các dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ khách hàng, các dịch vụ tư vấn khác có liên quan đến vận chuyển và phân phối hàng hóa Từ các công trình nghiên cứu trên, NCS kết luận và đánh giá về những ưu điểm, kết quả đã được làm rõ mà luận án sẽ tiếp tục kế thừa, cụ thể là:

Về lý luận: Phần lớn xu hướng nghiên cứu về HĐDV, dịch vụ logistics ở

nước ta trong thời gian qua là cách tiếp cận nghiên cứu góc độ luật học thực định, kinh tế học và quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp Nghiên cứu lý luận được triển khai trên nền tảng quy định pháp luật hiện hành Cách tiếp cận này đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng về các vấn đề như khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, nội dung của HĐDV và dịch vụ logistics Các nghiên cứu về HĐDV đều chỉ ra các vấn đề về chủ thể, hình thức, nguyên tắc ký kết, nội dung HĐDV, điều kiện có hiệu lực, thực hiện, sửa đổi bổ sung, giải quyết tranh chấp, vô hiệu HĐDV Do đó, NCS sẽ kế thừa các vấn đề lý luận đã nghiên

Trang 25

cứu ở trên để tiếp tục phân tích sâu sắc hơn lý luận về HĐDV logistics dưới giác

độ pháp luật

Về thực tiễn: Do phần lớn các công trình nghiên cứu tiếp cận từ góc độ luật

thực định nên các tác giả đã nghiên cứu thực trạng các quy định, thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật về HĐDV và dịch vụ logistics nhằm đánh giá hiệu quả của công cụ đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng Với cách tiếp cận này, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho NCS các luận cứ, cơ sở cho việc thiết kế các căn cứ, quan điểm và giải pháp để hoàn thiện một số quy định pháp luật

và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay Mặt khác, NCS cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trước và tiếp tục bổ sung các giải pháp hoàn thiện một số quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay

Tóm lại, thông qua việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, NCS nhận thấy chưa có công trình nào phân tích cụ thể, chuyên sâu về lý luận và thực tiễn về HĐDV logistics Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về HĐDV logistics theo pháp luật hiện nay ở Việt Nam Xuất phát từ quan điểm khoa học vừa mang tính kế thừa và vừa mang tính phát triển mới, một lần nữa NCS khẳng định các công trình nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước là những tài liệu bổ ích để NCS tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án của mình

1.1.5 Những vấn đề tiếp tục triển khai nghiên cứu trong nội dung luận án

Trên cơ sở phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành, luận án sẽ tiếp tục kế thừa và nghiên cứu để làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận HĐDV logistics theo pháp luật, cụ thể là:

Về lý luận: Luận án làm rõ khái niệm dịch vụ logistics, khái niệm, đặc điểm, vai

trò của HĐDV logistics, nguyên tắc và trình tự giao kết, đối tượng, chủ thể, hình thức và nội dung HĐDV logistics, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu của HĐDV logistics, giới hạn trách nhiệm, trường hợp miễn trách của các LSP, kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến các vấn đề này

Về thực tiễn: Luận án phân tích thực trạng một số quy định pháp luật về

HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay, đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện

Trang 26

HĐDV logistics, chỉ ra những kết quả đạt được, các vấn đề đặt ra, cơ hội và thách thức đối với các chủ thể của HĐDV logistics trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Về giải pháp: Luận án đề xuất các giải pháp để hoàn thiện một số quy định pháp

luật và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu

Hợp đồng là một loại giao ước mà đặc điểm chung là sự thống nhất ý chí, ý chí có vai trò quan trọng không thể thiếu được để hình thành hợp đồng, làm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý Do đó, lý thuyết tự do ý chí được tác giả tập trung nghiên cứu trước tiên Tuy nhiên, tự do ý chí cần phải dung hòa các lợi ích và trật tự xã hội Để giải quyết vấn đề này cần phải dung hòa hai thuyết tự do ý chí

và thuyết xã hội bằng cách tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng và chỉ giới hạn sự tự do này bởi những nguyên nhân chính đáng mà tiêu biểu là trật tự công cộng và đạo đức xã hội

Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nghiên cứu lý thuyết về kinh tế thị trường là cần thiết trong đó người mua và người bán dịch vụ logistics tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, bao gồm:

Về lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò dịch vụ logistics là gì? Khái niệm,

đặc điểm, phân loại, nội dung, vai trò của HĐDV logistics? Nguồn luật điều chỉnh, nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng, chủ thể, hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu của HĐDV logistics, trường hợp miễn trách và giới hạn trách nhiệm của các LSP là gì?

