Đa dạng về tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người dân xã Lăng .... Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một dần do không được tư liệu hóa, người dân thay đổi thói quen khám chữa bệnh h
Trang 1HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình dài điều tra, nghiên cứu, tôi thật sự cảm thấy biết ơn những
cá nhân, tập thể đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành khóa luận này
Đầu tiên, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS
TS Trần Văn Ơn – Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khóa luận cho tôi Thầy luôn
chỉ dạy với tất cả tâm huyết và lòng yêu nghề Vì vậy, thầy là nguồn động lực rất lớn
để tôi vững bước trên con đường mình đã chọn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Bộ môn Thực Vật – Trường Đại học
Dược Hà Nội, đặc biệt là thầy Lê Thiên Kim vì đã quan tâm, hỗ trợ và chỉ dạy cho tôi
từ những điều nhỏ nhất Cảm ơn Thạc sỹ Nghiêm Đức Trọng vì đã luôn bao dung và giúp đỡ tôi một cách tận tình Cảm ơn, cô Phạm Thị Linh Giang đã ủng hộ, động
viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND huyện Tây Giang đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Đặc biệt cảm
ơn anh Nguyễn Bá Hiển - Chủ tịch HĐQT HTX Nông nghiệp Thiên Bình và chị
Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Chuyên viên phòng NN&PTNT huyện Tây Giang, anh chị
là những cầu nối quan trọng cho đoàn nghiên cứu dễ dàng tiếp cận với người dân địa
phương Đồng thời, tôi xin cảm ơn tấm chân tình của cụ Cơ Lâu Trô, vợ chồng bác
Briu Pố, bác Bhling Đhốch, anh Bhling Môn, anh Alăng Bôn, anh Huỳnh Thanh Nhàng, bác Bòng và những người dân mến khách nơi đây
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn ở bên
động viên, ủng hộ tôi Cảm ơn bạn Nhữ Xuân Triết – Người luôn đồng hành cùng tôi
trong suốt chặng đường khó khăn vừa qua
Xin chân thành cảm ơn tất cả!
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
BÙI THỊ PHƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 2
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa 2
1.1.2 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 2
1.2 Xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 4
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4
1.3 Dân tộc Cơ Tu 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu 8
2.3 Phương pháp nghiên cứu 8
2.3.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc 8
2.3.2 Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc theo dịch tễ tại địa phương 11
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 12
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 13
3.1 Tính đa dạng sinh học của tài nguyên cây thuốc tại xã Lăng 13
3.1.1 Đa dạng theo bậc phân loại 13
3.1.2 Đa dạng theo dạng sống 16
3.1.3 Đa dạng theo thảm thực vật 17
3.1.4 Mức độ quý hiếm và yêu cầu bảo tồn 18
3.1.5 Mức độ thiết yếu và tiềm năng phát triển 20
3.2 Đa dạng về tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người dân xã Lăng 22
3.2.1 Đa dạng về bộ phận dùng 23
3.2.2 Đa dạng về cách sử dụng 24
Trang 53.3.1 Dịch tễ tại xã Lăng giai đoạn 4/2018 – 4/2019 25
3.3.2 Tri thức sử dụng cây thuốc phân bố theo các nhóm bệnh thường gặp 26
3.3.3 Hệ số tin cậy của những cây thuốc chữa bệnh thường gặp 27
3.3.4 Tương quan giữa độ tuổi và tri thức sử dụng cây thuốc 30
3.3.5 Một số bài thuốc 31
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 33
4.1 Sự đa dạng của cây thuốc ở xã Lăng 33
4.2 Phương pháp nghiên cứu 34
4.3 Tiềm năng phát triển của một số loài cây thuốc tại xã Lăng 35
4.4 Tri thức sử dụng cây cỏ đối với dịch tễ tại địa phương 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Viết đầy đủ
Technology (Phòng tiêu bản - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật)
Trường Đại học Dược Hà Nội)
học Quốc gia Hà Nội ICD International Classification of Diseases (Phân loại quốc tế về bệnh
tật)
tế)
Vườn bách thảo Hoàng gia, Kew)
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Vườn bách thảo New York)
(Phòng tiêu bản thực vật bảo tàng Paris - Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia)
Quốc Gia Đài Loan)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Các trung tâm đa dạng sinh học chính tại Việt Nam [25] 3
Bảng 2.1 Dụng cụ và thiết bị phục vụ điều tra thực địa và xử lý mẫu 8
Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật 13
Bảng 3.2 Danh mục các họ cây thuốc có từ 4 loài trở lên (xếp theo thứ tự số lượng loài giảm dần) 14
Bảng 3.3 Danh mục các chi cây thuốc có từ 3 loài trở lên (xếp theo thứ tự số lượng loài giảm dần) 16
Bảng 3.4 Danh mục các dạng sống của cây thuốc 16
Bảng 3.5 Một số cây thuốc ở xã Lăng có phân bố sinh thái rộng 18
Bảng 3.6 Danh sách các cây thuốc có trong Nghị định 06, Sách đỏ Việt Nam 2007 và Sách đỏ IUCN 2019 (xếp theo tên khoa học) 19
Bảng 3.7 Danh sách các cây thuốc có trong Danh mục thuốc thiết yếu, Quyết định 206 và Quyết định 1976 ở khu vực xã Lăng (xếp theo tên khoa học) 20
Bảng 3.8 Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực xã Lăng 23
Bảng 3.9 Danh mục các cách dùng thuốc (xếp theo thứ tự tỷ lệ giảm dần) 24
Bảng 3.10 Danh mục các bệnh thường gặp tại xã Lăng 25
Bảng 3.11 Tần số xuất hiện của các cây thuốc chữa bệnh thường gặp 27
Bảng 3.12 Tri thức sử dụng cây thuốc của các KIP phân bố theo độ tuổi 30
Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc ở xã Lăng và hệ cây thuốc ở Việt Nam 33
Bảng 4.2 So sánh số loài cây thuốc được sử dụng bởi một số cộng đồng dân tộc tại Việt Nam (xếp theo nhóm dân tộc) 33
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Trang phục của người Cơ Tu [50] 2
Hình 1.2 Ẩm thực Cơ Tu [45] 7
Hình 2.1 Mẫu cây được xông cồn trong túi nilon để bảo quản 10
Hình 3.1 Phân bố họ thực vật theo số loài trong họ 14
Hình 3.2 Phân bố chi thực vật theo số loài trong chi 15
Hình 3.3 Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật 17
Hình 3.4 Các mục đích sử dụng cây thuốc 23
Hình 3.5 Sự phân bố tri thức sử dụng cây thuốc theo nhóm bệnh thường gặp 27
Hình 3.6 Sự tương quan giữa độ tuổi và tri thức sử dụng cây thuốc 30
Hình 4.1 Đường cong loài 35
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo ước tính của tổ chức Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), trên thế giới có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 – 270.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [43] Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam
là một trong những quốc gia trên thế giới có độ đa dạng cây cỏ cao với hơn 10.000 loài thực vật có mạch đã được xác định [41], [42] Trong đó, có tới 5.117 loài cây được sử dụng làm thuốc [34] Việt Nam còn là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em – 54 nền văn hóa với tri thức sử dụng cây cỏ khác nhau trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Tuy nhiên, đến nay còn rất nhiều dân tộc chưa được nghiên cứu, trong đó có dân tộc Cơ Tu tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Nằm ở độ cao khoảng 700-1200m so với mực nước biển, xã Lăng được bao quanh bởi núi rừng với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ Tu (chiếm khoảng 95% dân số) [45] Vì vậy, cây cỏ gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây Tuy nhiên, trước sự phát triển của du lịch, quá trình đô thị hóa, nhu cầu thu mua dược liệu của thương lái nơi biên giới Việt – Lào và các khu vực lân cận, nguồn cây hoang dại đang ngày càng cạn kiệt do việc khai thác quá mức và sử dụng một cách lãng phí Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một dần do không được tư liệu hóa, người dân thay đổi thói quen khám chữa bệnh hiện đại, thế hệ trẻ thờ ơ với việc học tập kinh nghiệm của cha ông,… Chính vì vậy, việc điều tra tài nguyên và tri thức sử dụng cây thuốc lại càng trở nên cấp bách và có vai trò quan trọng trong công tác y tế và bảo tồn
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Giang, tỉnh Quảng Nam
với các bệnh thường gặp tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa
Lãnh thổ Việt Nam là một dải đất hình chữ S có diện tích phần lục địa rộng 35
kéo dài từ Bắc xuống Nam hơn 1800km Địa hình đa dạng, phức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là châu thổ Sông Hồng ở phía Bắc và Sông Cửu Long ở phía Nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Lang Biang, Đắk Lắk, Lâm Viên, Di Linh, Ở miền Bắc, hầu hết các dãy núi thấp dần từ Bắc xuống Nam, ở miền Trung thấp dần từ Tây sang Đông, tạo điều kiện cho sự xâm nhập của hệ thực vật Á nhiệt đới
