Trước thực trạng đó, với mong muốn đánh giá được thực trạngtiêu thụ kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh, chúng tôi tiến h
Trang 1PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thùy Dương
- Phó trưởng bộ môn Dược lực, người đã nhiệt tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian và
tâm huyết, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS Thân Thị Hải Hà -
Phó trưởng khoa Dược, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, người đã giúp đỡ tôi tận tình
bằng những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tế của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội
-những người thầy đã trang bị cho tôi kiến thức cùng kinh nghiệm quý báu giúp tôi có
được cơ hội thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới BSCKII Nguyễn Vũ Thủy - trưởng khoa Vi
sinh và các anh chị kĩ thuật viên phòng Vi sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương cùng
Ban lãnh đạo, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Dược bệnh viện Phụ sản Trung ương
đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin tại Bệnh viện và tạo điều kiện thuận lợi
nhất để tôi hoàn thành đề tài này
Tôi cũng xin được cảm ơn DS Nguyễn Tùng Sơn, cùng bạn Đinh Thị Ngọc
Hà người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian làm khóa luận
Cuối cùng tôi xin được gửi lời lời cảm ơn sâu sắc và đặc biệt nhất tôi xin gửi
đến gia đình và bạn bè tôi - những người đã luôn bên cạnh, che chở, động viên tôi
trong suốt chặng đường vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thu Nga
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC VIẾT TẮT TÊN VI KHUẨN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 3
1.1.1 Lược sử kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh 3
1.1.2 Cơ chế đề kháng kháng sinh 4
1.2 Xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 6
1.2.1 Xu hướng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm 6
1.2.2 Xu hướng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram dương 8
1.3 Tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus 10
1.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii 11
1.3.3 Tình hình kháng kháng sinh của Escherichia coli 11
1.3.4 Tình hình kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae 12
1.3.5 Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa 12
1.4 Tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn sản phụ khoa và nhiễm khuẩn sơ sinh 13
1.4.1 Vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn sản phụ khoa và tình hình kháng kháng sinh 13
1.4.2 Vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn sơ sinh và tình hình đề kháng kháng sinh 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.1 Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018 16
2.1.2 Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018 16
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018 16
2.2.2 Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018 17
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 20
3.1 Kết quả khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018 20
3.1.1 Đặc điểm và xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện 20
3.1.2 Tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa phòng 21
3.2 Kết quả khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại bệnh viện giai đoạn 1/2017 – 12/2018 24
3.2.1 Đặc điểm các mẫu BP phân lập được vi khuẩn 25
3.2.2 Kết quả các vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện 26
3.2.3 Mức đồ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp 29
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Về tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018 43
4.1.1 Về đặc điểm và xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện 43
4.1.2 Về tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa phòng 44
4.2 Về mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018 45
4.2.1 Về đặc điểm các mẫu BP phân lập được vi khuẩn 45
4.2.2 Về kết quả các vi khuẩn phân lập được tại viện 45
4.2.3 Về mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp 47
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANSORP Tổ chức nghiên cứu tác nhân vi khuẩn kháng thuốc Châu Á
(Asian Network for Surveillance of Resistant Pathogens)
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh
(Centers for Disease Control and Prevention)
CLSI Viện chuẩn hóa lâm sàng và xét nghiệm Hoa Kỳ
(Clinical & Laboratory Standards Institute)
CRE Enterobacteriaceae kháng carbapenem
(Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae)
DHFR Dihydrofolat reductase
ESBL Extended Spectrum Beta-lactamase
I Trung gian đề kháng
ICU Đơn vị chăm sóc tích cực
(Intensive care unit)
KSĐ Kháng sinh đồ
MBC Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu
MBL Metallo-beta-lactamase
MDR Đa kháng thuốc
(Multi Drug Resistant)
MIC Nồng độ ức chế tối thiểu
(Minimum inhibitory concentration)
MRSA Tụ cầu vàng đề kháng methicilin
(Methicilin-resistant Staphylococcus aureus)
NKSS Nhiễm khuẩn sơ sinh
PBP Penicillin Binding Protein
Trang 7PDR Toàn kháng
(Pan-Drug Resistant)
VISA Tụ cầu vàng đề kháng trung gian với vancomycin
(Vancomycin-intermediate Staphylococcus aureus)
VRE Enterococcus đề kháng vancomycin
(Vancomycin-resistant Enterococus)
VRSA Tụ cầu vàng đề kháng vancomycin
(Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus)
WHOCC Trung tâm Hợp tác về Phương pháp Thống kê dược, Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO Collaborating Centre for Drug Statistics Methodology)
(Extensively Drug Resistant)
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT TÊN VI KHUẨN
A baumannii Acinetobacter baumannii
CoNS Coagulase-negative Staphylococci
E coli Escherichia coli
E faecalis Enterococcus faecalis
E faecium Enterococcus faecium
K pneumoniae Klebsiella pneumoniae
P aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
S agalactiae Streptococcus agalactiae – liên cầu B - GBS
S aureus Staphylococcus aureus
S pneumoniae Streptococcus pneumoniae
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 Tình hình tiêu thụ kháng sinh trong toàn viện 20
Bảng 3.2 Kết quả kiểm định Mann-Kendall xu hướng sử dụng kháng sinh tại khoa Sản NK 24
Bảng 3.3 Số lượng các mẫu BP phân lập được vi khuẩn 25
Bảng 3.4 Phân bố số lượng vi khuẩn trong mẫu BP 25
Bảng 3.5 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện 26
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa Sản NK 27
Bảng 3.7 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa Sơ sinh 28
Bảng 3.8 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa khác 28
Bảng 3.9 Số lượng và tỷ lệ có kết quả KSĐ đối với các chủng vi khuẩn 29
Bảng 3.10 Kết quả kháng sinh đồ đối với Escherichia coli 30
Bảng 3.11 Số lượng và tỷ lệ sinh ESBL của Escherichia coli 32
Bảng 3.12 So sánh mức độ đề kháng kháng sinh của các chủng E coli 33
Bảng 3.13 Kết quả kháng sinh đồ đối với Klebsiella spp 34
