Liên hệ thực tế thực trạng phối hợp cơ chế hai bên và ba bên tại Việt Nam. A Lý thuyết 1, Cơ chế hai bên a, Khái niệm Cơ chế hai bên là bất kỳ quá trình nào mà bằng cách đó những sự dàn xếp hợp tác trực tiếp giữa người sử dụng lao động (tổ chức đại diện của người sử dụng lao động) được thành lập, được khuyến khích và được tán thánh – Quá trình nghĩa là phái có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn phải có những cách thức thực hiện khác nhau, chủ thể khác nhau, đối tượng khác nhau, mục đích khác nhau. Các quá trình này được thành lập, trước hết phải được sự nhất trí của hai bên và sau đó là sự tán thành, khuyến khích của Chính phủ thể hiện trong khuôn khổ luật pháp và các chính sách của Nhà nước. – Dàn xếp hợp tác các bên cần phải có thái độ tích cực, đấu tranh và nhượng bộ để đảm bảo sự hài hòa về lợi ích. Mỗi bên không quá thiên về lợi ích của mình mà quên đi được lợi ích bên kia cũng như lợi ích chung của xã hội. – Giới từ “trực tiếp” ám chỉ sự tương tác giữa hai bên không thực hiện thông qua Chính phủ. Trong bối cảnh nhất định, một tổ chức trung gian độc lập có thể giúp cho mối quan hệ hai bên trở nên tốt đẹp hơn. b, Đặc điểm – Chỉ có hai bên tham gia là người lao động (tổ chức đại diện cho người lao động) và người sử dụng lao động (tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động) và sự tương tác giữa hai bên là sự tương tác trực tiếp. Do vậy kết quả tương tác giữa hai bên sẽ ảnh hưởng trực tiếp, nhanh chóng đến quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên thông qua các chính sách của nghành, địa phương, doanh nghiệp và cam kết, thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên. – Cơ chế hai bên không hoạt động độc lập, tách rời hoàn toàn khỏi vai trò của chính phủ. Trái lại, nó luôn vận hành trong khuôn khổ luật pháp và những chính sách, quy định do chính phủ ban hành. – Cơ chế hai bên thường giải quyết các vấn đề mang tính đặc thù của ngành, địa phương, các vấn đề cụ thể tại nơi làm việc, nên hoạt động tương đối thường xuyên, rất dễ dẫn tới nguy cơ xung đột. – Các bên đối tác tương đối bình đẳng, vì vậy cơ chế tương tác chủ yếu là hai bên cùng quyết định. c, Phương thức vận hành – Sự tương tác diễn ra chủ yếu dưới hình thức thương lượng tập thể, thực hiện thỏa ước lao động tập thể, giải quyết xung đột về lương, thời gian làm việc, kỷ luật, sa thải. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể thường gồm các vấn đề quan trọng như tiền lương, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, việc làm, bảo hiểm, an toàn vệ sinh lao động… d, Điều kiện vận hành – Có khuôn khổ luật pháp rõ rang, ổn định và có hiệu lực cao. Đặc biệt là hệ thống các luật lệ hay quy định lien quan đến quan hệ lao động. – Phải có thị trường lao động nơi những người lao động và sử dụng lao động rang buộc với nhau bởi quan hệ làm thuê. Thị trường lao động là cơ sở phát sinh sự tương tác về các vấn đề tiền lương, điều kiện lao động đòi hỏi các bên phải dàn xếp. – Các đại diện, tổ chức đại diện của các bên phải thực sự đại diện và hoạt động tích cực để bảo vệ lợi ích cho bên mình, hoạt động của tổ chức này phải tương đối độc lập trong khuôn khổ pháp luật quốc gia. – Sự tồn tại của các tổ chức trung gian, hòa giải, tòa án lao động đẩm bảo giải quyết các xung đột trong trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận chung. 