sát thực trạng kiến thức , thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại một số tỉnh thành phố trực thuộc trung ương” được thực hiện với mục tiêu: 1.. Xác
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BÁN LẺ THUỐC
VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH VÀ
KHÁNG KHÁNG SINH TẠI MỘT SỐ TỈNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC
TRUNG ƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
Mã sinh viên : 1401207
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BÁN LẺ THUỐC
VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH VÀ
KHÁNG KHÁNG SINH TẠI MỘT SỐ TỈNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC
TRUNG ƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Ths.Nguyễn Thị Phương Thúy
là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này Cô đã dành nhiều thời gian công sức để giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận cũng như chỉnh sửa cho tôi từng câu từng chữ Tôi luôn cảm thấy mình vô cùng may mắn khi được là sinh viên của cô và được cô trực tiếp hướng dẫn đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Quản lý và Kinh
tế Dược đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám Hiệu, Phòng Đào
tạo và toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình 5 năm học tập tại trường, giúp tôi có nhiều những kiến thức
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè tôi, những người đã
luôn ở bên động viên, quan tâm tới tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Minh Hiền
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 MỘT SỐ QUY ĐỊNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH TẠI VIỆT NAM 3
1.1.1.Các nguyên tắc sử dụng kháng sinh 3
1.1.2 Quy định về bán kháng sinh 3
1.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH, KHÁNG KHÁNG SINH 4
1.2.1 Thực trạng sử dụng kháng sinh 4
1.2.2 Thực trạng kháng kháng sinh 6
1.3 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC VỀ QUẢN LÝ KHÁNG SINH 7
1.4 TỔNG HỢP MỘT SỐ NGHIÊN CỨU 8
1.4.1 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 8
1.4.2 Thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 11
1.4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 13
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 15
2.2.2 Biến số nghiên cứu 16
2.2.3 Mẫu nghiên cứu 16
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 19
2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - BÀN LUẬN 23
Trang 53.1 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC VỀ SỬ
DỤNG KHÁNG SINH VÀ KHÁNG KHÁNG SINH 23
3.1.1 Kiến thức 23
3.1.2 Thái độ 29
3.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH VÀ KHÁNG KHÁNG SINH 33
3.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bán lẻ thuốc 33
3.2.2 Đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc 34
3.2.3 Nguồn thông tin về kiến thức sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 36 3.3 BÀN LUẬN 37
3.3.1 Thưc trạng kiến thức và thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 37
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 42
3.3.3.Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC .52
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng
sinh trong các nghiên cứu trên thế giới 9
Bảng 2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 17
Bảng 2.3 Cấu trúc bộ câu hỏi 18
Bảng 3.4 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về nguyên tắc sử dụng kháng sinh 23
Bảng 3.5 Tỷ lệ người bán lẻ thuốc trả lời đúng kiến thức về một số lưu ý khi sử dụng kháng sinh 24
Bảng 3.6 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về quy định bán kháng sinh 25
Bảng 3.7 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về kháng kháng sinh 26
Bảng 3.8 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 27
Bảng 3.9 Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 28
Bảng 3.10 Thái độ của người bán lẻ thuốc về thực trạng sử dụng kháng sinh trong cộng đồng hiện nay 30
Bảng 3.11 Thái độ thực trạng bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc 31
Bảng 3.12 Thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 32
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và kiến thức thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 33
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm cơ sở bán lẻ thuốc và kiến thức thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 35
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa các nguồn thông tin đến kiến thức và thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 36
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự thay đổi liều xác định trong ngày (DDD) tại các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2000-2015 5 HÌnh 2.1 Sơ đồ tiến trình tiến hành nghiên cứu 15 Hình 3.3 Phân loại kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 27 Hình 3.4 Phân loại thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 32
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, kháng kháng sinh đang ngày càng gia tăng và trở thành một vấn đề quan trọng trên toàn thế giới Các cơ chế kháng mới đang nổi lên và lan rộng ra toàn cầu đe dọa khả năng điều trị các bệnh truyền nhiễm thông thường, dẫn đến bệnh tật kéo dài và tử vong [59] Gánh nặng do kháng kháng sinh ngày càng tăng do ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội [4],[58] Đáng chú ý là, Việt Nam một trong những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất với 71,4% kháng penicillin và 92,1% kháng erythromycin
Tuy là một hiện tượng tự nhiên nhưng có rất nhiều yếu tố góp phần vào sự gia tăng của kháng kháng sinh Trong số đó, không thể không kể đến việc sử dụng
và cung cấp kháng sinh không hợp lý đặc biệt là bán kháng sinh không đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh mối quan hệ trực tiếp giữa việc tiêu thụ kháng sinh và sự xuất hiện, phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc [57] Ở Việt Nam, kháng sinh được sử dụng chiếm 40-50% tổng chi phí sử dụng thuốc [24] và đóng góp 13,4% (ở thành thị) và 18,7% (ở nông thôn) trong tổng doanh thu của nhà thuốc [4] Bên cạnh đó, nghiên cứu (2010) cho thấy tỷ lệ bán kháng sinh mà không có đơn thuốc ở nước ta rất cao, lần lượt là 88% và 91% ở thành thị và nông thôn [15] Đây là một trong những yếu tố quan trong góp phần tạo nên kháng kháng sinh ở nước ta