Bảng 3.14 Số lượng và tỷ lệ sinh ESBL của Klebsiella spp 35
Bảng 3.15 Kết quả kháng sinh đồ đối với Staphylococcus aureus 37
Bảng 3.16 Số lượng và tỷ lệ S aureus kháng methicilin 38
Bảng 3.17 Phân bố giá trị MIC của Staphylococcus aureus với vancomycin 39
Bảng 3.18 Kết quả kháng sinh đồ đối với CoNS 39
Bảng 3.19 Số lượng và tỷ lệ vi khuẩn CoNS kháng methicilin 40
Bảng 3.20 Phân bố giá trị MIC của CoNS với vancomycin 41
Bảng 3.21 Kết quả kháng sinh đồ đối với Enterococcus spp 41
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập số liệu 18
Hình 3.1 Tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa phòng 21
Hình 3.2 Mức độ tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo tháng tại khoa sản NK 22
Hình 3.3 Xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo tháng tại khoa sản NK 23
Hình 3.4 Sơ đồ lựa chọn mẫu nghiên cứu 24
Hình 3.5 Tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện 26
Hình 3.6 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Escherichia coli 31
Hình 3.7 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Klebsiella spp 35
Hình 3.8 Mức độ đề kháng kháng sinh của Acinetobacter spp 36
Hình 3.9 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus 38
Hình 3.10 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn CoNS 40
Hình 3.11 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Enterococcus spp 42
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tình trạng kháng kháng sinh luôn là một trong những vấn đề thời sự trên quy mô toàn cầu, các vi khuẩn không ngừng gia tăng mức độ đề kháng kháng sinh trong các cơ sở y tế và trong cộng đồng Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), chỉ riêng tại Mỹ, vi khuẩn kháng kháng sinh gây ra ít nhất 23.000 ca tử vong mỗi năm, gây tổn thất 55 - 70 tỷ USD mỗi năm [87] Tại châu
Âu, con số này là 25.000 ca tử vong mỗi năm và gánh nặng kinh tế hàng năm ước tính xấp xỉ 1,5 tỷ Euro [88] Sự gia tăng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc trong hoàn cảnh sự ra đời của các thuốc kháng sinh mới ngày càng hạn chế làm cho việc điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn ngày càng khó khăn
Tại Việt Nam, theo số liệu từ khoa dược tại 15 bệnh viện cho thấy tổng kháng sinh sử dụng trung bình tại mỗi bệnh viện là 274,7 DDD trên 100 ngày giường [6] Mức độ sử dụng kháng sinh ở Việt Nam cao hơn xấp xỉ năm lần so với số liệu được công bố từ Hà Lan và tổng kháng sinh sử dụng bình quân được báo cáo từ 139 bệnh viện thuộc 30 quốc gia Châu Âu [6] Tương ứng với mức độ sử dụng kháng sinh tương đối cao so với các nước khác trên thế giới, tình trạng kháng kháng sinh cũng cho thấy mức độ đáng báo động tại tất cả các bệnh viện Trong số các nước thuộc mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu Á (ANSORP), Việt Nam có mức độ kháng
penicilin cao nhất (71,4%), kháng erythromycin (92,1%) với vi khuẩn Streptococcus
pneumoniae (S pneumoniae) [81] Cũng theo số liệu báo cáo sử dụng kháng sinh và
kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện ở Việt Nam, năm 2009 có 30 - 70% các vi khuẩn gram âm kháng với các kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 và 4 (C3G và C4G), xấp xỉ
40 - 60% kháng với các kháng sinh nhóm aminoglycosid và fluoroquinolon [6] Sử dụng kháng sinh là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển và gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh, do đó cần kết hợp giám sát việc sử dụng kháng sinh và việc theo dõi tình hình đề kháng kháng sinh
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa Sản tuyến cuối Tại khoa Vi sinh của Bệnh viện từ năm 2017 đã áp dụng được nhiều kỹ thuật tiên tiến trong xét nghiệm vi sinh, như kỹ thuật định danh và kháng sinh đồ bằng máy cấy tự động Tuy nhiên, bệnh viện chưa có báo cáo vi sinh định kỳ, cũng như chưa có nghiên cứu về tình hình đề kháng kháng sinh để hỗ trợ cho các bác sĩ lâm sàng trong việc sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm cũng như trong việc xây dựng hướng dẫn sử dụng
Trang 12kháng sinh tại cơ sở Trước thực trạng đó, với mong muốn đánh giá được thực trạngtiêu thụ kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh nhằm góp phần vào việc nâng cao
hiệu quả sử dụng kháng sinh, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh và đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập đƣợc tại Bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng” với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018
2 Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
1.1.1 Lược sử kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh
Kháng sinh theo quan niệm truyền thống được định nghĩa là những chất do các
vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…) tạo ra có khả năng ức chế sự phát triển của các
vi khuẩn khác Ngày nay, kháng sinh còn được tạo ra bằng quá trình bán tổng hợp hay tổng hợp hóa học Do đó, kháng sinh được định nghĩa là những chất có nguồn gốc vi sinh vật được bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học, ở liều thấp có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh [2], [19]
Penicilin là loại kháng sinh đầu tiên được phát hiện vào năm 1928 khi
Alexander Fleming tiến hành nuôi cấy chủng nấm Penicillin notatum [53], [54] Kể từ
khi ra đời, penicilin đã làm thay đổi nền y học hiện đại và cứu sống hàng triệu người, bởi đây là kháng sinh đầu tiên được kê đơn trong các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng trong chiến tranh thế giới thứ hai [84] Năm 1940, Abraham và Chain là người đầu tiên
báo cáo một chủng Escherichia coli (E coli) có thể làm bất hoạt penicilin bằng cách
sản xuất penicillinase Sự lan truyền đề kháng penicilin được ghi nhận vào năm 1942,
khi bốn chủng Staphylococcus aureus (S aureus) kháng penicilin được phân lập tại bệnh viện Từ đó, tỷ lệ nhiễm khuẩn do S aureus kháng penicilin nhanh chóng tăng lên từ bệnh viện đến cộng đồng Đến cuối những năm 1960, hơn 80% các chủng S
aureus mắc phải tại cộng đồng và bệnh viện đều kháng penicilin [55] Sự lan truyền
nhanh chóng của tình trạng kháng penicilin tạm thời dừng lại khi kháng sinh methicilin ra đời năm 1960 Tuy nhiên, năm 1962 tại Anh, năm 1968 tại Hoa Kỳ đã phân lập được các trường hợp tụ cầu vàng kháng methicilin (Methicilin-resistant
Staphylococcus aureus– MRSA) đầu tiên Khoảng 20 năm sau, tỷ lệ MRSA tại Hoa
Kỳ đã lên tới 29% trong số bệnh nhân nhiễm S aureus tại bệnh viện [53]
Năm 1972, vancomycin được tìm ra và đưa vào thực hành lâm sàng để điều trị
các trường hợp kháng methicilin ở S aureus và Coagulase-negative Staphylococci
(CoNS) Vancomycin từng được coi là kháng sinh rất khó xảy ra tình trạng khángjn
kháng sinh [84] Tuy nhiên năm 1997, Nhật Bản đã báo cáo về trường hợp đầu tiên S
aureus kháng vancomycin Sau đó, tại nhiều nước khác cũng xuất hiện nhiều chủng
kháng vancomycin [55]