2, Cơ chế ba bên a, Khái niệm – Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Cơ chế ba bên có nghĩa là bất cứ một hệ thống các mối quan hệ nào trong đó Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động là các nhóm độc lập, mỗi nhóm thực hiện những chức năng riêng. Điều đó đơn thuần chỉ là sự chuyển đổi thành các mối quan hệ xã hội của các nguyên tắc dân chủ, chính trị tự do, đa số sự tham gia của mỗi cá nhân vào những quyết định có liên quan đến họ... Nguyên tắc là những vấn đề chung không có một đối tác đơn lẻ, một hệ thống quan hệ lao động dựa trên sự kết hợp điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội, văn hoá và mỗi hệ thống phát triển theo nguyên tắc của cuộc chơi dưới ánh sáng của nhiều thông số đó” b, Đặc điểm của cơ chế 3 bên – Cơ chế 3 bên chủ yếu tồn tại và vận hành ở cấp quốc gia ít vận hành ở cấp ngành và địa phương. Không tồn tại ở cấp doanh nghiệp – Vấn đề các bên quan tâm và giải quyết trong cơ chế ba bên là các định hướng chính sách – Cơ chế ba bên có tính đặc thù về chủ thể. Các bên tham gia nhất thiết phải qua các tổ chức đại diện – Các bên trong cơ chế ba bên không hoàn toàn bình đẳng. Chỉ có sự bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động. Những quyết định cuối cùng luôn là của chính phủ c, Điều kiện hoạt động – Hợp tác ba bên đòi hỏi phải có sự điều hoà nhất định về lợi ích, trong đó Chính phủ, người sử dụng lao động, người lao động tìm ra được tiếng nói chung để đạt được những lợi ích cho chính họ và cho toàn xã hội. Hình thức hoạt động của cơ chế ba bên thể hiện mức độ tham gia trong việc chia sẻ những lợi ích, cũng như khó khăn mà các bên thường gặp phải. d, Phương thức hoạt động Cơ chế ba bên có nhiều hình thức: – Hình thức cao nhất mang tính chất lý tưởng là có việc chia sẻ trách nhiệm, trong đó Chính phủ và các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử
Trang 1Table of Contents
A- Lý thuyết 2
1, Cơ chế hai bên 2
a, Khái niệm 2
b, Đặc điểm 2
c, Phương thức vận hành 2
d, Điều kiện vận hành 2
2, Cơ chế ba bên 3
a, Khái niệm 3
b, Đặc điểm của cơ chế 3 bên 3
c, Điều kiện hoạt động 3
d, Phương thức hoạt động 3
3, Sự phối hợp giữa cơ chế hai bên và cơ chế ba bên 4
a, Nguyên nhân 4
b, Biểu hiện 5
B- Liên hệ thực tế thực trạng phối hợp cơ chế hai bên và ba bên tại Việt Nam 6
1, Thực trạng 6
1.1, Thực trạng việc thực hiện cơ chế hai bên 6
1.2, Thực trạng việc thực hiên cơ chế ba bên 8
1.3, Thực trạng phối hợp 2 cơ chế tại Việt Nam 10
2, Nguyên nhân việc xảy ra hạn chế 11
2.1, Nguyên nhân từ phía người lao động 11
2.2, Nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động 12
2.3, Nguyên nhân từ phía Nhà nước 12
3, Giải pháp 13
Trang 2A-Lý thuyết
1, Cơ chế hai bên
a, Khái niệm
Cơ chế hai bên là bất kỳ quá trình nào mà bằng cách đó những sự dàn xếp hợp tác trực tiếp giữa người sử dụng lao động (tổ chức đại diện của người sử dụng lao động) được thành lập, được khuyến khích và được tán thánh
– Quá trình nghĩa là phái có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn phải có những cách thức thực hiện khác nhau, chủ thể khác nhau, đối tượng khác nhau, mục đích khác nhau Các quá trình này được thành lập, trước hết phải được sự nhất trí của hai bên và sau
đó là sự tán thành, khuyến khích của Chính phủ thể hiện trong khuôn khổ luật pháp
và các chính sách của Nhà nước
– Dàn xếp hợp tác các bên cần phải có thái độ tích cực, đấu tranh và nhượng bộ để đảm bảo sự hài hòa về lợi ích Mỗi bên không quá thiên về lợi ích của mình mà quên
đi được lợi ích bên kia cũng như lợi ích chung của xã hội
– Giới từ “trực tiếp” ám chỉ sự tương tác giữa hai bên không thực hiện thông qua Chính phủ Trong bối cảnh nhất định, một tổ chức trung gian độc lập có thể giúp cho mối quan hệ hai bên trở nên tốt đẹp hơn
b, Đặc điểm
– Chỉ có hai bên tham gia là người lao động (tổ chức đại diện cho người lao động) và người sử dụng lao động (tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động) và sự tương tác giữa hai bên là sự tương tác trực tiếp Do vậy kết quả tương tác giữa hai bên sẽ ảnh hưởng trực tiếp, nhanh chóng đến quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên thông qua các chính sách của nghành, địa phương, doanh nghiệp và cam kết, thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên
– Cơ chế hai bên không hoạt động độc lập, tách rời hoàn toàn khỏi vai trò của chính phủ Trái lại, nó luôn vận hành trong khuôn khổ luật pháp và những chính sách, quy định do chính phủ ban hành
– Cơ chế hai bên thường giải quyết các vấn đề mang tính đặc thù của ngành, địa phương, các vấn đề cụ thể tại nơi làm việc, nên hoạt động tương đối thường xuyên, rất dễ dẫn tới nguy cơ xung đột
– Các bên đối tác tương đối bình đẳng, vì vậy cơ chế tương tác chủ yếu là hai bên cùng quyết định
c, Phương thức vận hành
– Sự tương tác diễn ra chủ yếu dưới hình thức thương lượng tập thể, thực hiện thỏa ước lao động tập thể, giải quyết xung đột về lương, thời gian làm việc, kỷ luật, sa thải Nội dung của thỏa ước lao động tập thể thường gồm các vấn đề quan trọng như tiền lương, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, việc làm, bảo hiểm, an toàn
vệ sinh lao động…
Trang 3d, Điều kiện vận hành
– Có khuôn khổ luật pháp rõ rang, ổn định và có hiệu lực cao Đặc biệt là hệ thống các luật lệ hay quy định lien quan đến quan hệ lao động
– Phải có thị trường lao động nơi những người lao động và sử dụng lao động rang buộc với nhau bởi quan hệ làm thuê Thị trường lao động là cơ sở phát sinh sự tương tác về các vấn đề tiền lương, điều kiện lao động đòi hỏi các bên phải dàn xếp – Các đại diện, tổ chức đại diện của các bên phải thực sự đại diện và hoạt động tích cực để bảo vệ lợi ích cho bên mình, hoạt động của tổ chức này phải tương đối độc lập trong khuôn khổ pháp luật quốc gia
– Sự tồn tại của các tổ chức trung gian, hòa giải, tòa án lao động đẩm bảo giải quyết các xung đột trong trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận chung
2, Cơ chế ba bên
a, Khái niệm
– Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Cơ chế ba bên có nghĩa là bất
cứ một hệ thống các mối quan hệ nào trong đó Nhà nước, người sử dụng lao động
và người lao động là các nhóm độc lập, mỗi nhóm thực hiện những chức năng riêng Điều đó đơn thuần chỉ là sự chuyển đổi thành các mối quan hệ xã hội của các nguyên tắc dân chủ, chính trị tự do, đa số sự tham gia của mỗi cá nhân vào những quyết định có liên quan đến họ Nguyên tắc là những vấn đề chung không có một đối tác đơn lẻ, một hệ thống quan hệ lao động dựa trên sự kết hợp điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội, văn hoá và mỗi hệ thống phát triển theo nguyên tắc của cuộc chơi dưới ánh sáng của nhiều thông số đó”
b, Đặc điểm của cơ chế 3 bên
– Cơ chế 3 bên chủ yếu tồn tại và vận hành ở cấp quốc gia ít vận hành ở cấp ngành và địa phương Không tồn tại ở cấp doanh nghiệp
– Vấn đề các bên quan tâm và giải quyết trong cơ chế ba bên là các định hướng chính sách
– Cơ chế ba bên có tính đặc thù về chủ thể Các bên tham gia nhất thiết phải qua các
tổ chức đại diện
– Các bên trong cơ chế ba bên không hoàn toàn bình đẳng Chỉ có sự bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động Những quyết định cuối cùng luôn là của chính phủ
c, Điều kiện hoạt động
– Hợp tác ba bên đòi hỏi phải có sự điều hoà nhất định về lợi ích, trong đó Chính phủ, người sử dụng lao động, người lao động tìm ra được tiếng nói chung để đạt được những lợi ích cho chính họ và cho toàn xã hội Hình thức hoạt động của cơ chế ba bên thể hiện mức độ tham gia trong việc chia sẻ những lợi ích, cũng như khó khăn
mà các bên thường gặp phải
Trang 4d, Phương thức hoạt động
Cơ chế ba bên có nhiều hình thức:
– Hình thức cao nhất mang tính chất lý tưởng là có việc chia sẻ trách nhiệm, trong đó Chính phủ và các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động cùng bàn bạc, quyết định những vấn đề có liên quan trong phạm vi thẩm quyền của mình, với tư cách là những đối tác độc lập và bình đẳng thông qua một cơ quan hoặc
tổ chức ba bên Tuy nhiên, xét cho cùng, mọi hoạt động của cơ chế ba bên đều phải tuân theo những quy định của pháp luật nên sự bình đẳng này cũng chỉ mang tính chất tương đối Vì là lý tưởng, nên hình thức này của cơ chế ba bên hầu như khó áp dụng
– Hình thức thấp hơn, cơ chế ba bên hoạt động dưới hình thức trao đổi ý kiến Hình thức này cao hơn mức đối thoại nhưng chưa đến mức có thể cùng quyết định Trong hình thức này, Chính phủ tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện cho người lao động
và người sử dụng lao động về vấn đề đang được đưa ra và các vấn đề có liên quan trong phạm vi quyền hạn của mình, để các bên tham gia vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách quốc gia, có thể phủ nhận hoặc chấp nhận các ý kiến đó Chính phủ là người quyết định cuối cùng sau khi xem xét ý kiến các bên Ở hình thức này, hai đối tác xã hội không được công nhận là bình đẳng với Chính phủ
– Hình thức thấp nhất của cơ chế ba bên là hoạt động dưới dạng các cuộc đối thoại xã hội Thông qua diễn đàn có tính chất trao đổi thông tin công khai, Chính phủ có thể tham khảo ý kiến các bên trước khi đi đến những quyết định cần thiết Đương nhiên, kết quả các cuộc đối thoại ảnh hưởng rất ít tới các quyết định của Chính phủ trong việc xây dựng chính sách, pháp luật và giải quyết các vấn đề xã hội Ý kiến của các đại diện trong các cuộc đối thoại cũng không mang màu sắc của một quan điểm chính thống trong tổ chức nên cũng ít có tính hướng dẫn đối với các bên tham gia quan hệ lao động cũng như để giải quyết các tranh chấp phát sinh Do vậy, hiệu quả của hình thức này thấp hơn hai hình thức trên
Các hoạt động của cơ chế ba bên cũng phụ thuộc vào từng cấp độ hình thành Ở cấp cơ sở (cấp doanh nghiệp) chủ yếu chỉ có hai đối tác xã hội tham gia dưới hình thức cùng nhau bàn bạc, thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến việc áp dụng pháp luật lao động, chẳng hạn việc cụ thể hoá các quy phạm pháp luật lao động để thực hiện trong thoả ước lao động tập thể, giải quyết các tranh chấp lao động phát sinh Ở cấp quốc gia, cơ chế ba bên được hình thành chủ yếu dưới hình thức tư vấn, tham khảo ý kiến các đối tác xã hội trong việc hình thành các chính sách quốc gia về lao động và về các phương tiện để đạt được các mục tiêu chính sách xã hội có liên quan đến lao động, chẳng hạn việc xác định tiền lương tối thiểu hay danh mục bệnh nghề nghiệp
Sự vận hành của cơ chế ba bên có những biểu hiện khác nhau, tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ đã được xác định Song, dù có khác nhau thế nào, thì cơ chế ba bên đều vận hành trên cơ sở các quy định thống nhất Với ý nghĩa là công cụ để giải quyết các vấn đề chung
Trang 5của cả ba bên thông qua hàng loạt các mối tương tác lẫn nhau mà phương pháp thông dụng nhất được sử dụng trong cơ chế ba bên là phương pháp đối thoại xã hội Phương pháp này bao gồm các biểu hiện như: chia sẻ thông tin; thảo luận ba bên; đàm phán ba bên; ra quyết định chung
3, Sự phối hợp giữa cơ chế hai bên và cơ chế ba bên
a, Nguyên nhân
– Quan hệ lao động rất phức tạp cả về nội dung lẫn phạm vi ảnh hưởng Do vậy, bên cạnh những vấn đề chung (có ảnh hưởng lớn, rộng rãi và lâu dài) phải giải quyết bằng cơ chế 3 bên, cũng có những vấn đề cụ thể hơn không cần sự tham gia trực tiếp của Chính phủ