Về thực tiễn: Thực trạng pháp luật về HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay

như thế nào? Kết quả và các vấn đề đặt ra trong việc giao kết và thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay ra sao?

Về giải pháp: Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về HĐDV logistics

hiện nay dựa trên các quan điểm nào? Giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy

Trang 27

định pháp luật về HĐDV logistics và nâng cao hiệu quả thực hiện HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay gồm những gì?

1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu và dự kiến kết quả

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu luận án đưa ra các giả thuyết nghiên cứu:

Giả thuyết 1: HĐDV logistics là HĐDV thương mại đặc thù, đối tượng của hợp

đồng rất đa dạng, có tính chất phức tạp hơn nhiều HĐDV thương mại khác

Kết quả nghiên cứu (dự định): Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp luật về HĐDV logistics và thực tiễn giao kết HĐDV logistics

Giả thuyết 2: Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, tham gia đàm phán và ký kết

nhiều hiệp định, thực hiện các cam kết quốc tế về logistics, hội nhập kinh tế quốc

tế và cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, số lượng, giá trị HĐDV logistics gia tăng, hình thức giao kết hợp đồng phong phú, nội dung hợp đồng phức tạp hơn

Kết quả nghiên cứu (dự định): Đánh giá thực trạng HĐDV logistics trong những năm gần đây, từ đó nêu bật được những kết quả và hạn chế trong việc giao kết và thực hiện HĐDV logistics

Giả thuyết 3: Những bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam về HĐDV

logistics và nhận thức yếu kém của các doanh nghiệp về HĐDV logistics là nguyên nhân chủ yếu xảy ra bất đồng, tranh chấp

Kết quả nghiên cứu (dự định): Phân tích rõ những bất cập trong quy định và thực trạng nhận thức của doanh nghiệp đối với HĐDV logistics, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện một số quy định pháp luật về HĐDV logistics ở Việt Nam hiện nay và nâng cao hiệu quả thi hành HĐDV logistics bao gồm cả nâng cao nhận thức của các chủ thể

1.2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc ngành Luật Kinh tế, do đó hướng tiếp cận của đề tài là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐDV logistics liên quan đến các khía cạnh pháp lý dưới góc độ Luật Kinh tế

Trang 28

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, NCS đánh giá thực trạng các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án để xác định được các công trình trước đây đã giải quyết được những gì liên quan đến đề tài: ―Hợp đồng dịch vụ logistics theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay‖ và trên cơ sở đó NCS kế thừa và tìm ra cái mới của đề tài Qua những nghiên cứu này, NCS nhận thấy:

Thứ nhất, dịch vụ logistics là một phần của chuỗi cung ứng được tiếp cận với

nhiều giác độ khác nhau HĐDV logistics được hình thành qua sự phát triển của các cấp độ dịch vụ logistics từ 1PL đến 5PL Nghiên cứu HĐDV logistics là vấn đề cần thiết trong thời kỳ hội nhập, góp phần hoàn thiện pháp luật là yêu cầu bức thiết, phù hợp với lý luận và thực tiễn Đây là vấn đề mới, luôn có sự thay đổi và phát triển nhanh do sự phát triển của công nghệ thông tin nên nhiều vấn đề pháp lý đã và đang phát sinh tác động đến mô hình pháp luật điều chỉnh, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật, từ đó thúc đẩy việc giao kết HĐDV logistics, thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển

Thứ hai, hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình

khác nhau về dịch vụ logistics, HĐDV và HĐDV logistics nhưng chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về HĐDV logistics để tìm ra những bất cập, đưa ra các giải pháp hoàn thiện Vì vậy, NCS chọn đề tài: ―HĐDV logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay‖ làm đề tài luận án tiến sỹ luật học của mình Đây

là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu cơ bản, toàn diện về lý luận và thực tiễn HĐDV logistics ở Việt Nam dưới góc độ luận án tiến sỹ luật học Những kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị tham khảo đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về HĐDV nói chung và HĐDV logistics nói riêng hiện tại và trong tương lai

Thứ ba, để đạt được mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, luận án

dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nền kinh tế thị trường, dịch vụ logistics trong điều kiện tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế Đồng thời, để triển

Trang 29

khai nghiên cứu đề tài NCS kết hợp linh hoạt các phương pháp như phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh, điều tra xã hội học, phỏng vấn chuyên gia và các phương pháp nghiên cứu khác phù hợp với từng Chương của luận án

Trang 30

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS

2.1 Cơ sở lý luận về hợp đồng dịch vụ logistics

2.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và là thuật ngữ rất phổ biến nhưng đến nay chưa có khái niệm chính xác ―Logistics chắc chắn đã được khởi nguồn trong những học thuyết chiến tranh mà trong lịch sử vẫn còn đang lưu giữ‖ [127, tr.6] Ở phương Đông, theo sử ký Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ Lưu Bang, xây dựng nhà Hán, Trương Lương lần đầu tiên đưa ra khái niệm hậu cần và do Tiêu Hà phụ trách, năm 202 trước Công nguyên Ở phương Tây, thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đế chế Roman và Byzantine đã có sỹ quan

―Logistikas‖ là người chịu trách nhiệm về các vấn đề tài chính, cung cấp, phân phối lương thực, quần áo, vũ trang, vật tư…cho quân đội [72, tr.5]

Vào thế kỷ XX, khoảng sau chiến tranh thế giới thứ 2, cụm từ ―logistics‖ được sử dụng dần sang kinh tế do các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ vào hoạt động tái thiết kinh tế thời kỳ hậu chiến Từ đó, logistics được lan truyền từ châu lục này sang châu lục kia, từ nước này sang nước khác, hình thành nên khái niệm ―logistics toàn cầu‖ Logistics ban đầu chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ, sau đó là một chuỗi các hoạt động, hình thành nên khái niệm ―chuỗi cung ứng‖ và ―quản trị chuỗi cung ứng‖ Hiện nay, chưa có mội khái niệm thống nhất về logistics, mỗi chuyên gia trong nghiên cứu của mình với cách tiếp cận, góc nhìn khác nhau mà có những khái niệm khác nhau về logistics Tìm hiểu tất cả những định nghĩa khác nhau về logistics cho chúng ta cách nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về dịch vụ này

Thuật ngữ ―logistics‖ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ ―logistikos‖ nghĩa là

―kỹ năng tính toán‖, thuật ngữ này gần với từ ―logic‖ là ―sự tính toán‖ Ban đầu logistics được gọi là hậu cần, nghĩa là cung cấp những thứ cần thiết từ hậu

Trang 31

phương ra tiền tuyến Logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội với nghĩa là nghệ thuật bố trí và di chuyển quân

Từ điển Anh Oxford định nghĩa: ―Logistics là lĩnh vực khoa học quân sự liên quan đến việc mua sắm, duy trì và vận chuyển vật tư, người và phương tiện‖ hoặc có định nghĩa khác là: ―Logistics là việc bố trí nguồn lực một cách hợp lý

và phù hợp với yêu cầu của khách hàng‖1

Nhóm tác giả John Mangan, Chandra Lalwani, Tim Butcher and Rouya Javadpour trong công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng định nghĩa này và thêm các từ gạch chân góp phần làm cho nó cụ thể và chặt chẽ hơn: ―Logistics

là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hoá bao gồm các dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng2

[166, tr.9]

Có nhiều quan điểm cho rằng logistics liên quan đến nhiều cái ―đúng‖ như đúng sản phẩm, đúng cách, đúng chất lượng và số lượng, đúng nơi vào đúng thời gian, đúng khách hàng và đúng chi phí Logistics gắn liền với hoạt động kinh doanh và sản xuất ―Logistics trong hoạt động kinh doanh được định nghĩa là