và Ôn đới như họ Dẻ (Fagaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), …Về phía Nam, địa hình thấp và bằng phẳng Việt Nam có hai vùng khí hậu, nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh ở miền Bắc và nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô ở phía Nam Lượng mưa trung bình năm vượt 1.500 mm nhưng phân bố không đều trong năm [36] Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy đã phần nào giải thích lý do Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong 34 điểm nóng đa dạng sinh học trên thế giới với khoảng 12.000 loài cây cỏ khác nhau và dự đoán có thể đến 13.000 -15.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [44], [36]
Nằm ở khu vực giao lưu của các nền văn hóa khu vực Đông Nam Á, Việt Nam còn là ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em, thuộc 3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm khác nhau Trong đó có cộng đồng người Việt (Kinh) dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, nơi chiếm ¾ diện tích cả nước Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức và kinh nghiệm
sử dụng cây có làm thuốc khác nhau Điều này dẫn dến sự đa dạng về tri thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam [36]
1.1.2 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Theo thống kê của Viện dược liệu năm 2016, nước ta hiện có 5.117 loài và dưới loài, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn, con số này còn tiếp tục tăng theo thời gian
Trang 11cứu đầy đủ trong tương lai Có tới 87,1% số cây thuốc đã biết là các cây hoang dã, chủ yếu ở vùng đồi núi, từ vùng trung du đến núi cao Chỉ có 12,9% cây trồng (kể cả bản địa và nhập nội) Các loài cây thuốc phân bố ở 8 vùng sinh thái trong nước là Đông Bắc - Bắc bộ, Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung
bộ, Đông Trường Sơn và Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long; tập trung chủ yếu ở 5 trung tâm đa dạng sinh vật là Hoàng Liên Sơn, Phia Oắc - Ba Bể, Cúc Phương – Pù Luông, Bạch Mã – Ngọc Linh, Lâm Viên – Di Linh [36], [5], [25]
Bảng 1.1 Các trung tâm đa dạng sinh học chính tại Việt Nam [25]
Mông, Dao đỏ, Thái
Hoàng liên, Sì to, Tam thất hoang, Sâm Vũ diệp, Táo mèo
2
Phia Oắc -
Ba Bể
Cao Bằng, Bắc Kạn
khai, Xuyên tâm thảo, Hồi, Hoàng liên, Ô rô, Mật mông hoa
3
Cúc Phương
– Pù Luông
Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La
Mường, Kinh, Thái, Mông
Trà hoa vàng, Huyết giác, Trâu cổ, Giảo cổ lam 5 lá nhẵn, Dành dành
4
Bạch Mã –
Ngọc Linh
Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum
Kinh, Cơ Tu, Bru Vân Kiều, Tà Ôi,
Xơ Đăng, Gia Rai, Ba Na, Brâu,
Rơ Măm
Vàng đắng, Sâm Ngọc Linh
5
Lâm Viên –
Di Linh
Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai
Kinh, Kơ Ho, Mạ,
Ba Na, Gia Rai, Tày Nùng
Hoàng liên dây, Thạch tùng răng cưa, Thông đỏ, Đảng sâm, Vàng đắng, Ươi
Trang 121.2 Xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Tây Giang là một huyện biên giới nằm phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, là một huyện miền núi còn giữ cho mình nhiều nét văn hóa nguyên sơ, cổ kính
và đậm đà bản sắc dân tộc Ẩn mình trên dãy Tây Trường Sơn hùng vĩ, điều kiện tự nhiên, khí hậu á nhiệt đới, mát mẻ quanh năm, vì thế hệ sinh thái động thực vật ở độ cao hơn 1000 mét so với mực nước biển rất phong phú và đa dạng, có nhiều loại cây dược liệu quý hiếm như Ba kích, Đẳng sâm, Tr’đin, Bá bệnh, Khúc khắc, Lim xanh,…[45]
bố xung quanh vĩ độ 15°49′ B và kinh độ 107°27′ Đ Phía Tây Bắc của xã sát biên giới Việt – Lào, phía Đông Bắc tiếp giáp xã A Tiêng - Tây Giang, phía Đông giáp xã Dang
- Tây Giang, phía Nam giáp xã Zuôih - Nam Giang, phía Tây giáp Tr’Hy - Tây Giang
Xã Lăng gồm 7 thôn: A Ró, A Rớh, Bha Lừa, Jơ Da, Nal, Pơrning và Tà Ry Nằm ở
độ cao khoảng 700-1200m so với mực nước biển, diện tích rừng tự nhiên nơi đây chiếm đến hơn 50% với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ
Tu [45]
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư tại xã Lăng khoảng 1.864 người, trong đó trên 80% là người Cơ Tu Đến cuối năm 2015, xã Lăng là xã thứ 2 của huyện Tây Giang đạt chuẩn nông thôn mới (cùng với xã A Nông), được định hướng là xã trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch của huyện Tây Giang [16] Vì vậy, đời sống văn hóa của người dân nơi đây được nâng cao một cách rõ rệt: từ những nếp nhà được dựng trên nền mặt bằng mới theo hình bầu dục, mang hơi ấm truyền thống văn hóa làng Cơ Tu; những con đường dẫn vào thôn, hộ gia đình đã được mở rộng và bê tông hóa; ngôi trường xã và thôn khang trang, sạch đẹp đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia; trạm y tế xã cũng được xây mới phục vụ, chăm sóc sức khỏe người dân; [45]