Trang 14Như vậy, từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1980, ngành công nghiệp dược phẩm giới thiệu nhiều kháng sinh mới để giải quyết vấn đề kháng thuốc, nhưng sau đó đường ống kháng sinh bắt đầu cạn kiệt dần và ít thuốc mới được giới thiệu Kết quả là vào những năm gần đây, nhiều thập kỷ sau khi những bệnh nhân đầu tiên điều trị bằng kháng sinh, nhiễm khuẩn lại trở thành mối đe dọa [84]
để thể hiện tác dụng [54] Một số vi khuẩn Gram âm kháng tự nhiên với nhiều kháng sinh bởi chúng không có khả năng thấm qua màng tế bào Vancomycin chỉ tác dụng lên các vi khuẩn Gram dương bằng cách ức chế sự hình thành màng peptidoglycan thông qua liên kết với peptid D-Ala-D-Ala tận cùng của các pentapeptid, thường có ở vách tế bào các vi khuẩn này [29]
Ngoài khả năng kháng thuốc tự nhiên, vi khuẩn có thể kháng thuốc thu được Khi chúng tiếp xúc với kháng sinh dưới liều cần thiết để tiêu diệt tất cả vi khuẩn trong quần thể (nồng độ diệt khuẩn tối thiểu - MBC), chúng có thể biến đổi và kháng kháng sinh thông qua chọn lọc tự nhiên để gây đột biến kháng thuốc Những đột biến gen này
có thể phát sinh kháng thuốc bằng việc sử dụng plasmid mã hóa gen kháng thuốc hoặc
do đột biến nhiễm sắc thể của chính vi khuẩn [23], [73] Đột biến nhiễm sắc thể thường xảy ra ở ba loại gen: gen mã hóa đích tác dụng của kháng sinh; gen mã hóa kênh vận chuyển của kháng sinh, gen điều hòa mã hóa làm giảm biểu hiện kênh vận chuyển kháng sinh; gen mã hóa các chất làm phân hủy kháng sinh [59] Từ đó, vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh thông qua các cơ chế khác nhau như: tạo enzym biến đổi hoặc phân hủy kháng sinh, thay đổi tính thấm màng tế bào, thay đổi đích tác dụng, bơm tống thuốc [19], [54]
Trang 151.1.2.1 Tạo enzym biến đổi hoặc phân hủy kháng sinh
Vi khuẩn có khả năng tạo ra các enzym biến đổi hoặc phân hủy làm mất hoạt
tính của kháng sinh Các vi khuẩn E coli, Klebsiella pneumoniae (K pneumoniae) có
khả năng tạo ra enzym beta-lactamase phá hủy vòng beta-lactam dẫn đến đề kháng các kháng sinh nhóm beta-lactam [36] Hay chloramphenicol acetyltransferase là enzym được tạo ra bởi một số vi khuẩn Gram dương và Gram âm làm mất hoạt tính của chloramphenicol Ở các vi khuẩn hiếu khí, sự đề kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid phổ biến nhất do bất hoạt kháng sinh bằng cách tạo ra enzym khác nhau tấn công nhóm amino hoặc hydroxyl của kháng sinh ở ba phản ứng: N-acetyl hóa, O-nucleotidyl hóa và O-phosphoryl hóa Các enzym này được mã hóa bởi các gen trên plasmid hoặc nhiễm sắc thể [46]
1.1.2.2 Thay đổi tính thấm màng tế bào
Tính thấm màng tế bào thay đổi làm cho thuốc kháng sinh không xâm nhập được vào tế bào vi khuẩn Các kháng sinh thân nước cần vận chuyển tích cực qua các kênh porin nằm trên màng tế bào vi khuẩn để đến đích tác dụng Vi khuẩn có thể giảm tính thấm bằng cách giảm biểu hiện các kênh porin hoặc thay thế bằng các kênh chọn
lọc hơn Dữ liệu nghiên cứu cho thấy các vi khuẩn Enterobacteriaceae, Pseudomonas
spp và Acinetobacter spp đề kháng lại các kháng sinh nhóm carbapenem bằng cách
giảm biểu hiện các kênh porin trên màng tế bào Khoảng 25% các trường hợp nhiễm
Pseudomonas aeruginosa (P aeruginosa) kháng lại imipenem do đột biến mất protein
porin D2 [29], [46]
1.1.2.3 Thay đổi đích tác dụng
Các vi khuẩn kháng thuốc có thể thay đổi receptor gắn thuốc, như kháng sinh nhóm beta-lactam ức chế vi khuẩn bằng cách liên kết cộng hóa trị với PBP (Penicillin Binding Protein) trên màng tế bào vi khuẩn Vì vậy, khi các vi khuẩn giảm ái lực hoặc thay đổi số lượng PBP dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh beta-lactam [29], [54] Hay trimethoprim là một chất ức chế mạnh dihydrofolat reductase (DHFR) của vi khuẩn Khi enzym DHFR bị thay đổi sẽ làm trimethoprim mất tác dụng Các gen mã hóa làm thay đổi enzym này được tìm thấy chủ yếu trên các plasmid của các vi khuẩn
Gram âm và cũng được tìm thấy trên các chủng vi khuẩn Staphylococci [46]
Trang 161.1.2.4 Bơm tống thuốc
Một số vi khuẩn có bơm vận chuyển tích cực các kháng sinh ra từ trong tế bào
ra ngoài làm mất tác dụng của kháng sinh, như bơm tống thuốc kháng sinh fluoroquilononđược phát hiện trên các vi khuẩn đường ruột và Staphylococci Cơ chế
này làm giảm mạnh sự tiếp cận của kháng sinh với vi khuẩn [46] Đặc biệt, các vi khuẩn Gram âm có thể biểu hiện các bơm tống thuốc có cấu trúc đa dạng và có khả năng loại bỏ nhiều loại kháng sinh khác nhau, làm giảm nồng độ nội bào của kháng sinh, giúp cho vi khuẩn có thể sống sót trong môi trường có nồng độ kháng sinh cao và gây tình trạng đa kháng thuốc [28], [54]
1.2 Xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
Vi khuẩn đề kháng kháng sinh thường không chỉ do một mà phối hợp nhiều cơ chế riêng rẽ kể trên Trực khuẩn Gram âm có khả năng đề kháng kháng sinh beta-lactam bằng cách sản sinh beta-lactamase, thay đổi đích tác động PBP, thay đổi tính thấm bằng cách giảm số lượng các kênh porin trên màng tế bào và hệ thống bơm tống thuốc Có nhiều định nghĩa khác nhau cho các mức độ đề kháng của vi khuẩn: đa kháng thuốc (Multi Drug Resistant - MDR), kháng mở rộng (Extensively Drug Resistant - XDR) và toàn kháng (Pan-Drug Resistant - PDR) Các mức độ kháng thuốc được mô tả như sau [56]:
- Đa kháng khi không nhạy cảm với ít nhất một kháng sinh trong ba nhóm được thử
- Kháng mở rộng khi chỉ còn nhạy cảm với một hoặc hai nhóm kháng sinh được thử
- Toàn kháng là không nhạy cảm với tất cả kháng sinh của tất cả các nhóm được thử
1.2.1 Xu hướng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm
Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram
âm ngày càng gia tăng, vai trò gây bệnh của các vi khuẩn Gram âm đang chiếm ưu thế
với tỷ lệ khoảng 70% [2], [48] Các vi khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp là E coli,
K pneumoniae, Acinetobacter baumannii (A baumannii), P aeruginosa và đây cũng
chính là những tác nhân được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào danh sách ưu tiên cần phát triển kháng sinh mới [85] Theo ước tính của CDC, hàng năm có khoảng 2 triệu bệnh nhân ở Hoa Kỳ nhiễm khuẩn do các vi khuẩn Gram âm đa kháng, gây ra hơn
23.000 ca tử vong mỗi năm Đa số các ca tử vong đều do nhiễm Enterobacteriaceae sản xuất beta-lactamase phổ rộng (ESBL), Enterobacteriaceae kháng carbapenem (CRE), Acinetobacter spp MDR và P aeruginosa MDR [61], [85]
Trang 171.2.1.1 Vi khuẩn Enterobacteriaceae sinh ESBL, Enterobacteriaceae kháng carbapenem (CRE)
Vi khuẩn sản xuất enzym beta-lactamase là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến kháng kháng sinh beta-lactam, chúng thủy phân cấu trúc oxyimino của vòng beta-lactam Theo phân loại Ambler, enzym này gồm 4 nhóm A, B, C, D, trong đó beta-lactamase phổ mở rộng nhóm A là nguyên nhân chính của đề kháng với C3G ở các
loài Enterobacteriaceae [41], [69] Tại Hoa Kỳ, E coli sinh ESBL typ CTX-M dần
thay thế typ SHV, typ TEM; chúng lan rộng trên cộng đồng cũng như các bệnh viện Ở
một số khu vực, CTX-M-15 và CTX-M-14 chiếm lớn hơn 80% E coli sinh ESBL typ
