1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHU PHƢƠNG HỒNG bƣớc đầu xây DỰNG mô HÌNH bào CHẾ MIẾNG DÍNH NIÊM mạc MIỆNG và ỨNG DỤNG với dƣợc CHẤT VERAPAMIL và FELODIPIN

61 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Màng mỏng kết dính niêm mạc miệng là dạng bào chế có nhiều ưu thế: so với đường uống, giúp tránh chuyển hóa thuốc qua gan lần đầu, tránh được ảnh hưởng của dịch tiêu hóa, tránh ảnh hưởng

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:

PGS TS Nguyễn Thị Thanh Duyên

Là người cô đã hết sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khóa luận này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các anh chị kĩ thuật viên bộ môn Công nghiệp Dược; các thầy cô giáo, các anh chị ở Viện Công nghệ Dược phẩm Quốc gia đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm nghiên cứu tại bộ môn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội với tri thức và tâm huyết đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cuối cùng, tối xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, cảm ơn những người bạn, người anh, chị, em – những người đã luôn ở bên, quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Dược Hà Nội

Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2019 Sinh viên

Chu Phương Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Sơ lược về hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng 2

1.1.1 Khái niệm và phân loại 2

1.1.2 Cấu tạo niêm mạc miệng, một số vị trí kết dính niêm mạc trong miệng và cơ chế hấp thu 2

1.1.3 Ưu điểm, nhược điểm của hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng 3

1.1.4 Một số dạng bào chế kết dính niêm mạc miệng 4

1.2 Sơ lược về màng mỏng kết dính niêm mạc miệng 5

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm 5

1.2.2 Cơ chế bám dính của màng mỏng lên niêm mạc miệng 6

1.2.3 Phương pháp bào chế 7

1.2.4 Một số nghiên cứu về màng kết dính niêm mạc miệng 8

1.2.5 Một số chế phẩm màng mỏng kết dính niêm mạc miệng trên thị trường 11

1.3 Tổng quan về felodipine 11

1.3.1 Công thức hóa học 11

1.3.2 Tính chất lý hóa và độ ổn định 12

1.3.3 Dược động học 12

1.3.4 Tác dụng dược lý 12

1.3.5 Chỉ định và liều dùng 12

1.3.6 Liều lượng 13

1.4 Tổng quan về verapamil hydroclorid 13

1.4.1 Công thức hóa học 13

1.4.2 Tính chất hóa lý 13

1.4.3 Độ ổn định 13

1.4.4 Tác dụng dược lý 13

1.4.5 Đặc tính dược động học 14

1.4.6 Chỉ định 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Nguyên liệu, thiết bị 15

Trang 5

2.1.1 Nguyên liệu 15

2.1.2 Thiết bị 15

2.2 Nội dung nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp thực nghiệm 16

2.3.1 Phương pháp lựa chọn bước sóng hấp thụ cực đại và xây dựng đường chuẩn của dung dịch dược chất 16

2.3.2 Phương pháp bào chế màng 17

2.3.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu chất lượng màng 18

2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng giải phóng dược chất qua màng 20

2.3.5 Đánh giá sự giải phóng ngược của dược chất qua màng nền EC 21

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 22

3.1 Xây dựng đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang với nồng độ dung dịch dược chất 22

3.1.1 Xây dựng đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang với nồng độ dung dịch felodipin 22

3.1.2 Xây dựng đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang với nồng độ dung dịch verapamil 22

3.2 Đánh giá phương pháp xử lý niêm mạc má lợn 23

3.3 Khảo sát xây dựng mô hình miếng dán kết dính niêm mạc miệng 24

3.3.1 Khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến khả năng tạo màng 24

3.3.2 Bào chế màng nền 27

3.3.2 Bào chế màng giả dược (placebo) - HPMC 29

3.4 Bào chế miếng dính niêm mạc miệng verapamil 33

3.4.1 Khảo sát ảnh hưởng của loại và lượng polyme đến khả năng giải phóng VRM qua màng sinh học 33

3.4.2 Khảo sát ảnh hưởng của PVP K30 đến khả năng giải phóng dược chất qua màng niêm mạc 36

3.4.3 Khảo sát ảnh hưởng của chất hóa dẻo đến khả năng giải phóng dược chất qua màng niêm mạc 38

3.5 Bào chế màng kết dính niêm mạc Felodipine 40

3.5.1 Khảo sát ảnh hưởng của HPMC E5 đến khả năng giải phóng FLD qua màng 40

3.5.2 Khảo sát ảnh hưởng Poloxamer 407 đến khả năng giải phóng FLD qua màng 41

Trang 6

3.6 Đánh giá một số chỉ tiêu màng dính niêm mạc miệng với công thức lựa chọn 43 3.6.1 Đánh giá màng verapamil 40mg với công thức lựa chọn 43 3.6.2 Đánh giá màng felodipine 10mg với công thức lựa chọn 44

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46

Trang 7

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ CÁI VIẾT TẮT

NaLS Natri lauryl sulfat

RSD Độ lệch chuẩn tương đối

SD Độ lệch chuẩn

TB Trung bình

TGBD Thời gian bám dính in-vitro

USP Dược điển Mỹ

VRM Verapamil hydroclorid

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Một số chế phẩm màng dính niêm mạc miệng trên thị trường 11

Bảng 2.1 Danh mục hóa chất và dung môi 15

Bảng 3.1 Sự tương quan giữa nồng độ felodipine và độ hấp thụ quang 22

Bảng 3.2 Sự tương quan giữa nồng độ verapamil và độ hấp thụ quang 23

Bảng 3.3 Tỷ lệ DCTQ màng niêm mạc của 1ml dung dịch FLD (n=6) 24

Bảng 3.4 Tỷ lệ DCTQ màng niêm mạc của 1ml dung dịch VRM (n=6) 24

Bảng 3.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng áp suất sấy trên màng EC 25

Bảng 3.6 Kết quả khảo sát ảnh hưởng áp suất sấy đến màng placebo 25

Bảng 3.7 Kết quả khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến màng 26

Bảng 3.8 Kết quả khảo sát loại EC đến đặc tính màng 27

Bảng 3.9 Thành phần công thức khảo sát màng EC (tương ứng với 100 cm2 màng) 28

Bảng 3.10 Kết quả đánh giá hình thức các màng EC 28

Bảng 3.11 Thành phần công thức khảo sát màng placebo với các loại HPMC (tương ứng 100cm2 màng) 29

Bảng 3.12 Kết quả khảo sát khả năng tạo màng placebo của các loại HPMC 29

Bảng 3.13 Thành phần các công thức màng mô hình khảo sát PVP K30 31

Bảng 3.14 Kết quả khảo sát ảnh hưởng PVP đến đặc tính và TGBD màng 31

Bảng 3.15 Thành phần các công thức mô hình sử dụng Poloxamer 31

Bảng 3.16 Kết quả khảo sát ảnh hưởng Poloxamer đến đặc tính và TGBD màng 32

Bảng 3.17 Thành phần các công thức màng mô hình khảo sát chất hóa dẻo 32

Bảng 3.18 Kết quả khảo sát ảnh hưởng PG đến đặc tính, TGBD màng 32

Bảng 3.19 Các công thức khảo sát màng VRM với HPMC E5 (tương ứng 100cm2) 33

Bảng 3.20 Kết quả khảo sát đặc tính màng verapamil khi sử dụng HPMC E5 33

Bảng 3.21 Kết quả thử tính thấm của VRM qua màng niêm mạc với HPMC E5 34

Bảng 3.22 Các công thức khảo sát màng VRM với HPMC E15 (tương ứng 100cm2) 34 Bảng 3.23 Kết quả khảo sát đặc tính màng verapamil khi sử dụng HPMC E15 35