Trang 32

dịch vụ cung ứng đúng hàng hóa, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng địa điểm và đúng giá đồng thời là khoa học về quy trình (science of process) và nó liên quan đến tất cả các ngành kinh tế‖ [53, tr.17] Logistics trong sản xuất là hoạt động nhằm đảm bảo cho máy móc thiết bị được cung cấp đúng vật tư, đúng số lượng và chất lượng, đúng thời điểm Logistics trong hoạt động sản xuất không phải là quá trình vận tải mà là sắp xếp công việc hợp lý hơn, kiểm soát việc giao hàng tốt hơn,

là việc cung cấp phương tiện đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đạt hiệu quả sử dụng vốn ―Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ…từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng‖ [72, tr.20]

Ở Singapore Luật Thương mại và Luật Vận tải không định nghĩa khái niệm

và phân loại dịch vụ logistics Chính phủ Singapore tôn trọng ý kiến của Hiệp hội Logistics Singapore Trong chương trình đào tạo của mình, Hiệp hội trích dẫn khái niệm dịch vụ giao nhận và logistics là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến việc vận chuyển (được thực hiện bởi một hay nhiều phương thức vận tải), gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về hải quan và các vấn đề tài chính,

kê khai hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm, thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc các chứng từ liên quan đến hàng hóa Dịch vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các dịch vụ logistics với công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại tích hợp với việc vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa và trên thực tế là quản lý toàn

bộ chuỗi cung ứng Những dịch vụ này có thể được thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ được cung cấp một cách linh hoạt [91, tr.21]

Pháp luật Nhật Bản không có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ logistics, thay vào đó, Nhật Bản chia nhỏ các phân ngành của logistics để quy định theo từng lĩnh vực riêng Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản có định nghĩa về giao nhận hàng hóa là dịch vụ nhằm mục đích vận chuyển hàng hóa, thông qua người vận tải

Trang 33

thực tế đường bộ, đường biển, đường hàng không và đường sắt Từ ―logistics‖ theo tài liệu huấn luyện của Quỹ hợp tác Nhật – ASEAN và Hiệp hội Giao nhận Nhật gọi là ―hỗ trợ từ phía sau‖ hay ―hậu cần‖ [91, tr.23]

Tại Mỹ có một số khác biệt với châu Âu và các nước khác trong việc định nghĩa

và phân loại logistics Theo Ủy ban Hàng hải Liên bang Hoa Kỳ thì ―Logistics là bất

kỳ loại dịch vụ gì liên quan đến việc vận tải, gom hàng, lưu trữ, làm hàng, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc làm thủ tục hải quan, và các vấn đề tài chính, kê khai hàng hóa cho mục đích hành chính, mua bảo hiểm hàng hoá và thu thập hoặc thực hiện thanh toán hay các tài liệu liên quan đến hàng hoá‖ [91, tr.27]

Tài liệu của Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu định nghĩa: ―Logistics là tập hợp của nhiều dịch vụ khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động vận tải hàng hóa‖[64, tr.5] Theo phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của EVFTA thì không có khái niệm dịch vụ logistics Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải thuộc ngành dịch vụ vận tải [65, tr.24] Trong bảng Phân nhóm dịch vụ của Liên Hợp Quốc không có dịch vụ logistics nói chung mà chỉ có từng dịch vụ

cụ thể trong mảng hoạt động logistics Các cam kết mở cửa của Việt Nam trong WTO, EVFTA cũng như trong các FTA khác đều là cam kết theo từng dịch vụ

cụ thể này

Logistics theo định nghĩa của Tổ chức hỗ trợ thương mại và vận tải toàn cầu là logistics theo góc độ thương mại, theo đó: ―Logistics thương mại là sự quản lý dòng hàng hóa quốc tế, các chứng từ và thủ tục thanh toán liên quan với mục đích cắt giảm chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến logistics thông qua đơn giản hóa/hài hòa hóa các thủ tục và chứng từ‖ [92, tr.3]

