Tiếp cận thể loại văn học dân gian này từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa sẽ là cơ hội tốt để chỉ ra được bản sắc văn hóa của cộng đồng, bên cạnhđặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa, lập luận của câu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS NGUYỄN THỊ LƯƠNG
2 PGS TS PHẠM VĂN TÌNH
Hà Nội - 2020
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì côngtrình nào khác.
Tác giả
Vũ Thị Hương Giang
Trang 41 2.1 Cấu trúc văn bản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt 41
2 2.2 Số lượng lời đố về động thực vật trong tiếng Việt có mô hình
cấu trúc đồng dạng
49
3 2.3 Mô hình đồng dạng nghi vấn ở cấu đố có cấu trúc thông thường 50
4 2.4 Mô hình đồng dạng trần thuật của câu đố có cấu trúc thông
thường
54
5 2.5 Mô hình đồng dạng của câu đố có cấu trúc đặc biệt 58
6 2.6 Mô hình cấu trúc ngữ pháp đồng dạng ở lời đố về động vật
trong tiếng Việt
64
7 2.7 Mô hình cấu trúc ngữ pháp đồng dạng ở lời đố về thực vật
trong tiếng Việt
69
8 2.8 Chủ đề ở lời giải của câu đố về động vật trong tiếng Việt 76
9 2.9 Chủ đề ở lời giải của câu đố về thực vật trong tiếng Việt 77
10 2.10 Miêu tả tố ở lời đố về động thực vật trong tiếng Việt 79
11 2.11 Miêu tả tố riêng ở lời đố về động vật trong tiếng Việt 90
12 2.12 Miêu tả tố riêng ở lời đố về thực vật trong tiếng Việt 94
13 2.13 Cách thức miêu tả vật đố trong lời đố về động thực vật trong
15 3.2 Số lượng luận cứ trong lập luận câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt
108
16 3.3 Cấu trúc lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng
Việt
113
17 3.4 Một số dạng lập luận theo tư duy sáng tạo riêng ở lời đố về
động thực vật trong tiếng Việt
118
18 3.5 Phương thức chuyển trường trong lập luận ở lời đố về động
thực vật trong tiếng Việt
119
19 3.6 Phương thức chơi chữ ở lời đố về động thực vật trong tiếng
Việt
134
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ Là một thể loại văn học dân gian nên câu
đố cũng được tạo ra từ chất liệu ngôn từ Cùng với thành ngữ, tục ngữ, câu đố làkho tàng bảo lưu giá trị văn hóa của dân tộc, cộng đồng Từ lâu, nó đã đi sâu, chiếm
vị trí đáng kể, trở thành một món ăn quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinhthần của người dân Việt Tiếp cận thể loại văn học dân gian này từ góc độ ngôn ngữ
- văn hóa sẽ là cơ hội tốt để chỉ ra được bản sắc văn hóa của cộng đồng, bên cạnhđặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa, lập luận của câu đố Đây cũng là hướng nghiên cứukhá phổ biến, được ưa chuộng hiện nay: hướng nghiên cứu liên ngành, nghiên cứungôn ngữ trong mối quan hệ với văn học, tâm lý học
1.2 Đố - giải là một trong những hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thườngxuyên diễn ra trong đời sống cộng đồng Không đơn thuần chỉ là một trò chơi giảitrí thông thường, đó còn là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ - nhờ đó, với cảngười ra đố và giải đố; năng lực tư duy, cụ thể là năng lực phán đoán trên cơ sở suyluận được rèn rũa, trau dồi; đồng thời khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt cũngđược rèn luyện Nhiều câu đố đã được văn bản hóa, tồn tại với tư cách một văn bản
Là văn bản nhưng văn bản câu đố lại có cấu trúc đặc biệt, so với các thể loại văn họcdân gian khác
Câu đố là một loại đơn vị hết sức đặc biệt (Nó là một dạng “câu” đặc biệt vàcũng là một dạng văn bản đặc biệt) Được gọi là “câu” nhưng câu đố lại có cấu tạo ởdạng văn bản, trọn vẹn và khép kín Mặt khác, câu đố vốn là một loại hình văn bản
có phong cách chức năng ngôn ngữ khá độc đáo, vừa thể hiện đặc điểm của ngônngữ văn học (văn học dân gian) lại vừa mang những nét đặc trưng của phong cáchngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày; vừa là một loại hình văn bản ngôn từ vừa là loạihình văn hóa diễn xướng dân gian Vì thế, nghiên cứu, tìm hiểu câu đố (kể cả phầnlời đố, lời giải hay phần diễn xướng) đều hứa hẹn có nhiều “đất” để khai thác; manglại những kết luận khoa học hấp dẫn, lí thú
1.3 Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, câu đố chủ yếu là sản phẩmcủa quần chúng nông dân lao động nên ẩn số (để giải mã) thường là những gì thânquen, gắn bó với đời sống của họ Với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, thế giới
Trang 6động thực vật muôn màu không chỉ là một thực thể bên ngoài của tự nhiên mà cònthâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa tinh thần của con người Vì thế, chiếm đa số(gần 1/5) trong kho tàng câu đố Việt Nam là những câu đố về con vật; về cây cỏ, hoa
lá, củ quả gần gũi, quen thuộc với người nông dân Đây cũng là mảng có nhiều câu
đố đặc sắc cần khai thác Dù câu đố được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong đời sống
sinh hoạt hàng ngày nhưng không phải ai cũng dễ dàng giải mã, tìm ra ẩn số được
kí mã trong bài toán ngôn ngữ ấy Bởi lẽ nó không phản ánh sự vật, hiện tượng của
thế giới khách quan như lối nói thông thường mà theo “lối nói chệch, nói một đằng,hiểu một nẻo” [44, tr 257], “bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa
gây nhiễu (chuyển vật nọ thành vật kia)” [43, tr 48 – 49] Yêu cầu đặt ra với người
đố là luôn phải tìm ra những cách nói mới lạ, nhằm đánh lạc hướng lập luận ở ngườiđoán giải
1.4 Xem xét đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố góp phầnkhẳng định giá trị, vai trò cũng như sự độc đáo, riêng biệt của thể loại này trong đờisống văn học dân tộc Đồng thời đây là việc làm cần thiết để thấy được nét đặc sắc
về ngôn ngữ của thể loại này, cũng như giải mã được lôgic của tư duy, triết lí dângian qua ngôn ngữ đố
1.5 Do tính hấp dẫn của câu đố (từ góc độ ngôn ngữ học) nên đã có không ítcông trình nghiên cứu về nó song phần lớn các công trình đó mới chỉ dừng lại ởviệc sưu tầm và giải đáp ẩn số Cũng có một số tài liệu nghiên cứu về thể loại nàynhưng ở mức khái quát Cho đến nay, những công trình nghiên cứu câu đố dưới góc
độ ngôn ngữ học còn khá khiêm tốn Các tác giả mới chỉ khai thác nó ở góc độ biểuthức miêu tả chiếu vật, tiền giả định, phương thức chơi chữ, vấn đề ẩn dụ trong câuđố,… chứ chưa khai thác đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của nó Chưa cócông trình nào nghiên cứu tổng thể ba đặc điểm này của câu đố về động thực vậttrong tiếng Việt Vì thế, tiếp cận câu đố một cách hệ thống ở các bình diện trên chođến thời điểm này, vẫn là điều mới lạ, hứa hẹn kết quả nghiên cứu về đối tượng
“được coi là thách thức người tiếp nhận”
Với những căn cứ trên, chọn đề tài Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận
của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt để nghiên cứu, người viết mong muốn
góp thêm một cách nhìn về câu đố dưới ánh sáng của một số lý thuyết ngôn ngữ học
Trang 72 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:
- Làm rõ đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vậttrong tiếng Việt, để thấy được sự độc đáo của loại văn bản đặc biệt này dưới góc độngôn ngữ học
- Chỉ ra nét độc đáo về cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận và đặc trưng tư duy văn hóa,triết lí dân gian qua câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
- Chỉ ra căn cứ - cơ chế giải mã để có thể giải đáp câu đố nhanh, đúng vàchính xác
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểnhư sau:
- Xác lập khung lý thuyết cho đề tài luận án (khái niệm câu đố, lý thuyết văn bản,
lý thuyết lập luận, vấn đề nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu, lý thuyết định danh)
- Khảo sát, phân loại câu đố căn cứ vào cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của chúng
- Miêu tả, phân tích các loại câu đố, lần lượt ở các khía cạnh:
+ Chỉ ra đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố, mô hình hoá cấu trúc đồngdạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
+ Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa: xem xét các mảng chủ đề được phản ánh, cácđặc điểm được chọn làm miêu tả tố trong lời đố (qua lời đố miêu tả trực tiếp)
+ Làm rõ đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt: Đặcđiểm các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận và cơ sở lập luận