Để ngăn chặn kháng kháng sinh cũng như cải thiện tình trạng sử dụng và cung cấp kháng sinh không hợp lý cần có sự kết hợp của cả hệ thống y tế, đặc biệt là dược
sĩ cộng đồng Người bán thuốc là thành viên quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, bởi thường xuyên tiếp xúc với người dân, giúp ngăn chặn lạm dụng kháng sinh cũng như cung cấp kháng sinh hợp lý trong cộng đồng [32],[31] Do đó, kiến thức, thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh hợp lý, kháng kháng sinh là nền tảng quan trọng trong tư vấn cho khách hàng cũng như giáo dục người bệnh trong cộng đồng Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu khảo sát về kiến thức, thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh Tuy nhiên theo kêt quả rà soát y văn cho thấy chưa có nghiên cứu
nào ở Việt Nam được thực hiện về nội dung này Chính vì vậy, nghiên cứu “Khảo
Trang 9sát thực trạng kiến thức , thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại một số tỉnh thành phố trực thuộc trung ương” được thực
hiện với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại một số tinh thành phố trực thuộc trung ương năm 2017-2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại một số tinh thành phố trực thuộc trung ương năm 2017-2018
Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao kiến thức và thái độ của người bán thuốc về kháng sinh và kháng kháng sinh giúp tăng cường việc sử dụng và cung cấp kháng sinh hợp lý
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ QUY ĐỊNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH TẠI VIỆT NAM
Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substance) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng
ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác Hiện nay khái niệm kháng sinh được
mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các
sulfonamid và quinolon [5]
1.1.1.Các nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015, kháng sinh chỉ được sử dụng cho các bệnh lý nhiễm khuẩn và không có tác dụng trên các bệnh nhiễm vi-rút Việc lựa chọn kháng sinh và liều lượng phụ thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân, vi sinh vật gây bệnh và mức độ nặng của bệnh Đặc biệt khi điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm, tức là chưa có bằng chứng về vi khuẩn học thì phải ưu tiên lựa chọn kháng sinh có phổ hẹp nhất trước tiên Về độ dài đợt điều trị, trừ một vài nhiễm khuẩn đăc biệt, thì với hầu hết các nhiễm khuẩn nhẹ và vừa kháng sinh phải được trong khoảng thời gian từ 7 đến 10 ngày, những trường hợp nhiễm khuẩn nặng thì đợt điều trị kéo dài hơn nhiều Ngoài ra, tất cả kháng sinh đều có tác dụng không mong muốn (ADR) Mặc dù đa số trường hợp ADR sẽ tự khỏi khi ngừng thuốc nhưng nhiều trường hợp hậu quả rất trầm trọng, ví dụ khi gặp hội chứng Stevens - Johnson, Lyell…đặc biệt kháng sinh có thể gây nên sốc phản vệ dẫn đến tử vong [5]
Cũng theo hướng dẫn này, để hạn chế gia tăng kháng kháng sinh cần sử dụng kháng sinh hợp lý với các nguyên tắc sau: chủ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn, lựa chọ đúng loại kháng sinh, đường dùng, liều lượng, khoảng thời gian điều trị [5]
1.1.2 Quy định về bán kháng sinh
Kháng sinh là nhóm thuốc có không thuộc Danh mục thuốc không kê đơn được ban hành theo Thông tư 07/2017/TT-BYT, vì thế đây là nhóm thuốc kê đơn, khi cung cấp bắt buộc phải có đơn của bác sĩ [6] Ngoài ra, đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc trong thời hạn tối đa 05 ngày, kể từ ngày kê đơn thuốc [7] Khi cung cấp thuốc và đặc biệt là kháng sinh, người bán lẻ thuốc có trách nhiệm tư vấn thông tin cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc
Trang 11bằng lời nói hoặc viết tay đánh máy, in lên bao gói Đối với những người bệnh cần thiết phải sử dụng kháng sinh, người bán lẻ thuốc cần tư vấn bệnh nhân đến khám thầy thuốc chuyên khoa hoặc bác sĩ điều trị thích hợp [8]
1.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH, KHÁNG KHÁNG SINH 1.2.1 Thực trạng sử dụng kháng sinh
Kể từ khi được phát hiện, kháng sinh đã cứu sống hàng triệu mạng sống, nhưng việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đã dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng [59] và rất có thể trong tương lai chúng ta phải đối mặt với tình trạng không có kháng sinh để điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn nghiêm trọng [4] Hiện nay việc sử dụng kháng sinh trên thế giới cũng như ở nước ta đã và đang gặp phải những
vấn đề sau:
Sử dụng kháng sinh không hợp lý
Mặc dù có cảnh báo về lạm dụng, thuốc kháng sinh vẫn được kê đơn nhiều quá mức trên toàn thế giới [57] Sử dụng kháng sinh được coi là quá mức nếu kê đơn kháng sinh khi không cần thiết (để điều trị các bệnh do vi-rút như cảm lạnh, cảm cúm, điều trị cho các bệnh nhiễm khuẩn nhẹ mà không cần dùng kháng sinh) hoặc
kê đơn các đợt điều trị kéo dài hơn quy định [21] Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng chỉ định, hoặc thời gian điều trị kháng sinh không chính xác trong 30% đến 50% trường hợp [57] Theo Viện Hàn Lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kì, Việt Nam nằm trong 3 nước có tỷ lệ sử dụng kháng sinh tăng mạnh nhất trên thế giới (Hình 1.1) Nghiên cứu của Karl Llor đã chỉ ra rằng nguy cơ mà lạm dụng kháng sinh gây ra ngoài kháng kháng sinh còn làm tăng khả năng mắc các bệnh nặng, kéo dài thời gian điều trị, tăng khả năng gặp các biến chứng và tăng chi phí điều trị [37]
Trang 12
Hình 1.1 Sự thay đổi liều xác định trong ngày (DDD) tại các quốc gia
trên thế giới trong giai đoạn 2000-2015
Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý cũng được ghi nhận là sử dụng kháng sinh dưới mức tối ưu cho các điều kiện đáp ứng, chẳng hạn như lựa chọn thuốc phổ rộng khi không cần thiết, liều lượng hoặc thời gian sử dụng không chính xác hoặc bệnh nhân không tuân thủ điều trị [52],[21] Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kính, phần lớn bệnh nhân ở Việt Nam được sử dụng kháng sinh trong thời gian ngắn và không hoàn thành đầy đủ một đợt điều trị [38] Khi không dùng đủ liều, vi khuẩn gây bệnh có thể thích ứng với sự hiện diện của thuốc kháng sinh liều thấp, và cuối cùng tạo thành một quần thể kháng kháng sinh với bất kể liều lượng nào [59]
Bán kháng sinh không đơn