Du lịch ở xã Lăng phát triển từ rất sớm so với các khu vực khác trong huyện, nhưng luôn gắn liền với công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Cơ Tu Nhiều địa điểm thu hút khách du lịch như: Thác Nal; điểm dừng chân ngắm cảnh thiên nhiên
Trang 13hình còn giữ nguyên vẹn văn hóa làng truyền thống dân tộc Cơ Tu Nơi đây thường xuyên diễn ra các lễ hội làng, giao lưu văn hóa thập phương Khắp các thôn của xã Lăng đều có đội múa cồng chiêng, hát lý, baboóch [45]
Về kinh tế, xã Lăng chú trọng đến việc trồng cao su để tạo thu nhập cho người dân, giảm dần hộ đói nghèo; kênh mương hóa nội đồng để nhân dân phát triển ruộng lúa nước Bên cạnh đó, xã Lăng còn là đầu mối giao thương mua bán nhiều loại dược liệu giữa Lào, Việt Nam và các khu vực lân cận, như: Đảng sâm, Ba kích, Tiêu rừng, Táo mèo, Ngọc cẩu,… Tuy nhiên, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng dược liệu trên địa bàn xã Lăng nói riêng, huyện Tây Giang nói chung, còn gặp nhiều khó khăn
[45]
1.3 Dân tộc Cơ Tu
Người Cơ Tu (hay còn gọi là Catu, C’tu, Katu, K’tu, Phương, Hạ… ) thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á Họ sống tập trung chủ yếu ở các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang (Quảng Nam); một số khác cư trú ở huyện Nam Vang (Đà Nẵng), huyện Nam Đông và A Lưới (Thừa Thiên Huế) Ngoài ra, người Cơ Tu còn sinh sống ở tỉnh Sêkông, Saravan, Champasak (Lào) [21],[30]
Về trang phục truyền thống của người Cơ Tu, đàn ông thường đóng khố, cởi trần, đàn bà mặc váy ống, nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếu váy ngắn thì mặc
áo không có tay Họ ưa chuộng bộ y phục được dệt hoa văn hạt chì hoặc hạt cườm, đeo vòng ở cổ, tay và tai Cơ Tu là một trong số ít dân tộc cư trú ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên còn bảo lưu nghề dệt vải truyền thống Ngoài giá trị kinh tế, giá trị sử dụng, thổ cẩm Cơ tu còn có giá trị nghệ thuật bởi màu sắc và trang trí hoa văn thể hiện rõ bản sắc dân tộc [49]
Trang 14Hình 1.1 Trang phục của người Cơ Tu [50]
Cư trú dọc trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, người Cơ Tu xưa sinh sống hài hòa với thiên nhiên, đặc biệt là rừng Họ tôn thờ thần rừng và với họ, rừng là cội nguồn, rừng gắn bó mật thiết với sinh hoạt hàng ngày (săn bắt, hái lượm, lấy gỗ dựng nhà,…) Người Cơ Tu xưa không xem rừng là thứ tài nguyên để chiếm lĩnh, khai thác, mua, bán mà rừng là của chung, bảo vệ rừng vì cái chung, cho cả cộng đồng dân tộc Bởi thế, họ luôn ứng xử có văn minh đối với rừng, nhất là rừng thiêng, rừng đầu nguồn, rừng có nghĩa địa và rừng có nhiều gỗ quý hiếm, nhiều cây thuốc chữa bệnh cho dân làng [45], [30]
Trong văn hóa của người Cơ Tu, hình ảnh các vị thần, biểu tượng của các loài động - thực vật rừng luôn được biểu hiện rất sinh động trong kiến trúc nhà mồ, nhà gươl; trong cách đặt tên làng, tên con cái, dòng họ; trong ứng khẩu tinh túy về nghệ thuật nói lý - hát lý; trong những lễ hội và văn hóa ẩm thực [45] Lễ hội truyền thống thường niên phải kể đến là lễ hội mừng lúa mới, diễn ra vào lúc thu hoạch lúa mới Vào tháng 7 âm lịch hàng năm [49]
Trong những lễ hội như thế này không thể không kể đến những hương vị ẩm thực được chế biến từ hoa, trái, rau rừng, gạo, sắn rẫy, ớt, tiêu rừng, cá liêng, thịt rừng phơi khô, hay những đồ uống như rượu cần, rượu tà vạc, rượu ba kích, tr’đin, đẳng sâm, uống giải nhiệt, tráng dương, bổ thận và tốt cho sức khỏe Những gùi cơm lam,
Trang 15chiến trường, che chở, nuôi dấu cán bộ làm cách mạng để cùng nhau đấu tranh kiên cường bám đất giữ làng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Toàn thể đồng bào dân tộc Cơ Tu đều thờ Bác Hồ [45]
Hình 1.2 Ẩm thực Cơ Tu [45]
Ngày nay, những quan niệm của người Cơ Tu đang bị mai một, vai trò của các
vị già làng cũng không còn được trọng dụng như trước, giá trị của các hương ước không được dân làng chấp thuận cao, luật tục dân tộc bị phá vỡ, không còn trang nghiêm, linh thiêng như xưa nữa Những cánh rừng theo đó cũng dần bị xóa sổ, bị bao đối tượng khai thác, tận diệt cạn kiệt, nhất là những cánh rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn có nhiều gỗ, động – thực vật quý hiếm [21], [30] Do vậy, điều tra này càng
