1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả ở lớp 2A

15 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 150,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: - Để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt nhằm giúp học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường họat động của l

Trang 1

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT

PHÂN MÔN CHÍNH TẢ Ở LỚP 2A TRƯỜNG TH TT LỊCH HỘI THƯỢNG A HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG

-☼ -Phần 1: MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

- Để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt nhằm giúp học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường họat động của lứa tuổi của học sinh.Trên cơ sở đó trong chương trình tiểu học mới đã lấy nguyên tắc dạy giao tiếp, dạy kỹ năng sống thông qua giao tiếp làm định hướng cơ bản Bởi giao tiếp là hoạt động quan trọng để phát triển một con người.Có nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau, nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác giữa các thành viên trong một cộng đồng Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức là cơ bản nhất và quan trọng nhất đó là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm khẩu ngữ ( nghe, nói) và bút ngữ ( đọc, viết ).Chính vì lẽ đó

mà trong môn Tiếng Việt ở tiểu học giáo viên là người giúp học sinh có kĩ năng đọc đúng

và viết đúng chính tả.Song so với kĩ năng nghe và đọc thì kĩ năng nghe, viết của học sinh

là một vấn đề luôn được mọi người quan tâm

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Vào đầu năm học qua khảo sát thực tế phần đông các em sai rất nhiều lỗi chính

tả, mà nguyên nhân chính vẫn là do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương; do không hiểu đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩa của các từ

Chắc rằng nhu cầu về chính âm Tiếng Việt vẫn được đặt ra và vẫn cần phải giải quyết càng sớm càng tốt Song hiện tượng phương ngữ vẫn sẽ tồn tại vì nó là một thực tế

và thực tế ấy đã, đang và sẽ diễn ra hằng ngày trong gia đình, ngoài xã hội, trên các phương tiện thông tin …Trong đời sống xã hội tiếng địa phương, giọng địa phương là thân thương và luôn quan trọng về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật Vậy cái cần giải quyết là khắc phục những lỗi do phương ngữ tạo ra trên cơ sở nắm vững đặc điểm của nó.Còn đối với những thiếu hụt trong kiến thức về chính tả và ngữ nghĩa Tiếng Việt thì phải học, trước hết là học các “mẹo luật” chính tả.Nhưng để giúp các em có kiến thức cơ bản, chắc chắn, để có những kĩ năng viết thành thạo không sai lỗi chính tả đó là một vấn đề vô cùng

cần thiết Vì thế tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả ở lớp 2A”.

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

a.Đối tượng nghiên cứu:

Trang 2

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân mơn chính tả ở lớp 2A trường Tiểu học TT Lịch Hội Thượng A Huyện Trần Đề Tỉnh Sĩc Trăng"

b.Khách thể nghiên cứu:

35 Học sinh lớp 2A trường Tiểu học TT Lịch Hội Thượng A Huyện Trần Đề Tỉnh Sĩc Trăng

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

-Sử dụng quy tắc chính tả, quy luật chính tả và kĩ xảo chính tả sẽ làm tăng kết quả học tập phân mơn chính tả ở học sinh lớp 2

5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Tài liệu : Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 2 , thế giới trong ta , công nghệ thông tin, giáo trình môn tiếng việt và hướng dẫn nội dung quy trình viết sáng kiến kinh nghiệm

Nghiên cứu tại lớp 2A Trường tiểu học Thị trấn Lịch Hội Thượng A từ những kinh nghiệm tự học và học hỏi đồng nghiệp luôn tìm hiểu qua sách báo, mạng giáo dục và suy nghĩ tìm tòi của tôi đã đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh học tốt phân mơn chính tả

6.

ĐỊA BÀN VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

Thị trấn Lịch Hội Thượng Huyện Trần Đề Tỉnh Sĩc Trăng - 35 Học sinh lớp 2A Trường Tiểu học TT Lịch Hội Thượng A

7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

+Thu thập các tài liệu cĩ liên quan

+Đọc và phân loại tài liệu

+Hệ thống hĩa kiến thức

+Nhận xét đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết

-Phương pháp điều tra:

+Chọn nhĩm đối tượng điều tra

+Thiết lập hệ thống câu hỏi

+Xử lý các kết quả điều tra

-Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

+Giai đọan chuẩn bị

*Xây dựng giả thuyết

*Chọn nhĩm thực nghiệm và nhĩm đối chứng

Trang 3

*Xây dựng kế họach thực nghiệm.