CTX-M [48] Ngoài ra, vi khuẩn còn sinh carbapenemase đề kháng tất cả kháng sinh nhóm beta-lactam Các gen mã hóa carbapenemase thường nằm trên các plasmid hoặc các yếu tố di truyền khác, cho phép chúng có khả năng trao đổi và di truyền đề kháng cho các vi khuẩn khác [48] Hiện nay, tình trạng CRE ngày càng phổ biến Theo báo cáo của CDC, từ năm 2001 đến 2011, tỷ lệ CRE đã tăng từ 1,2% đến 4,2% [74]
1.2.1.2 Vi khuẩn Acinetobacter spp MDR
Hiện nay, tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Acinetobacter ngày càng gia tăng Tại Anh từ năm 2004 đến năm 2008, tỉ lệ Acinetobacter spp không nhạy cảm
với carbapenem đã tăng từ 13% lên 29% [86] Trong số 20 loài thường gây bệnh trên
người thuộc chi Acinetobacter, A baumannii được báo cáo có tỷ lệ MDR lên đến 63%
[76] Vi khuẩn có cơ chế kháng thuốc đa dạng, trong đó cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn là bơm tống thuốc, thay đổi kênh porin trên màng tế bào và sinh men beta-lactamase bao gồm cả ESBL và carbapenemase, kết hợp với thành tế bào vốn dày tự
nhiên tạo ra các chủng Acinetobacter có khả năng đề kháng với tất cả kháng sinh (XDR) [51] Colistin hoặc tigecylin thường dùng điều trị trong các trường hợp A
baumannii MDR Tuy nhiên, các chủng đề kháng colistin cũng đã xuất hiện trên toàn
thế giới Một nghiên cứu giám sát gần đây tại Hy Lạp cho thấy trong số 100 chủng A
baumannii ở bệnh nhân ICU, 3% đã kháng colistin; con số này ở châu Âu (2001 –
2004) cũng khoảng 3%; sự xuất hiện các chủng kháng colistin cũng được báo cáo ngày càng tăng [57] Vì vậy, việc phối hợp phác đồ chứa colistin và các kháng sinh khác như tigecyclin, cefoperazon/sulbactam… là cần thiết nhằm giảm tình trạng kháng thuốc và tăng hiệu quả điều trị [51]
Trang 181.2.1.3 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa MDR
Theo kết quả của hệ thống giám sát quốc gia về nhiễm khuẩn bệnh viện Hoa Kỳ
cho thấy P aeruginosa được xác định là một trong 5 tác nhân thường phân lập tại
bệnh viện, chiếm 9% trong tất cả các bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện ở Hoa Kỳ [52] Sự
xuất hiện các chủng P aeruginosa MDR, XDR cho thấy chúng có thể kháng nhiều
loại kháng sinh như aminoglycosid, quinolon và beta-lactam qua các kiểu đề kháng tự nhiên, đề kháng thu được và đề kháng thích nghi [67], [82] Do tính thấm của màng tế
bào vi khuẩn này thấp hơn 12 – 100 lần so với các vi khuẩn Gram âm khác như E coli,
kết hợp với các cơ chế khác như tăng biểu hiện bơm tống thuốc và sản xuất enzym
phân hủy kháng sinh làm xuất hiện các chủng P aeruginosa đa kháng trên lâm sàng
Vi khuẩn này còn có thể hình thành màng sinh học (biofilm), đặc biệt trên bệnh nhân
nhiễm khuẩn kéo dài, mạn tính gây ra sự đề kháng thích nghi của vi khuẩn [67], [82]
1.2.2 Xu hướng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram dương
Các vi khuẩn Gram dương là nguyên nhân phổ biến của nhiễm khuẩn huyết và các nhiễm khuẩn khác trên các bệnh nhân nhập viện tại Hoa Kỳ, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram dương kháng thuốc ngày càng tăng lên [72] Trong đó,
các tác nhân MRSA, Enterococcus faecium (E faecium) kháng vancomycin và S
pneumoniae kháng thuốc được CDC coi là mối đe dọa nguy hiểm cho cộng đồng Bởi
MRSA, Enterococcus đề kháng vancomycin (VRE) là nguyên nhân hàng đầu gây
nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe tại Hoa Kỳ, với ước tính gây ra hơn 12.000 ca tử vong mỗi năm [62]
1.2.2.1 Tụ cầu vàng đề kháng methicilin (MRSA), tụ cầu vàng đề kháng trung gian với vancomycin (VISA), tụ cầu vàng đề kháng vancomycin (VRSA)
Tại Hoa Kỳ năm 2004 có khoảng 60% các trường hợp nhiễm S aureus tại khoa
ICU là MRSA và tỷ lệ này đang tiếp tục tăng [72] Vancomycin là lựa chọn ưu tiên trong trường hợp nhiễm khuẩn MRSA nặng Tuy nhiên, tình trạng giảm nhạy cảm và
đề kháng với vancomycin đã được báo cáo nhiều trong những năm gần đây Các chủng
S aureus đề kháng trung gian vancomycin (VISA) có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)
từ 4 - 8 µg/mL Cơ chế đề kháng của VISA liên quan đến đột biến điểm trong gen mã hóa các phân tử sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn làm vách tế bào dày lên, giảm liên kết ngang của peptidoglycan, giảm hoạt động tự động của các enzym chịu trách nhiệm cho sự thay đổi cấu vách tế bào, thay đổi cấu hình protein bề mặt, làm hạn chế sự xâm
Trang 19nhập của vancomycin vào vị trí hoạt động của nó trong vách tế bào Trường hợp đầu
tiên S aureus (VRSA) kháng hoàn toàn với vancomycin được báo cáo tại Hoa Kỳ,
năm 2002 với MIC > 100 µg/mL Cơ chế đề kháng của VRSA do liên quan đến gen vanA và sự chuyển gen qua plasmid từ vi khuẩn VRE [26], [40], [60]
1.2.2.2 Vi khuẩn Enterococcus đề kháng vancomycin (VRE)
VRE lần đầu tiên phát hiện ở Anh và Pháp năm 1986 trên chủng Enterococcus
faecium, sau đó là VRE trên các chủng Enterococcus faecalis (E faecalis) Kể từ khi
được phát hiện, VRE đã lây lan nhanh chóng ra bệnh viện tại Hoa Kỳ, Anh (năm 2000) và cuối cùng lây lan trên toàn thế giới [65], [68] VRE được xếp là nguyên nhân
phổ biến thứ hai gây nhiễm khuẩn bệnh viện, sau các chủng Staphylococci với tỷ lệ
nhập viện do nhiễm VRE tăng gấp đôi từ 2003 đến 2006 [71] Hiện nay, 8 biến thể
kháng vancomycin của các vi khuẩn Enterococcus được ghi nhận Chúng được phân loại từ VanA tới VanG, trong đó kiểu hình VanA gây ra hầu hết các trường hợp E
faecium đề kháng trên khắp thế giới [49] VRE dẫn đến sự thay đổi đích tác dụng của
vancomycin là D-ala-D-ala bằng D-ala-D-lactac hoặc D-ala-D-serin Trong đó, sự thay thế bằng D-ala-D-lactac thường phổ biến hơn và chúng giảm 1.000 lần ái lực với vancomycin [49]
1.2.2.3 Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae MDR
Streptococus pneumoniae (S pneumoniae) là một trong những nguyên nhân
phổ biến nhất gây ra các nhiễm khuẩn mắc phải tại cộng đồng như: viêm phổi, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não do vi khuẩn và các bệnh khác [35] Nhiễm
khuẩn do S pneumoniae gây ra 1,6 triệu người tử vong trên toàn thế giới, trong đó có
1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi [35] Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do S pneumoniae vẫn cao
mặc dù đã điều trị bằng kháng sinh thích hợp Sự gia tăng của việc tiêu thụ kháng sinh
đã góp phần mạnh mẽ vào sự xuất hiện của các chủng đa kháng (MDR) Đầu những
năm 1990, các chủng S pneumoniae MDR đã xuất hiện trên toàn thế giới Các chủng
này không chỉ kháng mạnh với penicilin với giá trị MIC tăng gấp 1000 lần mà còn kháng với nhiều loại kháng sinh khác như erythromycin, clindamycin, tetracyclin và chloramphenicol [32] Gần đây, theo một nghiên cứu tại Hàn Quốc (2011 – 2012) đã
xuất hiện các chủng S pneumoniae XDR, chúng đề kháng với các kháng sinh nhóm
beta-lactam, macrolid, lincosamid, chloramphenicol, quinolon và cotrimoxazol [33]
Trang 201.3 Tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Việt Nam