có ý nghĩa hơn, làm nền tảng cho địa phương có những định hướng để bảo tồn, quy hoạch và phát triển những loài cây thuốc quý, đồng thời truyền bá tri thức sử dụng cho các thế hệ mai sau
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây thuốc ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Người dân Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Danh sách bệnh nhân được cung cấp từ trạm y tế xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
2.2 Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu
Bảng 2.1 Dụng cụ và thiết bị phục vụ điều tra thực địa và xử lý mẫu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc
Trang 17Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc được thực hiện theo phương pháp điều tra theo tuyến Hoạt động điều tra được thực hiện với những người Cơ Tu am hiểu cây thuốc ở khu vực xã Lăng (thầy lang, người thu hái cây thuốc,…) được gọi là người cung cấp tin cốt yếu (KIP), thông qua các chuyến điều tra thực địa để quan sát, phỏng vấn và thu thập mẫu tiêu bản [15] Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách
sử dụng cây thuốc trong khu vực Các bước thực hiện bao gồm:
(i) Xác định tuyến điều tra: Xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa
hình hoặc phân bố cây thuốc trong khu vực Tuyến điều tra phải xuyên qua các môi trường sống của khu vực nghiên cứu để đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau Tổng cộng có 7 tuyến điều tra đã được thực hiện (Phụ lục 1.1)
(ii) Thu thập thông tin tại thực địa: Phỏng vấn bất kỳ cây nào gặp trên đường đi
hoặc dừng lại tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và tiến hành phỏng vấn Thông tin được thu thập bao gồm: Tên cây tiếng địa phương (Cơ Tu), bộ phận dùng, công dụng, cách dùng… Thu mẫu tiêu bản và chụp ảnh cây thuốc
(iii) Xử lý thông tin: Thông tin mang tính chất định tính, bao gồm: Danh mục
loài (tên địa phương, tên thường dùng, tên khoa học, công dụng, cách dùng, bộ phận dùng)
2.3.1.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc
Hoạt động này không thể thiếu một công cụ cơ bản là sổ ghi chép thực địa Sổ này nên được chuẩn bị trước (nên kẻ bảng) Nội dung ghi chép được tóm tắt ở phụ lục 2.1 Thông tin cần tư liệu hóa của mỗi loài có được qua 2 con đường chính là: (i)
phỏng vấn dựa trên mẫu vật tại thực địa Đây là nội dung quan trọng vì nó phản
ánh tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của người dân địa phương; (ii)
kết quả phân tích và tra cứu tại phòng thí nghiệm [15], đối chiếu và chuẩn hóa
thuật ngữ theo các tài liệu khoa học thứ cấp: Từ điển cây thuốc Việt Nam [10]; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam [33]; Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [22],…
2.3.1.3 Thu mẫu, xử lý mẫu và làm tiêu bản thực vật
Trang 18 Các bước thu mẫu: Viết mã → Chụp ảnh mã → Chụp ảnh cây tại thực địa → Cắt mẫu → Đeo nhãn → Bỏ vào bao
Nguyên tắc thu mẫu:
hay cả cây đối với cây cỏ Mẫu có quả càng tốt
những đặc điểm dễ mất sau khi khô như màu hoa, quả, mùi vị,… Đồng thời ghi chú những đặc điểm về môi trường sống của cây
cho riêng vào túi zip nhỏ (hoa, quả) Túi nylon to được lồng trong bao tải để tránh thủng khi đi rừng
Do không có điều kiện để sấy ngay sau khi thu mẫu nên chúng tôi đã chọn
phương pháp “Xử lý ướt”: Mẫu cây được cắt lại cho vừa kích thước 28x42cm (kích
thước tiêu bản), xông cồn trong túi nilon kín để bảo quản, sau đó được mang về Bộ môn Thực vật – Trường Đại học Dược Hà Nội để ép và sấy khô theo các kỹ thuật tiêu bản thông thường và lưu trữ tại Phòng tiêu bản của Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP)
Hình 2.1 Mẫu cây được xông cồn trong túi nilon để bảo quản
Trang 192.3.1.4 Giám định tên khoa học
Tên khoa học của các mẫu được giám định theo 3 phương pháp:
- So sánh hình thái: Dựa trên các mẫu tiêu bản, mẫu tiêu bản chuẩn (type) tại các
phòng tiêu bản trong và ngoài nước: Phòng tiêu bản – Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP); Phòng tiêu bản – Khoa Sinh học – Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); Phòng tiêu bản – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN); Herbarium of National Taiwan University (TAI); Herbier Muséum Paris – Muséum National d’Histoire Naturelle (P, PC); Royal Botanic Gardens, Kew (K); New York Botanical Gardens (NY);