- Tổng kết kết quả nghiên cứu bằng bảng biểu hoặc bằng cách nêu nhận định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Do khuôn khổ của luận án và thời gian thực hiện, chúng tôi chỉ tập trung khảo
sát, tìm hiểu 488 câu đố về động vật và 636 câu đố về thực vật trong tiếng Việt được
sưu tầm, biên soạn trong cuốn biên Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 –
Câu đố), 2005, NXB Khoa học Xã hội [125] (dựa trên ngữ liệu đã được văn bản hóa
vì câu đố vốn là trò chơi dân gian bằng ngôn ngữ nói)
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học, có thể nghiên cứu câu đố trên nhiều phươngdiện, song luận án chỉ tập trung vào ba phương diện, đó là: Đặc điểm cấu trúc – ngữnghĩa và lập luận
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng các phươngpháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp nghiên cứu
(1) Phương pháp phân tích diễn ngôn
Từ những ngữ liệu đã thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích, đối chiếuvăn bản câu đố (một dạng diễn ngôn đặc biệt) để nhận biết đặc điểm cấu trúc củacâu đố về động thực vật trong tiếng Việt Phương pháp này dùng để phân tích vănbản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt cũng như cấu trúc lập luận của các câu
đố loại này
(2) Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được dùng để mô tả đặc điểm cấutrúc, một số mô hình cấu trúc đồng dạng trong lời đố, các nét nghĩa đặc trưng đượcchọn làm miêu tả tố
(3) Phương pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học – văn hóa học
Phương pháp này giúp chúng tôi giải mã được ý đồ nghệ thuật và phần nàohiểu được cách tri nhận của người Việt qua câu đố về động thực vật
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
(1) Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại câu đố theo tiêu chí đã địnhtrước (mô hình cấu trúc đồng dạng, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố, đặc điểmcác thành phần lập luận, cấu trúc lập luận, cơ sở lập luận của câu đố về động thực vậttrong tiếng Việt) Kết quả thống kê sẽ được tổng hợp dưới hình thức các bảng biểu,giúp hình dung rõ hơn đặc trưng cơ bản về cấu trúc, ngữ nghĩa, lập luận của câu đố
về động thực vật trong tiếng Việt; làm cơ sở cho kết luận của luận án
(2) Thủ pháp so sánh: tìm ra điểm chung và nét riêng (về cấu trúc - ngữ nghĩa
và lập luận) của câu đố về động vật và thực vật trong tiếng Việt
Trang 95 Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu đặc điểm cấutrúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Tìm hiểu Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực
vật trong tiếng Việt, tác giả luận án có những đóng góp sau:
6.1 Về lí luận
Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm vào các kết quả nghiên cứu về câuđố; góp thêm một cái nhìn mới về câu đố dân gian người Việt từ góc nhìn của ngônngữ học (văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), định danh)
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố hướng nghiên cứu cấu trúc ngữnghĩa, kết hợp với nghiên cứu lập luận đối với một loại hình diễn ngôn cụ thể là câu
đố trong tiếng Việt
6.2 Về thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao công tác biên soạn sách giáo khoatiếng Việt cho học sinh phổ thông (đặc biệt trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạođang xây dựng chương trình và biên soạn bộ sách Ngữ văn mới), giáo trình giảngdạy tiếng Việt, phục vụ cho đào tạo ngôn ngữ học ở bậc cử nhân và sau đại học,biên soạn sách tham khảo phục vụ phân tích giảng văn trong nhà trường
Ngoài ra, kết quả của luận án có giá trị hữu ích, phục vụ tốt trong nghiên cứugiảng dạy, khai thác câu đố nói riêng, văn học dân gian nói chung từ góc nhìn ngônngữ học Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu thêm về thểloại văn học dân gian độc đáo này
1 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, danh mụcbảng, danh mục các công trình đã công bố; nội dung của luận án được triển khaitrên ba chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trongtiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương đầu của luận án, chúng tôi tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu và
một số vấn đề lí luận chung, liên quan trực tiếp đến đề tài: Vài nét về câu đố, lý
thuyết văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu và định danh – Đây
chính là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn (đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa
và lập luận), gắn với đối tượng cụ thể (câu đố về động thực vật trong tiếng Việt) ở các
chương sau
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học
Câu đố là một giá trị văn hóa, một kho tàng trí tuệ dân gian So với các thể loạivăn học dân gian khác, trước kia câu đố chưa được nhìn nhận và quan tâm thích đáng.Song từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, các nhà nghiên cứu, giảng dạy vànhững người yêu thích văn học dân gian đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho thể loại này
1.1.1.1 Nghiên cứu câu đố nói chung
Trước hết, chúng ta phải kể đến một số công trình chủ yếu mang tính chất sưu
tầm về câu đố, tiêu biểu: Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb Thanh Hoá, 2000, Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, Câu
đố Việt Nam (Ninh Viết Giao), Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu), Nxb Thanh
Niên, Hà Nội, 1998, Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989, Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội, 1990, Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung biên soạn), Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1986; Câu đố người Việt (Triều Nguyên biên
soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007 Nhìn nhận vai trò quan trọng của thể loại câu đố, việnKHXH Việt Nam cũng đã cho ra đời bộ sưu tầm câu đố người Việt và câu đố các
dân tộc thiểu số: Tổng tập văn học dân gian người Việt, (tập 3, Câu đố), Tổng tập
văn học dân gian các dân tộc thiểu số.
Trang 11Trong số các công trình kể trên, có ba công trình được chú ý nhiều hơn cả làcông trình của Ninh Viết Giao, Triều Nguyên và Nguyễn Văn Trung
Ninh Viết Giao [36] khi tìm hiểu về Câu đố Việt Nam đã lí giải nguồn gốc ra
đời của câu đố, phạm vi đề tài, đặc điểm chủ yếu của nội dung và giới thiệu về một
số biện pháp nghệ thuật của câu đố Tác giả đã nhận thấy vai trò và vị trí riêng củathể loại này trong đời sống tinh thần của dân tộc Nó đã đáp ứng được những yêucầu nào đó của nhân dân và có tác động, ảnh hưởng nhất định tới văn học viết Ôngnhận thấy “Trong những lúc đố nhau, câu đố đã đem lại cho người bình dân ViệtNam những tràng cười thoải mái không chỉ ở sự giảng được mà ngay ở bản thân câu
đố Hầu như câu đố nào đọc lên, ta cũng thấy ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, tươi mát, đôi
khi thấy tục tĩu nữa, song hiện thực sự vật, sự việc lại không tục tĩu chút nào” [36,
tr 268] Tác giả cũng xem xét những phương tiện nghệ thuật làm nên chất trí tuệ,tính hài hước ở câu đố (ẩn dụ, phép so sánh, người hóa, vật hóa, thực vật hóa…)
Tìm hiểu về Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên [92] trình bày một
cách tương đối đầy đủ, hệ thống, toàn diện và có những kiến giải thấu đáo nhữngvấn đề thuộc bình diện thể loại: xác định câu đố trên cơ sở phân biệt nó với một sốthể loại văn học dân gian khác, phân biệt các kiểu dạng đố thường gặp, tìm hiểu vềcách đố - giải, hình thức và nội dung, phân loại câu đố Có nhiều vấn đề được đặt ralần đầu như: “trường và hiện tượng xuất nhập trường trong câu đố”,“mô hình câuđố”,“câu đố tá ý”…
Công phu và chuyên sâu hơn cả là cuốn Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn
Trung [119] Trong công trình này, bên cạnh việc tập hợp một số lượng khá lớn giớithiệu 1.513 câu đố sắp xếp theo đối tượng phản ánh và một vài kiểu đố khác, tác giả
đã đi sâu phân tích xuất xứ, nguồn gốc, hoàn cảnh sử dụng, mục đích, chức năng,cách cấu tạo câu đố về mặt tổng quát, về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ điệu, tần sốcâu đố, tư tưởng và lối nhìn trong câu đố, khía cạnh văn chương Ông cũng chỉ rarằng, qua câu đố, “chúng ta có thể phác họa được những nét lớn nền văn minh vậtchất của người Việt Nam Mỗi câu đố phản ánh hoặc cách sống, hoặc cách ăn uống,
làm việc, hoặc tinh thần, tâm tình của người Việt” [119, tr 200].