Trong số các nước thuộc mạng lưới ANSORP, Việt Nam có mức độ kháng penicilin cao nhất và kháng erythromycin đến 91,2% Cũng theo báo cáo của ANSORP, trong các vi khuẩn thường gặp tại bệnh viện ở nước ta, các vi khuẩn Gram
âm chiếm đa số với 78,5%, vi khuẩn Gram dương chiếm 21,5% [6] Trong đó, các vi
khuẩn gây bệnh thường gặp bao gồm: S aureus, A baumannii, E coli, Klebsiella, P
aeruginosa [6] Theo một nghiên cứu khác được thực hiện tại 15 khoa ICU trên khắp
Việt Nam (2012 – 2013), các vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn bệnh viện là A
baumannii (24,4%), P aeruginosa (13,8%) và K pneumoniae (11,6%) [70] Đây
cũng chính là những căn nguyên thường gặp gây nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa ICU Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn 2012 - 2017 [16]
1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus
S aureus là nguyên nhân gây nhiều loại nhiễm khuẩn trong bệnh viện như:
viêm phổi, nhiễm khuẩn da mô mềm và nhiễm khuẩn huyết Hiện nay, MRSA đang là vấn đề đáng quan tâm trong nhiễm khuẩn bệnh viện và nhiễm khuẩn cộng đồng Sự phổ biến của MRSA đã được báo cáo ở các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc với tỷ lệ lên đến 70% - 80% Tại Việt Nam năm 2011, tỷ lệ MRSA được báo cáo trên đối tượng bệnh nhân nhiễm khuẩn bệnh viện là 74,1%, nhiễm khuẩn cộng đồng là 30,1% [80]
Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của S aureus cũng ngày càng gia tăng và khác nhau giữa các bệnh viện trên cả nước Ở khu vực phía Nam, S aureus kháng cao với
penicilin (100%), erythromycin (93,4%), clindamycin (92,6%), azithromycin (91,9%) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, kháng gentamicin 68,8% tại Bệnh viện Chợ Rẫy, kháng oxacilin 63,8% tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Huế [6], kháng penicilin
là 98,3% tại Bệnh viện An Bình [20] Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ MRSA tại bệnh viện An Bình là 70,7%, song 100% các chủng nhạy cảm với vancomycin với 85,4% giá trị MIC = 0,5 µg/mL [20] Trên các bệnh nhân nhiễm
khuẩn vết mổ tại viện Bạch Mai và một số bệnh viện phía Bắc (năm 2009), 100% S
aureus kháng với penicilin, kháng oxacilin 40%, kháng erythromycin và clindamycin
đều ở mức 70%, kháng gentamicin ở mức trên 40%, kháng ciprofloxacin 30%, đặc biệt, nghiên cứu cũng ghi nhận 4 trường hợp đề kháng vancomycin [17]
Trang 211.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii
Acinetobacter được xem là vi khuẩn hàng đầu gây viêm phổi bệnh viện, nhiễm
khuẩn huyết, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn tiết niệu tại bệnh viện [63] và kháng với hầu hết kháng sinh kể cả những kháng sinh phổ rộng, mạnh nhất hiện nay Theo tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn các kháng sinh sử dụng thường xuyên hiện nay đã bị kháng như ceftriaxone 70%, ceftazidim 64%, ciprofloxacin 55% và
Acinetobacter trở thành tác nhân hàng đầu kháng toàn bộ kháng sinh cùng với P aeruginosa gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều trị [18]
Kết quả kháng kháng sinh của 3.000 chủng A baumannii phân lập được tại 7
bệnh viện lớn, đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam từ năm 2012 - 2013 cho thấy vi khuẩn này đã có tỷ lệ kháng cao với hầu hết các kháng sinh thường dùng trong bệnh viện (tỷ lệ kháng trên 70% ở 13 trên tổng số 15 loại kháng sinh được thử nghiệm) Trong đó tỷ lệ kháng với nhóm carbapenem với 2 đại diện imipenem và meropenem lần lượt là: 76,5% và 81,3% Nhóm cephalosporin kháng trên 80%, trong đó kháng cefepim 83,9%; kháng ceftazidim 86,7%; kháng cefotaxim 88%; kháng ceftriaxon 93,1% [10]
Đặc biệt, vi khuẩn còn có khả năng sản xuất men MBL lactamase) đề kháng với tất cả kháng sinh nhóm beta-lactam Theo kết quả nghiên cứu tại viện Pastuer, năm 2013 phát hiện 15 chủng trên tổng 30 chủng có khả năng sinh enzym MBL [18] Trước tình trạng vi khuẩn đa kháng ngày càng gia tăng, colistin là kháng sinh được chấp nhận trong liệu pháp điều trị cuối Theo kết quả nghiên cứu tại khoa ICU Bệnh viện Bạch Mai (2011 – 2015), giá trị MIC90 với colistin của các
(metallo-beta-chủng A baumannii còn rất thấp, dao động trong khoảng từ 0,19 – 0,5 µg/mL [16]
1.3.3 Tình hình kháng kháng sinh của Escherichia coli
Theo báo cáo về tình hình đề kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện ở nước ta, E
coli đã giảm nhạy cảm với C3G và có tỉ lệ kháng cao với cotrimoxazol dao động từ 60
- 80%; tỉ lệ kháng với carbapenem thấp hơn 2% tại hầu hết các bệnh viện [6] Tại
Bệnh viện Bạch Mai (2011 - 2015), các chủng E coli phân lập cũng nhạy cảm tốt với
tất cả các kháng sinh nhóm carbapenem và amikacin với tỷ lệ > 80%, song các kháng sinh quinolon, cephalosporin đã bị đề kháng cao [16] Các kết quả này cũng tương tự như kết quả của nghiên cứu SMART tại Việt Nam (2009 - 2011), thực hiện trên 697
chủng vi khuẩn E coli phân lập từ bệnh nhân nhiễm khuẩn ổ bụng [27]
Trang 22Vi khuẩn E coli sinh ESBL gây nên những hậu quả nghiêm trọng trên lâm sàng
bởi chúng không chỉ đề kháng với tất cả các kháng sinh cephalosporin, mà còn kháng cao với các nhóm kháng sinh khác do khả năng di truyền gen đề kháng qua trung gian plasmid Tại các bệnh viện khác nhau, tỷ lệ sinh ESBL của vi khuẩn khá dao động: Bệnh viện Việt Đức 57,3%, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 54,7%, Bệnh viện Chợ Rẫy 49%, Bệnh viện Phổi Trung ương 23,1% (số liệu năm 2009) [6] Nghiên cứu trên
bệnh nhân nhiễm khuẩn ổ bụng cho thấy tỷ lệ E coli sinh ESBL là: 48,1% tại 4 bệnh
viện lớn tại Hà Nội [27]; 38,3% tại khu vực châu Á; 22,9 % tại khu vực Mỹ Latinh
và 18,5% tại khu vực Trung Đông [48]
1.3.4 Tình hình kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae
K pneumoniae là một loài quan trọng nhất của chi Klebsiella trong họ Enterobacteriaceae Bệnh lý quan trọng nhất do K pneumoniae gây ra là viêm phổi
(thường gặp ở trẻ sơ sinh) Bệnh có tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời
[31] Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính và cộng sự, K pneumoniae đã
giảm nhạy cảm với các kháng sinh thường dùng trong điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn như ceftazidim, cotrimoxazol, ciprofloxacin và gentamicin [6] Vi khuẩn có khả năng đề kháng kháng sinh bằng cách sinh 2 loại enzym là ESBL và carbapenemase Hiện nay, tỷ lệ sinh enzym ESBL của vi khuẩn cũng khá cao tại một số bệnh viện như: 45,9% tại Bệnh viện Thống Nhất [9]; 51,3% tại Bệnh viện Nhi Trung ương; 52,8% tại Bệnh viện Chợ Rẫy; 72,7% tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (72,7%) [6] Ở nước
ta, tỷ lệ đề kháng của Klebsiella spp với carbapenem thường dưới 20% Cụ thể, kết
quả dịch tễ đề kháng carbapenem tại các nước Đông Nam Á là 5 - 10% [44] Kết quả nghiên cứu đa trung tâm năm 2008 – 2009 tại 16 bệnh viện của Phạm Hùng Vân và
nhóm nghiên cứu MIDAS cho thấy K pneumoniae kháng imipenem 3,2% và kháng
meropenem 1,2% [22] Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất (năm 2012) trên bệnh nhân viêm phổi cũng cho thấy, tỷ lệ đề kháng imipenem là 9,5% [9]