- Dựa vào khóa phân loại (key) cho từng taxon: Theo các tài liệu Thực vật chí
Việt Nam [35]; Cây cỏ Việt Nam [17]; Từ điển Thực vật thông dụng [11]; Từ điển Cây thuốc Việt Nam [10]; Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [39]; Thực vật chí Đài Loan (Flora of Taiwan) [37]; Thực vật chí Thái Lan (Flora of Thailand) [40]; Thực vật chí Malesiana (Flora Malesiana) [38]; Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam [12]; The International Plant Names Index (IPNI) [46]; The Plant List [47]
- Nhờ sự trợ giúp của chuyên gia, nhà thực vật học: Thầy Nghiêm Đức Trọng
(Bộ môn Thực vật – Trường Đại học Dược Hà Nội)
2.3.2 Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc theo dịch tễ tại địa phương
Lập “Danh mục các bệnh thường gặp” của người dân tại xã Lăng, huyện Tây Giang,
tỉnh Quảng Nam:
4/2019
tuổi), Phụ nữ ( ≥16 tuổi, giới tính nữ), Đàn ông (≥16 tuổi, giới tính nam)
Điều tra tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người dân Cơ Tu đối với các bệnh thường gặp:
Trang 20 Phỏng vấn bán cấu trúc: Dựa trên cơ sở sử dụng một sườn thông tin cần phỏng vấn xoay quanh các bệnh thường gặp tại địa phương, thứ tự câu hỏi và cách đặt câu hỏi có thể thay đổi theo đối tượng phỏng vấn [15] Bao gồm:
trị? (Tên tiếng Cơ Tu)
số xuất hiện) dựa trên công thức Friedman [15]:
Trang 21CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tính đa dạng sinh học của tài nguyên cây thuốc tại xã Lăng
3.1.1 Đa dạng theo bậc phân loại
3.1.1.1 Đa dạng theo bậc ngành
Đã có 319 loài cây thuốc được phát hiện ở xã Lăng Trong đó, có 286 loài đã được xác định đến tên khoa học, 33 loài xác định được đến chi (Phụ lục 3.1) Các cây
thuốc được xác định thuộc 5 ngành thực vật là: Lycopodiophyta (Thông đất),
Magnoliophyta (Ngọc lan), Gnetophyta (Dây gắm), Pinophyta (Thông) và Polypodiophyta (Dương xỉ),121 họ, 244 chi khác nhau Trong các ngành thực vật,
ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) có số họ, chi và loài lớn nhất, lần lượt là 108 họ,
230 chi và 304 loài, chiếm 95,30% tổng số loài
Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật
Trang 22Hình 3.1 Phân bố họ thực vật theo số loài trong họ Bảng 3.2 Danh mục các họ cây thuốc có từ 4 loài trở lên (xếp theo thứ tự số
lượng loài giảm dần)
TT
Tên khoa học Tên Tiếng Việt Tổng Tỷ lệ % Tổng Tỷ lệ %
Trang 23TT
Tên khoa học Tên Tiếng Việt Tổng Tỷ lệ % Tổng Tỷ lệ %
3.1.1.2 Đa dạng theo bậc chi
Trong 244 chi thực vật, có 1 chi có 6 loài (Ardisia), 3 chi có 5 loài (Curcuma,
Ficus, Morinda) và 1 chi có 4 loài (Smilax) Tuy nhiên, có đến 194 chi chỉ có 1 loài
cây thuốc (79,51%) Với 72 cây được người Cơ Tu ở xã Lăng dùng làm thuốc/chăm
sóc sức khỏe, chỉ có 1 chi có 3 loài (chi Curcuma), 10 chi có 2 loài, còn lại 49 chi chỉ
có một loài được sử dụng , chiếm 68,06% (Phụ lục 3.3)
Hình 3.2 Phân bố chi thực vật theo số loài trong chi
79.51%
14.34%
Chi có 1 loàiChi có 2 loàiChi có 3 loàiChi có 4-6 loài
Trang 24Bảng 3.3 Danh mục các chi cây thuốc có từ 3 loài trở lên (xếp theo thứ tự số
lượng loài giảm dần)
là Cây cỏ (106 loài), Dây leo (58 loài), Cây gỗ (82 loài)
Bảng 3.4 Danh mục các dạng sống của cây thuốc
TT Tên dạng sống Số loài Tỉ lệ %
Trang 25ở một số loại hệ sinh thái khác nhau (Bảng 3.5)
Hình 3.3 Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật
Ven suối và thung lũng ẩm
Núi đá, vách đá
Đồi và ven đường
Nương rẫy Bãi hoang,
bờ ruộng
Vườn và quanh nhà
Trang 26Bảng 3.5 Một số cây thuốc ở xã Lăng có phân bố sinh thái rộng
(xếp theo tên khoa học)
3.1.4 Mức độ quý hiếm và yêu cầu bảo tồn
Trong 319 loài cây thuốc đã được phát hiện ở xã Lăng, có 6 loài trong Sách đỏ Việt Nam 2007 [6], 7 loài có trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP về Quản lý thực vật
Trang 27loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp [13], và 3 loài có trong Sách đỏ IUCN 2019
[48] ở mức VU (Vulnearble) – Sắp bị đe dọa (2 loài) và NT – Sẽ nguy cấp (1 loài)
Bảng 3.6 Danh sách các cây thuốc có trong Nghị định 06, Sách đỏ Việt Nam 2007
và Sách đỏ IUCN 2019 (xếp theo tên khoa học)
Sách
đỏ IUCN
Nghị định
EN B1+2b,c,e
Cibotium barometz (L.)