+Giai đoạn triển khai

*Tiến hành thực nghiệm và ghi biên bản cho từng giai đoạn thực nghiệm

+Giai đoạn đánh giá, xử lý các kết quả thực nghiệm

+Viết báo cáo kết quả thực nghiệm

-Phương pháp quan sát sư phạm:

+Xác định mục đích, nhiệm vụ và đối tượng quan sát

+Lựa chọn phương pháp, và lập kế họach quan sát

+Chuẩn bị các tài liệu và thiết bị kỹ thuật để quan sát

+Tiến hành quan sát, thu thập tài liệu theo chương trình

+Ghi chép kết quả quan sát

Phần hai: NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình dạy và học, phân môn chính tả rất quan trọng Bởi chính tả rèn kĩ năng viết, nghe, đọc qua chữ viết đúng, đẹp của giáo viên còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt Do đó viết đúng chính tả là việc cần thiết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết.Việc hình thành cho học sinh kĩ năng viết đúng chính tả là vấn đề bức xúc và khó khăn Vì vậy tôi nhận thấy rằng dạy chính tả phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng vùng, miền để giáo viên có hướng lực chọn nội dung giảng dạy sao cho phù hợp đối với học sinh lớp mình phụ trách Bên cạnh đó phần lớn cũng phải phụ thuộc vào sự nhận thức, có ý chí phấn đấu, kiên trì nhẫn nại của mỗi học sinh

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỂN:

2.1 Điều Tra:

Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học Do vậy nó được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong khi ở bậc trung học cơ sở không có Chính tả ở tiểu học có hai kiểu bài đó là chính tả đoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có âm vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian giành cho bài tập không nhiều so với chính tả đoạn bài, song việc rèn kĩ năng qua bài tập có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Vì qua đó các em được rèn luyện để tránh được viết sai chính tả Đồng thời hình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua bài viết và bài tập thực hành

Điều tra số liệu khảo sát chất lượng đầu năm lớp 2A của phân môn chính tả với kết

quả như sau:

Trang 4

2.2 Nguyên nhân:

Qua quá trình giảng dạy nhiều năm ở lớp 2 tôi nhận thấy các em thường viết sai rất nhiều các phụ âm đầu như : ng, ngh, gh, g, gi, d, x, s, n, l ……… , âm cuối : ng, t, c, u, o…… vần khó và dễ lẫn : uênh, uêch, uya, ac, at, ut, uc …… , lỗi do phát âm của địa phương như lẫn lộn dấu thanh , tiếng : dễ / dể ; uống sữa / uống sửa ; man/ mang; ngát / ngác; mặn / mặng/ sao/ sau …Ngoài ra các em còn không hiểu nghĩa một số từ Do vậy viết đúng đó là việc làm cần thiết và là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành cách viết đúng chính tả cho học sinh

Từ đó cho thấy học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều, có những em còn viết sai 11

-20 lỗi trong một bài

Ví dụ : Bài “Trên chiếc bè” (Tiếng Việt lớp 2 tập 1 trang 37)

- Số học sinh sai từ 1 – 6 lỗi : 12em

- Số học sinh sai từ 7 – 10 lỗi : 14em

- Số học sinh sai từ 12– 25 lỗi : 16em

Viết sai nhiều lỗi chính tả như vậy cho thấy kĩ năng viết của học sinh còn hạn chế mà cái đáng nói ở đây là do các em bị mất căn bản từ lớp dưới chưa nắm vững âm vần còn phát âm sai, chưa viết được những âm vần khó ( ch,/ tr; s/x ; v/d ; r / gi; n/l ; ……/ay – ai ;

ut – uc ; at – ac ; an – ang ; iu – iêu – yêu/ uênh ,oan, oang, oăn, oen, eo, oeo, uyên, uyêt,

……) Học sinh chưa hiểu nghĩa của từ ( để dành – tranh giành ………), lỗi không nắm được quy tắc chính tả ( ngh, k, gh chỉ đứng trước i, e, ê) lỗi do vô ý chưa cẩn thận ( thiếu dấu phụ , dấu thanh )

- Qua thống kê tôi thấy học sinh mắc phải các lỗi cụ thể sau :

+ Thanh điệu : Học sinh không phân biệt được thanh hỏi , thanh ngã

Ví dụ : suy nghỉ, nghỉ ngợi, sửa chửa, ……

+ Về âm đầu : Viết lẫn lộn với chữ cái ghi âm đầu

Ví dụ :