1.3.5 Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa
Pseudomonas aeruginosa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm
khuẩn bệnh viện trong đó tỷ lệ viêm phổi bệnh viện (14 - 16%), nhiễm khuẩn đường tiết niệu (7 - 11%), nhiễm khuẩn vết mổ (8%) và nhiễm khuẩn huyết (2 - 6%)
[52] Trong những năm gần đây, tỷ lệ vi khuẩn P aeruginosa gây nhiễm khuẩn bệnh
viện đã tăng dần trên thế giới và cả Việt Nam, cùng với sự gia tăng về tỉ lệ nhiễm
Trang 23khuẩn là sự gia tăng về khả năng đề kháng kháng sinh [4], [52], [67] Theo kết quả
nghiên cứu từ 4 bệnh viện tại Hà Nội (năm 2005 – 2008) cho thấy P aeruginosa đề
kháng rất cao với các loại kháng sinh như tetracyclin (92,1%), ceftriaxon (58,5%) và gentamicin (54%), imipenem (15,8%) [8] Kết quả khảo sát của Hoàng Doãn Cảnh và
cộng sự tại viện Pasteur, tp Hồ Chí Minh cũng cho thấy P aeruginosa kháng với hầu
hết các kháng sinh với tỷ lệ khá cao (trên 40%), kháng imipenem 46,2% và 17,9% số chủng có khả năng sản xuất carbapenemase [4]
1.4 Tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn sản phụ khoa và nhiễm khuẩn sơ sinh
1.4.1 Vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn sản phụ khoa và tình hình kháng kháng sinh
Nhiễm khuẩn sản phụ khoa thường liên quan đến tình trạng đa nhiễm khuẩn các
vi khuẩn gây bệnh bao gồm vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn kị khí
Các vi khuẩn hiếu khí gây bệnh thường gặp là Staphylococci, Enterococi,
Streptococcus nhóm B, các trực khuẩn Gram âm như E coli, K pneumoniae, Proteus
Trong đó, E coli là một phần của hệ vi khuẩn đường ruột và âm đạo Trong sản phụ
khoa, chúng có thể là tác nhân đơn độc gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn
ối, hay phối hợp với tác nhân khác gây nhiễm khuẩn hậu sản Tuy nhiên, cả nhiễm
khuẩn đơn độc E coli hay đa nhiễm khuẩn đều có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết
[42] Theo một nghiên cứu hồi cứu năm 2009 - 2012, trên bệnh nhân nhiễm khuẩn
huyết trước và sau sinh cho thấy E coli là căn nguyên hàng đầu, chiếm 41,4% vi khuẩn hiếu khí phân lập được Sau đó là Streptococcus agalactiae (S agalactiae)
(25,9%) [66] Theo một nghiên cứu khác, tại Trung tâm Y khoa sau Đại học Jinnah,
Karachi, Pakistan, S aureus và E coli là 2 tác nhân thường gặp gây nhiễm khuẩn huyết hậu sản, trong đó S aureus chiếm 34,6%; tỷ lệ MRSA là 14,6%; tất cả các
chủng này còn nhạy cảm với vancomycin [30] Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2014,
tại Bệnh viện Từ Dũ, tác nhân chính gây nhiễm khuẩn tại bệnh viện là E coli (29,3%),
Staphylococcus epidermidis (21,8%), S aureus (13,1%) [1] Trong đó, các chủng E coli đề kháng trên 50% với ciprofloxacin (50,2%); đề kháng trên 60% với các kháng
sinh C3G như ceftriaxon (64,1%), cefotaxim (65,5%); đề kháng trên 70% với cephalosporin thế hệ 1, 2 (C1G, C2G) như cefaclor (75,2%), cefuroxim (75,5%) và đề kháng trên 90% với các penicilin như ampicilin (97,6%), penicilin (99,2%) [1]
Trang 24Các vi khuẩn kỵ khí gây nhiễm khuẩn sản phụ khoa bao gồm Peptococci,
Peptostreptococci, Bactoroides, Prevotella, Uebacterium (thường liên quan đến dụng
cụ tránh thai trong tử cung) Trong đó, Ureaplasma species và Mycoplasma hominis là
hai tác nhân thường gặp gây nhiễm khuẩn ối [83] Theo nghiên cứu tại Ontario Canada (năm 2010 - 2011), trong hơn 2500 chủng vi khuẩn kỵ khí phân lập, kết quả cho thấyBacteroides fragilis có 98,2% kháng với penicilin, 24,7% kháng với clindamycin,
kháng thấp với các kháng sinh piperacilin/tazobactam (1,6%), metronidazol (1,2%) [58] Kết quả này cũng khá tương đồng với nghiên cứu tại Croatia năm 2013, các
chủng Bacteroides spp kháng cao với penicilin (97,1%), kháng thấp với
amoxicilin/acid clavulanic (5,7%), piperacilin/tazobactam (8,6%) và metronidazol
(2,9%) [64] Trong khi, Clostridium perfringens còn rất nhạy cảm với penicilin, piperacilin/tazobactam và meropenem thì 14,2% Clostridium spp khác đã kháng với
penicilin [58]
1.4.2 Vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn sơ sinh và tình hình đề kháng kháng sinh
Nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) là tình trạng tổn thương viêm của một hay nhiều
cơ quan trong cơ thể do vi khuẩn gây ra ở thời kỳ sơ sinh Bệnh thường hay gặp với tỷ
lệ dao động từ 1 – 10% và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh, đặc biệt khi trẻ sinh non [3], [24], [39]
Các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ sơ sinh gồm viêm phổi, viêm da, viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết Trong đó, nhiễm khuẩn huyết là căn nguyên hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (xảy ra trong vòng 3 ngày sau sinh) thường do vi khuẩn từ đường sinh dục của mẹ (thường xảy ra ở những phụ nữ bị nhiễm khuẩn âm đạo), tay của nhân viên y tế, dụng cụ y tế, hay người chăm sóc trẻ, đồ
dùng với tác nhân thường gặp là S agalactiae (liên cầu nhóm B - GBS), E coli,
Listeria monocytogenes … Trong lịch sử, liên cầu nhóm B là tác nhân căn nguyên phổ
biến nhất gây NKSS còn E coli là nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong ở trẻ sơ
sinh Tuy nhiên, hiện nay nhờ việc sàng lọc và điều trị GBS trước sinh và điều trị dự phòng bằng kháng sinh trên phụ nữ có thai đã làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhưng lại liên quan đến việc tăng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Gram âm, đặc biệt ở trẻ nhẹ cân và non tháng [78] Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn thường lây lan từ các nhân viên y tế hoặc từ
Trang 25mẹ, người chăm sóc trẻ, đồ dùng Vi khuẩn thường gặp trong giai đoạn này phần lớn là
E coli, Klebsiella spp., Proteus spp., Pseudomonas spp., S aureus
Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vi khuẩn gây NKSS chủ yếu là vi khuẩn Gram âm và tụ cầu Một số nghiên cứu đều chỉ ra Klebsiella là căn nguyên hàng đầu gây NKSS Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Điệp, vi khuẩn gây viêm
phổi sơ sinh đứng đầu là Klesbsiella spp 51,7%, Pseudomonas spp 14,9%, E coli 13,8% và S aureus 11,5% Nghiên cứu khác tại Bệnh viện Nhi Hà Nội cho cũng cho thấy K pneumoniae là tác nhân chính gây viêm phổi ở trẻ sơ sinh chiếm 47,9% tổng
số các vi khuẩn Gram âm, tiếp đến E coli (19,1%), P aeruginosa (17,0%), Serratia
(3,2%) [5] Nghiên cứu của Phạm Thị Xuân Tú trên đối tượng trẻ sơ sinh cũng cho thấy vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết cũng liên quan đến vi khuẩn Gram âm, đứng đầu
là Klebsiella spp chiếm 58,0% [15] Theo kết quả nghiên cứu tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ
(2000 – 2006), trên trẻ sơ sinh bị nhiễm khuẩn huyết tại khoa ICU các vi khuẩn được
phân lập phổ biến nhất là Klebsiella spp (39,6%), P aeruginosa (11,3%) và CoNS
(9,4%) Nghiên cứu cũng cho thấy các vi khuẩn Gram âm kháng ampicilin (100%), cefotaxim (88%), gentamicin (73%), amikacin (23%), không có trường hợp nào kháng