– Các quy luật kinh tế khách quan đòi hỏi sự vận động tương đối độc lập của hai lực lượng cơ bản trên thị trường lao động (là cung, là cầu về lao động) Để thị trường lao động vận hành linh hoạt, khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước, Chính phủ cần tạo ra các điều kiện rộng rãi để cung và cầu lao động trực tiếp tương tác với nhau để xác định giá cả (tiền lương), chất lượng hàng hóa sức lao động và điều kiện lao động
– Trong bối cảnh toàn cầu hóa, môi trường kinh tế xã hội của mỗi quốc gia ngày càng
có nhiều biến động khó lường Điều này làm nảy sinh các vấn đề mới ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đòi hỏi có nhiều cơ chế sử lý khác nhau
– Những xu hướng thay đổi vai trò của Chính phủ trong phát triển kinh tế xã hội Trong
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ can thiệp trực tiếp, triệt để vào các vấn đề của quan hệ lao động Những nước trước kia áp dụng mô hình này có xu hướng giảm bớt sự can thiệp hành chính của Chính phủ nhường chỗ cho sự tương tác tay đôi giữa người lao động và ngưới sử dụng lao động Trong khi ở nhiều nước có nền kinh
tế thị trường phát triển đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” trong thị trường lao động ngày nay lại có xu hướng tăng cường vai trò của Chính phủ trong việc kế hoạch hóa thị trường lao động Do vậy, sự tham gia của Chính phủ vào quan hệ lao dộngđang ngày càng tăng làm cho cơ chế ba bên phát huy tác dụng
Như vậy, cần có sự phối cơ chế 2 và 3 bên để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động,
để giải quyết các vấn đề trong quan hệ lao động
b, Biểu hiện
– Thống nhất
+ Cơ chế ba bên và cơ chế hai bên không xung khắc mà thống nhất với nhau + Cấp độ cơ chế: Cơ chế ba bên hoạt động chủ yếu ở cấp Chính phủ và địa phương
+ Trong khi cơ chế hai bên chủ yếu hoạt động ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành
Trang 6+ Vấn đề quan tâm: Cơ chế ba bên giải quyết các vấn đề về định hướng chính sách liên quan đến lao động trong khi cơ chế hai bên giải quyết cụ thể của doanh nghiệp, của ngành
+ Kết quả đạt được: Kết quả của cơ chế ba bên là hành lang pháp lý, là khuôn khổ cho sự tương tác cơ chế hai bên Trong khi sự tương tác tay đôi ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành là cơ sở nảy sinh các vấn đề mà cơ chế ba bên phải giải quyết Một cơ chế hai bên lành mạnh cũng góp phần vào thành công của cơ chế ba bên
+ Một cơ chế ba bên tốt, không thể thay cơ chế hai bên mà là điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành của cơ chế hai bên Cơ chế ba bên hoạt động càng hiệu quả, các cuộc thương lượng ở cấp ngành, cấp doanh nghiệp càng dễ dàng đạt được sự thống nhất Ngược lại, cơ chế hai bên tốt sẽ nâng cao hiệu quả cơ chế ba bên
+ Theo Tiến sĩ Phạm Công Trứ, bằng việc kí kết các hợp đồng lao động cá nhân giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) hình thành nên quan hệ lao động cá nhân - hạt nhân của cơ chế hai bên truyền thống + Sau đó bằng việc thực hiện quyền tự do liên kết các tổ chức của cả phía NLĐ
và NSDLĐ được hình thành ở tầm quốc gia, đại diện của tổ chức này cùng với đại diện của Chính phủ có mối quan hệ với nhau để cùng bàn bạc và giải quyết những vấn đề có liên quan trong lĩnh vực lao động và xã hội Trên cơ sở
và khuôn khổ của mối quan hệ này hình thành một cơ chế mang tính pháp lí quốc tế, đó là cơ chế ba bên
– Mâu thuẫn: Những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai cơ chế:
+ Quan hệ lao động rất phức tạp cả về nội dung lẫn phạm vi ảnh hưởng Do vậy, bên cạnh những vấn đề chung phải giải quyết bằng cơ chế ba bên, cũng có những vấn đề cụ thể hơn không cần sự tham gia trực tiếp của chính phủ + Sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vào các vấn đề vốn thuộc phạm vi giải quyết của cơ chế hai bên Điều này gây trở ngại thêm cho doanh nghiệp khi giải quyết các vấn đề