Ở Việt Nam logistics lần đầu tiên được ghi trong LTM 2005 như sau: ―Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu,

Trang 34

giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao‖

Từ các nguồn tư liệu đã dẫn trên, có thể nhận thấy rằng khó có thể khẳng định khái niệm nào về dịch vụ logistics là đúng nhất vì mỗi định nghĩa đều có cách nhìn, cách tiếp cận khác nhau Do vậy, logistics cần được hiểu dưới nhiều góc độ Dưới góc độ của quản trị dịch vụ logistics thì logistics được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm quá trình lập kế hoạch về logistics, tổ chức thực hiện và kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hóa Dưới góc độ luật học thì logistics là dịch

vụ thương mại, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện một hoặc nhiều dịch vụ liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hoá (bao gồm cả các dịch vụ và những thông tin liên quan) từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng một cách hiệu quả nhất nhằm thỏa mãn tối

đa các yêu cầu của khách hàng

2.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ logistics

Khái niệm HĐDV logistics có liên quan chặt chẽ với dịch vụ logistics, nói cách khác, thực hiện dịch vụ logistics làm phát sinh HĐDV Như trên NCS đã phân tích, dịch vụ logistics phát triển từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và người

ta đã chỉ ra rằng logistics đã, đang và sẽ phát triển trải qua năm cấp độ từ 1PL, 2PL, 3PL, 4PL đến 5PL

Logistics cấp độ 1PL là một hình thức mà các công ty tự tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics Họ có các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp

dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để tự cung cấp các khâu của dịch vụ logistics như vận chuyển, lưu trữ hàng hóa, làm thủ tục thông quan, đóng gói hàng hóa

Logistics cấp độ 2PL là hình thức các công ty cung cấp dịch vụ chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics, thường là dịch vụ truyền thống như vận chuyển hàng hóa, dịch vụ kho bãi Đây là việc nhà cung cấp dịch vụ cung cấp hoạt động đơn lẻ trong chuỗi logistics Nổi bật nhất có thể thấy 2PL là người vận chuyển như hãng tàu, hãng hàng không, các nhà xe Công ty cung cấp dịch vụ 2PL

Trang 35

thường sở hữu và sử dụng phương tiện vận tải chuyên dụng để phục vụ cho công việc vận chuyển đặc thù của họ, đảm nhận vai trò vận chuyển của một khâu đặc thù hay cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics Hình thức này phát sinh các HĐDV logistics đơn lẻ, chuyên biệt và đặc thù như: HĐDV vận chuyển, HĐDV kho bãi

Logistics cấp độ 3PL là hoạt động do một công ty thực hiện việc cung ứng dịch vụ logistics trên cơ sở HĐDV Công ty sản xuất thuê ngoài toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ thuê ngoài một số hoạt động có chọn lọc Các LSP cấp độ 3PL thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận như gửi, nhận hàng, thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu, cung cấp chứng từ giao nhận, vận tải và vận chuyển nội địa, làm thủ tục thông quan hàng hóa

và đưa hàng đến điểm đến quy định…3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin…có tính tích hợp (integrated logistics) vào dây chuyền cung ứng của khách hàng

Logistics cấp độ 4PL là mô hình phức tạp hơn 3PL 4PL phát triển trên nền tảng 3PL nhưng lĩnh vực rộng hơn bao gồm cả dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý cả quá trình sản xuất và kinh doanh 4PL thực hiện như một hợp đồng hợp nhất các dịch vụ logistics, sử dụng vốn, công nghệ, nguồn lực của mình và của các 3PL khác để thiết kế, xây dựng, vận hành các giải pháp logistics hiệu quả cho khách hàng 4PL điều hành tất cả quá trình logistics cho doanh nghiệp, tiếp quản, điều phối và chia sẻ thông tin với các bên thứ ba mà doanh nghiệp đang sử dụng như nhà vận chuyển, các công ty giao nhận, công ty cho thuê kho bãi, 4PL được xem là nhà liên lạc duy nhất thực hiện các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt quá trình phân phối nhằm mục đích vươn tới thị trường toàn cầu, giành lợi thế chiến lược và xây dựng các mối quan hệ lâu dài Logistics cấp độ 5PL là dịch vụ quản lý logistics cao nhất hiện nay, là dịch vụ thị trường thương mại điện tử bao gồm cả 3PL và 4PL 5PL quản lý các hệ thống quản lý đơn hàng, hệ thống quản lý kho hàng, hệ thống quản lý vận tải Cả ba hệ thống này có quan hệ với nhau trong một hệ thống thống nhất 5PL ra đời gắn