carbapenem được tìm thấy ngoại trừ P aeruginosa Các vi khuẩn Gram dương kháng
với penicilin lên tới 100%, clindamycin 58,3%, không có trường hợp nào kháng glycopeptid hoặc carbapenem [25]
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018
Số lượng tiêu thụ thuốc kháng sinh từ phần mềm quản lý của khoa Dược và số ngày nằm viện của bệnh nhân tại khoa lâm sàng của Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018
Tiêu chuẩn loại trừ: số lượng tiêu thụ thuốc kháng sinh và số ngày nằm viện của bệnh nhân tại khoa Sơ sinh giai đoạn 1/2014 – 12/2018
2.1.2 Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018
Hồ sơ vi sinh nội trú: có kết quả dương tính nuôi cấy vi khuẩn, kết quả định danh vi khuẩn tại khoa Vi sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018
2.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu dữ liệu định lượng số liều DDD/100 ngày nằm viện theo từng khoa và toàn bệnh viện giai đoạn 1/2014 – 12/2018
2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
Truy xuất số lượng tiêu thụ kháng sinh của toàn viện và các khoa lâm sàng giai đoạn 1/2014 – 12/2018 từ phần mềm quản lý thuốc khoa Dược
Số liệu thống kê số ngày nằm viện của bệnh nhân ở các khoa lâm sàng được lấy
từ phần mềm quản lý bệnh nhân nội trú của viện
2.2.1.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm và xu hướng tiêu thụ kháng sinh của toàn bệnh viện
- Đặc điểm tiêu thụ kháng sinh tại các khoa lâm sàng
- Xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại khoa Sản nhiễm khuẩn
Trang 272.2.1.4 Tiêu chí đánh giá
Số liều DDD/100 ngày nằm viện được sử dụng để đánh giá các mức độ sử dụng thuốc kháng sinh của toàn viện và các khoa lâm sàng trong giai đoạn 1/2014 – 12/2018 Số liều DDD/100 ngày nằm viện được tính theo công thức:
DDD/100 ngày nằm viện=
Giá trị DDD của các thuốc kháng sinh được tham khảo từ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Hợp tác về Phương pháp Thống kê dược, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO Collaborating Centre for Drug Statistics Methodology - WHOCC) Chỉ những kháng sinh đường dùng toàn thân (Mã J01) mới đưa vào nghiên cứu, các chế phẩm kháng sinh đặt, thuốc nhỏ mắt không bao gồm trong nghiên cứu Danh sách các kháng sinh được trình bày ở Phụ lục 2
2.2.2 Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2017 – 12/2018
2.2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu dữ liệu vi sinh nội trú: có kết quả dương tính nuôi cấy vi khuẩn, kết quả định danh, kết quả kháng sinh đồ (KSĐ) tại khoa Vi sinh bệnh viện giai đoạn 1/2017 – 12/2018
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Từ dữ liệu vi sinh nội trú của khoa lưu trữ tại phần mềm Labcom trích xuất thông tin thống kê kết quả xét nghiệm vi sinh nuôi cấy vi khuẩn, sàng lọc hồ sơ vi sinh
có kết quả dương tính với vi khuẩn (danh sách hồ sơ dương tính được trình bày ở Phụ lục 4) Từ mã lưu trữ và thông tin trong hồ sơ vi sinh tiến hành thu thập kết quả kháng sinh đồ tại phần mềm Vitek 2 vào phiếu thu thập thông tin (Phụ lục 1)
Trang 282.2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
Đặc điểm của mẫu bệnh phẩm (BP) phân lập được vi khuẩn:
- Số lượng và tỷ lệ của các mẫu BP phân lập được vi khuẩn
- Phân bố số lượng vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm
Kết quả phân lâp vi khuẩn:
- Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại viện
- Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại các khoa phòng
Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp:
- Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn Gram âm
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Escherichia coli
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Klebsiella spp
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Acinetobacter spp
Dữ liệu kết quả xét nghiệm
vi sinh nuôi cấy vi khuẩn
Hồ sơ vi sinh có kết quả dương tính với vi khuẩn
Thông tin tên BP, mã lưu trữ của các hồ sơ trên
Vitek 2
Trang 29- Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn Gram dương
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của CoNS
o Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của Enterococcus spp
Tỷ lệ sinh ESBL của một số trực khuẩn Gram âm đường ruột:
- Tỷ lệ sinh ESBL của Escherichia coli
- Tỷ lệ sinh ESBL của Klebsiella spp
2.2.2.4 Tiêu chí nghiên cứu
Định danh vi khuẩn gây bệnh:
Kết quả định danh vi khuẩn gây bệnh được thực hiện bằng máy Vitek 2 compact định danh và kháng sinh đồ tự động
Đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn:
Mức độ nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được trong mẫu nghiên cứu theo tiêu chí biện giải kết quả của Viện chuẩn hóa lâm sàng và xét nghiệm Hoa Kỳ (Clinical & Laboratory Standards Institute - CLSI) năm 2015 [45] được cài đặt sẵn trong hệ thống Kết quả được thực hiện tự động và phiên giải mức độ nhạy cảm (S), trung gian (I), đề kháng (R)bằng máy Vitek 2 compact định danh và kháng sinh
đồ tự động Các kháng sinh được thử trong từng kít thử với các loại vi khuẩn được trình bày ở Phụ lục 3
2.2.2.5 Quy ước trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu, các mẫu BP tiến hành nuôi cấy và phân lập được vi khuẩn bao gồm mẫu BP máu, mẫu dịch hô hấp, dịch vú, dịch sinh dục Trong đó, mẫu dịch sinh dục trong nghiên cứu bao gồm dịch âm đạo, sản dịch, dịch hút buồng tử cung, dịch mỏm cắt tử cung
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 và SPSS 22 để quản lý, thống kê, phân tích và xử lý số liệu Biến định danh và phân hạng được trình bày dưới dạng tần suất Sử dụng kiểm định Mann - Kendall để phân tích xu hướng tiêu thụ thuốc kháng sinh tại khoa Sản nhiễm khuẩn (NK) Xu hướng được kết luận tăng nếu các chỉ số phân tích S > 0 và p < 0,05, xu hướng được kết luận giảm nếu S < 0 và p < 0,05 Các trường hợp cho kết quả phân tích có p > 0,05 được kết luận không có xu hướng
Trang 30CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 3.1 Kết quả khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 1/2014 – 12/2018
3.1.1 Đặc điểm và xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện
Chúng tôi tiến hành phân loại các kháng sinh sử dụng tại bệnh viện theo nhóm dựa trên hệ thống phân loại ATC và khảo sát DDD/100 ngày nằm viện của các nhóm trong toàn bệnh viện, kết quả được trình bày ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Tình hình tiêu thụ kháng sinh trong toàn viện
Về xu hướng tiêu thụ, tổng lượng tiêu thụ của toàn viện qua các năm gần như không đổi nhiều, số liều dao động trong khoảng 50 DDD/100 ngày nằm viện Các kháng sinh carbapenem (imipenem), C2G có xu hướng tăng Cụ thể, kháng sinh
Trang 31carbapenem năm 2018 số liều là 0,9 tăng gấp gần 7 lần so với năm 2014 (0,13 DDD/100 ngày nằm viện) Trong khi đó, các kháng sinh C3G có xu hướng giảm Các nhóm kháng sinh còn lại có xu hướng không rõ ràng
3.1.2 Tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa phòng
