Trong số các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa thì bệnh đái tháo đường đang trở thành căn bệnh phổ biến và đang gia tăng nhanh trên thé giới, ở cả những nước phát triển và những nước
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y- DƯỢC THÁI NGUYÊN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN NGƯỜI 45- 67 TUỔI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG NĂM 2020
Thái Nguyên năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… 2
DANH MỤC BẢNG……… 2
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 3
TỔNG QUAN……….….5
1 Tổng quan về bệnh đái tháo đường……… 5
1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường……… 5
1.2 Phân loại bệnh đái tháo đường……… 5
1.3 Các biến chứng của bệnh đái tháo đường……….7
1.3.1 Biến chứng cấp tính……… 8
1.3.2 Biến chứng mạn tính……… 8
1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái thái đường……… 8
1.4.1 Chẩn đoán đái tháo đường……… 8
1.4.2 Chẩn đoán tiền đái tháo đường……… 9
1.5 Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường……… 9
2 Đặc điểm dịch tễ học……….…10
2.1 Trên thế giới……….…10
2.2 Tại Việt Nam………11
3 Biện pháp phòng chống……….13
KẾT LUẬN……… … 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 15
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3ĐTĐ đái tháo đường
WHO tổ chức y tế thế giới
VMĐTĐ võng mạc đái tháo đường
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa đái tháo đường týp 1 và týp 2……… 7
Trang 4Trong số các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa thì bệnh đái tháo đường đang trở thành căn bệnh phổ biến và đang gia tăng nhanh trên thé giới, ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển, chủ yếu là đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 90% [2] Năm 2014 trên toàn cầu, ước tính có khoảng 422 triệu người sống chung với bệnh đái tháo đường, số bệnh nhân này tăng gần hai lần so với năm 1980, chủ yếu ở các nước đang phát triển, đồng thời tỷ lệ tử vong do bệnh đái tháo đường ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình cao hơn so với các nước phát triển Những con số trên chỉ là ước tính, thực sự chúng ta còn chưa biết
số bệnh nhân hiện nay chính xác là bao nhiêu, số thống kê trên đây chỉ là phần nổi của tảng băng trôi [3], [2] Bệnh có thể diễn biến thầm lặng trong vòng 5- 10 năm,
có tới 65% bệnh nhân mắc bệnh nhưng không được phát hiện Tuy nhiên bệnh đái tháo đường có thể được cải thiện nếu cải thiện được các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh [2]
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyến hóa glucid mạn tính, bệnh phổ biến có tính chất xã hội, là một trong ba bệnh không lây truyền có tốc độ phát triển nhanh nhất: ung thư, tim mạch, đái tháo đường [1], [26] Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): năm 1985 có 30 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, năm 1997
có 124 triệu người, năm 2000 là 200 triệu người, năm 2010 có 246 triệu người Theo dự đoán con số này sẽ tăng lên 380 triệu người vào năm 2025 Bệnh ĐTĐ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm: bao gồm các biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính Biến chứng mạn tính thường gặp là các bệnh về tim mạch, bệnh
về mắt, bệnh thận và các bệnh về thần kinh…[5]
Tổ chức y tế thế giới ( WHO) dự đoán bệnh đái tháo đường sẽ là một trong những vấn đề sức khỏe chính trong thế kỷ 21 và ước tính 80% các ca bệnh mới sẽ
là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [3], [2] Bộ y tế đã ban hành Quyết định hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh đái tháo đường nhằm chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường type 2 cho đối tượng từ 45 tuổi trở lên và các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp, có nhười cùng huyết thống mắc bệnh đái tháo đường, tiền sử được chẩn đoán tiền đái tháo đường, phụ nữ có tiền sử sinh con nặng cân, người rối loạn mỡ máu [10]
Việt Nam là một nước đang phát triển Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ
lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 -2008 cho
Trang 5thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001)lên 5%
(năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh[23].