Bảng 3.24 Kết quả thử tính thấm của VRM qua màng niêm mạc với HPMC E15 35

Bảng 3.25 Các công thức khảo sát màng VRM với PVP K30 (tương ứng 100 cm2) 36

Bảng 3.26 Kết quả khảo sát đặc tính màng verapamil với PVP 37

Bảng 3.27 Kết quả thử tính thấm của VRM qua màng niêm mạc với PVP 37

Bảng 3.28 Các công thức khảo sát màng VRM với PG (tương ứng 100cm2màng) 38

Trang 9

Bảng 3.29 Kết quả thử tính thấm của VRM qua màng niêm mạc với PG 38

Bảng 3.30 Các công thức khảo sát màng VRM với PEG 400 (tương ứng 100cm2) 38

Bảng 3.31 Kết quả thử tính thấm của VRM qua niêm mạc với PEG 400 39

Bảng 3.32 Các công thức khảo sát màng FLD với HPMC E5 (tương ứng 100cm2) 40

Bảng 3.33 Kết quả khảo sát đặc tính màng FLD sử dụng HPMC E5 40

Bảng 3.34 Kết quả thử tính thấm FLD qua màng niêm mạc với HPMC E5 41

Bảng 3.35 Các công thức khảo sát màng FLD với Poloxamer (tương ứng 100 cm2) 41

Bảng 3.36 Kết quả khảo sát đặc tính màng FLD với Poloxamer 407 42

Bảng 3.37 Kết quả thử tính thấm FLD qua màng niêm mạc với Poloxamer 407 42

Bảng 3.38 Thành phần công thức màng verapamil (tương ứng 100 màng 2x2 cm) 43

Bảng 3.39 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu màng verapamil lựa chọn 43

Bảng 3.40 Tỷ lệ DCTQ ngược qua màng EC của màng verapamil lựa chọn 44

Bảng 3.41 Thành phần công thức màng FLD (tương ứng 100 màng 2x2cm) 44

Bảng 3.42 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu màng FLD lựa chọn 44

Bảng 3.43 Tỷ lệ DCTQ thấm ngược qua màng EC của màng felodipin lựa chọn 45

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa mật độ quang và nồng độ felodipin 22

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa mật độ quang và nồng độ verapamil 23

Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCGP của các màng VRM với HPMC E5………….34

Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCTQ của các màng VRM với HPMC E15……… 35

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCTQ của các màng VRM với PVP K30………….37

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCTQ của màng VRM với chất hóa dẻo PG 38

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCTQ của các màng VRM với PEG 400 39

Hình 3.8 Đồ thị biết diễn tỷ lệ DCTQ của các màng FLD với HPMC E5 41

Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ DCTQ của các màng FLD với Poloxamer 407 42

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các đường dùng thuốc hiện nay, đường uống được sử dụng phổ biến nhất

do tính thuận tiện, dễ dàng Tuy nhiên, đường uống có nhiều hạn chế về sinh khả dụng

do tác động của đường tiêu hóa trực tiếp lên thuốc, ảnh hưởng bởi thức ăn, chuyển hóa bước đầu qua gan hay các vấn đề về độ hòa tan Do vậy, hiện nay các dạng bào chế mới ngày càng được đầu tư nghiên cứu hơn

Khoang miệng là vị trí sử dụng thuốc có tiềm năng trong việc khắc phục các hạn chế của các dạng thuốc dùng đường uống thông thường Màng mỏng kết dính niêm mạc miệng là dạng bào chế có nhiều ưu thế: so với đường uống, giúp tránh chuyển hóa thuốc qua gan lần đầu, tránh được ảnh hưởng của dịch tiêu hóa, tránh ảnh hưởng của thức ăn, nhanh chóng phát huy tác dụng có thể sử dụng cho bệnh nhân bất tỉnh; so với các dạng bào chế khác dùng tại khoang miệng, miếng dán niêm mạc miệng có ưu điểm

về tính linh hoạt, thoải mái khi sử dụng, không bị rửa trôi

Felodipin là thuốc chẹn kênh calci chậm có chọn lọc được sử dụng phổ biến trong điều trị tăng huyết áp, chống đau thắt ngực Felodipin có độ tan thấp, tính thấm tốt, hấp thu 98% - 100% qua đường tiêu hóa sau khi uống tuy nhiên thuốc chuyển hóa bước đầu ở gan nên sinh khả dụng thấp chỉ khoảng khoảng 10 - 25%

Verapamil là thuốc chẹn kênh calci, sử dụng phổ biến trong điều trị cao huyết áp, chống loạn nhịp nhanh Verapamil có độ tan tốt, tính thấm tốt; hấp thu trên 90% khi uống tuy nhiên sinh khả dụng thấp (20 - 35%) do chuyển hóa bước đầu qua gan nhanh Trong những năm gần đây, trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu bào chế miếng dán niêm mạc felodipin và verapamil đã được thực hiện Thấy được sự phù hợp của felodipin và verapamil với dạng bào chế màng mỏng kết dính niêm mạc, chúng tôi

tiến hành đề tài: “Bước đầu xây dựng mô hình bào chế miếng dính niêm mạc

miệng và ứng dụng với dược chất verapamil và felodipin”, với các mục tiêu sau:

1 Xây dựng mô hình bào chế miếng dính niêm mạc miệng

2 Ứng dụng mô hình bào chế màng verapamil và màng felodipin dính niêm mạc miệng giải phóng 6 giờ bằng phương pháp bốc hơi dung môi

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Sơ lược về hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng

1.1.1 Khái niệm và phân loại

Hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng là hệ điều trị có khả năng bám dính sinh học vào niêm mạc miệng, có thể giải phóng thuốc vào khoang miệng hoặc đưa thuốc thấm qua niêm mạc miệng vào hệ tuần hoàn Những năm gần đây, các hệ kết dính đưa thuốc thấm qua đường niêm mạc miệng ngày càng được áp dụng phổ biến với các thuốc phân tử lượng nhỏ hay với cả thuốc sinh học, phân tử lượng lớn [11], [17]

Hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng có thể phân loại theo các cách sau:

- Theo hướng tác dụng của thuốc có hai loại tác dụng tại chỗ và tác dụng toàn thân

- Theo dạng bào chế, hệ kết dính niêm mạc miệng có các loại viên nén, thuốc mỡ, gel, màng mỏng, băng dán nhiều lớp, vi cầu, dạng phun mù [14]

- Dựa vào hướng giải phóng của thuốc, hệ kết dính niêm mạc miệng được chia thành 3 loại [27]:

+ Loại đơn lớp: thuốc được giải phóng mọi hướng trong khoang miệng, một lượng thuốc đáng kể có thể bị nuốt

+ Loại hai lớp: ngoài lớp chứa dược chất có thêm một lớp nền chồng lên, lớp này không thấm nước, ngăn cản dược chất giải phóng theo chiều ngược lại vào khoang miệng

+ Loại thứ 3: tất cả các bề mặt và cạnh của dạng bào chế được phủ kín lớp nền không thấm trừ bề mặt tiếp xúc với niêm mạc miệng, nhờ đó ngăn cản sự giải phóng thuốc vào khoang miệng theo mọi hướng, dược chất chỉ giải phóng một chiều duy nhất

từ hệ kết dính tới niêm mạc miệng

1.1.2 Cấu tạo niêm mạc miệng, một số vị trí kết dính niêm mạc trong miệng và cơ chế hấp thu

1.1.2.1 Cấu tạo niêm mạc miệng

Niêm mạc miệng bao gồm niêm mạc má, niêm mạc dưới lưỡi, nướu, vòm miệng

và vùng niêm mạc giữa nướu với môi trên, môi dưới [29]