Ở nhiều quốc gia, mặc dù bán kháng sinh không đơn là vi phạm pháp luật nhưng thuốc kháng sinh vẫn không được kiểm soát và có sẵn trên quầy và được cung cấp cho khách hàng mà không cần có đơn của bác sĩ [57] Việc kiểm soát thiếu nghiêm ngặt, kháng sinh có thể dễ dàng tiếp cận, phong phú và giá rẻ đã dẫn đến kết quả tất yếu là lạm dụng kháng sinh trong cộng đồng [57] Nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng tại cơ sở bán lẻ thuốc, kháng sinh không đơn thường được bán với thời gian điều trị ngắn, đa số là một ngày, liều thuốc kháng sinh cũng thường thấp hơn so với liều tiêu chuẩn [14] Ngoài ra, người bán lẻ thuốc cung cấp kháng sinh không đơn cũng làm tăng tỷ lệ sử dụng kháng sinh không hợp lý đặc biệt là dùng để điều trị những bệnh nhiễm trùng do vi-rút [44] Vì thế, bán kháng sinh không đơn được coi
là một trong những nguyên nhân gia tăng tình trạng kháng kháng sinh, những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao thường có tỷ lệ bán kháng sinh không đơn cao [42]
Trang 13Tại Việt Nam, kháng sinh đóng góp 13,4% (ở thành thị) và 18,7% (ở nông thôn) trong tổng doanh thu của nhà thuốc Điểm đáng chú ý là tỷ lệ bán kháng sinh không có đơn thuốc tại các nhà thuốc/quầy thuốc của nước ta là rất cao, lần lượt là 88% và 91% ở thành thị và nông thôn [15] Ngoài ra, dựa trên các công trình đã được công bố, Daniel J Morgan đã chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng kháng sinh không đơn trong cộng đồng tại Việt Nam trung bình là 62% [14] Nhìn chung, Việt Nam hiện là một trong những nước mua, bán kháng sinh dễ dàng mà không cần đơn của bác sĩ [62]
1.2.2 Thực trạng kháng kháng sinh
Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thay đổi đáp ứng với thuốc [58] Nói cách khác, vi khuẩn được coi là kháng một kháng sinh nào đó nếu sự phát triển của nó không bị kìm hãm cho dù kháng sinh đó đã được dùng ở nồng độ tối đa mà bệnh nhân còn dung nạp được [3]
Kháng kháng sinh đang là vấn đề nghiêm trọng của cộng đồng
Kháng kháng sinh hiện tại đang là một vấn đề quan trọng trên toàn thế giới
Hệ thống giám sát kháng khuẩn toàn cầu của WHO (GLASS) báo cáo rằng có sự xuất hiện kháng kháng sinh rộng rãi trên 500 000 người bị nghi ngờ nhiễm khuẩn
ở 22 quốc gia [61] Các vi khuẩn kháng thuốc được báo cáo phổ biến nhất là Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, và Streptococcus pneumoniae, tiếp theo là Salmonella spp [61] Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện các vi khuẩn kháng với hầu hết các kháng sinh còn gọi là vi khuẩn đa kháng thuốc [4] Theo báo cáo, tại Hoa Kì và Châu Âu, số người tử vong
do vi khuẩn đa kháng thuốc mỗi năm lần lượt là 23000 và 25000 người [49] Trong khi đó, ở Châu Á, con số này cao gấp trên 3 lần và rơi va khoảng 96000 ca tử vong mỗi năm [27] Ước tính đến năm 2050, trên toàn thế giới sẽ có khoảng 10 triệu ca
tử vong do kháng kháng sinh mỗi năm [54]
Kháng kháng sinh gây khó khăn điều trị của bệnh nhân
Kháng kháng sinh sẽ gây nên sự thiếu hụt kháng sinh dùng trong dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn vì thế các thủ tục y tế như cấy ghép nội tạng, hóa trị ung thư, quản lý bệnh tiểu đường và các phẫu thuật lớn trở nên rất nguy hiểm [60] Ngoài ra, rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra rằng kháng kháng sinh còn làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và kéo dài thời gian nằm viện[60],[58]
Trang 14 Các yếu tố góp phần vào sự xuất hiện và gia tăng kháng kháng sinh
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do nhiều yếu tố và xuất phát từ việc sử dụng kháng sinh không phù hợp, cung cấp kháng sinh không đơn, lạm dụng kháng sinh trong nông nghiệp, thiếu các kháng sinh mới, và thiếu các quy định nghiêm ngặt cũng như sự giám sát của cơ quan quản lý [46], [52],[57] Trong đó, việc sử dụng
kháng sinh không phù hợp là yếu tố quan trọng nhất [5]
1.3 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC VỀ QUẢN LÝ KHÁNG SINH
Người bán thuốc được coi là điểm chốt quan trọng để duy trì các quy định về
sử dụng và cung cấp kháng sinh, hạn chế việc bán kháng sinh không đơn , giải quyết các vấn đề về thuốc giả, thúc đẩy hơn nữa việc xử lý thuốc cũ, thuốc không sử dụng; giảm khả năng tự ý sử dụng kháng sinh hoặc dùng chung kháng sinh [31] Nói tóm lại, vai trò của người bán thuốc được về quản lý sử dụng kháng sinh như sau:
Tư vấn sử dụng hợp lý kháng sinh có đơn cho bệnh nhân và gia đình họ
Người bán lẻ thuốc là một phần quan trọng của quá trình phân phối thuốc đúng tiêu chuẩn, vì thế họ có trách nhiệm tư vấn cho bệnh nhân về việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và hợp lý Việc này bao gồm:
- Khuyên bệnh nhân tuân thủ đúng phác đồ điều trị bao gồm sử dụng đúng kháng sinh đã được kê đơn với liều lượng và khoảng thời gian điều trị chính xác [31],[56]
- Tư vấn bệnh nhân về cách phòng ngừa những tác dụng phụ có thể xảy ra khi
sử dụng kháng sinh và việc phải làm khi nó xảy ra [31],[56]
- Tư vấn bệnh nhân những tương tác thuốc - thuốc, thuốc - thức ăn mà họ có thể gặp phải để phòng ngừa và kiểm soát [31],[56]
Giám sát việc cung cấp kháng sinh
Người bán lẻ thuốc là chuyên gia chăm sóc sức khỏe dễ tiếp cận nhất, vì thế
họ thường là đối tượng đầu tiên mà người dân tìm đến để xin lời khuyên về các bệnh nhiễm trùng và các thuốc không kê đơn để làm giảm các triệu chứng bệnh của họ [51] Người bán thuốc đã được đào tạo về các triệu chứng, sinh lý bệnh của nhiễm khuẩn và các tình huống đòi hỏi phải thuyết phục bệnh nhân đi khám bác sĩ để chẩn đoán, điều trị hoặc hỗ trợ thêm [56] cũng như tư vấn cho bệnh nhân về các bệnh thông thường như nhiễm vi-rút, cảm lạnh, cúm (nguyên nhân, triệu chứng, khoảng
Trang 15thời gian, mùa dịch) và sự vô ích của kháng sinh trên những bệnh này [51],[56] Vì vậy, là một phần của nhóm chăm sóc sức khỏe ban đầu, các người bán thuốc có vị trí lý tưởng để giảm gánh nặng cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác (bác sĩ)
và giảm việc tiêu thụ kháng sinh không đơn
Giữ liên lạc và hỏi ý kiến người kê đơn
Trong một số trường hợp, người bán thuốc cần liên lạc với người kê đơn để chắc chắn rằng họ cung cấp đúng kháng sinh cho người thật sự cần chúng [43].Ngoài
ra, dược sĩ cộng đồng cũng có thể trao đổi với bác sĩ để thúc đẩy tuân thủ các hướng dẫn điều trị, kê đơn hợp lý, đưa ra phác đồ điều trị tối ưu [56]
1.4 TỔNG HỢP MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ KIẾN