(Wall ex Hook.) Copel
Trang 28Sách
đỏ IUCN
Nghị định
3.1.5 Mức độ thiết yếu và tiềm năng phát triển
Trong 319 cây thuốc đã được phát hiện ở xã Lăng, có 16 loài được ghi trong
“Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ VI” (DMTTY) [8] Có 11 loài trong Quyết định 206/QĐ-BYT về Danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2020 [7],
có 14 loài trong Quyết định 1976/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [27]
Bảng 3.7 Danh sách các cây thuốc có trong Danh mục thuốc thiết yếu, Quyết định 206 và Quyết định 1976 ở khu vực xã Lăng (xếp theo tên khoa học)
Quyết định
206
Quyết định
1976
lưỡi dài
Amomum longiligulare T.L.Wu Zingiberaceae x
Ampelopsis cantoniensis (Hook
& Arn.) Planch
Trang 29Quyết định
206
Quyết định
Va
Cymbopogon winterianus Jowitt ex
GawL
Trang 30Quyết định
206
Quyết định
3.2 Đa dạng về tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người dân xã Lăng
Trong 319 loài cây đã được phát hiện tại xã lăng, chỉ có 72 loài được người dân
ở đây sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe, 247 loài cây thuốc còn lại, tuy được ghi nhận trong các tài liệu, sách tham khảo nhưng chưa được người dân nơi đây sử dụng làm thuốc Các mục đích sử dụng khác: 63 loài sử dụng làm thức ăn/nấu nướng/gia vị;
16 loài sử dụng ngâm rượu; 12 loài sử dụng trong các tín ngưỡng văn hóa, tâm linh; và
21 loài sử dụng với mục đích khác (làm nhà, thủ công mỹ nghệ,…) Một loài có thể có nhiều hơn 1 mục đích sử dụng Có 174 loài cây thuốc (chiếm 54,55%) chưa có tri thức
sử dụng
Trang 31Hình 3.4 Các mục đích sử dụng cây thuốc
Có 19 tên mô tả nhóm bệnh/chứng bệnh/thuốc, được người dân ở khu vực xã Lăng sử dụng cây cỏ để chữa Trong đó có 4 nhóm bệnh/chứng bệnh/thuốc sử dụng
nhiều cây cỏ nhất là: Bệnh tiêu hóa (14 loài), Làm mát (13 loài), Bệnh hô hấp (7 loài),
Bổ dưỡng (11 loài) và Cảm sốt (6 loài) (Phụ lục 3.1) Chi tiết về các bệnh thường gặp
tại địa phương và cách người dân Cơ Tu sử dụng cây cỏ như thế nào sẽ được trình bày
kỹ hơn ở mục 3.3
3.2.1 Đa dạng về bộ phận dùng
Trong 72 loài cây thuốc được sử dụng làm thuốc ở xã Lăng, tổng cộng có 14 bộ phận sử dụng đã được xác định Đại đa số các loài chỉ được sử dụng một bộ phận làm thuốc (55 loài, chiếm 76,39%) Có 17 loài, có 2 bộ phận sử dụng làm thuốc, chiếm 23,61%
Bộ phận dùng nhiều nhất là Lá (25,00%), các bộ phận như Củ (9,72%), Ngọn
non, Lá non, Nhựa, Quả và Thân lá được sử dụng ít hơn (8,33%)
Bảng 3.8 Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực xã Lăng
63 21
16 12
Không dùng Làm thuốc/chăm sóc sức khỏe
Làm thức ăn/nấu nướng/gia vị
Khác Ngâm rượu Văn hóa/Tâm linh
Trang 32Bảng 3.9 Danh mục các cách dùng thuốc (xếp theo thứ tự tỷ lệ giảm dần)
Trang 333.3 Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc đối với các bệnh thường gặp tại xã Lăng
3.3.1 Dịch tễ tại xã Lăng giai đoạn 4/2018 – 4/2019
Trong 3233 bệnh án đã thu thập được, có 1042 bệnh án nhóm Trẻ em (dưới 16 tuổi), 1019 bệnh án nhóm Đàn ông ( ≥ 16 tuổi, giới tính nam) và 1172 bệnh án nhóm
Phụ nữ ( ≥ 16 tuổi, giới tính nữ) Mỗi bệnh án có thể có một bệnh hoặc thêm một bệnh
mắc kèm Số lượng mã bệnh tăng dần ở 3 nhóm Trẻ em, Đàn ông và Phụ nữ lần lượt là
43, 59, 64 (Phụ lục 3.4, 3.5, 3.6) Như vậy, đối tượng Phụ nữ là nhiều bệnh nhất Cả 3
đối tượng đều hay mắc các bệnh về đường hô hấp và đường tiêu hóa Đặc biệt, Viêm
phế quản cấp là bệnh có tỷ lệ cao nhất ở cả 3 nhóm Nổi bật ở nhóm Trẻ em so với 2 nhóm còn lại là bệnh Thiếu Ca do chế độ ăn, tương tự như thế ở nhóm Phụ nữ với
bệnh Thiếu máu do thiếu sắt; hai bệnh này đều liên quan đến chế độ dinh dưỡng
Bảng 3.10 Danh mục các bệnh thường gặp tại xã Lăng
Mã bệnh Tên bệnh theo ICD–10/BYT Số lượng Tỉ lệ %
Trẻ em
Trang 34Mã bệnh Tên bệnh theo ICD–10/BYT Số lượng Tỉ lệ %
Phụ nữ
Từ bảng trên, ta có thể điều tra tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc theo 6 nhóm bệnh: (1) Bệnh dạ dày, (2) Bệnh do thiếu dinh dưỡng, (3) Bệnh đường hô hấp, (4) Bệnh đường tiêu hóa, (5) Bệnh tiền đình và (6) Bệnh xương khớp, đau lưng Sau khi phỏng vấn 21 KIP người Cơ Tu tại 5 thôn Bha'lừa, Nal, Pơrning, Arớh, Aró (Phụ lục 3.7), 44 loài cây thuốc đã được nhắc đến với tần số và nhiều tri thức sử dụng khác nhau Trong đó, có 33 loài đã được giám định tên khoa học, 11 loài chưa thu được mẫu
vì vậy không đưa vào phân tích đa dạng (Phụ lục 3.8)
3.3.2 Tri thức sử dụng cây thuốc phân bố theo các nhóm bệnh thường gặp
Trong 6 nhóm bệnh được phỏng vấn, Bệnh đường tiêu hóa (đau bụng, tiêu chảy, tả, lỵ…) tập trung nhiều tri thức sử dụng nhất với 16 loài cây thuốc được nêu tên (chiếm 36,36%), tiếp đến là Bệnh đường hô hấp với 13 loài (chiếm 29,55%) Ngược lại, tri thức sử dụng của người dân đối với Bệnh tiền đình và Bệnh dạ dày lại rất ít, chỉ chiếm 2,27% (1 loài) và 4,55% (2 loài)
Trang 35Hình 3.5 Sự phân bố tri thức sử dụng cây thuốc theo nhóm bệnh thường gặp
3.3.3 Hệ số tin cậy của những cây thuốc chữa bệnh thường gặp
nươu caay pơlây và Trơ jêê (Morinda officinalis F.C.How) với 21/21 lần được nhắc đến Axai (Zingiber zerumbet (L.) Roscoe ex Sm.), Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.)