Đái tháo đường còn là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội vì sự phát hiện và điều trị bệnh muộn sẽ để lại hậu quả nặng nề trên bệnh nhân Theo Hiệp hội bệnh đái tháo đường quốc tế, bệnh đái tháo đường týp 2 ngày càng có xu hướng xuất hiện ở những người trong độ tuổi lao động và ở lứa tuổi trẻ hơn; chi phí khổng lồ cho việc chăm sóc đái tháo đường sẽ là gánh nặng cho nhiều nước đang phát triển trong tương lai tới Việc phát hiện sớm và quản lý bệnh đái tháo đường trong cộng đồng là vô cùng cần thiết Nhiều y văn đã chứng minh rằng bệnh đái tháo đường hoàn toàn có thể phòng và quản lý được, những người mắc bệnh đái tháo đường nếu được quản lý, tư vấn truyền thông và điều trị kịp thời bằng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập hợp lý sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng do bệnh gây nên [13]
Tại Thái Nguyên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện thì tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tại các cơ sở khám chữa bệnh đang ngày một gia tăng Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh, chi phí cho chữa bệnh ít tốn kém nhất là phải phát hiện sớm và điều trị người bệnh kịp thời Tuy nhiên, công tác phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị bệnh đái tháo đường tại Thái Nguyên còn gặp rất nhiều khó khăn
Vì vậy,tối tiến hành chuyên đề “thực trạng bệnh đái tháo đường trên người 45-67 tuổi ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng chống 2020” với mục tiêu:
- mô tả được thực trạng của bệnh đái tháo đường trên người 45- 67 tuổi ở tỉnh Thái Nguyên và các biện pháp phòng chống
Trang 6TỔNG QUAN
1 Tổng quan về bệnh đái tháo đường.
1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường.
Theo WHO: “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu do hiệu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do
có liên quan tới sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin” [34]
1.2 Phân loại bệnh đái tháo đường.
Có nhiều cách phân loại nhưng phân loại mới của WHO dựa theo týp bệnh căn hiện đang được sử dụng rộng rãi [5]
- ĐTĐ týp 1: Là hậu quả của quá trình hủy hoại các tế bào beta và đảo tụy Hậu quả là cần phải sử dụng insulin ngoại lai để duy trì chuyển hóa, ngăn ngừa tình trạng nhiễm toan ceton có thể gây hôn mê và tử vong Đái tháo đường týp 1
là một bệnh tự miễn Hệ thống miễn dịch của cơ thể đã sinh ra các kháng thể chống lại và phá hủy tế bào bêta của tuyến tụy sản xuất ra insulin Sự thiếu hụt insulin dẫn đến tăng glucose máu và thường dẫn đến những biến chứng lâu dài ĐTĐ týp 1 thường gặp ở Châu Phi và Châu Á Tỷ lệ ĐTĐ týp 1 khoảng 5-10%, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi ( < 35 tuổi) Những triệu chứng điển hình thường gặp của ĐTĐ type 1 là: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều( 4 nhiều), mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng Đái tháo đường týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân đái tháo đường thế giới Nguyên nhân do tế bào bê-ta bị phá hủy, gây nên
sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn) Các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của đái tháo đường týp 1
Đái tháo đường týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh Đa số các trường hợp được chẩn đoán bệnh đái tháo đường týp 1 thường là người có thể trạng gầy, tuy nhiên người béo cũng không loại trừ Người bệnh đái tháo đường týp 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn
Trang 7- ĐTĐ týp 2: có thể do nhiều nguyên nhân gây lên Tình trạng kháng
insulin có thể được thấy ở hầu hết các đối tượng bị ĐTĐ týp 2, tăng đường máu xảy ra khi khả năng bài xuất insulin của các tế bào bêta của tụy không đáp ứng nhu cầu chuyển hóa Béo phì, thừa cân, tuổi cao và chế độ ít vận động tham gia một cách có ý nghĩa vào tình trạng kháng insulin Sự thiếu hụt insulin điển hình
sẽ xảy ra sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm để bù trừ cho tình trạng kháng insulin Ngoài ra, yếu tố di truyền có vai trò đóng góp gây tình trạng kháng insulin Bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng 90-95% tổng số bệnh nhân mắc
bệnh ĐTĐ [23], thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày
càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên Bệnh nhân thường có ít triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi
mổ Một số thử nghiệm cho thấy bệnh ĐTĐ týp 2 có thể được ngăn ngừa bằng chế độ ăn kiêng và hoạt động thể chất, trong khi những người có nguy cơ cao (có khả năng chịu đựng nồng độ đường máu) có thể điều trị bằng thuốc [29], [30], [28], [32], [35]
Đái tháo đường týp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% bệnh đái tháo đường trên thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi[8] Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, thói quen ăn uống mà bệnh đái tháo đường týp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh Đặc trưng của đái tháo đường týp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối Đái tháo đường týp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hóa lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận, Nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường týp 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh Người mắc bệnh đái tháo đường týp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu[13], tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin
- Đái tháo đường thai nghén
Trang 8Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng, gặp khi có thai lần đầu Sự tiến triển của đái tháo đường thai nghén sau đẻ theo
3 khả năng: Bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình thường
- Các thể đái tháo đường khác
+ Khiếm khuyết chức năng tế bào bê-ta
+ Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin
+ Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinom tụy,
+ Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp, -
Thuốc hoặc hóa chất
+ Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa đái tháo đường týp 1 và týp 2
Đặc điểm Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 2
chứng
Chậm, thường không rõ triệu chứng
Biểu hiện lâm sàng - Sút cân nhanh chóng -
Ăn nhiều - Uống nhiều - Đái nhiều
- Thể trạng béo - Tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 - Đặc tính dân tộc, có tỷ lệ mắc bệnh cao
Kháng thể - ICA dương tính -
Anti-GAD dương tính
ICA âm tính - Anti-GAD
âm tính Điều trị Bắt buộc dùng insulin Thay đổi lối sống, dùng
các thuốc hạ đường máu bằng đường uống hoặc insulin
1.3 Các biến chứng của bệnh đái tháo đường.
Biến chứng của bệnh ĐTĐ thường được chia ra theo thời gian xuất hiện và mức độ của các biến chứng [13]
Trang 91.3.1 Biến chứng cấp tính
Bao gồm các biến chứng nhiễm toan/hôn mê ceton, hạ đường máu, tăng
áp lực thẩm thấu không nhiễm toan ceton, nhiễm khuẩn cấp (viêm phổi, lao kê…)
1.3.2 Biến chứng mạn tính
- Biến chứng mạch máu lớn:
+ Bệnh động mạch vành: Dựa vào đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng để chẩn đoán xác định như tính chất cơn đau thắt ngực, điện tâm đồ hay chụp mạch vành Để phòng bệnh, hàng năm đánh giá các yếu tố nguy cơ về tim mạch, điện tâm đồ nên được kiểm tra định kỳ
+ Tai biến mạch máu não: ĐTĐ làm gia tăng tỷ lệ mắc, tử vong, thường để lại di chứng nặng nề đối với các trường hợp bị tai biến mạch máu não Nhồi máu não thường gặp hơn so với xuất huyết não
- Biến chứng mạch máu nhỏ:
+ Biến chứng mắt thường gặp là bệnh VMĐTĐ, đục thể thủy tinh và glôcôm Để điều trị bệnh VMĐTĐ có hiệu quả phải có kế hoạch quản lý và giám sát tốt bệnh ĐTĐ cũng như bệnh VMĐTĐ Đây cũng là mục tiêu dự phòng và hạn chế sự tiến triển xấu của bệnh ĐTĐ nói chung và bệnh VMĐTĐ nói riêng
+ Biến chứng thận do đái tháo đường: Bệnh thận do ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận giai đoạn cuối Để làm giảm bệnh lý thận do ĐTĐ yếu tố quan trọng có tính quyết định là quản lý tốt nồng độ glucose máu và duy trì tốt số đo huyết áp ở người bệnh Biến chứng thần kinh: Có biến chứng thần kinh tự động, bệnh thần kinh vận mạch và biến chứng thần kinh ngoại vi
1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường
1.4.1 Chẩn đoán đái tháo đường
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường theo kiến nghị của ADA (Hiệp hội đái tháo đường Mỹ) năm 1997 và được WHO công nhận năm 1998, tuyên
bố áp dụng vào năm 1999, được Bộ Y tế ra Quyết định áp dụng tại Việt Nam
Trang 10năm 2011 Bệnh đái tháo đường được chẩn đoán xác định khi có bất kỳ một trong ba tiêu chí sau[2], [8]:
Tiêu chí 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl), kèm theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân
Tiêu chí 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126mg/dl), xét nghiệm lúc bệnh nhân đã nhịn đói ít nhất 6-8 giờ không ăn
Tiêu chí 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)