VÀ KHÁNG KHÁNG SINH
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu khảo sát về kiến thức, thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh Chúng tôi tìm kiếm trên pubmed/medlines theo các từ khóa và từ đồng nghĩa: “knowledge”, “attitude”,
“antibiotic resistance”, “antibiotic”, “community pharmacies” để tìm hiểu về những nội dung liên quan đến kiến thức - thái độ của người bán lẻ thuốc về kháng sinh, sử dụng kháng sinh, kháng kháng sinh đã được thực hiện trên thế giới
1.4.1 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh
Về cách thức xây dựng bộ câu hỏi khảo sát trong các nghiên cứu về kiến thức
- thái độ về kháng sinh trên thế giới tương đối đa dạng Một số nghiên cứu thực hiện tổng quan tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu để làm cơ sở xây dựng bộ
Trang 16công cụ [18],[26],[55] Trong khi đó, một số nghiên cứu đã kết hợp tổng quan tài liệu với nghiên cứu định tính để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề nghiên cứu [17], [29] Hầu hết các nghiên cứu sau đó đều xin ý kiến chuyên gia để hoàn thiện bộ công cụ và được thử nghiệm trên một số mẫu có đặc điểm tương đồng với đối tượng của nghiên cứu [26], [29],[18],[55]
Về nội dung các câu hỏi kiến thức, chủ yếu tập trung các nội dung kiến thức
về nguyên tắc sử dụng kháng sinh, quy định bán kháng sinh và kháng kháng sinh cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh trong các nghiên cứu trên thế giới
đúng 1.1 Kiến thức của người bán thuốc về nguyên tắc sử dụng kháng sinh
1 Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn 84.5 % [26]
2 Kháng sinh có tác dụng diệt hoặc kìm hãm vi-rút 31.9 % [26]
3 Sử dụng kháng sinh giúp triệu chứng sốt cảm cúm, ho
được chữa khỏi nhanh hơn
10.4% [25]
6 Sử dụng kháng sinh có thể gây dị ứng, dẫn đến tử vong 69.6-72.5% [48]
1.2 Kiến thức của người bán thuốc về quy định bán kháng sinh
7 Kháng sinh là loại thuốc kê đơn (khi bán lẻ phải có
Khi khách hàng cần thiết phải điều trị kháng sinh, nên
khuyên /thuyết phục khách hàng đi khám bác sĩ để có
đơn thuốc
93.7 % [42] 99% [33]
1.3 Kiến thức của người bán thuốc về kháng kháng sinh
10 Kháng kháng sinh có nghĩa là vi khuẩn không bị tiêu
diệt bởi kháng sinh
12 Nếu kháng sinh sử dụng không đủ thời gian điều trị, vi
khuẩn trở nên kháng kháng sinh hơn
92% [28]
25.8% [25]
13 Người bán thuốc bán kháng sinh không có đơn là nhân
tố góp phần gia tăng kháng kháng sinh
85.2 % [42]
Kiến thức của người bán thuốc về nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Tại một số quốc gia người bán thuốc có vẫn nhầm lẫn về tác dụng của kháng sinh, cho rằng kháng sinh có khả năng diệt/kìm hãm vi-rút [26],[25],[20] Điều này
Trang 17có thể dẫn đến lạm dụng kháng sinh trong thực hành Cụ thể, chỉ có 84,5% dược sĩ cộng đồng tại Punjab, Pakistan cho rằng kháng sinh được chỉ định cho các bệnh lý nhiễm khuẩn và 39,1% dược sĩ cộng đồng tham gia nghiên cứu đồng ý/ đồng ý rằng kháng sinh có hiệu quả trong các trường hợp nhiễm vi-rút [26], 10,4% người bán thuốc tại Greater Cario, Ai Cập cho rằng kháng sinh là lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh cảm lạnh thông thường và đau họng [25] Thậm chí tại Mynya, Ấn Độ (2014), 81% dược sĩ tham gia trả lời đồng ý cung cấp kháng sinh cho các triệu chứng cảm lạnh thông thường [20] Tương tự, nghiên cứu nghiên cứu cắt ngang đã được tiến hành ở Anh từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 2 năm 2015 cũng đã kết luận rằng cảm lạnh, cảm cúm là điều kiện chính để người bệnh đến mua kháng sinh không đơn tại
nhà thuốc [35]
Kiến thức của người bán lẻ thuốc về quy định bán kháng sinh
Năm 2016, một nghiên cứu ở Makah Ả râp Saudi về kiến thức- thái độ thực hành của dược sĩ cộng đồng về việc phân phối kháng sinh không đơn đã được tiến hành [42] Kết quả chỉ ra rằng có 70,5% người tham gia không nhận thức được rằng việc bán kháng sinh mà không có đơn của bác sĩ là bất hợp pháp [42] Hầu hết trong
số họ trả lời đúng rằng phân phối kháng sinh không đơn sẽ góp phần vào việc sử dụng thuốc không hợp lý và sự gia tăng của kháng kháng sinh [42] Điều tích cực là 78,3% người bán thuốc tham gia nghĩ rằng họ nên dừng việc bán kháng sinh không đơn và 93,7% cho rằng họ sẽ khuyến khích bệnh nhân của mình đến khám bác sĩ và lấy đơn thuốc [42]
Kiến thức của người bán lẻ thuốc về kháng kháng sinh
Về ảnh hưởng của kháng kháng sinh đối với sức khỏe cộng đồng, 88,4% người tham gia trong một nghiên cứu tại Ả Rập Saudi cũng cho rằng kháng kháng sinh đang là một vấn đề nghiêm trọng của cộng đồng [42], tỷ lệ này trong một nghiên cứu của Brazin là 87,1% [19], Syria là 89,6% [28]
Về các nguyên nhân góp phần làm gia tăng kháng kháng sinh, nghiên cứu của nhóm tác giả tại Brazin năm 2014 đã chỉ ra rằng, các dược sĩ đặc biệt là người bán thuốc ở Brazin cho rằng việc sử dụng kháng sinh mà không có đơn thuốc của bác sĩ
là yếu tố quan trọng nhất [19] Trong khi đó, nghiên cứu tại Ai Cập cũng cho kết quả rằng 81,8% dược sĩ cộng đồng tham gia nghiên cứu đồng ý rằng việc bán kháng
Trang 18sinh không đơn sẽ dẫn đến lựa chọn thuốc và liều dùng không phù hợp [25] Tương
tự, 85,2 % người bán thuốc tại Makkah, Ả Rập Saudi cũng cho rằng kháng sinh không đơn là nguyên nhân quan trọng góp phần vào sự phát triển của kháng kháng sinh [42] Cũng với mục đích tương tự, nghiên cứu của một nhóm tác giả tại Syria
đã cho thấy kết quả rằng đối với người bán thuốc yếu tố quan trọng nhất góp phần vào sự gia tăng kháng kháng sinh là sử dụng kháng sinh không đủ liều ( 92%), thường xuyên kê đơn kháng sinh phổ rộng (81%), và kê đơn kháng sinh cho các bệnh nhiễm vi-rút (73%) [28]
Cách đánh giá kiến thức
Các câu hỏi về kiến thức thường được đưa ra dưới dạng câu hỏi đóng với 3 câu trả lời là đúng/sai/không biết [19], [25], [28], [25] hoặc là các câu hỏi theo thang Likerk 5 điểm (rất đồng ý/ đồng ý/ trung lập/ không đồng ý/ rất không đồng ý) [26] Cách phân loại mức độ kiến thức của người tham gia ở các nghiên cứu trên thế giới
là rất đa dạng Ví dụ như, bộ công cụ của một nghiên cứu tai Brazin gồm 8 câu hỏi
để đánh giá kiến thức của dược sĩ về sử dụng kháng sinh; người tham gia được chia thành 4 nhóm theo nguồn cung cấp thông tin về kháng kháng sinh và mỗi nhóm sẽ được tính điểm kiến thức trung bình [19] Tương tự, một nghiên cứu khác tại Ả Rập Saudi cũng chỉ đưa ra phần trăm số người trả lời đúng với từng câu hỏi [42]