Là một thể loại văn học dân gian mang đậm tư duy và bản sắc dân tộc, câu đố
có sức thu hút không nhỏ với các nhà nghiên cứu dân gian: Đinh Gia Khánh, Mã
Trang 12Giang Lân, Lê Chí Quế, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị… Những công trình nghiêncứu của họ chủ yếu tập trung khai thác câu đố dưới góc nhìn văn học, câu đố đượcbàn đến hết sức sơ lược dưới dạng chương, mục Nó trở thành đối tượng để nhìnnhận, khám phá về khái niệm và đặc trưng thể loại, trong cái nhìn so sánh với cácthể loại văn học dân gian khác Nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn,
Chu Xuân Diên [73] trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã dành 12 trang
(257 – 269) để sơ lược, nêu lên những nét khái quát nhất về đối tượng phản ánh, đặcđiểm nội dung, chức năng câu đố cũng như vị trí của nó trong đời sống tinh thầncủa nhân dân, giới thiệu tóm lược nghệ thuật sử dụng câu đố, so sánh sự giống vàkhác nhau trong ẩn dụ của câu đố và tục ngữ, phân biệt hát đố và câu đố Câu đốđược xem là “một phương tiện nhận thức, vừa thoả mãn được nhu cầu tri thức, vừathoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân lao động” [73, tr 361]
Dễ nhận thấy, ở góc độ văn học, việc nghiên cứu câu đố nói chung kháphong phú (khoảng 40 công trình) nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biênsoạn lại câu đố Việt Nam (11 công trình) và chú trọng bàn về nội dung hay đốitượng phản ánh Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu câu đố chonhững đối tượng cụ thể
1.1.1.2 Nghiên cứu câu đố cho những đối tượng cụ thể
Tác giả Đinh Thị Thu Hương [70] trong luận văn thạc sĩ Câu đố Việt – Tày những
tương đồng và khác biệt đã chỉ ra các điểm giống và khác nhau giữa câu đố của
người Việt – người Tày Qua việc so sánh câu đố của người Việt và người Tày vềcác phương diện (thế giới vật đố, cách thức tư duy cũng như thể thơ, cách gieo vần);tác giả luận văn đã khám phá những điểm tương đồng, khác biệt về văn hoá, phongtục, đời sống kinh tế, xã hội của hai dân tộc Việt - Tày; giải mã và khám phá nhữngbản sắc trong nền văn hoá của hai dân tộc, nhờ chìa khóa là câu đố
Nguyễn Thị Hường [71], trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2008 đã tìm
hiểu Không gian làng quê trong thế giới hình ảnh vật đố của câu đố người Việt Ở
luận văn này, sau khi tìm hiểu vài nét khái quát về câu đố và vấn đề khảo sát các hìnhảnh thuộc không gian làng quê xuất hiện trong thế giới hình ảnh vật đố; tác giả đãnghiên cứu không gian làng quê Việt Nam và một số đặc điểm nghệ thuật của câuđố; qua đó giúp người đọc thấy được đời sống lao động, sinh hoạt, những quan
Trang 13niệm, tâm tư, tình cảm của con người thời điểm thể loại này ra đời, từ đó có cái nhìnkhái quát về hình ảnh làng quê Việt Nam mọi thuở.
Trần Thị Lan (1996) [77] tìm hiểu Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố
Việt Nam với trẻ em Theo tác giả, đề tài của câu đố luôn là “sự vật, hiện tượng cụ
thể, quen thuộc của thế giới xung quanh, những cái nhìn mà con người ta có thểcảm nhận trực tiếp bằng giác quan" [77; 20] Điểm đóng góp riêng của luận văn này
là sau khi hệ thống lại một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố (đặc trưng thi phápthể loại câu đố đặc biệt là phương pháp ẩn dụ, phân loại câu đố; một vài suy nghĩ về
sự hình thành câu đố… để làm rõ cái chung và cái riêng của câu đố so với các thểloại khác trong tổng thể văn học dân gian); tác giả đã đi sâu tìm hiểu sự gặp gỡ giữathể loại này với trẻ em, tìm hiểu sự phát triển của thể loại câu đố từ câu đố cổ truyềnđến câu đố hiện đại: sự biến đổi sâu sắc của thể loại này trên nhiều bình diện: mụcđích sáng tác, đối tượng tiếp nhận, phương pháp quan sát, phương pháp miêu tả vật
đố, hình thức đố Dựa trên đặc điểm tâm sinh lí trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo – tiểuhọc với việc tiếp nhận câu đố, chương trình và phương pháp dạy câu đố hiện nay;tác giả cũng đã đưa ra một số đề xuất về chương trình và cách dạy Như vậy, tác giảluận văn đã nghiên cứu về bản chất thể loại của câu đố trong việc ứng dụng với đốitượng cụ thể (trẻ em)
Đặng Thị Mân [88] khi nghiên cứu Câu đố và vai trò của câu đố trong góp
phần phát triển tư duy của học sinh tiểu học, đã trình bày khái quát chung về câu đố
(khái niệm, nguồn gốc, nội dung và đặc trưng cơ bản); đồng thời chỉ ra vai trò củacâu đố trong việc phát triển tư duy gắn với đối tượng cụ thể - học sinh tiểu học.Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn tìm hiểu nghệ thuật câu đố đặt trong
việc dạy – học thể loại văn học dân gian này như: Nghệ thuật câu đố Việt Nam và việc
dạy – học câu đố ở tiểu học của Đinh Thị Phương [100], Nghệ thuật câu đố về loài vật
của Nguyễn Thu Hồng [57] hay một số bài viết của các tác giả như: Nguyễn Văn
Tứ trong “Câu đố chữ và việc dạy tiếng” Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (13) đã nói về
cơ chế đố chữ (chữ quốc ngữ), cách phân loại đố chữ; Nguyễn Bá Lương trong
“Câu đố dân gian Việt Nam tài và hóm” Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (104) bàn vềcái tái tạo ra nụ cười sảng khoái trong câu đố dân gian Việt Nam…
Nhìn chung, dưới góc độ văn học, câu đố đã được tìm hiểu khá toàn diện và hệthống Giới nghiên cứu đã dành nhiều công sức tìm tòi, nhận diện (từ khái niệm, đặctrưng bản chất thể loại, nguồn gốc, chức năng cho đến môi trường sản sinh, môi trường
Trang 14diễn xướng… trong cái nhìn so sánh với các thể loại văn học dân gian khác) hay gắn
nó với đối tượng cụ thể; song họ chưa quan tâm nhiều đến góc độ ngôn ngữ
1.1.2 Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học
Là một thể loại văn học dân gian đặc sắc, câu đố không chỉ thu hút sự quan tâmcủa các nhà nghiên cứu dân gian, các nhà văn hóa học, dân tộc học… mà nó còn cósức hấp dẫn lớn với các nhà ngôn ngữ học Song những công trình nghiên cứu câu
đố ở bình diện ngôn ngữ học chưa nhiều
1.1.2.1 Nghiên cứu các biện pháp tu từ trong câu đố
Có thể kể đến một số bài viết nhỏ, xuất hiện lẻ tẻ trên các tạp chí chuyên
ngành như: Nguyễn Tấn Phát [96] trên Tạp chí Văn học số 2 – 1986 trong bài “Câu
đố sưu tầm ở Nam bộ và vấn đè bản chất thể loại của sáng tác truyền miệng dângian” đã đưa ra những nhận xét ban đầu, khá tinh tế về câu đố được sưu tầm ở Nam
Bộ Theo tác giả, câu đố miền Nam khác câu đố miền Bắc ở đối tượng phản ánh,dạng thức cấu tạo, cách suy luận, đặc biệt là ở “cách sử dụng từ ngữ, cách láy âm,láy chữ, sử dụng từ ngữ thoải mái hơn, láy âm, láy chữ tươi sáng, sống động” [96,
tr 56] Trên cơ sở chỉ ra điểm thống nhất chung và các sắc thái địa phương đậm đà
của câu đố Nam Bộ, tác giả đã khẳng định những giá trị của câu đố Nam Bộ
Đỗ Bình Trị [118] với phần viết về câu đố gồm 35 trang (164 -189), bàn vềđặc điểm thi pháp của câu đố, chủ yếu chú ý về kết cấu của ẩn dụ trong câu đố
Triều Nguyên [93] trong bài Vấn đề ẩn dụ trong câu đố đã khẳng định ẩn dụ
trong câu đố phân biệt với ẩn dụ trong văn học nghệ thuật, trong các phong cáchngôn ngữ nói chung; sau khi tổng hợp, phân tích, chỉ ra sự bất ổn trong các quan niệm
về ẩn dụ trong câu đố của Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị (vì các tác giảnày đều quy biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa (hay vật hóa),… các lối nói cùngnghĩa (hay gần nghĩa), cùng trường nghĩa và cả lối chơi chữ về ẩn dụ) Tác giả bàiviết cũng chỉ ra rằng: “Câu đố nhìn tổng thể thì ra một vật kì dị, thậm chí quái đản…nhưng từng bộ phận hợp thành nó thì lại là những hình ảnh sự vật, hiện tượng thânquen với người lao động” [93, tr 32]
Một số bài viết của Đỗ Thành Dương [29], [30], [31] trên Tạp chí Ngôn ngữ, tập san Ngữ học trẻ đề cập tới ba loại thủ pháp chơi chữ trong câu đố: hiện tượng
đồng âm, hiện tượng đồng nghĩa (đồng nghĩa trực tiếp, đồng nghĩa gián tiếp) vàhiện tượng nói lái trong câu đố của người Việt Trong bài “Nói lái trong câu đố tiếngViệt” - Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (17), tác giả đã đề cập đến cách sử dụng biện
Trang 15pháp nói lái trong câu đố và tác dụng của nó
Hay Nguyễn Thị Lê Vân [120] trong luận văn của mình cũng đã tìm hiểu Một
số biện pháp tu từ trong câu đố dân gian Việt, trong đó giá trị của biện pháp so
sánh, ẩn dụ, chơi chữ đã được khẳng định
Trong Đề tài NCKH cấp trường – Nghệ thuật chơi chữ trong câu đố dân gian