Về cấu trúc, niêm mạc miệng có cấu trúc đa lớp bao gồm lớp biểu mô bên ngoài,

lớp màng nền và lớp mô liên kết chứa các dây thần kinh và mạch máu (phụ lục PL1)

Trang 13

Lớp biểu mô bao gồm 40-50 lớp tế bào, có thể chứa các tế bào keratin hóa hoặc không keratin hóa [29], [28], [26]:

- Lớp biểu mô của niêm mạc má và niêm mạc dưới lưỡi không keratin hóa, niêm mạc vòm miệng cứng và nướu có lớp biểu mô keratin hóa [29]

- Tùy vị trí mà độ dày lớp biểu mô khác nhau: áp má dày khoảng 200 μm, dưới lưỡi khoảng 100-200 μm, nướu khoảng 250 μm, vòm miệng khoảng 500-600 μm

Ngoài ra, còn có một lớp chất nhầy liên kết với bề mặt các tế bào biểu mô Lớp chất nhầy này cũng có thể ảnh hưởng đến sự khuếch tán thuốc qua niêm mạc miệng [28]

1.1.2.2 Một số vị trí kết dính niêm mạc miệng

Niêm mạc khoang miệng được phân ra làm 3 vị trí dùng thuốc [26], (phụ lục PL2):

- Vị trí dưới lưỡi: là đường dùng của thuốc qua niêm mạc dưới lưỡi (bề mặt lưỡi và sàn miệng đến hệ tuần hoàn)

- Vị trí áp má: là vị trí sử dùng thuốc qua niêm mạc má, thuốc sẽ được hấp thu vào tuần hoàn

- Vị trí đặc biệt: để điều trị các bệnh của bệnh tại miệng, chủ yếu là viêm loét, nấm, bệnh viêm lợi

1.2.1.3 Cơ chế hấp thu dược chất tại niêm mạc miệng

Hấp thu là sự xâm nhập của thuốc vào vòng tuần hoàn chung của cơ thể Để có thể xâm nhập vào vòng tuần hoàn chung, thuốc phải vượt qua các màng sinh học của các tổ chức khác nhau theo các phương thức vận chuyển khác nhau: khuếch tán thụ động, khuếch tán thuận lợi, vận chuyển tích cực, lọc [3]

Cơ chế chính cho sự hấp thu thuốc ở niêm mạc miệng là cơ chế khuếch tán thụ động, theo chiều gradient nồng độ Hai con đường chính mà dược chất hấp thu qua

niêm mạc miệng đó là: xuyên bào và qua kẽ giữa các tế bào (phụ lục PL3) Các phân

tử thân nước sẽ ưu tiên thấm qua kẽ giữa các tế bào, các phân tử thân dầu sẽ ưu tiên hấp thu theo con đường xuyên bào [10], [28]

1.1.3 Ưu điểm, nhược điểm của hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng

1.1.3.1 Ưu điểm

Hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng có một số ưu điểm sau [29], [25]:

- Phát huy tác dụng nhanh, có thể kéo dài tác dụng

- Thuốc không bị chuyển hóa bước một qua gan nên tăng sinh khả dụng

- Sử dụng được cho các thuốc không ổn định với môi trường dịch dạ dày

Trang 14

- Sử dụng được cho các bệnh nhân hôn mê hay không thể dùng đường uống

- Mang lại sự thuận tiện cho người già và trẻ em do không phải nuốt như viên nang, viên nén

- Có thể loại bỏ nhanh chóng thuốc khỏi miệng khị gặp phản ứng bất lợi

1.1.3.2 Nhược điểm

Hệ điều trị kết dính niêm mạc miệng có một số nhược điểm sau [29]:

- Không áp dụng được với các dược chất kém ổn định ở pH trong miệng

- Hạn chế dùng với các dược chất có mùi vị khó chịu hoặc gây kích ứng niêm mạc miệng

- Hạn chế ăn và uống khi đang dùng thuốc

- Chỉ sử dụng với các dược chất có liều dùng nhỏ

1.1.4 Một số dạng bào chế kết dính niêm mạc miệng

Một số dạng bào chế kết dính niêm mạc miệng như viên kết dính, miếng dán, màng mỏng, hệ bán rắn (thuốc mỡ và gel) và bột [26]

1.1.4.1 Viên kết dính niêm mạc miệng

Viên dính niêm mạc miệng là dạng bào chế khô cần được làm ẩm trước khi đặt tiếp xúc với niêm mạc miệng Sự bám dính của viên chủ yếu do polyme bám dính quyết định Vị trí sử dụng trong khoang miệng với viên bám dính thường là niêm mạc

má, vòm miệng, vùng giữa nướu và môi

Phương pháp bào chế thường được dùng là dập thẳng, tạo hạt ướt Bề mặt của viên, ngoại trừ mặt tiếp xúc với niêm mạc có thể được phủ một lớp không thấm nước, chẳng hạn như ethylcellulose (EC), bằng cách phun hoặc nén

Các viên kết dính niêm mạc miệng thường phẳng, kích thước nhỏ, đường kính khoảng 5 – 8 mm, cho phép bệnh nhân nói hay uống mà không có sự khó chịu như viên nén thông thường Nhưng sự thiếu linh hoạt về thể chất cũng là nhược điểm lớn nhất của viên kết dính niêm mạc miệng [14]

1.1.4.2 Miếng dán và màng mỏng

Miếng dán, màng mỏng có thể gồm một hay nhiều lớp mỏng, trong đó có một lớp polyme kết dính chứa dược chất, được cắt thành các hình theo yêu cầu Miếng dán bao gồm nhiều lớp: một lớp không thấm nước, một lớp chứa thuốc có thể có kiểm soát giải phóng, và một lớp có khả năng dính với niêm mạc

Trang 15

Miếng dán và màng mỏng có ưu thế so với viên kết dính về tính linh hoạt, chỉ gây ra sự khó chịu nhỏ cho bệnh nhân, vì vậy sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân sẽ cao hơn; chúng cũng có lợi thế hơn so với dạng gel và thuốc mỡ về kiểm soát liều dùng

1.1.4.3 Hệ bán rắn (gel và thuốc mỡ)

Gel và thuốc mỡ có ưu điểm là dễ dàng phân tán trong miệng Tuy nhiên, liều dùng của thuốc ở dạng này không chính xác như dạng viên, miếng dán hay màng mỏng

Để tăng cường khả năng bám dính sinh học của dạng thuốc bán rắn trong khoang miệng, một số polyme kết dính sinh học được sử dụng, ví dụ: Carbopol, natri carboxy methylcellulose, gôm xanthan [14] Các dạng chế phẩm này có ít sự chấp nhận hơn ở bệnh nhân so với các dạng kết dính niêm mạc rắn, chủ yếu chúng được dúng trong điều trị các bệnh tại chỗ trong khoang miệng [26]

1.1.4.4 Bột

Trong thành phần của bột có các polyme kết dính sinh học (ví dụ: HPC) Bột được phun lên niêm mạc, giúp lượng dược chất bám dính lên niêm mạc được cải thiện đáng kể