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chia khoảng điểm
để đánh giá mức độ kiến thức của người tham gia là tốt, trung bình hay kém Cụ thể, Mohamed đã thiết kế một bộ công cụ gồm 9 câu hỏi về kiến thức tương đương với
9 điểm Kiến thức của người tham gia được đáng giá là tốt, trung bình, kém nếu họ đạt được số điểm tương ứng là: từ 8 đến 9, từ 5 đến 7 và dưới 5 điểm [25] Tương tự, một đề tài tại Thái Lan cũng đã xếp những người tham gia đạt dưới 50% tổng số điểm sẽ được coi là có kiến thức không tốt; trong khi đó một nghiên cứu khác tại Syria cũng chọn điểm cắt kiến thức là 50% và 70% tổng số điểm [55]
1.4.2 Thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh
Thái độ của người bán lẻ thuốc về thực trạng sử dụng kháng sinh
Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy một tín hiệu một tín hiệu tích cực rằng các dược sĩ nói chung và người bán thuốc nói riêng có nhận thức đúng đắn về tầm
Trang 19quan trọng và tình trạng ngày càng xấu đi của kháng kháng sinh Nghiên cứu tai Ả Rập Saudi đã chỉ ra rằng gần một nửa ( 45,8%) người bán thuốc cho rằng họ có kiến thức tốt về sử dụng kháng sinh, và đây được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi bán kháng sinh không đơn của họ [42] Đáng chú ý là, trong một nghiên cứu tại Tasamina, đã có tới 97,1% người bán lẻ thuốc tham gia đồng ý/ đồng
ý mạnh mẽ rằng họ đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý kháng sinh [33] Bên cạnh đó, chỉ có 61% người bán thuốc tại Ấn Độ coi việc tư vấn, cung cấp lời khuyên cho bệnh nhân cũng như khách hàng về sử dụng thuốc [36]
Thái độ của người bán lẻ thuốc về thực trạng bán kháng sinh không đơn
Phần lớn dược sĩ cộng đồng tham gia các nghiên cứu đều cho rằng bán kháng sinh không đơn sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng [18], [17], [42] Trong khi đó, tại Ai Cập, hầu hết (90%) đồng ý rằng kháng sinh đang được kê đơn và phân phối nhiều quá mức tại các nhà thuốc/ quầy thuốc [25] 78,3% người bán thuốc tại Ả Rập Saudi đồng ý rằng họ nên dừng việc bán kháng sinh không đơn [42]
Cách thức đánh giá thái độ
Để đánh giá thái độ của người tham gia về sử dụng kháng sinh và kháng kháng
sinh, các nghiên cứu thường sử dụng câu hỏi theo thang Likert với 5 sự lựa chọn: rất không đồng ý/ không đồng ý/ đồng ý một phần/ đồng ý/ rất đồng ý [27],[26],[55]
Cách phân loại thái độ của người tham gia trong cá nghiên cứu cũng khá đa dạng Nếu như nghiên cứu của Khan tại Malaisya đánh giá thái độ của người bán thuốc bằng trung vị của từng câu hỏi [27] thì bộ công cụ tại Punjab Pakistan tính trung vị của cả 8 câu hỏi và chia thành các khoảng: 0,5-1, 1,5-2, 2,5-3, 3,5-4, 4,5-5 tương ứng với thái độ rất kém, kém, có thể chấp nhận được, tốt và rất tốt [26] Cách khác bộ công cụ của một nghiên cứu tại Thái Lan cũng sử dụng 8 câu hỏi theo thang Likerk
với các câu trả lời được mã hóa 1: rất không đồng ý, 2: không đồng ý, 3: đồng ý một phần, 4: đồng ý, 5: rất đồng ý Tổng điểm sẽ dao động từ 8 đến 40, những người
tham gia có tổng điểm < 24 được coi là có thái độ tốt, những người tham gia có tổng điểm >24 được coi là có thái độ kém[55]
Trang 201.4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của người bán thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh
Các nghiên cứu trên thế giới đã tiến hành tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của người bán thuốc về việc sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh.Các yếu tố liên quan cụ thể như sau:
Đặc điểm nhân khẩu học của người bán thuốc
Theo nghiên cứu của Mumhamad (năm 2018) người bán thuốc nam có kiến thức tốt hơn người bán thuốc nữa [26] Trong khi đó, các nghiên cứu tại Syria [28], Malaisia [27], Ehopia [53], không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức của người bán thuốc thuộc 2 giới tính khác nhau
Về độ tuổi của người bán thuốc, nghiên cứu tại Pakistan đã chứng minh rằng đây là một yếu tố liên quan đến kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh , trong đó những người dưới 30 tuổi được đánh giá có kiến thức kém nhất và nhóm người tham gia từ 30 đến 40 tuổi có kiến thức tốt nhất [26] Trong khi đó nghiên cứu tại Syria lại đưa ra kết quả rằng độ tuổi của người bán thuốc liên quan mật thiết với thái độ của họ về kháng kháng sinh Cụ thể, những người bán thuốc tại Syria có tuổi càng cao thì thái độ về kháng sinh và kháng kháng sinh càng tốt, những người tham gia thuốc nhóm trên 50 tuổi có thái độ tốt nhất [28]
Mối quan hệ về trình độ chuyên môn với kiến thức-thái độ của người tham gia cũng đã được tìm thấy trong một số nghiên cứu Cụ thể, người bán thuốc có bằng thạc sĩ tại Malaisya có nhận thức về quản lý kháng sinh tốt hơn những người có bằng đại học [27] Kết quả này cũng tương tự kết quả tại Ethopia [53]
Bên cạnh đó, số năm kinh nghiệm làm việc tại nhà thuốc, quầy thuốc cũng là yếu tố được nhiều nghiên cứu tiến hành khảo sát Đáng chú ý là, nghiên cứu tại Pakistan, người bán thuốc có trên 10 năm kinh nghiệm là nhóm có kiến thức về kháng sinh kém nhất, trong khi đó, nhóm từ 5 đên 9 năm kinh nghiệm lại có kiến thức tốt nhất [26] Nghiên cứu tại Ethopia cũng chỉ ra rằng dược sĩ cộng đồng có trên 5 năm kinh nghiệm có nhận thức về quản lý kháng sinh tốt hơn đáng kể so với nhóm còn lại [53]
Trang 21Như vậy, tổng quan các nghiên cứu cho thấy các yếu tố đặc điểm nhân khẩu học có liên quan kiến thức về kháng sinh, kháng kháng sinh là tuổi, giới, số năm kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của người bán thuốc
Đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc
Một số nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát mối liên quan giữa địa bàn nhà thuốc/ quầy thuốc với kiến thức thái độ của người bán lẻ Tại Syria, tình hình kinh tế
xã hội tại nơi đặt hiệu thuốc có mối liên quan chặt chẽ tới thái độ của người bán thuốc
về kháng sinh, kháng kháng sinh Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa các nhóm này [28]
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sử dụng kháng sinh không hợp lý và kháng kháng sinh hiện đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức - thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh, tuy nhiên tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này Vì thể, nhằm mô tả thực trạng và những yếu tố liên quan đến kiến thức - thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại Việt