+ Trong một số trường hợp thì sự phối hợp giữa hai cơ chế lại gây ra trở ngại cho doanh nghiệp như ở những phạm vi khác nhau, từng trường hợp mà không có sự kết hợp giữa 2 cơ chế vẫn đề sẽ được giải quyết tốt nhất
– Sự phối hợp
+ Cơ chế hai bên là sự tham gia thương lượng, thỏa ước trực tiếp của hai bên tham gia là người lao động và người sủ dụng lao động Chính phủ không tham gia trực tiếp vào hoạt động này nhưng hoạt động của cơ chế hai bên lại không tách biệt khỏi chính phủ hoạt động dựa trên khuôn khổ luật pháp và những chính sách, quy định do chính phủ đề ra
+ Cơ chế ba bên là sự tương tác tích cực của Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động (qua các đại diện của họ)
Trang 7+ Cả hai cơ chế đều vận hành trong vòng tròn pháp luật, có sự phối hợp chặt chẽ với nhau
+ Luật pháp tương tác trực tiếp là hành lang pháp lý của cả hai cơ chế Cơ chế hai bên vận hành ở cấp ngành, địa phương dựa trên khuôn khổ luật pháp Nhưng khi có sự tham gia trực tiếp của chính phủ thì trở thành cơ chế ba bên vận hành ở cấp quốc gia và cũng hoạt động dựa trên khuôn khổ pháp luật
B- Liên hệ thực tế thực trạng phối hợp cơ chế hai bên và ba bên tại Việt Nam
1, Thực trạng
1.1, Thực trạng việc thực hiện cơ chế hai bên
a, Quá trình phát triển cơ chế hai bên ở Việt Nam
– Giai đoạn trước năm 1945: Trong bối cảnh sự xuất hiện của nền kinh tế thuộc địa Pháp kéo theo sự ra đời của quan hệ làm công giữa người làm thuê và ông chủ tư bản ở nước ta Quan hệ lao động ở nước ta lúc đó chưa phát triển do sự chi phối của tư bản Pháp trong mọi hoạt động tuyển mộ và phát luật lao động lúc đó chưa ra đời Cơ chế hai bên ở nước ta chưa xuất hiện
– Giai đoạn 1945-1954: Đây là giai đoạn mà nền kinh tế nước ta chỉ có hai loại doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp quốc doanh do vậy quan
hệ lao động chủ yếu là quan hệ lao động sử dụng lao động trong hai loại doanh nghiệp đó Cơ chế hai bên lúc này mới chỉ có dấu hiệu xuất hiện nhưng chưa thật sự đúng nghĩa
– Giai đoạn 1954-1975: Đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau nên quan hệ lao động thời kỳ này tồn tại sự khác biệt giữa hai miền Nam và miền Bắc Ở miền Bắc, nền kinh tế mang tính kế hoạch dần được thiết lập với sự tồn tại duy nhất của hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Quan hệ lao động tồn tại ở đây thuần túy là quan hệ lao động giữa nhà nước và công nhân viên chức Ở miền Nam, thời ký này là nền kinh tế hàng hóa, quản lý theo
cơ chế thị trường; quan hệ lao động là quan hệ làm công dưới sự điêu chỉnh của văn bản Như vậy, có thể thấy, trong thời kỳ này cơ chế hai bên đã xuất hiện rõ nét và đúng nghĩa ở miền Nam nước ta trong khi đó miền Bắc vẫn giống với thời kỳ trước – Giai đoạn 1975-1986: Sau khi thống nhất đất nước, cả nước ta tập trung phát triển nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp Quan hệ lao động mang nặng tính bao cấp toàn bộ và sức lao động không được xem là hàng hòa mà chỉ mang tính ‘của chung’ Lúc này, cơ chế hai bên tồn tại ở nước ta dưới hình thức: Nhà nước giải quyết việc làm với tư cách nhà tuyển dụng lao động, còn người lao động là người thực hiện bổn phận phục vụ Nhà nước
– Giai đoạn 1986 đến nay: Bước vào thời kỳ hội nhập, đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Lúc này đây, quan hệ lao động đã được phát
Trang 8triển, mở rộng, đa dạng và phong phú hơn với sự thừa nhận của các thành phần kinh tế khác đã đánh dấu cho sự tồn tại và phát triển của cơ chế hai bên ở Việt Nam theo đúng nghĩa thực chất của nó
b, Thực trạng việc thực hiện cơ chế hai bên
Biểu hiện:
– Trong cơ chế hai bên ở Việt Nam, thành phần của cơ chế hai bên bao gồm: người lao động hay tổ chức đại diện cho người lao động (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) và người sử dụng lao động hay tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động (Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam) – Cơ chế hai bên ở Việt Nam được vận hành thông các hình thức như: thương lượng tập thể, các thỏa ước lao động tập thể hay giải quyết xung đột giữa hai chủ thể ở cấp doanh nghiệp, ngành và địa phương trong khuôn khổ luật pháp và các chính sách của Nhà nước
– Các hình thức biểu hiện tương tác của cơ chế hai bên trong quan hệ lao động bao gồm: đối thoại (trao đổi thông tin, tư vấn tham khảo, thương lượng) và tranh chấp lao động
– Cơ chế hai bên trong danh nghĩa nó đòi hỏi sự công bằng, bình đẳng giữa hai chủ thể nhưng ở Việt Nam lại được vận hành chưa thực sự hiệu quả khi người sử dụng lao động thường có lợi thế hơn người lao động nhưng nhờ một phần các quy dịnh pháp luật có lợi cho người lao động mà người lao động được bảo vệ lợi ích tốt hơn nhờ đó mà cơ chế hai bên được vận hành tốt hơn
– Trong quá trình thực hiện, cơ chế hai bên thường gặp phải một số thách thức và khó khăn, cụ thể:
+ Thương lượng tập thể chưa được thực hiện rộng rãi, nhiều trường hợp đình công trước rồi mới thương lượng, hoà giải
+ Cơ chế ngăn ngừa tranh chấp chưa phát triển hiệu quả (cơ chế hợp tác, đối thoại tại nơi làm việc ít được triển khai, hội đồng hòa giải cơ sở chưa thực hiện hết chức năng, thủ tục khiếu nại tại doanh nghiệp ít thực thi )
+ Đối thoại hai chiều giữa người sử dụng lao động và người lao động còn hạn chế, thông tin hai chiều giữa giới chủ sử dụng lao động và người lao động, giữa công đoàn và người lao động chưa thường xuyên và chưa được quy định
rõ ràng
+ Khung pháp lý giải quyết tranh chấp chưa hoàn thiện để phù hợp với thực tế + Đại diện của người lao động (công đoàn cơ sở) và đại diện của giới sử dụng lao động (Hiệp hội người sử dụng lao động ) năng lực còn hạn chế, chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ cần thực hiện
– Cơ chế hai bên đã vận hành chủ yếu ở cấp doanh nghiệp nhưng hiệu quả chưa cao, chưa thực sự đảm bảo quan hệ mặc cả trong mua bán sức lao động
– Cơ chế tương tác giữa hai bên chủ yếu dưới hình thức: thương lượng tập thể một cách hình thức, thực hiện thỏa ước lao động tập thể một các qua loa, giải quyết
Trang 9xung đột không tuân thủ theo đúng với thỏa thuận hợp đồng và quy định của pháp luật
– Hai bên chưa phối hợp tốt trong việc tìm ra cách thức cải thiện, nâng cao đời sống lao động, cải thiện điều kiện làm việc
– Thỏa ước lao động đang ngày càng hình thức hóa chứ không thực sự còn ý nghĩa, các cuộc đình công diễn ra đều không đúng trình tự pháp luật, tranh chấp lao động dẫn đến đình công cũng diễn ra trong tình trạng tự phát thường xuyên
1.2, Thực trạng việc thực hiên cơ chế ba bên
a, Quá trình phát triển cơ chế ba bên tại Việt Nam
– Lịch sử ra đời và phát triển của luật lao động Việt Nam cho đến giữa những năm
1980 chứng kiến rất ít những quan điểm đối kháng giữa người lao động và người
sử dụng lao động Quan hệ lao động ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1986 – thời
kỳ duy trì cơ chế quản lý tập trung – quan liêu bao cấp là quan hệ lao động xã hội đơn thuần, khá thuần nhất Đó là quan hệ lao động giữa ‘công nhân, viên chức nhà nước’ với các ‘ cơ quan, xí nghiệp nhà nước’ Lúc này, Nhà nước với nhiệm vụ giải quyết việc làm đóng vai trò là người sử dụng lao động, tuyển dụng lao động; người lao động có bổn phận và nhiệm vụ làm việc, phục vụ Nhà nước Đay là quan hệ ‘làm chung, huy động lao động-phục vụ công cộng’, do vậy sức lao động lúc này đây không phải là ‘hàng hóa đặc biệt’ mà là ‘của chung’ Với bối cảnh như vậy nên cơ chế ba bên ở Việt Nam chưa có điều kiện hình thành và phát triển – Từ năm 1986, bước sang thời kỳ đất nước hội nhập và phát triển, đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước với sự thừa nhận của nhiều thành phần kinh tế, lúc này đây, cơ chế ba bên ở Việt Nam mới thực sự có cơ hội hình thành và phát triển Trong quá trình điều chỉnh quan hệ lao động, Nhà nước đã có những sự điều chỉnh nhất định về vấn đề phối hợp hoạt động giữa các bên đại diện người lao động và người sử dụng lao động trong việc đề ra và thực hiện các chính sách cũng như các quy định của pháp luật để giải quyết các vấn đề lao động Đặc biệt