1.2 Sơ lƣợc về màng mỏng kết dính niêm mạc miệng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm

Màng mỏng kết dính niêm mạc miệng là dạng chế phẩm có thành phần cấu tạo

cơ bản là các polyme kết dính sinh học, được giữ lại trong khoang miệng nhờ lực kết dính Tùy thuộc vào công thức bào chế, mục đích dùng mà thuốc sẽ giải phóng tại chỗ, vận chuyển vào đường tiêu hóa hay hấp thu qua niêm mạc miệng vào tuần hoàn [17] Màng mỏng kết dính niêm mạc miệng có ưu thế hơn viên kết dính niêm mạc miệng về tính linh hoạt và thoải mái cho bệnh nhân Chúng cũng khắc phục được hạn chế của dạng gel và thuốc mỡ là thời gian lưu trong khoang miệng tương đối ngắn, do

dễ dàng bị rửa trôi bởi nước bọt và khả năng kiểm soát liều dùng Với trường hợp sử dụng cho các bệnh trong khoang miệng, màng mỏng cũng giúp bảo vệ bề mặt vết thương, giúp giảm đau và tăng hiệu quả điều trị Một màng mỏng cần phải có độ mềm dẻo, linh động và đàn hồi tốt, chịu được các lực tác dụng từ các chuyển động trong khoang miệng Nó cũng phải có khả năng bám dính sinh học tốt để đảm bảo thời gian tác dụng mong muốn của thuốc

Trang 16

1.2.2 Cơ chế bám dính của màng mỏng lên niêm mạc miệng

Có khá nhiều mô hình lý thuyết để giải thích cơ chế bám dính sinh học Tuy nhiên, mỗi mô hình chỉ làm sáng tỏ được một số mặt của sự đa dạng các tương tác tạo liên kết bám dính sinh học [14]

1.2.2.1 Thuyết làm ướt

Đây là một trong những thuyết lâu đời nhất liên quan đến độ bám dính Theo đó, tính bám dính được mô tả như một quá trình xâm nhập vật lý Trong cơ chế này, bề mặt chất nền không phẳng, gồ ghề, tạo ra các neo bám dính; các chất bám dính sau khi được làm ướt, xâm nhập vật lý vào các neo bám dính đó và tạo khả năng kết dính giữa hai bề mặt [14]

1.2.2.2 Thuyết khuếch tán

Điểm chính của thuyết khuếch tán là sự thâm nhập của các chuỗi polyme của màng và các chuỗi mucin glycoprotein của biểu mô niêm mạc vào nhau Khi thâm nhập đủ sâu vào nhau, giữa chúng hình thành liên kết, tạo độ bám dính sinh học Quá trình khuếch tán bắt đầu từ bề mặt tiếp xúc, gradient nồng độ là cơ sở cho cân bằng độ sâu khuếch tán của các chuỗi polyme vào màng nhầy và của các chuỗi mucin glycoprotein vào ma trận polyme Độ sâu khuếch tán phụ thuộc vào hệ số khuếch tán của hai pha Hệ số khuếch tán của polyme phụ thuộc vào trọng lượng phân tử và tỉ lệ nghịch của mật độ liên kết chéo [24]

1.2.2.3 Thuyết tĩnh điện

Trong thuyết tĩnh điện, có sự trao đổi electron giữa hai bề mặt tiếp xúc Nhờ đó lực liên kết tĩnh điện được thiết lập giữa hai bề mặt Ngoài ra, còn có lực hấp dẫn hỗ trợ sự bám dính giữa hai bề mặt Lớp chất nhầy trên bề mặt biểu mô niêm mạc mang điện âm ở pH sinh lý, nên các polymer chứa các cation có khả năng bám dính sinh học rất cao [27]

1.2.2.4 Thuyết hấp phụ

Theo lý thuyết hấp phụ, sự kết dính giữa hai bề mặt xảy ra do hình thành các lực liên kết giữa các cấu trúc hóa học tại hai bề mặt sau khi có tiếp xúc Các liên kết này

có thể là liên kết van der Waals, liên kết hydro, liên kết kỵ nước Park và Robinson chỉ

ra rằng để có khả năng bám dính sinh học, các polyme phải có khả năng tạo các liên kết hydro [27]

Trang 17

1.2.3 Phương pháp bào chế

Các phương pháp bào chế màng mỏng kết dính niêm mạc miệng thường được sử dụng hiện nay là bay hơi dung môi và đùn nóng chảy Gần đây hơn, in phun nhiệt đã được tiếp cận để sản xuất màng mỏng [17], [25]

1.2.3.1 Phương pháp bốc hơi dung môi

Quá trình của phương pháp bay hơi dung môi được thực hiện qua các bước [17]:

- Hòa tan hoặc phân tán polyme tạo màng cùng dược chất và các tá dược khác như chất hóa dẻo, chất tăng thấm, chất bảo quản trong một dung môi dễ bay hơi, ví dụ như nước, ethanol hoặc aceton để tạo dung dịch (dd) đồng nhất hoặc hỗn dịch

- Dung dịch hay hỗn dịch thu được đem đuổi bọt khí và sau đó được đổ lên khuôn có thể bằng thủy tinh, polytetrafluoroethylen (PTFE), hoặc polycarbonat (PC)

- Bay hơi dung môi ở nhiệt độ, áp suất thích hợp

Các dược chất kém bền với nhiệt phù hợp với phương pháp này hơn so với phương pháp đùn nóng chảy Hạn chế của phương pháp này đó là các dung môi dễ bay hơi thường dễ gây cháy nổ, lượng dung môi tồn dư trong sản phẩm, ảnh hưởng của dung môi lên môi trường và con người [17]

1.2.3.2 Phương pháp đùn nóng chảy

Phương pháp này biến đổi các nguyên liệu ban đầu thành hỗn hợp đồng nhất bằng cách nấu nóng chảy và khuấy trộn, tạo hỗn hợp đùn Hỗn hợp đùn được ép đùn qua khuôn phẳng Độ dày cuối cùng và tính chất cơ học của màng được kiểm soát bằng tốc độ xoáy vít của khuôn phẳng, khoảng cách cuối cùng giữa hai bề mặt khuôn phẳng và bộ phận làm lạnh [23]

Do tính đồng nhất cao đạt được trong hỗn hợp nấu chảy, phương pháp này đảm bảo độ đồng đều và lặp lại của liều lượng Phương pháp đùn nóng chảy không sử dụng dung môi hữu cơ nên ít ảnh hưởng đến môi trường và con người Năng lượng nhiệt sử dụng rất cao nên không phù hợp với các dược chất kém bền với nhiệt, đặc biệt là các thuốc sinh học Dược chất cũng có thể không ổn định do tái kết tinh trong quá trình bảo quản [16]

1.2.3.3 Phương pháp in phun nhiệt

Phương pháp này trong những năm gần đây đã thu hút được nhiều sự chú ý DC được hòa tan hoặc phân tán trong dung môi thu được “mực in” Sử dụng công nghệ in phun để đưa chính xác một lượng nhỏ “mực in” lên một bề mặt có sẵn [22], [17]

Trang 18

1.2.4 Một số nghiên cứu về màng kết dính niêm mạc miệng

1.2.4.1 Các nghiên cứu trong nước

DS Nguyễn Hữu Hùng (2012) [5] đã tiến hành nghiên cứu bào chế màng

piroxicam rã nhanh trong miệng Màng được bào chế bằng phương pháp bay hơi dung môi Tác giả đã khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ HPMC E15, Crosscarmellose, PEG 400, Tween 80, Avicel PH 101, manitol đến hình thức, độ bền và thời gian rã của màng Từ

đó, tác giả sử dụng phần mềm tối ưu hóa công thức để xây dựng công thức tối ưu bào chế màng piroxicam 10 mg rã nhanh trong miệng Bào chế màng với công thức tối ưu thu được màng có hình thức đẹp, thời gian rã nhanh (36 giây), mức độ giải phóng cao

và đạt tiêu chuẩn của WHO đối với dạng thuốc giải phóng rất nhanh

DS Trần Văn Thắng (2016) [7] đã tiến hành nghiên cứu bào chế màng

propranolol dính niêm mạc miệng giải phóng kéo dài Màng bào chế bằng phương pháp bay hơi dung môi Tác giả đã khảo sát ảnh hưởng của các loại HPMC, tỷ lệ giữa hai loại HPMC E5 và K4M, tỷ lệ của HPMC với dược chất, PVP K-30 đến hình thức,

thời gian bám dính in-vitro, khả năng giải phóng dược chất qua màng cellulose acetat