số tin cậy trung bình cao đạt 0,49
Bảng 3.11 Tần số xuất hiện của các cây thuốc chữa bệnh thường gặp
5
Bệnh dạ dàyBệnh do thiếu dinh dưỡng
Benh đường hô hấpBệnh đường tiêu hóa
Bệnh tiền đìnhBệnh xương khớp, đau lưng
Trang 36TT Tên thường
dùng Tên Cơ Tu Tên khoa học Nhóm
bệnh
Số KIP nhắc đến
(Skan) Rehder &
Trang 37TT Tên thường
dùng Tên Cơ Tu Tên khoa học Nhóm
bệnh
Số KIP nhắc đến
Serm
Trang 383.3.4 Tương quan giữa độ tuổi và tri thức sử dụng cây thuốc
Tuổi càng cao thì tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc càng nhiều Thông tin thu thập được có đến 82,82% là từ những KIP có độ tuổi 56-84 (10 KIP) Trong khi đó, độ tuổi từ 25-27 (6 KIP) chỉ cung cấp 3,30% thông tin về cây thuốc Hệ số tương quan
Hình 3.6 Sự tương quan giữa độ tuổi và tri thức sử dụng cây thuốc
Người có nhiều tri thức sử dụng nhất là cụ Cơ Lâu Trô (KIP14) 73 tuổi, từng là già làng thôn Bha’ Lừa, tri thức sử dụng của cụ được đúc rút từ kinh nghiệm sử dụng cây thuốc từ xưa và đến nay cụ vẫn thường xuyên sử dụng Thứ hai là già Bhriu Pố (KIP8) 70 tuổi, từng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Thái Nguyên ngành sinh vật học năm
1977 và trở thành người Cơ Tu đầu tiên có bằng đại học Đến nay, già vẫn thường xuyên đọc sách báo để tích lũy thêm những hiểu biết của mình về cây thuốc
Bảng 3.12 Tri thức sử dụng cây thuốc của các KIP phân bố theo độ tuổi
(xếp theo thứ tự số cây giảm dần)
TT Mã KIP Tuổi Số cây nhắc đến Tỷ lệ %
Trang 39TT Mã KIP Tuổi Số cây nhắc đến Tỷ lệ %
(i) Bài chữa viêm họng: lấy rễ các cây Ơ châng ta tóc (Rẻ quạt), A bộ (Thạch
xương bồ), riu, T jơl, Jà hơơng và Kờ grâu sắc lấy nước uống, 3 lần/ngày x 2 ngày là
khỏi
(ii) Bài chữa cảm sốt: Lấy rễ cây Cờ lạ, rễ cây Chè hằng (có mùi hôi) và lá non cây Crtia đun nước xông
(iii) Bài chữa đau dạ dày: Lấy củ cây Zơ nươu caay azơi ăn Có vị đắng nên ăn
cùng mật ong (Đây là thuốc cổ truyền của dân tộc Cơ Tu, làng nào cũng có)
(iv) Bài chữa đau bụng: Lấy lá non cây Bhắc Bh'lóc (Cỏ lào), Kapai (Bùng
bục), Cờ trụa a run giã lấy nước, thêm 2 hột muối và nước sôi vào đợi 2-3 phút rồi
Trang 40uống hoặc nhai nuốt Nếu bị kiết lỵ thì uống thêm nước sắc thân và lá cây Cà đăm
(Thông đất nhỏ) mới hiệu quả
(v) Bài chữa thổ tả, đau bụng (theo hướng tâm linh): lấy than đốt vỏ quả bầu
khô và dây giang thắt nồi niêu (Tờ rờ vành) cùng với đất bếp đang nóng đem cho đột
ngột vào nước lạnh rồi uống