Trang 36

với sự bùng nổ công nghệ thông tin và sự phát triển logistics điện tử 5PL là các doanh nghiệp logistics hàng đầu thế giới cung cấp dịch vụ lên kế hoạch, tổ chức thực hiện các giải pháp logistics cho khách hàng bằng việc khai thác tối đa ứng dụng công nghệ tích hợp 5PL nắm vững vai trò tổng hợp các nhu cầu dịch vụ của 3PL để thương lượng mức cước tốt nhất từ các hãng vận tải với cam kết tiết kiệm và an toàn tối đa Các doanh nghiệp này phát triển mạng lưới theo dõi hàng hóa từ đầu này sang đầu khác, giúp chủ hàng nắm được các thông tin về hàng hóa trong toàn bộ quá trình vận chuyển

Hiện nay có rất nhiều tài liệu dịch là ―logistics bên thứ…‖, cụm từ PL dịch theo nghĩa đen là logistics bên thứ…, tuy nhiên ở 4PL hay 5PL không có bên thứ 4 hay thứ 5 nào cả Do vậy, theo NCS để tránh nhầm lẫn nên dịch là logistics cấp độ thứ

tư hay logistics cấp độ thứ năm sẽ dễ hiểu hơn Tương tự như vậy ta sẽ có 1PL, 2PL, 3PL là logistics cấp độ thứ nhất, thứ hai, thứ ba Các cấp độ từ 1PL đến 5PL phản ánh sự phát triển của dịch vụ logistics từ giai đoạn sơ khai nhất là tự cấp đến giai đoạn phát triển hoàn thiện trên cơ sở tối ưu ứng dụng công nghệ thông tin HĐDV logistics cũng hình thành từ đơn giản đến phức tạp theo các cấp độ phát triển của dịch vụ logistics như trên HĐDV logistics thực hiện một dịch vụ cho đến nhiều dịch vụ, HĐDV logistics giao kết bằng phương thức truyền thống cho đến dạng hợp đồng ứng dụng công nghệ thông tin trên nền thương mại điện tử hiện đại Mục đích của việc này là tối ưu hóa hiệu quả thuê ngoài dịch vụ logistics, tận dụng

ưu điểm của công nghệ thông tin nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí

Cũng giống như nhiều hợp đồng, HĐDV logistics có nhiều tên gọi như thỏa thuận, khế ước, giao kèo được thiết lập trên cơ sở tự do ý chí của các tổ chức,

cá nhân với tư cách là chủ thể hợp đồng ―Thuật ngữ hợp đồng ngày nay có hai cách hiểu khác nhau, cách hiểu thứ nhất xem ―hợp đồng‖ như là một ―thỏa ước‖, cách thứ hai xem hợp đồng như là một quan hệ pháp luật‖ [54, tr.12] Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994 định nghĩa: ―Hợp đồng được thừa nhận như một sự thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự‖ [54, tr.11]

Trang 37

Hợp đồng là thỏa thuận thống nhất ý chí, là quan hệ pháp luật làm phát sinh hậu quả pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết Trong quan hệ dân

sự, hợp đồng là thuật ngữ pháp lý chỉ ―các giao dịch dân sự thông qua việc thỏa thuận để chuyển giao các lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức với nhau trong lĩnh vực luật tư‖ [81, tr.20] ―Hợp đồng là sự kiện pháp lý phổ biến nhất trong quan hệ dân

sự được pháp luật dự liệu xảy ra trong thực tế, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự và có những hậu quả pháp lý nhất định‖ [79, tr.30] Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự và có những hậu quả pháp lý nhất định, khác với sự kiện thông thường là không làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định và không có sự tác động của các quy phạm pháp luật dân sự để hình thành một quan hệ dân sự Theo Điều 513 BLDS 2015 Việt Nam thì: ―Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên

sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ‖ [104, tr.198] Hợp đồng theo định nghĩa này ít nhất là có hai bên là bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ ―HĐDV là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng mà theo đó bên cung ứng thực hiện một công việc nhất định nhằm đem lại lợi ích cho bên sử dụng và bên sử dụng có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng trên cơ sở các nộ dung quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật‖[88, tr.25]