(CA) Kết quả nghiên cứu, tác giã đã đưa ra được công thức và bào chế được màng propranolol 20mg dính niêm mạc miệng giải phóng kéo dài trong 6 giờ, gồm một lớp màng HPMC chứa dược chất: sử dụng 2 polyme HPMC E5 và K4M với tỉ lệ polyme/dược chất: 2,0 trong đó tỉ lệ HPMC E5/K4M: 3,0; tỉ lệ PVP K30/propranolol

là 0,5 và tỉ lệ chất hóa dẻo PG/HPMC là 20% và một lớp màng nền EC có 45% DBP

DS Phan Trọng Thanh (2017) [6] đã nghiên cứu bào chế màng propranolol

dính niêm mạc miệng giải phóng kéo dài Màng được bào chế bằng phương pháp bay hơi dung môi Tác giả đã khảo sát sự ảnh hưởng của loại và lượng của các lọai polyme HPMC (E6, E15, K4M, K15M), một số chất hóa dẻo (PG, Glycerin) đến hình thức,

thời gian bám dính in-vitro, khả năng giải phóng dược chất qua màng niêm mạc má

lợn Kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra được công thức và bào chế màng propranolol 5mg kết dính niêm mạc miệng giải phóng 6 giờ có 2 lớp, lớp dược chất với polymer sử dụng là HPMC E15, tỉ lệ HPMC/propranolol là 3,0; tỉ lệ chất hóa dẻo PG/HPMC là 30% và lớp EC với tỉ lệ DEP/EC là 40%

1.2.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Chinna Reddy Palem và cộng sự (2010) [19] đã nghiên cứu bào chế và đánh

giá màng felodipin kết dính niêm mạc miệng giải phóng kéo dài 6 giờ, bằng phương

Trang 19

pháp bay hơi dung môi Màng gồm 2 lớp: lớp màng nền Eudragit RLPO và lớp màng dược chất gồm: HPMC E15, chất hóa dẻo PG với tỷ lệ 15% so với HPMC Tác giả đã khảo sát ảnh hưởng của lượng HPMC E15 đến một số chỉ tiêu chất lượng màng: giải phóng dược chất qua màng niêm mạc, độ dày màng, độ trương nở, pH bề mặt Kết quả cho thấy việc tăng lượng HPMC E15 sử dụng làm giảm khả năng thấm dược chất qua niêm mạc má lợn, tác giả đưa ra công thức gồm felodipin: HPMC E15 (16:125), tỉ lệ PG/HPMC: 15%, và một lớp màng nền: Eudragit/PG: 5:1, tạo màng có khả năng giải phóng dược chất cao nhất sau 6 giờ

Subhash Chandra Bose Penjuri và cộng sự (2013) [32] đã nghiên cứu bào chế

và đánh giá màng dính niêm mạc miệng verapamil hydroclorid, bằng phương pháp bay hơi dung môi; với HPMC K15M làm polyme cơ bản, thay đổi lượng HPMC K15M và kết hợp với từng loại polyme: NaCMC, Eudragit, carbopol; PG và dimethylsulphoxide (DMSO) được sử dụng làm chất hóa dẻo Màng được đánh giá các chỉ tiêu: độ dày, độ bền, sức căng, pH bề mặt, thời gian bám dính, mức độ trương nở và khả năng giải phóng dược chất Kết quả cho thấy khả năng giải phóng dược chất chịu ảnh hưởng của

sư có mặt của polyme, và giảm dần như sau: NaCMC > Eudragit RL100 > HPMC K15M > Carbopol 934P, và đưa ra công thức màng với HPMC K15M/NaCMC (2:1) tạo ra màng cho khả năng giải phóng dược chất cao nhất qua màng niêm mạc má lợn sau 6 giờ

Singh Tej Pratap và cộng sự (2014) [31] đã nghiên cứu bào chế và đánh giá

màng dính niêm mạc miệng verapamil hydroclorid 40mg Màng được bào chế bằng phương pháp bay hơi dung môi, sử dụng EC và cellulose acetat butyrat bào chế màng nền và dùng HPMC K15M, HPMC K100M, PVA, PEO 303 trong nghiên cứu bào chế màng dược chất Đánh giá màng theo các chỉ tiêu: độ dày, độ bền kéo, pH bề mặt, độ trương nở, khả năng bám dính và khả năng thấm dược chất qua màng niêm mạc miệng

dê Nghiên cứu cho thấy khả năng giải phóng dược chất khi dùng PVA cao hơn PEO

303, khi dùng HPMC K15M cao hơn HPMC K100M; khi tăng lượng HPMC K15M sử dụng gây giảm khả năng giải phóng dược chất Kết quả bào chế được màng verapamil dính niêm mạc miệng: lớp màng dược chất: tỉ lệ HPMC K15M: PEO 303 là 2:1và lớp màng nền EC có 30% DBP

Palem C R và cộng sự (2011) [19] đã nghiên cứu bào chế và đánh giá viên nén

kết dính niêm mạc miệng felodipin và pioglitazone, sử dụng đơn độc hay phối hợp các

Trang 20

polyme dính tự nhiên: HPMC K4M, NaCMC, Carbopol; viên tạo thành được đánh giá

các chỉ tiêu: độ trương nở, khả năng bám dính, khả năng giải phóng thuốc in-vitro qua

niêm mạc má lợn.Kết quả cho thấy, HPMC K4M và Carbopol có khả năng kiểm soát

giải phóng dược chất từ màng; nghiên cứu ex vivo cho thấy màng HPMC – Carbopol cho tính thấm thuốc tốt qua niêm mạc miệng Nghiên cứu in-vivo và ex-vivo trên lợn

cho thấy Cmax và giá trị AUC của dược chất tăng lên khi dùng viên nén kết dính niêm mạc miệng so với đường uống

Ahmed E và cộng sự (2013) [9] đã nghiên cứu bào chế và đánh giá viên nén kết

dính niêm mạc miệng verapamil kéo dài giải phóng, nghiên cứu sử dụng các polyme: HPMC K15M, NaCMC, Carbopol 934P, Na alginate; viên được đánh giá theo các chỉ

tiêu: độ trương nở, thời gian bám dinh in-vitro, giải phóng dược chất in-vitro Kết quả

cho thấy: thời gian bám dính của viên giảm theo thứ tự sử dụng các polyme: Carbopol

> NaCMC > Na alginat > HPMC K15M; khả năng kiểm soát giải phóng dược chất từ viên giảm theo thứ tự sử dụng các polyme: Na alginat > NaCMC > HPMC K15 > Carbopol 934P Dược động học các công thức tuân thoe mô hình bậc 0, kết quả nghiên

cứu in-vivo trên thỏ cho thấy viên nén kết dính niêm mạc cho thấy Cmax và giá trị AUC của dược chất tăng lên 2 lần so với đường uống