người Việt, Trương Chí Hùng [59] đã tập trung nghiên cứu nghệ thuật chơi chữ trong
câu đố dân gian người Việt: Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết,; chơi chữbằng phương tiện từ vựng, ngữ nghĩa; chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp; chơi chữbằng nói lái; chơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học dân gian, cứ liệuvăn chương bác học), để thấy được chơi chữ trong câu đố dân gian người Việt vậndụng hầu hết các tiềm năng ngôn ngữ đồng thời vận dụng linh hoạt các phương thứcchơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học) Trên cơ sở đó, tác giả đã tiếnhành so sánh với chơi chữ trong ca dao dân ca và trong văn học viết
1.1.2.2 Nghiên cứu ngữ nghĩa của câu đố
Phạm Văn Tình [113] trong Thông báo văn hóa dân gian, 2003, NXB Khoa học Xã hội cũng đã chỉ ra Hiện tượng đồng dạng khác nghĩa và đồng nghĩa khác
dạng của câu đố Tác giả bài viết đã chỉ ra điểm thú vị trong câu đố đó là nhiều câu
đố về những sự vật, hiện tượng khác nhau lại có cấu trúc giống nhau (đồng dạngkhác nghĩa) và ngược lại có nhiều câu đố có cấu tạo khác nhau được dùng để đố vềcùng một sự vật, hiện tượng (đồng nghĩa khá dạng) Đây cũng là những gợi ý đểchúng tôi tìm hiểu một số mô hình cấu trúc đồng dạng trong câu đố về động thựcvật trong tiếng Việt
Võ Thị Kim Xoa [127] trong luận văn Câu đố dân gian của người Việt nhìn từ
góc độ ngôn ngữ học, đã nghiên cứu câu đố theo lý thuyết từ vựng học Tác giả đã
tìm hiểu hình thức cũng như các phương thức xây dựng, các hiện tượng từ vựng ngữnghĩa khi xây dựng câu đố; từ đó giúp người đọc hiểu chính xác hơn ý nghĩa
ẩn đằng sau nó Tác giả luận văn cũng đã chỉ ra rằng nhìn từ góc độ ngôn ngữ học,câu đố có thể được hình thành dựa vào chức năng của từ (chức năng miêu tả, chứcnăng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú học), các thành phần nghĩa của
từ (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái); hay hiện tượng nhiều nghĩa,
Trang 16chuyển nghĩa của từ
1.1.2.3 Nghiên cứu ngữ dụng của câu đố
Ngoài ra, trong những năm gần đây, đã có một số bài viết, luận văn tìm hiểucâu đố dưới góc độ Ngữ dụng học
Tiêu biểu như bài viết Biểu thức miêu tả chiếu vật trong ngữ dụng học với câu đố
Việt Nam của Bùi Minh Toán [115] trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 4, 2011 (1 – 5)
Đỗ Quyên [102] trong bài Thử tìm hiểu về tiền giả định bách khoa trong câu
đố Việt đã đề cập tới các loại tiền giả định bách khoa cùa câu đố Việt với 7 loại tri
thức nền: phương ngữ, về con vật, đồ vật, cây cói gần gũi quen thuộc với người nông dân [102, tr.9], về sinh hoạt và những công việc lao động quen thuộc của người nông dân [36,10], về các tập tục nói chung [102, tr.10], về cuộc đời con người [102, tr.10], về các
thủ pháp sử dụng trong sáng tác câu đố [102 , tr.11] và các tiền già định bách khoa khác: chữ Hán, các vị thuốc, cuộc sống [102 , tr.12] Từ đó, tác giả bài viết cũng đặt ra yêu
cầu muốn nhận thức đúng về giá trị của thể loại này, cần xuất phát từ những hiểubiết về phong tục, tập quán, nếp ăn ở, sinh hoạt, suy nghĩ của con người ở thời điểm
ra đời của nó; đồng thời phải tăng cường vốn tri thức về những vật đố được sử dụngtrong câu đố Việt cho người giải Song giới hạn một bài viết 5 trang và sự khảo sátbước đầu trên phạm vi ngữ liệu hơn 200 câu đố, tác giả chưa cho người đọc có mộtcái nhìn hệ thống, toàn diện và họp lý về tiền giả định bách khoa trong câu đố củangười Việt Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các tiền giả định ngôn ngữ - một nửa căn
cứ để hiểu nghĩa tường minh của phát ngôn vẫn còn là một hướng đi để ngỏ
Tô Thị Phương Dung [28] trong luận văn Tiền giả định trong câu đố người
Việt đã tìm hiểu tiền giả định bách khoa và tiền giả định ngôn ngữ trong câu đố của
người Việt Theo tác giả, tiền giả định bách khoa được phân loại thành 5 loại: tiềngiả định bách khoa về tự nhiên; tiền giả định bách khoa về con người; tiền giả địnhbách khoa về văn hóa - xã hội; tiền giả định bách khoa về phương ngữ; tiền giả địnhbách khoa liên quan đến hiểu biết về từ Hán - Việt Còn tiền giả định ngôn ngữ gồmtiền giả định từ vựng, tiền giả định cú pháp và tiền giả định đề tài Dù xuất hiện íthơn nhưng loại tiền giả định này rất hữu hiệu trong Ị việc giúp người giải thu hẹpđược phạm vi vật đố
Bùi Thị Thu Huyền [69] trong Câu đố dân gian của người Việt nhìn từ góc độ
Trang 17ngôn ngữ học, đã nghiên cứu Câu đố dân gian người Việt nhìn từ bình diện hình
thức Theo tác giả: xét theo thể loại văn bản, câu đố có dạng thơ và dạng lời nóithông thường; xét theo lý thuyết cấu trúc hội thoại, câu đố có dạng một cặp trao –đáp và dạng đoạn thoại; còn xét theo lý thuyết lập luận, lại có câu đố có luận cứtường minh và câu đố có kết luận hàm ẩn, câu đố có kết luận tường minh và câu đố
có luận cứ hàm ẩn Ngoài ra, người viết còn đề cập đến số lượng luận cứ, kết luậntrong một lập luận; hiện tượng luận cứ đồng hướng lập luận trong câu đố; vai tròcủa luận cứ trọng tâm trong lời đố có môtip giống nhau), đồng thời chỉ ra một sốcăn cứ (căn cứ vào tri thức ngôn ngữ và tri thức về cuộc sống, căn cứ vào các trithức nền khác) và phương thức xây dựng câu đố dân gian người Việt (phương thứcđánh lạc hướng chiếu vật, phương thức thay thế - bổ sung)…
Nguyễn Thị Chiên [21] trong luận văn Biểu thức miêu tả chiếu vật trong câu
đố Việt Nam đã nêu ra các đặc điểm (đặc điểm hình thức, đặc điểm nội dung, một số
thủ pháp xây dựng biểu thức miêu tả chiếu vật) của biểu thức miêu tả chiếu vật;đồng thời thấy được vai trò, chức năng của biểu thức này trong việc lập mã và giải
mã Tác giả luận văn đã chỉ ra rằng: Về mặt hình thức, biểu thức miêu tả chiếu vậttrong câu đố có thể là danh từ hay một hoặc một số miêu tả tố về vật đố Câu đố cónhiều dạng biểu thức miêu tả chiếu vật là một cụm từ, một câu hay một văn bản Cóthể là lời nói thông thường hoặc một văn bản vần Và có khi là một dạng nghi vấnhoặc một dạng trần thuật Về bình diện nội dung, do tính chất của đối tượng đượcphản ánh, câu đố chứa đựng giá trị nhận thức sâu sắc Nội dung biểu hiện của cácmiêu tả tố rất đa dạng: nêu hình dáng bên ngoài, nêu vị trí và trạng thái tồn tại củavật quy chiếu, nêu hoạt động, chức năng tác dụng của vật quy chiếu… Nó đượcmiêu tả trực tiếp hay bằng thủ pháp chơi chữ, thủ pháp đánh lạc hướng chiếu vật…
Cái hay của biểu thức miêu tả chiếu vật trong câu đố chính là nghệ thuật mã hóa Câu đố ký mã bằng sự vật này sang sự vật kia, làm thế nào để vật được ký mã ấy
giống với đối tượng được đố mà vẫn không bị lộ vật đố
Hay dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, với Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn Bước
đầu tìm hiểu cách tri nhận thế giới của người Việt (trên ngữ liệu câu đố) - Nguyễn
Thị Thanh Huyền [68] trên cơ sở khảo sát, phân tích các đặc điểm được chọn làm cơ
sở định danh của câu đố về động vật, thực vật; đặc điểm tư duy liên tưởng của người
Trang 18Việt trong khi miêu tả về các loài động vật, thực vật trong câu đố; đã có những sosánh về những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức sáng tạo câu đố độngvật, thực vật của người dân lao động Từ đó, tác giả luận văn đã đi đến kết luận về vật
đố, cách quan sát và miêu tả đối tượng, đồng thời rút ra những nhận xét bước đầu vềcách tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố động vật, thực vật Đó là óc sángtạo, trí tưởng tượng và cách nhìn hóm hỉnh, lạc quan về thế giới…
Lý Toàn Thắng và Nguyễn Thị Thanh Huyền [107] trong bài viết “Thử tìmhiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt” (trên ngữ liệu câu đố về động vật)
cũng đã chỉ ra 22 tiêu chí được sử dụng như là cơ sở định danh cho các con vật, với
các mức độ khác nhau (cấu tạo cơ thể; hình thức và hình dạng; môi trường sống; tập
tính, lối sống; vai trò chức năng và mối quan hệ với con người; kích cỡ cơ thể; cáchthức di chuyển; màu sắc cơ thể; tiếng kêu; tên gọi; cách thức kiếm mồi và thức ăn;sinh trưởng, sinh dục; nguồn gốc; phản ứng (trước tác động của môi trường, tựnhiên, con người và loài vật khác); số lượng; mối quan hệ với loài vật khác; tính
tình; bản năng sinh vật học; giống; vị trí; trí khôn; mùi) Các đặc điểm này hầu hết