- g/ gh : ci gế

- ng/ ngh : con ng

- c/ k : ci co

- ch / tr một chăm

- s /x : chim xẻ, chia xẻ

- v / d : dui dẻ, đi dề

- r / g : cá gô

- ph : pía

- l/ n : núc nào

Bên cạnh đó cho thấy quy ước của chữ quốc ngữ rất phức tạp, một âm có thể ghi bằng hai ba dạng như ngờ ghi bằng ng / ngh … Từ những lỗi sai đó cộng với sự phức tạp của chữ quốc ngữ nếu chúng ta không có biện pháp uốn nắn kịp thời thì dẫn đến sẽ hình thành thói quen không tốt ở học sinh.Vì vậy để giúp học sinh có kĩ năng viết đúng, đẹp nên tôi đã đi sâu nghiên cứu để tìm ra giải pháp giúp các em học tốt phân môn chính tả

2.3 Các biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả ở lớp 2A:

Để giúp học sinh học tốt phân môn chính tả giáo viên phải lựa chọn và phối hợp các hình thức tổ chức học tập khác nhau trong lớp học để tạo nên sự mềm dẻo, linh hoạt và

Trang 5

sinh động cho quá trình dạy học, đồng thời giáo viên có thể sử dụng nhiều biện pháp và phương pháp dạy khác nhau nhất là phần bài tập Từ đó tạo cơ hội cho học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập, tạo cho học sinh cách làm việc tập thể theo nhóm, cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá nhân từ đó tạo nên môi trường học tập thuận lợi cho học sinh Ngoài việc giáo viên cung cấp từ khó, giải nghĩa từ, phân tích từ, học sinh còn phải tự tìm hiểu từ cùng nghĩa, trái nghĩa để có thể viết đúng.Từ đó phát huy được khả năng hiểu biết của từng học sinh.Sau đó tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để tiết học thêm phong phú và khắc sâu kiến thức

* Để tiết học đạt kết quả cao trước hết tôi yêu cầu học sinh:

2.3.1.Chuẩn bị bài ở nhà

- Bước đầu giáo viên dặn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà bằng cách yêu cầu các em đọc lại bài nhiều lần, viết những từ khó ra bảng con Hầu như bài chính tả nằm ở bài tập đọc nên tiết tập đọc giáo viên cần chú trọng luyện đọc cách phát âm, mở rộng từ cần hiểu nghĩa, từ đó đến tiết chính tả học sinh sẽ viết đúng hơn

- Truy bài đầu giờ: Những buổi có tiết chính tả nhóm trưởng của các nhóm đọc các từ khó cho các bạn viết bảng con, khi vào tiết học sẽ khắc sâu kiến thức hơn

- Ở phần kiểm tra: Giáo viên đọc lại những từ mà ở bài trước học sinh mắc lỗi nhiều

và các từ ở phần bài tập cho học sinh viết bảng con.Sau đó giáo viên kiểm tra xem có sửa lỗi không

2.3.2.Phần bài mới

- Giáo viên đọc mẫu, nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại nội dung của bài viết.Cho học sinh tự nêu từ khó để cả lớp cùng phân tích và so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh ở những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ

- Ví dụ: Từ gay gắt

gay = g + ay

gắt = g + ăt + thanh sắc

Không được lẫn lộn với từ gai gắc

Do phương ngữ của từng miền khác nhau nên cách phát âm đôi khi chưa thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm vững nghĩa của từ khó

Ví dụ: Học sinh đọc “suy nghỉ” nhưng viết “suy nghĩ” nên giáo viên giúp học sinh cần hiểu “nghỉ” có nghĩa là hoạt động bị ngừng lại, còn “nghĩ” là tính toán điều gì đó.Vì vậy phải viết là “suy nghĩ”

Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn…nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng

Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh… với những

từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ

*Về âm chính:

Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:

+ ao / au / u: lao bàn

+ oe/ eo: mạnh khẻo

+ iu/ u / iu: chìu chuộng

Trang 6

+ ip / ip: lin típ

+ ui/ uơi: đầu đui

+ um/ uôm / ươm: cánh bườm

*Về âm cuối:

Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

+ at/ ac: đồ đạt

+ an/ ang: cây đàn

+ ăt/ ăc: mặt quần áo

+ ăn/ ăng: khăng quàng

+ ân/ âng: cái câng

+ êt/ êch: chênh lệt

+ ên/ ênh: lên đên

+ iêt/ iêc: thân thiếc

+ ut/ uc: núc áo

+ uôn/ uông: mong muống

+ uôt/ uôc: trắng muốc

+ ươn / ương: con lương

Người miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n / ng / nh; t / c / ch Mặt khác còn lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch / tr; s/ x; d/ gi; v/ d, phát

âm không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã

Trong khi đó một số người miền Bắc chưa phân biệt l / n; d / gi Vì vậy cần hiểu nghĩa của từ

2.3.4 Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:

* Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau :

* Để phân biệt âm đầu s/ x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s : si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sầu đâu, sơn trà, sậy, sấu, sến, sam, sán, sầu riêng, so đũa…sáo, sâu, sên, sam, sán, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử…

* Để phân biệt âm đầu tr/ ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng… chuột, chó, chí, chồn, chuồn chuồn, chào mào, châu chấu, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

* Luật hỏi- ngã

Nếu các từ giống nhau về phụ âm đầu, yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã Nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại )

Ví dụ:

Huyền + ngã: sẵn sàng, vững vàng…

Nặng + ngã: mạnh mẽ, vội vã…

Ngã + ngã: nhõng nhẽo, dễ dãi…

Ngang + hỏi: vui vẻ, trong trẻo…

Sắc + hỏi: mát mẻ, vất vả…

Hỏi + hỏi: lỏng lẻo, thủ thỉ…

Trang 7

● Mẹo viết dấu hỏi (?) / ngã (~)

+ Dùng mẹo “Mình nên nhớ là viết dấu ngã “ để viết đúng hỏi ngã cho từ Hán

Việt

Đối với từ Hán Việt, nếu các tiếng bắt đầu bằng những phụ âm m, n, nh, l, v, d, ng

(ngh) thì viết dấu ngã (~) Điều này có nghĩa là khi gặp một từ Hán Việt, không biết viết

dấu ngã hay hỏi thì ta sẽ viết ngã nếu từ đó có phụ âm đầu là: m, n, nh, l, v, d, ng (ngh).

Ví dụ:

- Với m: mĩ mãn, mẫu tử, mẫn cảm, mĩ mãn, minh mẫn, mãn nguyện, cần mẫn

- Với n: nỗ lực, truy nã, cân não, nữ tính, noãn bào, nữ công

- Với nh: nhẫn tâm, kiên nhẫn, nhãn hiệu, nhãn quan, nhiệm bệnh, an nhàn

- Với l: lão tướng, lễ phép, lỡ thời, lỗi lạc, lãn công, lãng tử, lễ nghi, truy lĩnh

- Với v: vững bền, vãng lai, văn võ, vĩ nhân, uy vũ, võ công, vô lại, vô trùng

- Với d: kiều diễm, dũng mãnh, giáo dưỡng, dã sử, diễu võ, dữ kiện, dưỡng dục

- Với ng (ngh): ngưỡng mộ, ngôn ngữ, ngũ hành, oan nghiệt, nghĩa khí

Có thể dùng mẹo để nhớ các phụ âm đầu này: mình (m) nên (n) nhớ (nh) là (l) viết (v) dấu (d) ngã (ng).

+ Dùng mẹo “Huyền ngã nặng, hỏi sao không sắc thuốc” để viết đúng hỏi ngã

cho từ láy

Đối với từ láy, các dấu thanh bao giờ cũng nằm cùng trong một nhóm:

huyền - ngã - nặng

không - hỏi - sắc

Theo mẹo này, trong từ láy, khi ta thấy còn băn khoăn không biết viết hỏi hay ngã

mà thấy tiếng kia đã là không dấu hoặc dấu sắc thì tiếng còn lại tất sẽ phải là dấu hỏi

Ví dụ:

- Không - hỏi: run rẩy, lẳng lơ, vơ vẩn, nhỏ nhẻ, ủ ê

- Sắc - hỏi: mát mẻ, rả rích, gửi gấm, nhí nhảnh, ngổ ngáo

Ngược lại, khi ta còn băn khoăn không biết viết hỏi hay ngã mà thấy tiếng kia đã

có dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng còn lại tất sẽ là dấu ngã.