Theo pháp luật Hoa kỳ, ―lời hứa của một bên (giao dịch đơn phương‖ cũng

có thể là hợp đồng‖[1, tr.13] Pháp luật hợp đồng của các nước theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ nói chung và Hoa Kỳ nói riêng không có sự phân biệt giao dịch và hợp đồng Hợp đồng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hành vi giao dịch đơn phương (lời hứa) và hợp đồng theo cách hiểu truyền thống của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (là bắt buộc phải có sự thỏa thuận của ít nhất là hai bên) Tuy nhiên, theo cách hiểu nào thì hợp đồng cần phải có những điểm chung là: Có sự thỏa thuận (cam kết) giữa các bên tham gia giao kết; Có sự thỏa thuận (cam kết) làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý

Trang 38

Logistics là dịch vụ thương mại nên HĐDV logistics trước hết phải là HĐDV thương mại Khoản 9 Điều 3 LTM năm 2005 quy định: ―Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận‖ HĐDV thể hiện tính thương mại qua việc cung ứng dịch vụ là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bên cung ứng thực hiện việc cung ứng để thu lợi nhuận và bên còn lại trả tiền

Theo Điều 233 LTM năm 2005: ―Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao‖ thì HĐDV logistics sẽ là HĐDV nhằm thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi

ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận HĐDV logistics có thể cung cấp một trong một số các dịch vụ theo như LTM năm 2005 liệt kê hoặc nhiều dịch vụ trong toàn chuỗi mang tính tích hợp như hợp đồng của các 3PL

Qua các tài liệu nghiên cứu trên đây thì HĐDV logistics là hình thức pháp lý, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên đạt được thông qua sự thỏa thuận trong đó nêu rõ những điểm mà các bên muốn ràng buộc nhau khi thực hiện một hoặc nhiều dịch vụ nhằm đem lại lợi ích cho nhau Các chủ thể thông qua thỏa thuận để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, chuyển giao lợi ích cho nhau Dưới góc độ luật học, HĐDV logistics là sự thỏa thuận giữa một bên gọi là bên cung ứng dịch vụ và một bên gọi là bên sử dụng dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một hoặc nhiều dịch vụ logistics còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán phí và sử dụng dịch vụ đã thỏa thuận

Trang 39

Dưới góc độ quản trị, HĐDV logistics chính là HĐDV thuê ngoài của các công ty sản xuất và thương mại và có các cấp độ như cấp độ của dịch vụ logistics Những thập niên gần đây, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics (outsourcing of logistics services) của các công ty sản xuất và thương mại Họ tập trung vào các hoạt động cốt lõi thay cho phương thức giao nhận tự cung tự cấp (own-account transportation) và chuyển giao việc này cho bên thứ ba ―Xu hướng mới này làm tăng loại hình các công ty cung cấp các dịch vụ như vậy và người ta gọi đó là nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP)‖ [166, tr.154] LSP cung cấp một hoặc nhiều các dịch vụ logistics LSP có thể là các hãng vận chuyển hoặc các công ty giao nhận, các công ty chuyển phát nhanh, các hãng tàu, các công ty vận chuyển đa phương thức Khi các công ty này đảm nhận hoạt động tích hợp nhiều dịch vụ trong chuỗi logistics thì được gọi là 3PL Công trình nghiên cứu: ―Logistics Basics-Exercise-Case Studies‖ gọi các dịch vụ thuê ngoài này là logistics theo hợp đồng (contract logistics hoặc contract-logistics services) và những nhà cung cấp những dịch vụ đó gọi là các đối tác theo hợp đồng (contractual partners) để tổ chức thực hiện toàn bộ chuỗi cung ứng logistics [163, tr.92]