là sự ra đời của nghị định chính phủ số 145/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 7 năm
2004 quy định chi tiết thi hành bộ Luật lao động về việc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động tham gia với cơ quan Nhà nước
về chính sách, pháp luật và những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của cơ chế ba bên ở Việt Nam
b, Thực trạng việc thực hiện cơ chế ba bên ở Việt Nam
– Trong cơ chế hai bên ở Việt Nam, thành phần của cơ chế ba bên bao gồm: Nhà nước (Chính phủ); người lao động hay tổ chức đại diện cho người lao động (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) và người sử dụng lao động hay tổ chức đại
Trang 10diện cho người sử dụng lao động (Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam)
– Sự thể hiện của cơ chế ba bên ở Việt Nam có thể thấy qua việc tổ chức và hoạt động của các cơ cấu hỗn hợp, đặc biệt ở tầm quốc gia, giữa Chính phủ, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam hay Liên minh các hợp tác xã Việt Nam trong việc xây dựng, hoạch định các chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích các bên liên quan trong quan hệ lao động
– Đã thiết lập được một số cơ quan hoặc cơ cấu khác về lao động nhằm mục đích thực hiện một số hoạt động có tính chất ba bên như: các hội đồng trọng tài lao động, các phái đoàn tham dự các kì họp của ILO, các cơ cấu lâm thời với
sự kết hợp giữa cơ quan chức năng của Nhà nước và của hai giới
– Bước dầu hình thành một số nguyên tắc của pháp luật liên quan đến cơ chế
ba bên bao gồm:
+ Nguyên tắc về xây dựng và thực hiện các chế độ tiền lương đối với người lao động
+ Nguyên tắc tham gia chế độ an toàn, vệ sinh lao động
+ Nguyên tắc liên quan đến quan hệ hợp tác giữa công đoàn và Nhà nước + Nguyên tắc tham gia của đại diện người lao động và đại diện người sử dụng lao động vào việc giải quyết tranh chấp lao động cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc tham khảo ý kiến của hai bên trong quan
hệ lao động để kịp thời giải quyết tranh chấp lao động
+ Nguyên tắc tham gia ý kiến của đại diện người lao động và người sử dụng lao động trong lĩnh vực quản lý nhà nước về lao động
+ Nguyên tắc tổ chức hội đồng trọng tài lao động với thành phân chủ yếu cả
ba bên gồm: Nhà nước, liên đoàn lao động cấp tỉnh và đại diện của người
sử dụng lao động
– Một số hoạt động nhất định đã được tiến hành thông qua việc soạn thảo, bàn bạc, thảo luận trước khi Chính phủ đưa ra quyết định chính thức của tổ chức đại diện cho người lao động va tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động như: xây dựng chính sách, chế độ liên quan đến quan hệ lao động, xây dựng các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao độnh; các chính sách, chế độ áp dụng với lao động đặc thù,…
– Do nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi nên cơ chế ba bên ở Việt Nam cũng có một số điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới như: cơ chế
ba bên mới được hình thành và đang hoàn thiện, cơ chế ba bên mới được vận hành ở cấp quốc gia và mang tính vụ việc, cơ chế ba bên mới chỉ được áp dụng để giải quyết các vần đề trong khu vực sản xuất kinh doanh, chưa áp dụng vào khu vực hành chính sự nghiệp