1.4.2 Chẩn đoán tiền đái tháo đường.
Trước đây, người ta hay dùng các thuật ngữ như “Đái tháo đường tiềm tàng”, "Đái tháo đường sinh hóa”, “Đái tháo đường tiền lâm sàng”, để chỉ các trường hợp có rối loạn dung nạp glucose mà chưa có biểu hiện lâm sàng Những trường hợp này chỉ được phát hiện khi tiến hành nghiệm pháp tăng gánh
glucose bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch Nhiều khi để tăng độ nhạy của phương pháp người ta còn có thể sử dụng cả corticoid
Ngày nay, người ta đưa ra hai khái niệm để chỉ các hình thái rối loạn này của chuyển hóa carbohydrate trong cơ thể
- Rối loạn dung nạp glucose:Nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống từ 7,8mmol/l
(140mg/dl) đến 11,1 mmol/l (126mg/dl)
- Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói:Nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống dưới 7,8mmol/l (140mg/dl) [2],[8]
1.5 Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường có liên quan chặt chẽ với với các yếu tố như: Di truyền, tuổi tác, thời kỳ mang thai, tăng huyết áp, béo phì, thuốc, độc chất, Stress, lối sống, đặc biệt là chế độ ăn uống, vận động[2] Tuổi càng cao tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường càng lớn, đặc biệt là độ tuổi 50 trở lên, khi ở lứa tuổi
Trang 11trên 70 thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tăng gấp 3-4 lần so với tỷ lệ chung của người lớn; Đối với những người có bố, mẹ, anh, chị em ruột mắc bệnh đái tháo đường thì khả năng mắc bệnh của người đó cao gấp 4-6 lần so với người trong dòng họ không mắc bệnh đái tháo đường, nếu một dòng họ mà cả 2 bên nội, ngoại, bố, mẹ, con cái đều có người mắc bệnh đái tháo đường thì khả năng mắc bệnh đái tháo đường của những người trong gia đình này là 40% Những nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở thành thị cao hơn ở nông thôn là 1,68 lần [4], nguyên nhân là do ăn uống không hợp lý, số năng lượng ăn vào nhiều hơn so với số năng lượng cần thiết của cơ thể dẫn đến
dư thừa năng lượng, kết hợp với lối sống tĩnh tại ít hoạt động nên thúc đẩy nhanh quá trình tiến triển dẫn đến béo phì, điều đó sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường Trong thời kỳ mang thai một số nội tiết tố tăng bài tiết, các chất này có tác dụng đề kháng với insulin nên dễ gây tăng đường huyết Nhiều nghiên cứu cho thấy người mẹ có tiền sử sinh con nặng trên 4kg là yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cho cả mẹ và con Những trẻ cân nặng lúc sinh trên 4kg thường mắc bệnh béo phì lúc nhỏ, giảm dung nạp glucose và đái tháo đường khi trưởng thành Đối với những người đã có tiền sử rối loạn
glucose lúc đói hoặc giảm dung nạp glucose thì có khả năng tiến triển thành bệnh đái tháo đường rất cao, những người này cần được phát hiện sớm và phải được can thiệp sớm bằng chế độ dinh dưỡng và luyện tập để phòng nguy cơ tiến triển của bệnh[6],[4],[10]
2 Đặc điểm dịch tễ học
2.1 Trên thế giới.
Nhiều điều tra của các tổ chức Y tế trên thế giới cho thấy tốc độ phát triển của bệnh đái tháo đường rất nhanh, năm 1985 có 30 triệu người mắc bệnh, năm
1995 số người mắc bệnh là 135 triệu, đến nay đã khoảng 180 triệu người và dự kiến đến năm 2025 là 300 triệu người [2], [4] Ngoài các yếu tố khách quan như
di truyền, sắc tộc, môi trường địa lý, thì lối sống thiếu lành mạnh, ăn uống không điều độ, sử dụng thực phẩm ăn nhanh, áp lực công việc gây tình trạng căng thẳng (stress) kéo dài đều là những yếu tố nguy cơ mắc bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường khác nhau ở các châu lục và các vùng lãnh thổ Tại Pháp, 1,4% dân số mắc đái tháo đường; ở Mỹ, tỷ lệ đái tháo đường 6,6%; Singapor là 8,6%; Thái Lan có tỷ lệ đái tháo đường là 3,5%; tại Malaixia,