Nhóm tác giả Joan Jane and Alfonso de Ochoa định nghĩa: ―Về mặt khái niệm, có thể định nghĩa HĐDV logistics là một hợp đồng được thực hiện bởi một bên gọi là nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba- 3PL, chịu trách nhiệm trước một bên khác để cung cấp các dịch vụ logistics mà họ cần về sau, đổi lại nhà cung cấp được trả những lợi ích kinh tế khác‖ [165, tr.14] HĐDV logistics được ký kết giữa bên cung ứng dịch vụ (các chủ tàu, chủ xe cộ, các forwarder (người giao nhận vận tải) và chủ hàng (cá nhân và tổ chức có hàng hóa) Hiện nay, thị trường logistics đang chứng kiến sự phát triển của các gói dịch

vụ tích hợp dịch vụ logistics 3PL ―3PL chính là xu hướng đẩy mạnh thuê ngoài dịch vụ logistics theo hướng chuyên môn hóa‖ [71, tr.18] Dịch vụ logistics được thuê ngoài để giảm chi phí hoạt động và chi phí đầu tư của doanh nghiệp Các LSP 3PL thực hiện dịch vụ logistics đại diện cho doanh nghiệp sản xuất kinh

Trang 40

doanh để các doanh nghiệp này tập trung vào hoạt động cốt lõi của họ thay vì đầu tư dàn trải cho các hoạt động khác Họ sẽ tập trung nguồn lực, con người để làm tốt các khâu sản xuất, tìm bạn hàng, phát triển thị trường…còn khâu đưa hàng hóa đến đối tác sẽ sử dụng dịch vụ của LSP

2.1.3 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ logistics

Thứ nhất, HĐDV logistics là thỏa thuận pháp lý mang tính thương mại, phức tạp

và giá/phí dịch vụ khó xác định

HĐDV logistics là thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về một hoặc nhiều dịch vụ logistics Việc thực hiện HĐDV logistics mang đến cho các bên những lợi ích kinh tế nhất định Bên cung ứng dịch

vụ nhận được tiền thù lao sau khi hoàn thành nghĩa vụ cung ứng, bên sử dụng dịch

vụ đạt được yêu cầu của mình và hoàn thành nghĩa vụ trả tiền

Tính phức tạp của hợp đồng này thể hiện ở chỗ: Dịch vụ là sản phẩm vô hình, khó nắm bắt, khó xác định chất lượng dịch vụ bằng các chỉ tiêu định lượng Do

đó, khi tham gia giao kết hợp đồng này đòi hỏi các chủ thể phải mô tả kỹ về công việc thực hiện, thời gian thực hiện và hoàn thành, quyền và nghĩa vụ của các bên để tránh những xung đột có thể xảy ra trong quá trình thực hiện Dịch vụ logistics là một chuỗi các dịch vụ liên quan đến quá trình luân chuyển hàng hóa nên qua rất nhiều công đoạn, nhiều chủ thể, thậm chí là nhiều địa điểm trong nước và ngoài lãnh thổ Các chủ thể có thể cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ, trực tiếp thực hiện hoặc làm trung gian trong chuỗi logistics tích hợp Tùy từng lĩnh vực hoạt động, chủ thể cung ứng có thể là chủ thể kinh doanh có điều kiện hoặc không Mỗi điều kiện kinh doanh khác nhau phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký hoạt động Ví dụ, chủ thể muốn thực hiện dịch vụ khai báo hải quan đại diện cho khách hàng thì thành lập công ty đại lý hải quan và phải có chứng chỉ

do cơ quan hải quan cấp Chủ thể kinh doanh dịch vụ kho bãi phải tuân thủ các điều kiện về kho bãi, chủ thể kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa phải tuân thủ các quy định về vận chuyển hàng hóa Hiện nay, việc vận chuyển hàng hóa

có nhiều phương thức, mỗi phương thức vận chuyển lại có những điều kiện khác

Ngày đăng: 18/04/2020, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w