Singh A., Chauhan S và cộng sự (2015) [30] đã nghiên cứu bào chế và đánh

giá miếng dán da felodipin giải phóng kéo dài 24 giờ, bằng phương pháp bay hơi dung môi Nghiên cứu ảnh hưởng của loại và lượng của của các polyme: HPMC K100M, PVP, EC (với chất hóa dẻo PEG 400 tỉ lệ 30% so với polyme), đến đặc tính màng và khả năng giải phóng thuốc qua da chuột Kết quả cho thấy khả năng giải phóng dược chất tốt hơn khi dùng polyme thân nước so với polyme sơ nước; acid oleic và dầu eucalyptus giúp tăng tính thấm thuốc qua màng thử Tác giả đưa ra công thức cuối với HPMC K100M : PVP K30 (1:1) và hỗn hợp acid oleic : eucalyptus oil (1:1), với tỷ lệ acid oleic/polyme là 5% cho kết quả giải phóng thuốc sau 24 giờ cao nhất

Kusum Devi V., Saisivam S và cộng sự (2003) [13] đã nghiên cứu bào chế và

đánh giá miếng dán da verapamil hydroclorid bằng phương pháp bay hơi dung môi Tác giả khảo sát ảnh hưởng của các loại polyme: Eudragit RS100, HPMC E5, EC (với Eudragit RL100 làm polyme nền) đến đặc tính màng, đánh giá màng theo các chỉ tiêu:

độ dày, tốc độ bay hơi dung môi, độ bền gấp, tính thấm dược chất qua một da thỏ Kết quả cho thấy: tăng lượng sử dụng HPMC E5 và Eudragit RS 100 làm giảm khả năng

Trang 21

thấm thuốc qua màng, công thức lựa chọn có tỉ lệ Eudragit RL100/HPMC E5 là 8/2 cho khả năng giải phóng dược chất sau 24 giờ cao nhất Dược động học giải phóng thuốc các công thức theo mô hình bậc 0

1.2.5 Một số chế phẩm màng mỏng kết dính niêm mạc miệng trên thị trường

Hiện nay, đã có một số sản phẩm màng mỏng kết dính niêm mạc miệng trên thị trường (Bảng 1) [17], [20]

Bảng 1 Một số chế phẩm màng dính niêm mạc miệng trên thị trường

Breakyl Fentanyl Lohmann

Belbuca Buprenorphin BioDelivery Science

Setofilm Ondansetron Norgine Limited

Chloraseptic Benzocain Prestige Brands Inc Donepezil Hexal SF Donepezil Hexal AG, Germany

Gas-X Simethicon GlaxoSmithKline, USA Risperidone Hexal SF Risperidon Hexal AG, Germany Triaminic or Theraflu

night time

Diphenhydramin, phenylephrin Novartis Triaminic or Theraflu Diphenhydramin Novartis

Suboxone Buprenorphin, naloxon Reckitt Benckiser

Trang 22

1.3.2 Tính chất lý hóa và độ ổn định

- Tính chất lý hóa: dạng bột kết tinh màu vàng nhạt, có nhiệt độ nóng chảy: 145°C Độ tan: tan kém trong nước, tan tự do trong aceton, ethanol khan, methanol và methylen clorid

- Độ ổn định: felodipin không bền với ánh sáng, cần bảo quản ở điều kiện khô ráo, nhiệt độ phòng, tránh ánh sáng

1.3.3 Dược động học

- Hấp thu: felodipin hấp thu 98% - 100% qua đường tiêu hóa sau khi uống, thuốc chuyển hóa bước đầu ở gan chủ yếu nhờ enzym CYP3A4 và có sinh khả dụng khoảng

10 - 25% [2]

- Phân bố: FLD liên kết với protein huyết tương khoảng 99%, chủ yếu là albumin [2]

- Chuyển hóa và thải trừ: Thời gian bán thải của felodipin khoảng 11 - 16 giờ Thuốc chuyển hoá mạnh qua gan và được bài xuất chủ yếu (khoảng 70%) dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính qua nước tiểu, phần còn lại chưa chuyển hóa được đào thải qua phân [2]

1.3.4 Tác dụng dược lý

- Tác dụng hạ áp động mạch: FLD là thuốc chẹn kênh calci chậm có tính chất chọn lọc, làm giảm trương lực động mạch, dẫn đến tác dụng giãn mạch gây hạ huyết áp Do tính chất chọn lọc cao đối với cơ trơn thành tiểu động mạch nên felodipin ở liều điều trị không gây tác dụng trực tiếp đến tim, đặc biệt đến khả năng co bóp cơ tim hay tính dẫn truyền của tim [2]

- Tác dụng chống đau thắt ngực: felodipin cải thiện sự cân bằng trong cung và cầu oxy cho cơ tim, sức cản động mạch vành giảm và chống lại co thắt động mạch vành Lưu lượng động mạch vành cũng như lượng cung cấp oxygen cho cơ tim tăng lên nhờ mạch vành giãn ra FLD giảm huyết áp toàn thân nên làm giảm hậu gánh thất trái, do

đó làm giảm nhu cầu oxy của cơ tim FLD làm tăng khả năng gắng sức và làm giảm số lượng cơn đau thắt ngực ở người bệnh đau thắt ngực ổn định [2]

1.3.5 Chỉ định và liều dùng

- Bệnh tăng huyết áp

- Dự phòng đau thắt ngực ổn định [2]

Trang 23

1.3.6 Liều lượng

- Tăng huyết áp: liều khởi đầu ở người lớn là 5 mg/ngày, uống một lần Liều duy trì

là 2,5 - 20 mg/ngày, uống một lần vào buổi sáng [2]

- Dự phòng đau thắt ngực: liều khởi đầu: 5 mg/ngày uống 1 lần vào buổi sáng, tăng liều lên 10 mg/ngày nếu cần [2]

1.4 Tổng quan về verapamil hydroclorid

1.4.1 Công thức hóa học

+ Tên khoa học: 5-[(3,4-dimethoxyphenethyl) methylamino]-2-(3,4

dimethoxyphenyl)-2-isopropylvaleronitrile [4]

+ Công thức phân tử: C27H38N2O4 HCl

+ Khối lượng phân tử: 491,06

+ Phân loại: thuốc chẹn kênh calci, nhóm non-dihydropyridin [2]

1.4.2 Tính chất hóa lý

- Verapamil hydroclorid ở dạng bột kết tinh màu trắng, không mùi [4]

- Nhiệt độ nóng chảy 138,5 - 140°C

- pKa = 8,6

- Có 2 bước sóng hấp thụ cực đại tại 232 và 278 nm

- Độ tan: verapamil hydroclorid có độ tan phụ thuộc vào pH môi trường hòa tan Ở môi trường pH 2,3 - 6,4 độ tan là 80-90 mg/ml; sau đó giảm nhanh khi ở pH ≥ 7,32 (0,44 mg/ml) Độ tan trong dung dịch NaOH 0,1N là 0,025 mg/ml

1.4.3 Độ ổn định

Verapamil hydroclorid ít hút ẩm, khi để ở độ ẩm tương đối 79% ở nhiệt độ phòng qua đêm thấy độ ẩm chỉ tăng khoảng 0,47% VRM cũng ổn định trong cả ba môi trường: trung tính, acid và kiềm

1.4.4 Tác dụng dược lý

Verapamil là một chất chẹn kênh calci, ngăn cản dòng Ca++ đi qua kênh, chậm vào tế bào thần kinh dẫn truyền và tế bào cơ tim (tác dụng chống loạn nhịp) và vào tế bào cơ trơn thành mạch (tác dụng giãn mạch) giúp hạ huyết áp [2]

Trang 24

Trong suy mạch vành, verapamil làm giảm tiêu thụ oxy của cơ tim trực tiếp bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hoá tiêu thụ oxy của cơ tim và gián tiếp bằng giảm hậu gánh, verapamil làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và ngăn cản co thắt động mạch vành [2]

Verapamil có tác dụng chống loạn nhịp tim mạnh, đặc biệt đối với loạn nhịp tim trên thất Thuốc kéo dài dẫn truyền xung động trong nút nhĩ thất do đó tuỳ theo loại loạn nhịp nhanh, phục hồi nhịp xoang và hoặc làm chậm tần số thất [2]