Ví dụ:

- Huyền - ngã: thẫn thờ, rõ ràng, ầm ĩ, bì bõm, bầu bĩnh, đẫy đà

- Nặng - ngã: quạnh quẽ, rực rỡ, nũng nịu, rực rỡ

● Mẹo phân biệt l-n khi nói và viết theo quy tắc cấu tạo âm tiết tiếng Việt

Dựa trên cơ sở/quy tắc kết hợp trong cấu tạo âm tiết, 7 mẹo nêu dưới đây liệt kê hệ thống

Trang 8

từ vựng có phụ âm đầu là /l/ và /n/ để khi nói hay viết sẽ không lẫn nhau.

Mẹo thứ nhất: Trong âm tiết, /l/ chỉ đứng trước âm đệm nhưng /n/ thì

không (trừ trường hợp đặc biệt “noãn bào”) Ví dụ, những từ sau phải phát âm là l:

cái loa, chói lòa, loan phượng, vết dầu loang, nói

lưu loát,luẩn quẩn, loắt choắt, loanh quanh, luật pháp, luyến tiếc,…

Mẹo thứ hai, khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ

âm này xuất hiện ở tiếng thứ nhất thì đó chắc chắn là phụ âm /l/ Có thể liệt kê ra các

từ láy vần bắt đầu bằng phụ âm /l/ như sau: lệt bệt, lò cò, lộp độp,lúi húi, lai dai, lơ mơ, lã chã, lăng xăng, lon ton, lai rai, lởn vởn, lênh khênh, lăng nhăng, luẩn quẩn, lằng nhằng, loằng ngoằng,… Theo danh sách đầy đủ thì kiểu láy vần bắt đầu bằng /l/ như trên có

khoảng hơn 300 từ

Mẹo thứ ba, khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ âm đầu

của tiếng thứ nhất là /z/ (gi,d) và phụ âm này xuất hiện ở tiếng thứ hai thì đó chắc chắn là

phụ âm /n/, ví dụ: gian nan, gieo neo,…

Mẹo thứ tư, khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong một từ láy vần mà phụ âm này

xuất hiện ở tiếng thứ hai và phụ âm đầu của âm tiết thứ nhất không phải là /z/ (gi, d) thì

đó là phụ âm /l/ (trừ trường hợp: khúm núm, khệ nệ,…), ví dụ: cheo leo, khoác lác,…

Mẹo thứ năm, khi không xác định được là /l/ hay /n/ trong từ láy vần mà tiếng thứ nhất

khuyết phụ âm đầu thì phụ âm đầu của tiếng thứ hai là /n/, ví dụ: ăn năn, ảo não, áy náy,

Mẹo thứ sáu, những từ không phân biệt được là /l/ hay /n/ nhưng đồng nghĩa với một từ

khác viết với /nh/ thì viết là /l/, ví dụ: lăm le- nhăm nhe; lố lăng-nhố nhăng; lỡ làng – nhỡ nhàng;lài-nhài; lời-nhời; lầm-nhầm,…

Mẹo thứ bẩy, trong từ láy phụ âm đầu thì cả hai tiếng trong từ láy đó phải cùng là một

phụ âm Do vậy, chỉ cần biết một tiếng bắt đầu bằng /l/ hay /n/ mà suy ra tiếng kia: Ví dụ:

đều là l: lung linh, long lanh, lạnh lùng,… Đều là n: no nê, nõn nà, núng nính,…

● Mẹo viết phụ âm đầu d / gi

Sẽ viết d (mà không viết gi) khi đứng trước các vần oa, oă, uâ, oe, uê, uy

Đối với từ Hán Việt, có thể dùng một số mẹo sau:

+ Dùng mẹo “dưỡng dục” để viết d

Nếu từ Hán Việt mang dấu ngã (dưỡng) hoặc dấu nặng (dục) thì viết d

Ví dụ, công diễn, dũng cảm, dĩ nhiên, dị dạng, dịch vụ, diện mạo.

+ Dùng mẹo “giảm giá” để viết gi

Trang 9

Nếu từ Hán Việt mang dấu hỏi (giảm) và dấu sắc (giá) thì viết gi Ví dụ, giảng

văn, học giả, đơn giản, giả thuyết, gián tiếp, giá cả, giáo sinh, giới hạn.

● Mẹo viết phụ âm đầu ch / tr

- Viết ch trong những trường hợp:

+ Từ chỉ quan hệ họ hàng, gia đình Ví dụ: cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt, chút, chít

+ Từ chỉ đồ dùng thường gặp trong gia đình Ví dụ: chai, chảo, chậu, chõng, chum, chĩnh, chiếu, chăn, chổi, chày, chén.