được sử dụng kết hợp với nhau, và càng có nhiều đặc điểm trong cùng một câu đốthì bức tranh về con vật càng rõ ràng, chi tiết và cụ thể hơn Ngoài ra việc sử dụngtục ngữ, ca dao hoặc truyện cổ, truyện Kiều để tạo lời đố cũng được đề cập đến
trong bài viết Các tác giả cũng chỉ ra chín cách thức liên tưởng, so sánh của người
Việt trong câu đố động vật: So sánh dựa trên sự giống nhau về hình thức; so sánh
dựa trên sự giống nhau về kích cỡ; so sánh đặc điểm cấu tạo cơ thể; so sánh dựatrên sự giống nhau về màu sắc; so sánh đặc điểm tiếng kêu; so sánh đặc điểm sốlượng; so sánh đặc điểm về giống; so sánh đặc điểm môi trường sống; so sánh đặcđiểm về cách thức di chuyển Từ đó, nhóm tác giả bài viết chỉ ra xu hướng quan sát,
mô tả, cách nhìn vật đố của người Việt
Như vậy, cho đến nay, nghiên cứu câu đố có khá nhiều nhưng chủ yếu là khaithác từ góc độ văn học, văn hóa dân gian, folklore và thường nặng về sưu tầm Tuyđưa ra nhận xét song đó chỉ là những gợi ý đối với người đọc Nghiên cứu hệ thốngthể loại này dưới góc độ ngôn ngữ học chưa được khai thác triệt để Vì trước đó, cómột số công trình Việt ngữ học nhưng lẻ tẻ (tìm hiểu hiện tượng đồng dạng khácnghĩa, chơi chữ…) hay luận văn phân tích một phương diện nào đó (phương diện
Trang 19tiền giả định, biểu thức chiếu vật, cách thức tri nhận, một số biện pháp tu từ…) dựatrên một số câu đố tiêu biểu
Về mặt cấu trúc hình thức, đã có một số bài viết về cấu trúc đồng dạng, nghệthuật chơi chữ; các dạng câu đố (xét theo thể loại văn bản: dạng thơ và dạng lời nói
và theo cấu trúc hội thoại: dạng một cặp trao – đáp và dạng đoạn thoại) … nhưngchưa có công trình nào tìm hiểu đặc điểm cấu trúc câu đố với tư cách một văn bản
Về mặt nghĩa, một số luận án đã tìm hiểu biểu hiện cụ thể của câu đố (Khônggian làng quê trong câu đố, biểu thức miêu tả chiếu vật, tiền giả định…) nhưng chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu hệ thống đề tài được phản ánh và cách thứctriển khai trong văn bản câu đố về động thực vật; các đặc điểm được chọn làm miêu
tả tố và phương thức miêu tả
Về mặt lập luận, đã có tác giả đề cập đến luận cứ, kết luận trong một lập luận;hiện tượng luận cứ đồng hướng lập luận, một số căn cứ và phương thức xây dựngcâu đố dân gian người Việt nhưng cũng chưa có công trình nào tìm hiểu các thànhphần lập luận, cấu trúc lập luận và cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật trongtiếng Việt
Như vậy, đến nay câu đố đã thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu,song chưa có tác giả nào bao quát hết được tổng thể các mặt biểu hiện của câu đố(cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận) với tư cách một văn bản hoàn chỉnh, một văn bảnđặc biệt và cũng chưa có công trình nào chỉ ra được cơ chế giải mã câu đố (dựa vàohình thức và nội dung của nó)
1.2 Cơ sở lí luận
Do đối tượng nghiên cứu của luận án là câu đố về động thực vật trong tiếngViệt nên cần thiết phải có kiến thức nền về câu đố và đặc điểm của nó
1.2.1 Câu đố và đặc điểm của câu đố
Tìm hiểu câu đố và đặc điểm của câu đố, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu kháiniệm, đặc trưng, chức năng của nó
1.2.1.1 Khái niệm
Xếp vào lĩnh vực “sự bắt chước có tính nghệ thuật” (dẫn theo [95, tr 244]), từ
xưa, Aritstôt đã định nghĩa “Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay” (dẫn theo [95, tr 244]) và
Trang 20coi cái hay của câu đố ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại, thực tế, câu đố đồng thời kếthợp với cả cái không thể có được” (dẫn theo [95, tr 244])
Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, khái niệm về câu đốcủa họ cũng không đi chệch hướng nghiên cứu của các bậc tiền bối
Vũ Ngọc Phan cho rằng “Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật,hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo)”[95, tr 257] Khái niệm này nhấn mạnh đến cách nói chệch trong câu đố
Chú ý đến mặt cấu tạo, tác giả Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu củamình lại đưa ra cái nhìn về câu đố như sau: “Câu đố là một thể loại văn học dân gian,gồm hai bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố) Lời đố bằng văn vầnnhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoánnhận, lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết,
từng hay” [92, tr 28 – 29].
Câu đố được Nguyễn Văn Trung xem xét trên phương diện cấu tạo và xã hội Vềphương diện cấu tạo, lời đố và lời giải là hai phần tạo nên cấu trúc của đối thoại câu đố.Còn xét trên phương diện xã hội, câu đố là trò chơi dân gian bằng ngôn ngữ (hình ảnh,
từ và ý nghĩa…), có tác dụng thử tài suy đoán, nhằm mua vui, giải trí
Theo Đỗ Bình Trị [118], câu đố là một thể loại văn học dân gian mà chức năngchủ yếu là phản ánh sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuậtchuyển hóa (chuyển vật nọ thành vật kia), được dùng trong sinh hoạt tập thể, để thửtài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mua vui, giải trí
Với Vũ Anh Tuấn, “Câu đố là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có vần nhịp,nội dung thiên về miêu tả sự vật qua nghệ thuật “giấu tên” – nghệ thuật ẩn dụ đặcbiệt” [120, tr 258]
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, thể loại này được định nghĩa là “câu văn vần mô
tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố nhau” [126, tr 126]
Ngoài ra, có thể kể đến một số cách định danh khác nhau về câu đố của cácnhà nghiên cứu đã được Trần Thị An điểm lại trong phần dẫn luận mở đầu cuốn
Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2, phần tục ngữ, câu đố: “là một thể loại văn học dân gian” (Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu), “một định
nghĩa ngược” (Ninh Viết Giao), “một định nghĩa bằng đối thoại”, (Nguyễn Văn Trung),
Trang 21“vừa là nghệ thuật vừa là khoa học thường thức dân gian”, (Hoàng Tiến Tựu), “một bài toán mẹo” (Trần Đức Ngôn)… “Nét đặc trưng bản chất của nó dù dưới bất kì tên gọi nào, theo các nhà nghiên cứu, cũng đều là lối nói chệch” [123, tr 670].
Tóm lại, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng các tác giả đều khẳng định câu
đố là một thể loại văn học dân gian, phản ánh sự vật bằng phương pháp giấu tên vànghệ thuật chuyển hóa hay phát biểu ở dạng khác đi, theo lối ám chỉ, không nóithẳng tên nó ra
Theo quan điểm của tác giả luận án, câu đố là một thể loại văn học dân gian.Mỗi câu đố đều có nội dung hoàn chỉnh, được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệthuật riêng Do vật đố luôn được giấu tên nên đòi hỏi người giải đố phải kết hợp thao
tác tư duy, suy luận mới có thể giải mã, tìm ra ẩn số được mã hóa bằng ngôn ngữ
trong bài toán đố
Mặt khác, câu trong câu đố khác câu trong ngôn ngữ học Câu đố được gọi làcâu nhưng không phải là câu Thực chất, xét từ bình diện ngôn ngữ học, mỗi câu đố
là một văn bản, trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Văn bản đó baogồm một hoặc nhiều phát ngôn hợp lại (“phát ngôn đó có thể là cụm từ (chuỗi cụmtừ), câu (hay nhiều câu)” [35, tr 38]) Văn bản câu đố là một văn bản đặc biệt, cócấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận riêng, thể hiện tư duy sáng tạo của người ra đố Cũng cần nói thêm rằng, trong hoạt động đố - giải (hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ), bình thường, riêng bản thân lời đố đã là văn bản trọn vẹn (vì khi thamgia giải đố, người giải chỉ tiếp cận lời này) Nhưng khi xem xét câu đố đã được vănbản hóa, nhà nghiên cứu không thể xét riêng lời đố mà không gắn với lời giải vìgiữa chúng có mối quan hệ tương quan, khăng khít với nhau Khi phân tích lời đốvẫn phải dựa trên lời giải thì mới có căn cứ Mặt khác, mỗi văn bản có tính trọn vẹn
về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, có mục đích nhất định; mà lời giải chính làmục đích (nằm trong ý định của người ra đố) nên chúng tôi coi đây là một phần củavăn bản đố Do đó, lời giải là một phần làm nên cấu trúc hoàn chỉnh của câu đố Khi
đó, lời đố và lời giải làm nên văn bản tổng thể trọn vẹn, đầy đủ Đây là sự khác biệtgiữa câu đố với các văn bản folklore khác (ca dao, tục ngữ, thành ngữ…) Câu đố
có một văn bản tạm khuất lấp Nó chỉ hiện diện đầy đủ khi giải xong Vì thế, trong
Trang 22luận án này, câu đố - đối tượng nghiên cứu được xét trong tư cách của một văn bản– một văn bản đặc biệt, hoàn chỉnh bao gồm cả lời đố và lời giải.