1.4.5 Đặc tính dược động học

- Hấp thu: trên 90% liều uống được hấp thu, sinh khả dụng (SKD) khoảng 20 – 35% vì chuyển hóa bước đầu qua gan nhanh; nếu dùng kéo dài hay tăng liều, SKD có thể tăng

- Phân bố: thuốc gắn với protein xấp xỉ 90%

- Chuyển hóa và thải trừ: nếu uống 1 liều, thời gian bán thải: 2,8 - 7,4 giờ; nếu cho liều lặp lại, thời gian bán thải: 4,5 - 18 giờ Thải trừ qua thận dưới dạng chất chuyển hóa liên hợp: 70%; dạng không chuyển hóa: 3%; qua mật/phân: 9 - 16% [2]

1.4.6 Chỉ định

- Ðau thắt ngực các dạng: Cơn đau do gắng sức, cơn đau không ổn định, cơn đau Prinzmetal

- Chữa cơn tim nhanh kịch phát trên thất và phòng tái diễn

- Nhịp thất nhanh trong cuồng động nhĩ hoặc rung nhĩ

- Tăng huyết áp vô căn [2]

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên liệu, thiết bị

2.1.1 Nguyên liệu

Bảng 2.1 Danh mục hóa chất và dung môi

STT Nguyên liệu sử dụng Nguồn gốc Tiêu chuẩn

1 Felodipin Trung Quốc USP 41

2 Verapamil hydroclorid Trung Quốc USP 38

3 Hydroxypropyl methyl cellulose E5 Trung Quốc USP 38

4 Hydroxypropyl methyl cellulose E15 Trung Quốc USP 38

5 Hydroxypropyl methyl cellulose K4M Trung Quốc USP 38

6 Hydroxypropyl methyl cellulose K15M Trung Quốc USP 38

7 Ethyl cellulose (EC) N7 và N20 Mỹ USP 41

8 Polyethylen glycol (PEG) 400 Trung Quốc TCCS

9 Poloxamer 407 Singapore USP 38

10 Propylene glycol (PG) Singapore USP 38

11 Polyvinyl pyrrolidone (PVP) K30 Trung Quốc USP 38

12 Diethyl phthalate (DEP) Trung Quốc TCCS

13 Dinatri hydrophosphat Trung Quốc TCCS

14 Natri dihydrophosphat Trung Quốc TCCS

15 Kali dihydrophosphat Trung Quốc TCCS

16 Lactose Đài Loan USP 38

17 Natri laurylsulfat Trung Quốc TCCS

19 Ethanol 96% Trung Quốc DĐVN V

2.1.2 Thiết bị

Thiết bị được sử dụng trong nghiên cứu gồm:

- Cân phân tích, cân kỹ thuật Sartorius (Đức)

- Máy khuấy từ IKA C-MAG HS 4 (Đức)

- Tủ sấy áp suất giảm Vacuum Drying Oven

- Máy thử độ rã Erweka ZT41 (Đức)

- Máy thử giải phóng thuốc qua màng: tế bào khuếch tán Franz (Đức)

Trang 26

- Máy đo quang UV-VIS Hitachi U-1900 (Nhật Bản)

- Máy siêu âm Ultrasonic LC 60 H

- Máy đo hàm ẩm

- Máy đo pH FireEasy Mettler Toledo

- Kính hiển vi quang học

- Kính hiển vi điện tử gắn camera Nikon Eclipse Ci-L (Đức)

- Thước kẹp (Công Ty TNHH Thiết Bị Long Thịnh)

- Dụng cụ thủy tinh: cốc có mỏ, ống đong, ống nghiệm, phiến kính, bình định mức, pipet chính xác các loại

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xây dựng mô hình bào chế miếng dán kết dính niêm mạc miệng:

+ Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố công thức đến đặc tính màng

+ Khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố kĩ thuật đến đặc tính màng

- Ứng dụng bào chế màng verapamil và màng felodipin kết dính niêm mạc miệng: khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố công thức đến khả năng giải phóng dược chất qua màng sinh học

2.3 Phương pháp thực nghiệm

2.3.1 Phương pháp lựa chọn bước sóng hấp thụ cực đại và xây dựng đường chuẩn của dung dịch dược chất

- Pha dung dịch đệm làm dung dịch pha loãng:

+ Với dược chất felodipin: pha dung dịch đệm phosphat 6,5 chứa 1% NaLS: hòa tan 6,42 g natri dihydrophosphat; 7,01 g dinatri hydrophosphat và 1,0 g NaLS trong 1000ml nước cất

+ Với dược chất verapamil: pha dung dịch đệm phosphat 6,8: hòa tan 28,8 g dinatri hydrophosphat và 11,45 g kali dihydrophosphat trong 1000ml nước

- Cân chính xác khoảng 50,0 mg dược chất, cho vào bình định mức 100 ml, thêm khoảng 70 ml dd pha loãng, siêu âm khoảng 30 phút, bổ sung đệm vừa đủ 100 ml Sau

đó pha loãng thành các dung dịch có nồng độ lần lượt là 5, 10, 20, 30, 40, 50 μg/ml

- Quét phổ từ 200nm đến 500nm của dung dịch dược chất 20 μg/ml, chọn bước sóng

có độ hấp thụ lớn nhất (λmax)

Trang 27

- Đo mật độ quang (ABS) của dãy dung dịch trên ở bước sóng λmax Từ kết quả thu được, xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính và vẽ đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa mật độ quang và nồng độ dung dịch dược chất

Chuẩn bị dung dịch dược chất: hòa tan lần lượt dược chất và các thành phần khác (chất hóa dẻo (PG, PEG 400), PVP K30, Poloxamer,…) vào một lượng ethanol 96% thích hợp, siêu âm 15 phút, và khuấy, thu được dung dịch dược chất

Phối hợp dung dịch dược chất vào dung dịch HPMC, khuấy từ trong 30 phút, sau

đó siêu âm 45 phút Để qua đêm (khoảng 18 giờ) để loại bọt khí

Cân và tính toán lượng dược chất tương ứng đổ ra khuôn (hình vuông 8x8 cm) để thu được hàm lượng dược chất trên 1 đơn vị diện tích thích hợp:

- Với felodipin: lượng dược chất thu được là 2,5 mg/cm2

- Với verapamil: lượng dược chất thu được là 10 mg/cm2

Bay hơi dung môi tạo màng trong tủ sấy áp suất giảm Vacuum Drying Oven ở áp suất, nhiệt độ thích hợp, đến khi hàm ẩm của màng đạt 3 – 6%

2.3.2.2 Bào chế lớp màng nền EC

- Hòa tan EC trong ethanol 96% để thu được dung dịch EC 5%, thêm DEP và khuấy từ

20 phút, siêu âm 45 phút

- Để qua đêm để loại bọt khí (khoảng 18 tiếng)

- Đổ ra khuôn 8x8 cm để thu được màng nền EC có chứa 15 mg EC/cm2 (10 mg/cm2,

20 mg/cm2) Bay hơi dung môi trong tủ sấy áp suất giảm Vacuum Drying Oven ở nhiệt

độ, áp suất thích hợp đến khi bay hết dung môi thu được màng nền

2.3.2.3 Kết hợp hai lớp màng

Phun dung dịch ethanol 96% lên màng dược chất tạo ra một lớp rất mỏng ethanol

và dán ngay lập tức lên màng EC sẽ thu được màng kết dính niêm mạc 2 lớp Màng được cắt thành hình vuông 2x2cm (4cm2) để đánh giá các tiêu chí: khối lượng, hàm