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh theo nhóm tại các khoa trong viện bao gồm khoa Sản (Sản thường, Sản bệnh lý, Sản NK), các khoa Phụ (Phụ ngoại, Phụ nội tiết, Phụ ung thư), khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC), khoa Điều trị tự nguyện (ĐTTN) và trung tâm Sàn chậu (TTSC) Kết quả được trình bày ở Hình 3.1
*Các nhóm: macrolid, aminoglycoside, peptid, tetracyclin, lincosamid
Hình 3.1 Tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa phòng
Nhận xét:
Kết quả khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại các khoa trong viện, chúng
tôi thấy tổng lượng tiêu thụ kháng sinh trung bình năm tại khoa Sản NK lớn nhất trong bệnh viện với tổng số liều DDD/100 ngày nằm viện là 132,21 lớn gấp 2,5 lần lượng tiêu thụ kháng sinh của toàn viện, sau đó là khoa Sản bệnh lý với 85,10 liều DDD/100 ngày nằm viện và khoa Phụ nội tiết với 59,56 liều DDD/100 ngày nằm viện
Trang 32Về cơ cấu tiêu thụ, penicilin + chất ức chế beta-lactamase và kháng sinh C2G được dùng phổ biến ở tất cả các khoa phòng Khoa Sản NK là đơn vị có lượng tiêu thụ các kháng sinh C2G, 5-nitroimidazol, fluoroquilonon, carbapenem, C3G và lớn nhất trong viện với số liều DDD/100 ngày nằm viện lần lượt là 53,46; 26,43; 21,01; 9,89; 6,1
Xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại khoa Sản nhiễm khuẩn
Khoa Sản NK là đơn vị điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn chính của viện và có lượng tiêu thụ lớn nhất trong viện Đặc biệt, kháng sinh nhóm carbapenem được tiêu thụ nhiều nhất tại khoa và kháng sinh này đang có xu hướng tiêu thụ tăng tại bệnh viện Vì vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo từng tháng trong giai đoạn 1/2014 – 12/2018 tại khoa Sản nhiễm khuẩn Xu hướng này được thể hiện ở Hình 3.2
Hình 3.2 Mức độ tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo tháng tại khoa sản NK
Tiến hành kiểm định mức độ và xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh tại khoa theo phân tích Mann-Kendall Kết quả được trình bày ở Bảng 3.2
5-nitroimidazol Penicilin + chất ức chế beta lactamase
Trang 33Hình 3.3 Xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo tháng tại khoa sản NK
Ghi chú: A Penicilin + chất ức chế betalatamase; B C2G; C C3G; D Carbapenem; E Fluoroquinolon; F 5-nitroimidazol
Trang 34Bảng 3.2 Kết quả kiểm định Mann-Kendall xu hướng sử dụng kháng sinh tại
S = -1196, p ≤ 0,0001 Trong khi, các kháng sinh penicilin + chất ức chế betalatamase
và C2G có xu hướng không đổi
3.2 Kết quả khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại bệnh viện giai đoạn 1/2017 – 12/2018
Trong giai đoạn 1/2017 – 12/2018, từ 5833 hồ sơ vi sinh nuôi cấy vi khuẩn lưu trữ tại phần mềm Labcom thu được 584 hồ sơ phân lập được vi khuẩn Tiến hành thu thập kết quả KSĐ của các mẫu này, chúng tôi thu được 335 kết quả kháng sinh đồ Sơ
đồ lựa chọn mẫu được trình bày ở Hình 3.3
5833 hồ sơ vi sinh nuôi cấy
Trang 353.2.1 Đặc điểm các mẫu BP phân lập được vi khuẩn
Số lượng của các mẫu BP phân lập được vi khuẩn tại toàn viện và các khoa, phân bố số lượng vi khuẩn trong mẫu BP được trình bày ở Bảng 3.3 và Bảng 3.4
Bảng 3.3 Số lƣợng các mẫu BP phân lập đƣợc vi khuẩn Bệnh phẩm
Số lƣợng (%) Toàn viện Khoa Sản NK Khoa sơ sinh Khoa khác
và dịch vú, trong khi tại khoa Sơ sinh chủ yếu là mẫu máu
Đặc điểm vi khuẩn trong các mẫu BP cho thấy hầu hết các mẫu chỉ nhiễm 1 chủng vi khuẩn, 5,3% các mẫu nhiễm 2 chủng vi khuẩn
Trang 363.2.2 Kết quả các vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện
3.2.2.1 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại viện
Kết quả phân lập các loại vi khuẩn và các chủng vi khuẩn phân lập được tại viện được thể hiện ở Hình 3.4 và Bảng 3.5
Hình 3.5 Tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập đƣợc tại bệnh viện
Bảng 3.5 Số lƣợng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập đƣợc tại bệnh viện
45.7%
Trang 37Nhận xét:
Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy vi khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ là 54,3%, vi
khuẩn Gram dương chiếm 45,7% Trong đó, E coli (29,6%), S aureus (27,0%) là 2
tác nhân thường gặp nhất chiếm hơn 50% số chủng vi khuẩn phân lập được tại bệnh
viện Tiếp đến, Enterococcus spp chiếm 10,1% bao gồm 3 loài là Enterococcus
faecalis (90,3%), Enterococcus faecium (8,1%), Enterococcus avium (1,6%) Một số
vi khuẩn gây bệnh thường gặp khác là Klebsiella spp (7,2%) (gồm chủ yếu là K
pneumoniae), CoNS (4,7%) (chủ yếu là Staphylococcus epidermidis), Acinetobacter spp (3,1%) (chủ yếu là A baumannii), Enterobacter spp (2,8%), S agalactiae (2,9%), Serratia marcescens (2,6%), P aeruginosa (2,3%)
3.2.2.2 Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại các khoa phòng
Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa Sản NK được thể hiện ở các Bảng 3.6
Bảng 3.6 Số lƣợng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập đƣợc tại khoa Sản NK
Tại khoa Sản NK, các vi khuẩn được phân lập nhiều nhất S aureus (40,7%), E
coli (36,7%), Enterococcus spp (11,3%) chủ yếu ở mẫu bệnh phẩm dịch sinh dục và
dịch vú Trong mẫu dịch sinh dục tác nhân gây bệnh chính là E coli (53,5%),
Enterococcus spp (16,9%), S aureus (12,3%) Mẫu dịch vú vi khuẩn S aureus là chủ
yếu chiếm 97,5% Mẫu BP máu phân lập được E coli (75%), S aureus (25%)
Trang 38Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa Sơ sinh được trình bày ở Bảng 3.7
Bảng 3.7 Số lƣợng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập đƣợc tại khoa Sơ sinh
Tại khoa Sơ sinh các tác nhân Klebsiella spp (13,1%), CoNS (12,5%),
Acinetobacter spp (8,1%), E coli (10,6%) là căn nguyên chủ yếu phân lập được tại
mẫu BP máu Ở mẫu BP dịch hô hấp, các vi khuẩn gây bệnh chính là Klebsiella spp (24,2%), Acinetobacter spp (18,2%), E coli (12,1%)
Số lượng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập được tại khoa khác được trình bày ở Bảng 3.8
Bảng 3.8 Số lƣợng và tỷ lệ các chủng vi khuẩn phân lập đƣợc tại khoa khác
Trang 39Nhận xét:
Tại các khoa khác vi khuẩn phân lập được chủ yếu ở mẫu BP dịch sinh dục với
E coli (51,3%), Enterococcus spp (15,4%)
3.2.3 Mức đồ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp
Từ mẫu BP có kết quả dương tính, chúng tôi tiến hành thu thập kết quả KSĐ
Số lượng và tỷ lệ có kết quả KSĐ đối với các chủng vi khuẩn được trình bày ở Bảng 3.9
Bảng 3.9 Số lƣợng và tỷ lệ có kết quả KSĐ đối với các chủng vi khuẩn
đƣợc (n)
Tỷ lệ có kết quả KSĐ (%)
3.2.3.1 Mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn Gram âm
Mức độ đề kháng kháng sinh của Escherichia coli
Vi khuẩn E coli là một tác nhân gây bệnh chiếm ưu thế tại bệnh viện, chúng tôi thu được 139 kết quả KSĐ Kết quả kháng sinh đồ và tỷ lệ đề kháng kháng sinh của E
coli được thể hiện ở Bảng 3.10 và Hình 3.5
Trang 40Bảng 3.10 Kết quả kháng sinh đồ đối với Escherichia coli
sulbactam 71 13 17 41 58 12 14 32 4 1 2 1 Piperacilin
/tazobactam 100 89 4 7 74 67 3 4 15 12 1 2 Cefazolin 70 18 1 51 57 14 1 42 4 2 2 Cefuroxim 34 14 20 31 11 20 1 1