+ Từ chỉ ý phủ định Ví dụ: chưa, chẳng, chớ, chăng

- Viết tr trong những trường hợp:

+ Từ chỉ ý không có sự che đậy Ví dụ: trần truồng, trống trải, trơ trọi, trần trụi, trùng trục, trống trơn, trọc lốc.

+ Từ chỉ tính chất xấu Ví dụ: trâng tráo, trơ trẽn, trừng trộ, trợn trừng, trơ tráo, trơ trơ, trắng trợn.

● Mẹo viết phụ âm đầu s/ x

- Viết s trong một số trương hợp sau:

+ Từ chỉ trạng thái tốt: sáng suốt, sạch sẽ, sung sướng, sớm sủa, suôn sẻ, sốt sắng, sâu xa, sung túc.

+ Từ chỉ người, động vật, cây cối, đồ vât, hiện tượng thiên nhiên Ví dụ: sư, sãi, sứ thần; sên, sáo, sò, sếu, sấu; sim, sung, súng, sấu, si; sọt, siêu, sợi (dây); sấm, sóng, sao, sông, suối.

- Viết x trong một số trường hợp sau:

+ Từ chỉ tên thức ăn: xôi, xúc xích, xá xíu, lạp xường

+ Từ chỉ sự nhỏ đi, sút đi, kém đi hoặc teo đi: xì, xẹp, xốp, xẹp, nhỏ xíu, sút (cân), sụt (lạng)

● Mẹo viết phần vần ăc / ăt và ăng / ăn

- Từ có vần ăc thường có nghĩa chỉ sự lung lay, dao động Ví dụ: lúc lắc, ngắc

ngoải, ngắc ngứ, lắc xắc, ngúc ngắc, cà nhắc, tán sắc

- Từ có vần ăt thường có nghĩa là cắt nhỏ, tách rời hoặc túm giữ vật gì đó Ví dụ:

cắt, chặt, hắt, ngắt, tắt, bắt, lắt nhắt, thắt, chắt lọc

- Từ có vần ăng thường có nghĩa băng ra, thẳng ra Ví dụ: băng, phăng, lăng,

căng, thẳng, phẳng

Trang 10

- Từ có vần ăn thường chỉ sự cuộn tròn, không thẳng Ví dụ: quằn, xoăn, xoắn,

quăn, quặn, loăn xoăn, nhăn nhúm, nhăn nheo, ngoằn ngoèo

Ngoài các vần trên, còn có một số vần khác chúng ta cũng thường nhầm nhưng nhìn chung các vần đó chỉ xuất hiện hạn chế ở một số từ, vì vậy chúng ta cần thuộc lòng

Các vần: ươp, ươu, ưt, ưi, ưm là những vần như thế.

2.3.5 Dựa vào quy tắc chính tả:

Để viết đúng chính tả cần phải học thuộc một số quy tắc chữ viết trong tiếng Việt Dưới đây là một số quy tắc cần nắm vững:

● ngh và ng

- Viết ngh khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

nghi hoặc, nghề nghiệp, nghe ngóng, nghiêng ngả v.v.

- Viết ng khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

ngỡ ngàng, ngơ ngác, ngu tối, ngọ nguậy, ngước mắt, ngắc ngứ v,v.

● gh và g

- Viết gh khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

ghi nhớ, ghìm nén, bàn ghế, ghe đò, gói ghém, ghiền v.v.

- Viết g khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

gà gô, lưng gù, gầm gừ, gò hàn, gờn gợn v.v.

● k, c và q

- Viết k khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

kín đáo, kim chỉ, kế hoạch, kể lể, ê ke, cò kè, kiên trì, đao kiếm v.v.

- Viết c khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

co giãn, cơ hội, cay cú, cá mè, mặc cả, cuốc xẻng, cô giáo v.v.

- Viết q khi đứng trước âm đệm u, ví dụ:

quân đội, quản ca, quản lí, quá quắt, quanh co, đặc quánh v.v.

● Âm đệm (o hoặc u)

- Viết o khi đứng trước các nguyên âm a, ă, e, ví dụ:

hoan hô, hoán vị, hoạn nạn, hoen ố, xoen xoét, xoắn xuýt, xoay xỏa v.v.

- Viết u khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

quấn quít, quân đội, quen biết, lãng quên, tuần lễ v.v.

Giáo viên đọc chính tả cho học sinh viết cần rõ ràng, tốc độ đọc vừa phải

- Cho học sinh tự bắt lỗi chéo

Ngày đăng: 17/04/2020, 22:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w