Trang 28

lượng, đồng đều hàm lượng, độ dày, pH bề mặt màng, độ bền gấp, độ bền kéo, thời

gian bám dính in-vitro (TGBD) và màng được cắt thành hình tròn đường kính 1,5cm

(1,767 cm2) để đánh giá khả năng giải phóng dược chất qua màng sinh học

2.3.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu chất lượng màng

2.3.3.1 Hình thức

Hình thức màng gồm độ mềm dẻo, linh hoạt, độ trơn nhẵn, có bọt khí hay không, các tiêu chí được đánh giá bằng cảm quan

2.3.3.2 Định lượng dược chất trong màng dược chất

Sử dụng phương pháp đo quang UV-VIS ở bước sóng λmax Tiến hành pha đồng thời mẫu thử và mẫu chuẩn:

+ Với dược chất felodipin: dung dịch đệm phosphate 6,5 chứa 1% NaLS

+ Với dược chất verapamil: dung dịch đệm phosphate 6,8

- Mẫu thử: thực hiện trên mỗi màng 2x2 cm, cắt nhỏ cho vào bình định mức 100 ml, thêm khoảng 70 ml dung dịch đệm, siêu âm 30 phút, để cho tan hoàn toàn trong 6 giờ, siêu âm 15 phút sau mỗi giờ Thêm đệm vừa đủ 100 ml, lọc loại 20 ml dịch lọc đầu Hút chính xác 5,0 ml dịch lọc vào bình định mức 50 ml, thêm đệm vừa đủ 50 ml

- Mẫu chuẩn: cân chính xác một khối lượng mẫu chuẩn dược chất tương đương lượng dược chất trong một màng 2x2cm (mc), cho vào bình định mức 100 ml, thêm khoảng

70 ml đệm siêu âm 30 phút Thêm đệm vừa đủ 100 ml, lọc loại 20 ml dịch lọc đầu Hút chính xác 5,0 ml dịch lọc vào bình định mức 50 ml, thêm đệm vừa đủ 50 ml

Đo độ hấp thụ của mẫu thử và mẫu chuẩn ở bước sóng λmax với mẫu trắng

Cân khối lượng của màng 2x2 cm trên cân phân tích, tiến hành với 10 màng sau

đó tính khối lượng trung bình và độ lệch chuẩn [21], [25]

Trang 29

2.3.3.4 Đồng đều hàm lượng

Tiến hành xác định hàm lượng dược chất trong màng như phần định lượng (mục 2.3), thực hiện với 6 màng 2x2 cm, tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD) và độ lệch chuẩn tương đối (RSD)

2.3.3.5 Độ dày màng

Độ dày màng 2x2 cm được đo ở 5 vị trí (1 vị trí ở trung tâm màng và 4 vị trí ở các góc) Tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn

2.3.3.6 pH bề mặt

Đặt một màng 2x2 cm lên đĩa petri, thêm 5 ml nước cất làm ẩm toàn bộ màng

Để trương nở trong 1 giờ Đổ dịch thu được vào ống nghiệm và đo pH bằng máy đo

pH Tiến hành với 3 màng rồi tính giá trị trung bình [21]

2.3.3.7 Độ bền gấp

Độ bền gấp được xác định bằng cách gấp nhiều lần bằng tay tại một ví trí của màng một góc khoảng 270°, số lần gấp cho tới khi màng bị rách tại điểm gấp là độ bền gấp của màng Tiến hành 3 lần sau đó tính giá trị trung bình

2.3.3.8 Độ bền kéo

Xác định độ kéo dãn tối đa của màng: cắt màng hình chữ nhật 1x3 cm, cố định màng trên thước cặp sao cho khoảng cách ban đầu giữa má kẹp động và má kẹp tĩnh là

1 cm (D1) (phụ lục PL4) Kéo từ từ má kẹp động ra đến khi màng bị chia là hai phần,

đọc kết quả trên thước lúc đó (D2)

Phần trăm kéo dãn tối đa của màng được tính theo công thức sau:

( ) Trong đó: X: % kéo dãn tối đa; D1: chiều dài ban đầu; D2: chiều dài tối đa (cm)

2.3.3.9 Hàm ẩm (mất khối lượng do làm khô)

Màng chứa dược chất được đo hàm ẩm bằng máy đo hàm ẩm, nhiệt độ 105℃, thời gian cài đặt chế độ tự động

2.3.3.10 Khả năng bám dính

- Xử lý niêm mạc ruột lợn: niêm mạc ruột lợn được sử dụng ngay sau khi mổ lợn (nhỏ hơn 6 giờ sau khi mổ lợn), niêm mạc ruột được rửa nhẹ nhàng với nước cất và tráng lại với dung dịch đệm phosphat pH 6,8, sau đó được cắt với kích thước 3x3cm

- Thời gian bám dính in-vitro:

Trang 30

Sử dụng máy thử độ rã cải tiến (sơ lược thiết bị được miêu tả trong phụ lục PL5)

Môi trường thử là 800 ml đệm phosphat pH 6,8 ở 37 ± 1℃ Cố định niêm mạc ruột lợn kích thước 3x6 cm lên phiến kính bằng keo dán cyanoacrylat Nhúng niêm mạc vào cốc thử chứa đệm pH 6,8 và đưa ra để thẳng đứng trong 15 giây, dán màng thử lên niêm mạc Cho máy chạy, thiết bị di chuyển thẳng đứng sao cho ở vị trí thấp nhất màng thử chìm hoàn toàn trong dung dịch đệm và ở vị trí cao nhất thì màng thử không

ở trong dung dịch TGBD được xác định khi màng thử bong ra khỏi vị trí dán Tiến hành 3 lần và tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn

2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng giải phóng dược chất qua màng

2.3.4.1 Xử lý niêm mạc má lợn

Niêm mạc má lợn được lấy sau khi mổ lợn (nhỏ hơn 6 giờ sau khi mổ lợn), được rửa nhẹ nhàng bằng đệm pH 6,8, sau đó được bảo quản trong đệm pH 6,8 trên đường vận chuyển Dùng kéo tỉa và dao lam tách lớp niêm mạc đến độ dày khoảng 500 µm,

và tách hết phần mô mỡ liên kết Dùng kính hiển vi để soi tính nguyên vẹn của màng (không bị rách) Bảo quản màng trong đệm pH 6,8 mới pha ở nhiệt độ 4 - 8℃ nếu chưa sử dụng ngay [12]

2.3.4.2 Tiến hành đánh giá tính thấm của dược chất qua màng niêm mạc má lợn

Định lượng %DC so với khối lượng màng dược chất: cắt màng dược chất có kích thước 2x2 cm, cân chính xác khối lượng (mt) và tiến hành như phần định lượng (mục 2.3) với 3 màng, lấy kết quả trung bình

Hàm lượng DC so với màng dược chất được tính theo công thức:

( )

Trong đó: H’: Hàm lượng DC so với khối lượng màng dược chất (%); mc: khối lượng dược chất chuẩn (mg); mt: khối lượng màng dược chất (mg); Ac, At: lần lượt là độ hấp thụ của dung dịch mẫu chuẩn và mẫu thử

Cắt màng dược chất hình tròn đường kính 1,5 cm, cân chính xác (mmd), dán với màng nền EC rồi thử tính thấm với điều kiên cụ thể như sau:

- Thiết bị máy thử giải phóng thuốc qua màng tế bào khuếch tán Franz

- Màng giải phóng: màng niêm mạc má lợn

- Môi trường khuếch tán:

+ Với felodipine: đệm pH 6,5 chứa 1% NaLS

Ngày đăng: 17/04/2020, 17:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w