1.2.1.2 Đặc trưng thể loại
Mỗi thể loại văn học đều mang đặc trưng riêng Là một thể loại văn học dân
gian, câu đố cũng có những nét đặc thù riêng có
i Câu đố - một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ
Đánh cờ, thả thơ, thi hát, đố - giải … là những trò chơi trí tuệ đầy thú vị trong
dân gian, song trò chơi trí tuệ trong câu đố lại mang những đặc điểm riêng:
a Câu đố là một trò chơi ngôn ngữ được tạo ra từ cách nói lạ hóa, thách đố sự
thông minh và tài phán đoán của người giải Vật đố có thể được miêu tả trực tiếp,
song phần lớn nó lại được miêu tả một cách gián tiếp thông qua các biện pháp tu từ
độc đáo như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa, ngoa dụ, chơi chữ; nhằm đánh lạc
hướng suy nghĩ của người giải đố Điều này làm cho câu đố vừa hóc búa, khó đoán
lại vừa thú vị, hấp dẫn Người ra đố và người giải đố, ngoài việc được đặt mình vào
“không gian trí tuệ, tư duy duy lý”, còn được đặt mình vào “không gian nghệ thuật, tư
duy thẩm mĩ, cảm xúc” Đây chính là đặc trưng hấp dẫn về mặt tâm lí nghệ thuật, làm
nên cái hay, cái đẹp của câu đố mà không phải thể loại Folklore nào cũng có được
b Câu đố có tác dụng tạo cho con người một năng lực suy luận logic và khả
năng tưởng tượng
Năng lực tưởng tượng là đôi cánh của hoạt động trí tuệ Nó có thể giúp chúng
ta phát hiện mối liên hệ giữa các sự vật tưởng chừng chẳng có liên quan gì; khiến
tâm hồn ta có thể bay bổng, nghĩ đến những thứ rất mới, có khi rất lạ so với những
thứ đã có Không ít trường hợp, cùng một sự vật lại được nhìn nhận một cách đa
Trang 23diện, nhiều chiều trong cùng một lời đố hay trong nhiều lời đố khác nhau về chúng.
Điều này lí giải vì sao có thể có nhiều câu đố về một vật đố (Ví dụ, đố về quả bưởi:
(1) “Da đầy mụn, đầy rôm Ruột đầy tôm, đầy tép Dáng: khi tròn, khi dẹp Ăn: khi
ngọt, khi chua” [125, tr 86 – 87]; (2) “Không vê mà tròn” [125, tr 87], hay “Một
bầu chứa rất nhiều tôm Hạt tươi đốt cũng cháy bùng lửa hoa” [125, tr 87] )
Đố - giải vì thế thực chất là một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ Lời giải là mụcđích của sự kiếm tìm Kết thúc trò chơi trí tuệ này bao giờ cũng là việc tìm ra đáp sốthoả đáng Tính sáng tạo, khả năng quan sát và năng lực tưởng tượng, tư duy linhhoạt, nhạy bén cùng năng lực ngôn ngữ của những người tham gia trò chơi nàyđược rèn luyện, phát triển là vì thế
ii Câu đố - một bài toán đặc biệt
Xét về mặt hình thức, mỗi câu đố có thể được coi là một bài toán, lại là một
bài toán vui, bài toán đặc biệt Đặc trưng toán của câu đố thể hiện qua hai yếu tố: dữ
kiện (lời đố) và lời giải Dữ kiện là những yếu tố cho trước, chủ yếu là miêu tả cácđặc điểm của vật đố Những đặc điểm này có khi được kết hợp thể hiện đồng thời,
có khi chỉ là một trong số đó Và dù có thể gần, có thể xa so với đặc điểm của vật đốnhưng chúng đều mang tính chất chung là bảo đảm hạt nhân hợp lí, làm cơ sở quychiếu vật đố (giải đố) Tuy ở mức độ khó, dễ khác nhau, dù vật đố được giấu tên (ởlời giải) song lời đố bao giờ cũng mở ra cho người giải một hướng suy nghĩ, mộthướng tiếp cận sự vật Có những câu chúng ta dễ dàng tìm ra đáp án nhưng không íttrường hợp buộc người giải phải suy nghĩ, tranh luận một cách hào hứng, sôi nổi;tạo ra sức cuốn hút cho cuộc chơi Sẽ chẳng còn gì là thú vị nếu như những câu đốđưa ra quá dễ, để câu nào đáp số cũng được tìm ra một cách nhanh chóng hoặcngược lại quá khó, người giải đố phải “đầu hàng” thua cuộc
Câu đố là một bài toán đặc biệt còn bởi đáp số của nó có thể có nhiều Một lời
đố có thể quy chiếu tới nhiều sự vật khác nhau Với lời đố (3) “Không chân không
tay, không đầu không mắt, áo giáp một cặp, che kín toàn thân” [125, tr 268] thì lời
giải có thể là con sò hay con hến đều được Cũng vậy, lời đố (4) “Không uốn mà
Trang 24ngay” [125, tr 94] không chỉ là đặc điểm thân cây cau mà còn là đặc điểm của nhiềuthân cây khác… Ẩn số của bài toán (5) “Không vê mà tròn” [125, tr 87] không chỉ làtrái bưởi Hay đáp án cho lời đố (6) “Mình vàng mà thắt đai vàng Tiếng kêu thỏ thẻ
rõ ràng trên cây Có chân mà chẳng có tay Con mắt thì có lông mày thì không” có thể
là chim bồ các [125, tr 208] hoặc con ong [125, tr 287 – 288]
Hơn nữa, bài toán đặc biệt ấy còn có linh hồn Bởi nó có hình thức rất sinhđộng và cho ta kết quả đôi khi thật bất ngờ Ví dụ, đố về con ốc: (7) “Mồm bò
không phải mồm bò mà lại mồm bò” [125, tr 265] hay đố về trái cau: (8) “Bắt đầu
đội nón Chóp mặc áo xanh Đi quanh một vòng Thay đội nón bằng mặc áo trắng”[125, tr 90] thì cách đố và lời giải quả là bất ngờ, thú vị Chính điều này làm nênsức hấp dẫn riêng cho câu đố
Mỗi câu đố còn như một bài thơ nhỏ, xinh xắn, đáng yêu, được diễn đạt theocách diễn đạt của thơ ca, vần điệu hài hòa Ở đó, các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn
dụ, nhân hóa, phóng đại, chơi chữ… được sử dụng khá nhiều Vì thế, ngoài tácdụng rèn luyện tư duy, câu đố còn bồi dưỡng cho chúng ta năng lực thẩm mĩ, nănglực cảm thụ văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Có thể nói, câu đố là “một bài toán, không phải toán số, mà là toán văn học(vận dụng hình ảnh, chữ nghĩa) có một trật tự luận lý chặt chẽ và hợp lý theo cáchriêng của câu đố” [119, tr 17]
1.2.1.3 Chức năng
i Chức năng nhận thức
Là một loại hình sáng tác folklore, sản phẩm của trí tuệ nhân dân, mục đíchcủa câu đố là phát triển và hoàn thiện trí tuệ cho con người Vì thế, nhận thức là giátrị không thể phủ nhận của thể loại này
Trước hết, câu đố cung cấp cho chúng ta một vốn tri thức phong phú, đa dạng
về thế giới khách quan: kiến thức tự nhiên, xã hội Đó là những nhận thức thôngthường về thế giới thiên nhiên và con người vô cùng gần gũi, thân thuộc quanh ta, là
cỏ cây, hoa lá, chim muông, đồ vật … thường ngày ta đã biết hoặc cũng có thể đôikhi chưa để ý tới Tuy chưa thật đầy đủ song hàng nghìn khách thể đã được mô tảtrong câu đố Riêng về thế giới động thực vật, câu đố cũng đã cho chúng ta một vốnhiểu biết phong phú về các loại chim, thú, côn trùng, động vật dưới nước, cây cỏ, hoa
Trang 25lá, củ quả… hơn bất kì cuốn sách giáo khoa sinh vật học phổ thông nào Có thể nói,câu đố như một bộ bách khoa toàn thư về thế giới hữu hình (thế giới vật thể), qua đógiúp ta phần nào hiểu được đời sống và thế giới quan của người dân lao động Đây làchỗ mạnh của câu đố mà các thể loại văn học dân gian khác không có được
Tri thức trong câu đố là tri thức cụ thể, là kết quả của khả năng quan sát trựctiếp, khám phá thế giới sự vật, hiện tượng Chiều sâu của tri thức này là ở chỗ pháthiện ra đặc điểm của đối tượng từ nhiều phía, tri nhận hiện thực ở nhiều phương
diện khác nhau Chẳng hạn, cùng đố về con trâu, người ra đố khi thì dựa vào đặc
điểm cấu tạo: (9) “Hai hàng cột trụ, cột trụ hai hàng Trước đao kiếm ngênh ngang.Sau cờ đen phấp phới” [125, tr 248 - 249]; khi thì căn cứ vào cả hình dáng cơ thể
và cấu tạo của một bộ phận: (10) “Con gì trông tựa con voi Nhưng ngà mọc ngược
mà vòi lại không” [125, tr 248]; khi nhìn nhận ở phản ứng của nó với tác động bênngoài (thời tiết, mùa) cùng môi trường sống ưa thích: (11) “Hè về thì sợ Thu đếnthì mừng Nằm giường lèo không thích Nằm vũng nước thì ưng” [125, tr 249]; lúc
lại kết hợp màu sắc với quan hệ, công dụng của loài vật này với nhà nông: (12) “Tôi
là bạn nông gia Thân đen đủi bẩn, nhưng mà công to” [125, tr 249] Hay cùng đố
về quả dứa, người ra đố khi thì nêu đặc điểm hình dáng: (13) “Bằng con gà rằn.