Nam, nghiên cứu “ Khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc
về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại một số tỉnh”được thực hiện
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc, quầy thuốc đang hoạt động tại 4 thành
phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ
Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn 4 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ
Thời gian nghiên cứu
Thời điểm nghiên cứu là 2-6/2019, thời điểm khảo sát tại các địa phương cụ thể là: Hà Nội, Cần Thơ vào tháng 9-10/2017; Thành phố Hồ chí Minh, Đà Nẵng vào tháng 3-4/2018
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh Tiến trình nghiên cứu như sau:
Hình 2.1: Sơ đồ tiến trình tiến hành nghiên cứu
Trang 232.2.2 Biến số nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu được trình bày ở phụ lục 4
2.2.3 Mẫu nghiên cứu
2.2.3.1 Lựa chọn mẫu nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc/ quầy thuốc đang hoạt động tại thời điểm khảo sát
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bán lẻ thuốc không đồng ý tham gia khảo sát
- Sinh viên đang thực tập tại nhà thuốc/quầy thuốc
2.2.3.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm cơ sở bán lẻ thuốc và người bán thuốc tham gia khảo sát trình bày tại Bảng 2.2
Phần lớn người bán lẻ thuốc là nữ giới chiếm 80,5% số người tham gia nghiên cứu Có 42,1% người bán thuốc dưới 30 tuổi và 47,6% người bán thuốc có dưới 3 năm kinh nghiệm Hầu hết đối tượng tham gia nghiên cứu tốt nghiệp cao đẳng dược
và trung cấp dược (82,2%), chỉ có 15,8% người bán thuốc có bằng đại học dược, và
1 trong tổng số 160 người bán thuốc tham gia có bằng sau đại học Cùng với đó, 58,7% người bán thuốc là nhân viên bán hàng, chỉ có 33,5% là người phụ trách chuyên môn, một số người tham gia trả lời rằng họ là chủ đầu tư Ngoài ra, phần lớn người bán thuốc tốt nghiệp trường công lập (68,6%), chỉ có 31,4% tốt nghiệp các trường dân lập
Trang 24Bảng 2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Kinh nghiệm làm việc tại cơ sở bán lẻ (n=147)
Đặc điểm cơ sở bán lẻ thuốc khảo sát Loại hình cơ sở (n=160)
Số lượng nhân viên (n=136)
từ 3 nhân viên trở xuống
nhiều hơn 3 nhân viên
119
17
87,5 12,5
Liên quan đến đặc điểm cơ sở bán lẻ thuốc khảo sát, có 62,5% cơ sở là nhà thuốc và 37,5% là quầy thuốc Bên cạnh đó, tỷ lê số cơ sở có từ 3 nhân viên trở xuống
là 87,5%, chiếm đa số Chỉ có 12,5% cơ sở có nhiều hơn 3 nhân viên
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Trang 25Phiếu câu hỏi tự điền điều tra kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc về kháng sinh, kháng kháng sinh (Phụ lục 2)
Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát:
Bộ công cụ được thực hiện bởi các thành viên trong nhóm nghiên cứu dựa trên quá trình tổng quan tài liệu các nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn hiện hành, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc về kháng sinh và kháng kháng sinh
Cụ thể cấu trúc bộ câu hỏi gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết thúc Trong đó, các câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng một lựa chọn, câu hỏi đóng nhiều lựa chọn, câu hỏi mở, câu hỏi theo thang 5-likert, câu hỏi hỗn hợp Trong đó có 18 câu hỏi tính điểm kiến thức, 9 câu hỏi tính điểm thái độ Bộ câu hỏi gồm các phần chính như sau:
Bảng 2.3 Cấu trúc bộ câu hỏi
Cấu
trúc
Nội dung
Số lượng Dạng câu hỏi
Tài liệu tham khảo
Mở đầu Giới thiệu về nghiên cứu và cam kết bảo mật thông tin
6
Câu hỏi đóng 1 lựa chọn và nhiều lựa chọn
[28],[36], [40], [49] Kiến thức về một số lưu ý
sử dụng kháng sinh
Kiến thức về quy định bán kháng sinh
Kiến thức về kháng kháng sinh
[36],[43] Nguồn thông tin cung cấp
Câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi một lựa chọn
Thái độ
Thái độ về thực trạng sử dụng kháng sinh hiện nay
6 Câu hỏi theo thang 5-likert
Thái độ về thực trạng bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc
Kết thúc Cảm ơn
Trang 26 Xin ý kiến chuyên gia
Nhằm hoàn thiện bộ công cụ, nghiên cứu tiến hành xin ý kiến của 5 chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược lý, Dược cộng đồng, Pháp chế Dược, Y tế công cộng và Đại diện hội Nhà thuốc
Thử nghiệm bộ công cụ
Bộ công cụ được thử nghiệm trên 5 người bán thuốc xác định và sửa đổi các
từ ngữ khó hiểu hoặc dễ nhầm lẫn và ước tính thời gian cần thiết để hoàn thành khảo sát
Sau khi thử nghiệm và xin ý kiến chuyên gia, phiếu khảo sát được điều chỉnh một số từ ngữ cho phù hợp và sắp xếp thứ tự hỏi logic
2.2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi có cấu trúc Nghiên cứu viên trong nghiên cứu đều được tập huấn trước khi thu thập dữ liệu Nhóm nghiên cứu đến cơ sở bán lẻ thuốc cùng với một cán bộ của Phòng Y tế địa phương và giải thích cho người bán thuốc về mục đích của nghiên cứu Với mỗi cơ sở bán lẻ thuốc nghiên cứu thực hiện thu thập 1 bộ câu hỏi khảo sát Bộ câu hỏi được phát cho người tham gia phỏng vấn, hướng dẫn để người bán thuốc tự điền trực tiếp vào phiếu khảo sát Trong quá trình điền phiếu, đối tượng tham gia nghiên cứu được giải đáp các thắc mắc có liên quan đến câu hỏi (nếu có) Khi nhận phiếu khảo sát đã trả lời từ người bán thuốc, nghiên cứu viên kiểm tra rà soát để hoàn thiện câu hỏi còn bỏ sót (nếu có) Thời gian người bán thuốc trả lời bộ câu hỏi dao động từ 10-15 phút
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.2.5.1 Phương pháp xử lý số liệu
Phiếu khảo sát được làm sạch mã hóa trước khi tiến hành phân tích Các phiếu lựa chọn đáp án sai cho câu hỏi phân loại các hoạt chất được liệt kê là thuốc kháng sinh trong phần kiến thức sẽ bị loại trừ Trong tổng số 160 phiếu thu về 100% người bán thuốc trả lời đúng câu hỏi về phân loại các hoạt chất kháng sinh, do đó có 160 phiếu được đưa vào phân tích Sau đó, điểm kiến thức trong phiếu khảo sát được chấm điểm bởi 2 người độc lập (theo đáp án tại Phụ lục 3) và kiểm tra chéo nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin trước khi tiến hành nhập liệu
Trang 27Số liệu được nhập vào phần mềm Epi data 3.1 Phiếu khảo sát đã nhập được kiểm tra ngẫu nhiên 32 phiếu (20%) để đánh giá tính chính xác của việc nhập liệu Nếu phát hiện có sai sót, thực hiện kiểm tra phiếu gốc