Nằm lăn trong bụi” [125, tr 117]; khi thì nêu đặc điểm cấu tạo: (14) “Mỗi quả mỗicây Quả đầy những mắt Lá đầy những răng” [125, tr 118]; lúc lại kết hợp cả đặcđiểm cấu tạo, màu sắc, hương vị: (15) “Trái gì có mắt, có gai Màu vàng, vị ngọthương bay ngát lừng?” [125, tr 118]… Câu đố giúp chúng ta quan sát sâu hơn, hiểu
kĩ hơn về các đặc điểm của sự vật
Vì thế, vừa là mục đích, vừa là phương tiện đặc biệt để nhận thức và kiểm tranhận thức về vật đố; câu đố nâng cao nhận thức, phát triển tư duy của con người Cóthể nói, mỗi lần giải đố là mỗi lần người chơi phải tiến hành hoạt động tư duy và khitìm ra ẩn số của bài toán đố, họ không chỉ có thêm nhận thức mới về sự vật mà cònbiết thêm cách gọi tên khác về sự vật đó Nói cách khác, ngoài cái nhìn mới mẻ,chúng ta còn có được cách nói độc đáo về vật đố Như thế, thông qua hoạt động đố vàgiải đố, vốn hiểu biết, sự nhìn nhận thế giới xung quanh của con người ngày càng trởnên phong phú, đa dạng; nhờ đó nhận thức, tư duy nhận thức của họ được rèn luyện,
Trang 26tích lũy và hoàn thiện; đồng thời trình độ, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực cảmnhận và óc thẩm mĩ cũng được bồi dưỡng, cải thiện và nâng cao.
Có giá trị như một cuốn từ điển về quá khứ, một bảo tàng phi vật thể với khảnăng lưu giữ vô hạn, câu đố còn giúp chúng ta biết về những sự vật ngày nay khôngcòn tồn tại hoặc rất hiếm thấy trong cuộc sống thường nhật…
Mỗi lời đố cho ta một bức tranh về vật đố với những hình ảnh chân thực, sinhđộng Qua lăng kính của người ra câu đố, sự vật hiện tượng không còn vô tri, vôgiác mà đã được thổi hồn vào đó, mang màu sắc mới, hấp dẫn nhưng cũng rất chânthực Chúng không hiện lên một cách cô lập, tĩnh tại mà luôn luôn có sự vận động,
phát triển Hình ảnh gà mẹ và đàn gà con: (16) “Mẹ đi trước đánh cồng đánh bạt Con đi sau, vừa hát vừa reo” [125, tr 218] hay bó mạ: (17) “Vừa bằng thằng bé lên
ba Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng” [125, tr 144] là một ví dụ Còn đây làcái mo nang đã già và đang rụng xuống đất:
(18) “Mình vàng, ức trắng toát,
Cong đuôi nhảy cái sạt.” [125, tr 94]
Cây tre Việt Nam thân thuộc là thế, nhưng khi đi vào câu đố, nó như đượckhoác thêm sắc màu mới: (19) “Bố mẹ sinh ra vốn béo tròn Thân em nhiều mắtlại nhiều xương Cuộc sống suốt đời em nhắm mắt Lúc sắp chết em mở mắt ra
gườm.” [125, tr 195]
Qua trò chơi trí tuệ bổ ích này, độ tinh nhạy cùng khả năng phân định, luậngiải, suy đoán của tư duy, khả năng sử dụng ngôn ngữ của người tham gia đố giảiđược mài sắc Tìm ra lời giải - tài trí được tôn vinh
Sử dụng thủ pháp lạ hóa trong diễn đạt, câu đố đã đem đến cho người đọc cảmnhận thú vị, tạo một chiều kích mới trong cái nhìn về sự vật quen thuộc hàng ngày;
từ đó phát huy khả năng quan sát, sáng tạo và tưởng tượng của con người Qua đó,chúng ta như được tiếp xúc với hình ảnh mới lạ, độc đáo khác với hình ảnh cuộcsống thông thường Ở khía cạnh này, chức năng nhận thức của câu đố gắn chặt vớichức năng giáo dục, rèn luyện tư duy
Trang 27ii Chức năng giáo dục
Đây là chức năng thứ hai của câu đố Dễ nhận thấy, trong quá trình lao động sảnxuất, để có thể nắm vững, làm chủ bản thân và thế giới; con người phải luôn quan sát,tiếp cận, không ngừng khám phá để nắm chắc, hiểu sâu về nó Lời đố trong câu đốchính là nơi người ra đố thể hiện cách tri nhận hiện thực và người giải khi tìm ra đáp áncũng có thêm được cách nhìn, cách cảm về hiện thực đó
Lời đố có thể cung cấp thông tin thường thức (tri thức) về vật đố theo phươngpháp trực quan và mô tả, thể hiện bằng hình thức văn vần, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ.Những câu đố về con vật, cây cỏ, hoa lá, củ quả … một cách gián tiếp cũng nhằmrèn luyện óc quan sát cho tinh tế, xác thực…, giáo dục ý thức dân tộc; giúp hiểuthêm về sự vật – mối quan hệ giữa con người với thế giới trở nên thân quen, gầngũi; từ đó bồi bổ, phát huy tình yêu thiên nhiên, loài vật, cỏ cây…
Tự thân câu đố còn bao hàm ý nghĩa về nhân sinh Bởi trong sinh hoạt tập thể, tròchơi giải trí vô tư, đầy lí thú này còn là lời mời gọi để làm quen, giao tiếp thân tình, quy
tụ, hòa nhập các cộng đồng người không phân biệt thành phần, lứa tuổi, giới tính…iii Chức năng giải trí
Chức năng thứ ba của câu đố là chức năng giải trí Chức năng này gắn liền vớimôi trường nảy sinh và môi trường diễn xướng (lao động tập thể hay trong các cuộcsinh hoạt vui chơi, khi rảnh rỗi, nghỉ ngơi tụ tập…- đố cũng là một quá trình giaolưu văn hóa) Khi đó, mỗi lời đố được xướng lên đã đem lại sự thư giãn, giảm căngthẳng nhất định đối với người nghe Tất cả đều say sưa trong việc đi tìm lời giải đố Câu đố đem lại cho người bình dân Việt Nam những tràng cười sảng khoái –sảng khoái khi tìm ra lời giải, sảng khoái ngay ở bản thân lời đố Tất cả đều là
người chiến thắng Vì dù không tìm ra đáp án, người thua cuộc trong cuộc chơi này vẫn thấy mình được Đó không phải chỉ là “cái được trong khám phá nhận thức –
Trang 28biết được cái mới mẻ mà mình chưa biết – mà còn là cái được trong cảm xúc thẩm
mĩ – có được cái bất ngờ thú vị, hấp dẫn, hay ho của liên tưởng nghệ thuật mà mìnhchưa có Không ít câu đố có khả năng mang lại tiếng cười, cái “cười vui, cười được,
cười khám phá cho người chơi đố” [120, tr 263] là vì vậy.