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, Microsoft Office Excel 2016
2.2.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
a Đánh giá điểm kiến thức, thái độ
Đánh giá kiến thức thống qua 18 câu hỏi được tính điểm Với mỗi câu trả lời đúng, người bán thuốc được 1 điểm, các câu trả lời sai hoặc không biết không được điểm (Đáp án chi tiết -Phụ lục 3 ) Tổng điểm kiến thức chung dao động tự 0- 18 điểm, được phân loại thành 3 mức tương tự như nghiên cứu của Ossama Mansour (2016) [28] và nghiên cứu của Khan (2014) [47] :
- Kiến thức kém: Điểm dưới 50% tổng điểm ( dưới 9 điểm)
- Kiến thức trung bình: Điểm dao động từ 50% đến 70% tổng điểm ( từ 9 đến 12,75 điểm)
- Kiến thức tốt: Điểm trên 70% tổng điểm ( từ 13 điểm trở lên)
Đánh giá thái độ gồm 9 câu hỏi được thiết kế theo thang Likerk 5 điểm ( 1: rất không đồng ý, 2: không đồng ý, 3: đồng ý một phần, 4: đồng ý, 5: rất đồng ý Khi
phân tích câu hỏi A2 và A5 có thái độ tiêu cực được mã hóa và chuyển thành câu có thái độ tích cực (5 chuyển thành 1, 4 chuyển thành 2) Tổng điểm của 9 câu hỏi sẽ là điểm thái độ chung của người bán lẻ thuốc tham gia khảo sát Như vậy, đối tượng nghiên cứu có điểm thái độ tối thiểu là 9 điểm và tối đa là 45 điểm Khi phân tích, tổng điểm thái độ được phân làm 2 nhóm tương tự nghiên cứu của Peterson Clark (2010) [30] và Khan (2014) [47]:
- Thái độ kém: dưới 27 điểm
- Thái độ tốt: từ 27 điểm trở lên
Biến tuổi là biến liên tục khi phân tích được phân loại thành người bán thuốc dưới 40 tuổi và người bán thuốc từ 40 tuổi trở lên
Biến số lượng nhân viên nhà thuốc là biến liên tục khi phân tích được phân loại thành nhà thuốc có dưới 3 nhân viên và nhà thuốc có từ 3 nhân viên trở lên
Trang 28Biến cơ sở đào tạo dựa trên tên cơ sở mà người bán thuốc đã tốt nghiệp gần đây nhất để phân loại trường đào tạo dân lập và công lập dựa trên danh sách các trường đại học, cao đẳng được công bố bởi Bộ giáo dục và đào tạo
Biến nguồn thông tin, do câu hỏi nhiều lựa chọn nên khi phân tích chuyển thành người bán thuốc trả lời kiến thức về kháng sinh có được từ 1 nguồn thông tin
và 2 nguồn thông tin
b Xử lý thống kê
Biến phân loại: tính tần suất, tỷ lệ phần trăm Tiến hành so sánh tỷ lệ giữa các
nhóm: sử dụng kiểm định chi bình phương khi tần số mong đợi ≥ 5 hoặc Fisher’s
exact khi tần số mong đợi <5
Biến liên tục: tính trung bình, SD nếu biến phân phối chuẩn và trung vị nếu biến phân phối không chuẩn Kiểm định biến phân phối chuẩn bằng test Skewness Tiến hành so sánh trung bình điểm giữa các nhóm sử dụng Independent T - test và test Anova nếu biến phân bố chuẩn, sử dụng test Mann-Whithney và Kruskal-Wallis nếu biến phân bố không chuẩn
Các chỉ số nghiên cứu được trình bày ở phụ lục 5
2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Những người bán lẻ thuốc tham gia nghiên cứu được thông báo về sự bảo mật hoàn toàn về thông tin cá nhân, không cung cấp cho bên thứ 3 và câu trả lời của họ chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Các đối tượng nghiên cứu cũng có quyền từ chối tham gia vào nghiên cứu Điều này đảm bảo rằng đối tượng tham gia không có
bất kỳ rủi ro, trách nhiệm và không ảnh hưởng việc làm, danh tiếng của họ
Tôi xin cam kết đảm bảo tính trung thực trong việc thu thập, tổng hợp và xử
lý số liệu để đánh giá, kết luận một cách khách quan với thực tế tại địa bàn nghiên cứu
2.2.7 Đóng góp của tác giả
Nghiên cứu là một nội dung được triển khai cùng với đề tài nghiên cứu cấp
Bộ Y tế của Trường Đại học Dược Hà Nội Riêng phần dữ liệu thu thập tại Hà Nội được tài trợ bởi Tổ chức y tế thế giới Tác giả là một trong những thành viên của nhóm nghiên cứu trực tiếp thu thập số liệu tại Thành phố Đà Nẵng Dữ liệu của Hà
Trang 29Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, tác giả sử dụng dữ liệu chung của nhóm nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - BÀN LUẬN 3.1 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH VÀ KHÁNG KHÁNG SINH
3.1.1 Kiến thức
3.1.1.1 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh
a Kiến thức về nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Kiến thức về nguyên tắc cơ bản khi sử dụng kháng sinh mà người bán thuốc cần phải có bao gồm nội dung liên quan tác dụng của kháng sinh, các trường hợp cần
sử dụng kháng sinh, độ dài đợt điều trị, tác dụng không mong muốn của kháng sinh Xem xét về các nội dung này, nghiên cứu khảo sát 160 người bán lẻ thuốc tại 160 cơ
sở bán lẻ thuốc cho kết quả như sau:
Bảng 3.4 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Mã
câu
Trả lời đúng n=160 ( %)
Trả lời sai n=160 ( %)
Không biết n= 160 (%)
K3 Sử dụng kháng sinh giúp triệu chứng sốt cảm
cúm, ho được chữa khỏi nhanh hơn
83 (51,9)
Trang 31Đáng chú ý, kiến thức về độ dài đợt điều trị của kháng sinh rất quan trọng để người bán thuốc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh Tuy nhiên chỉ
có 50,0% người bán lẻ thuốc trả lời đúng câu hỏi về độ dài đợt điều trị của kháng sinh và có đến 43,1% đồng ý rằng thời gian điều trị kháng sinh thường là 3 ngày Đây là nội dung có tỷ lệ người bán thuốc trả lời sai nhiều nhất trong các nội dung về nguyên tắc sử dụng kháng sinh đã khảo sát
b.Kiến thức về một số lưu ý khi sử dụng kháng sinh
Trong quá trình tư vấn cho khách hàng sử dụng và điều trị bằng kháng sinh thì các thông tin liên quan đến thời điểm dùng, tác dụng không mong muốn cũng như tương tác thuốc - thuốc, thuốc - thức ăn là rất quan trọng Vì thế, nhằm xem xét kiến thức của người bán thuốc về những lưu ý khi sử dụng kháng sinh, nghiên cứu đã khảo sát người bán thuốc dựa trên các câu hỏi về một số kháng sinh cụ thể được bán phổ biến tại cơ sở bán lẻ thuốc Kết quả thu được như sau:
Bảng 3.5 Tỷ lệ người bán lẻ thuốc trả lời đúng kiến thức về một số lưu ý
K7 Thời điểm nên uống viên amoxicillin/acid clavulanic so
với bữa ăn (n=152)
có ga (60,1%)
Hầu hết người bán lẻ thuốc trả lời rằng tác dụng không mong muốn của amoxicillin là dị ứng (chiếm 77,6%) và tiêu chảy/ rối loạn tiêu hóa (64,1%) Tuy nhiên, chỉ có 51,0% người phản hồi cho rằng tác dụng không mong muốn amoxicillin bao gồm cả dị ứng và rối loạn tiêu hóa/ tiêu chảy
Trang 32c Kiến thức của người bán lẻ thuốc về quy định bán kháng sinh
Quy định bán kháng sinh là kiến thức quan trọng bởi nó có liên quan đến thực hành của người bán thuốc Khảo sát thực trạng của người bán thuốc về vấn đề này thu được kết quả như sau:
Bảng 3.6 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về quy định bán kháng sinh
Mã
câu
Trả lời đúng N=160 ( %)
Trả lời sai N=160 ( %)
Không biết
N =160 (%)
K10 Kháng sinh là loại thuốc kê đơn (khi bán lẻ
phải có đơn của bác sĩ)
38
(23,8)
21
(13,1)
K12 Người bán thuốc có thể bị phạt khi bán kháng
sinh không có đơn
K13 Khi khách hàng cần thiết phải điều trị kháng
sinh, nên khuyên /thuyết phục khách hàng đi
3.1.1.2 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về kháng kháng sinh
Xem xét kiến thức của người bán thuốc về kháng kháng sinh, nghiên cứu tiến hành khảo sát với 7 nội dung liên quan đến khái niệm, ảnh hưởng và các yếu tố góp phần vào sự gia tăng của kháng kháng sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy 152 trên tổng số 156 người bán lẻ thuốc đã nghe nói về kháng kháng sinh, chiếm 97,4% và chỉ có 4/156 người tham gia trả lời “ không rõ” Cụ thể, kiến thức của người bán lẻ
thuốc tham gia nghiên cứu về kháng kháng sinh được trình bày ở bảng sau:
Trang 33Bảng 3.7 Kiến thức của người bán lẻ thuốc về kháng kháng sinh
Trả lời sai n=160 (%)
Không biết n=160 (%)
K15 Kháng kháng sinh có nghĩa là vi khuẩn
không bị tiêu diệt bởi kháng sinh
K17 Kháng kháng sinh sẽ ảnh hưởng tới sức
khỏe tôi và gia đình tôi
K18 Kháng kháng sinh hiện nay khiến việc điều
trị cho khách hàng của tôi trở nên khó khăn
K19 Nếu kháng sinh sử dụng không đủ thời gian
điều trị, vi khuẩn trở nên kháng kháng sinh
K20 Người bán thuốc bán kháng sinh không có
đơn là nhân tố góp phần gia tăng kháng
3.1.1.4 Đánh giá kiến thức chung của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh
Kiến thức chung của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh bao gồm: kiến thức về nguyên tắc sử dụng kháng sinh và một số lưu ý khi sử dụng kháng sinh, kiến thức về quy định cung cấp kháng sinh và kiến thức về kháng kháng sinh Theo kết quả của kiểm định skewness, tổng điểm kiến thức chung về sử
Trang 34dụng kháng sinh và kháng kháng sinh là phân phối chuẩn (skewness= -0,715), điểm
Tỷ lệ % điểm đạt được/điểm tối đa
Phân loại điểm kiến thức chung về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh, thành 3 nhóm: kiến thức kém, kiến thức trung bình và kiến thức kém như sau:
Hình 3.3 Phân loại kiến thức của người bán lẻ thuốc về sử dụng kháng
Trang 35Phần lớn người bán thuốc tham gia nghiên cứu có kiến thức tốt về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh, chiếm 64,5% Tỷ lệ người bán thuốc có điểm kiến
Bảng 3.9 Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về sử dụng kháng sinh và
kháng kháng sinh
(n)
Tỷ lệ (%) Tập huấn về văn bản quy phạm pháp luật quy
định việc bán thuốc kê đơn (n=152)
Đào tạo kiến thức về sử dụng kháng sinh (n=138)
Đã được đào tạo
Chưa được đào tạo
Tự học theo tài liệu sẵn
Học hỏi kinh nghiệm của người bán thuốc khác
Học theo đơn của bác sĩ
Học trong chương trình đào tạo của trường
Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về kháng
kháng sinh (n=154)
Tờ rơi, pano, áp phích
Internet
Nghe đài, báo
Chương trình đài, báo, tivi
Học về kháng kháng sinh tại trường
Chưa từng học
Có nghe nói, nhưng chưa từng học
Học lồng ghép trong các bài giảng
Trang 36Có 72,4% người đã từng tham gia tập huấn về văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc bán thuốc kê đơn, trong đó phần lớn người bán thuốc từng được tập huấn bởi Sở Y tế (60/111 người trả lời, chiếm 54,1%), Hội dược học (19/111 người trả lời, chiếm 17,1%) và Phòng Y tế (48/111 người trả lời, chiếm 43,2%)
Bên cạnh đó, 72,5% đối tượng nghiên cứu đã từng được đào tạo kiến thức về
sử dụng kháng sinh (liều dùng, tác dụng, chỉ định, tác dụng không mong muốn và các lưu ý khi sử dụng kháng sinh) Hầu hết người bán thuốc trả lời rằng họ được đào tạo theo chương trình đào tạo khi còn học ở trường, tập huấn tại Sở Y tế hoặc học hỏi từ chủ đầu tư, dược sĩ phụ trách chuyên môn
Phần lớn cho biết rằng thông tin về kiến thức sử dụng kháng sinh được cung cấp trong chương trình đào tạo của nhà trường, chiếm 69,6% Các nguồn thông tin khác là: tự học theo tài liệu có sẵn (46%), học hỏi quan sát kinh nghiệm của người bán thuốc khác (31,2%), học theo đơn của bác sĩ (41,6%) Ngoài ra, 46,3% đối tượng nghiên cứu chỉ sử dụng một nguồn thông tin, còn lại, 53,7% sử dụng từ 2 nguồn thông tin trở lên
Liên quan đến nguồn thông tin cung cấp kiến thức về kháng kháng sinh, chương trình đài báo, tivi được người bán thuốc sử dụng nhiều nhất chiếm 55,2%, tiếp theo đó là nghe đài báo (51,3%), Internet (41,6%), tờ rơi, pano, apphich (18,8%)
Kết quả cho thấy rằng, có đến 25,8% người bán thuốc chưa từng được học về kháng kháng sinh trong chương học của nhà trường, 37,7% được học lồng ghép qua các bài giảng, 36,4% được học thành nội dung, chủ đề riêng
Trang 37Bảng 3.10 Thái độ của người bán lẻ thuốc về thực trạng
sử dụng kháng sinh trong cộng đồng hiện nay
không đồng ý
n (%)
Đồng
ý một phần
n (%)
Rất đồng ý/Đồng
A2 Hầu hết kháng sinh được người bán thuốc bán không
có đơn cho người bệnh là hợp lý
A3 Người bán thuốc có thể tác động hoặc thay đổi đến kê
đơn kháng sinh của bác sĩ nếu phát hiện đơn kê không
hợp lý (n=160)
66
(41,3)
41 (25,6)
53
(33,1)
A4 Người bán thuốc có vị trí rất quan trọng (có kiến thức,
kỹ năng) để cung cấp lời khuyên, tư vấn cho người
dân về việc sử dụng kháng sinh (n=160)
A5 Thông tin chi tiết về việc sử dụng kháng sinh (liều
dùng, khoảng thời gian điều trị, tác dụng phụ, ) cho
người bệnh chủ yếu được cung cấp từ bác sĩ (n=160)
A6 Thông tin chi tiết về sử dụng kháng sinh (liều dùng,
khoảng thời gian điều trị, tác dụng phụ, ) cho người
bệnh chủ yếu được được cung cấp chủ từ người bán
thuốc (n=160)
31
(19,4)
78 (48,8)
51
(31,9)
Kết quả cho thấy, hầu hết người bán thuốc (95%) nhận thức được vai trò của
mình trong việc cung cấp lời khuyên, tư vấn về kháng sinh cho người dân và 80,7%
cho rằng thông tin chi tiết về sử dụng kháng sinh (liều dùng, thời gian, tác dụng phụ) được cung cấp chủ yếu từ người bán thuốc Tuy nhiên, chỉ có 42,5% người bán thuốc đồng ý rằng hầu hết kháng sinh được người bán thuốc bán không có đơn là hợp lý và 58,7% người bán thuốc trả lời rằng thuốc có thể tác động hoặc thay đổi kê đơn của bác sĩ nếu phát hiện đơn kê không hợp lý
3.1.2.2.Thái độ của người bán lẻ thuốc về thực trạng bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc thuốc