Như thế, câu đố Việt căn bản là một phương tiện để mua vui, kích thích hứngthú, trí tò mò, khám phá của người chơi: trốn – tìm, đuổi – bắt Tham gia đố - giải
tức là chúng ta đang giải trí theo phương châm học mà chơi, chơi mà học, với đồ
chơi là hình ảnh, từ và ý nghĩa Ở đó, cũng có sự căng thẳng nhưng không phải căngthẳng của giờ học, giờ thi mà là căng thẳng của cuộc chơi đố - một trò chơi ý nhị,
đậm chất tri thức Vì thế, dù căng thẳng thế nào cũng phải được giải toả bằng những
tràng cười phá, vui nhộn Theo cái thú vị của câu chữ, cái bất ngờ của mỗi lời giải
đố, những nhọc nhằn của cuộc sống thường nhật dường như được dịu bớt, xua tan;người lao động hăng say hơn trong công việc hay có được phút giây thoải mái tronglúc nghỉ ngơi Như một sợi dây vô hình, câu đố như kéo mọi người xích lại gầnnhau hơn trong tiếng cười trí tuệ mà vô cùng thân mật, vui vẻ Vì thế, câu đố trởthành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng
Trong văn học dân gian, nếu tục ngữ là “túi khôn”, kho tàng kiến thức, đúc kết
kinh nghiệm về ứng nhân xử thế, lao động sản xuất; ca dao dân ca là cây đàn muônđiệu của tâm hồn con người thì câu đố là tiếng cười của trí tuệ thông minh, linh hoạt Như vậy, ba chức năng nhận thức, giáo dục và giải trí luôn hài hòa trongnhau Câu đố cung cấp cho con người nhận thức thực tiễn về cuộc sống xung quanh,rèn luyện tư duy, khả năng phán đoán; bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, vạn vật…;đồng thời tạo ra cho con người những khoái cảm thẩm mĩ Với đặc thù riêng về giá
Trang 29trị, chức năng, cách thể hiện, câu đố vẫn giữ được sức sống bền lâu, khẳng định vị
trí, vai trò của mình trong kho tàng văn học dân gian
Vài nét về câu đố đã trình bày ở trên là tài liệu quý để tác giả luận án hiểu rõ
về đối tượng nghiên cứu, từ đó vận dụng tìm hiểu đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa vàlập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
1.2.2 Một số lý thuyết ngôn ngữ được chọn làm cơ sở lí luận của luận án
Nghiên cứu đặc điểm gì của bất kì đối tượng nào cũng đều phải xuất phát từ
lý thuyết – cơ sở nền tảng của nó Đối tượng nghiên cứu của luận án là câu đố vềđộng thực vật trong tiếng Việt (với tư cách văn bản), nhưng không phải xem xét tất
cả các mặt của nó mà chỉ giới hạn ở phạm vi đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lậpluận nên chúng tôi chỉ trình bày lý thuyết liên quan: lý thuyết văn bản, lý thuyết
chiếu vật, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu, lý thuyết định danh và lý thuyết lậpluận Đây là những lý thuyết làm nền tảng cơ sở để chúng tôi làm rõ những đặcđiểm mà luận án hướng tới (đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận), gắn với đốitượng cụ thể (câu đố về động thực vật trong tiếng Việt)
1.2.2.1 Lý thuyết văn bản
Do câu đố là một dạng văn bản đặc biệt nên không thể không đề cập đến lýthuyết văn bản Lý thuyết về văn bản bao gồm nhiều vấn đề, trong luận án này,chúng tôi chỉ trình bày những nội dung được ứng dụng để tìm hiểu đặc điểm cấutrúc – ngữ nghĩa của văn bản câu đố: khái niệm, đặc trưng, cấu trúc và liên kếtvăn bản
i Khái niệm
a Khái niệm về văn bản của một số nhà ngôn ngữ trên thế giới
Trang 30Các nhà ngôn ngữ trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm về văn bản.
Theo O.I Moskalskaja, “Bất kì một văn bản nào cũng là một phát ngôn ít nhiềuphức tạp về hiện thực Cơ sở của văn bản là phán đoán về các sự vật và các hiện tượngcủa hiện thực, về các sự kiện và hoàn cảnh nào đó” (dẫn theo [89, tr 140])
G Brown và G Yule tuyên bố: “Văn bản – là – sản phẩm’ (text – as- product’view)” (dẫn theo [6; tr 517])
Với Halliday và Hasan, “Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ khi sử dụng, đó làmột đơn vị ngữ nghĩa, thuộc về ngữ nghĩa” [134, tr 1 - 2]
I.Galperin định nghĩa: “Văn bản – đó là tác phẩm của quá trình sáng tạo lời, mangtính cách hoàn chỉnh, hợp nhất lại bằng những loại hình liên hệ khác nhau về từ vựng,
ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng” [35, tr.
38] Định nghĩa này đã nhấn mạnh tính liên kết và tính hoàn chỉnh của văn bản
Như vậy, trong ngôn ngữ học văn bản, thuật ngữ văn bản một mặt được hiểu là
“bất kì một phát ngôn nào cấu tạo từ một hoặc nhiều câu mang trong mình mộtnghĩa hoàn chỉnh theo ý đồ của người nói” [89, tr 19 - 20]; mặt khác nó được coi là
“những sản phẩm lời nói như truyện, tiểu thuyết, bài báo và tạp chí, chuyên luậnkhoa học, những tài liệu các loại” [89, tr 19 - 20]
b Khái niệm về văn bản của các nhà ngôn ngữ Việt Nam
Tác giả Trần Ngọc Thêm [89], Nguyễn Hòa [53], Hữu Đạt [33], Diệp Quang Ban[5] … trong công trình nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra khái niệm về văn bản Hầuhết, họ đều cho rằng văn bản “là đơn vị của nghĩa” [5, tr 193]
Ở đây, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Trần Ngọc Thêm: “Văn bản làchỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức” [110, tr 43] Nó là đơn
vị giao tiếp hoàn chỉnh
ii Đặc trưng của văn bản
Do phân biệt việc xem xét văn bản ở mặt lý thuyết hay thực hành mà kết quả
có sự khác nhau của các nhà nghiên cứu
Theo De Beaugrande (1980) [132, tr.17], De Beaugrande và Dressler [133, tr.3];văn bản gồm 7 đặc trưng là : “tính liên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tínhchủ đích (intentionality), tính khả chấp (acceptability), tính thông tin (informativity),tính ngữ cảnh (contextuallity), tính liên văn bản (intertextuallity)”
Trang 31Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng, có 5 đặc trưng của văn bản là: “có yếu tốnội dung (có đề tài và chủ đề nhất định), có yếu tố chức năng (chức năng giao tiếp),
có cấu trúc – hình thức (tính thống nhất của đề tài – chủ đề, tạo thành sự mạch lạccho văn bản), có yếu tố chỉ lượng (gồm một số câu, đoạn văn) và có yếu tô địnhbiên (tính trọn vẹn)” [2, tr.22]
Theo chúng tôi, dù tồn tại ở dạng nói hay viết, dung lượng ngắn hay dài, đượcviết bằng văn vần hay văn xuôi, thì văn bản phải đảm bảo các đặc trưng sau :
Thứ nhất, văn bản phải trọn vẹn, hoàn chỉnh về nghĩa (nội dung): Mỗi văn bảnphải có sự thống nhất về chủ đề (có một đề tài, chủ đề nhất định)
Thứ hai, văn bản phải trọn vẹn, hoàn chỉnh về hình thức
Thứ ba, muốn trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, văn bản phải cótính liên kết (liên kết nội dung, liên kết hình thức)
iii Cấu trúc của văn bản (Cấu tạo chung của văn bản)
Trong các công trình nghiên cứu của mình, nhóm các tác giả Diệp Quang Ban,Trần Ngọc Thêm… đều đồng nhất về cách phân chia cấu trúc của một văn bảnthông thường thường gồm ba phần: phần mở, phần thân và phần kết
a Phần mở của văn bản:
Với chức năng làm rõ đầu đề và định hướng cho sự phát triển nội dung nêu ởphần thân, phần mở đầu (un commencement) “là cái không cần thiết phải tiếp theosau một cái khác một cách tự nhiên” [6, tr 104], thường nêu:
- Đề tài – chủ đề được đề cập
- Khung cảnh chung của đề tài – chủ đề
- Hướng triển khai đề tài – chủ đề của văn bản
Với văn bản miêu tả và truyện kể, phần mở thường:
- Nêu đối tượng và đặc trưng được quan tâm của đối tượng miêu tả Các đặctrưng này là định hướng cho sự phát triển ở phần thân
- Giới thiệu hoàn cảnh không gian, thời gian, hay xuất xứ của đối tượng đó
b Phần thân (giữa) của văn bản
Đây là phần quan trọng nhất trong cấu tạo chung của văn bản Nó “là cái đitheo sau một cái khác và sau nó là một cái khác nữa.” [6, tr 104] Với “chức năng
mở rộng, cụ thể hóa hoặc chi tiết hóa tất cả các định hướng được nêu ở phần mởtheo tiêu chuẩn lôgic cần và đủ.” [5, tr 446], phần thân/giữa (un milieu) của văn
Trang 32bản có nhiệm vụ trung tâm “triển khai đầy đủ các chi tiết cần thiết của đề tài – chủ
đề theo hướng đã được xác định ở phần mở của văn bản” [5, tr 447]
c Phần kết của văn bản
Phần kết (unefin) của văn bản “có chức năng đánh dấu đầu ra của văn bản, tạocho văn bản tính chất kết thúc, tính chất “đóng” cả về phương diện nội dung lẫnphương diện hình thức.” [5, tr 449]
“Là cái tự nhiên đi theo sau một cái khác do sự cần thiết hoặc trong phần lớntrường hợp là như vậy, và sau nó không có gì nữa” [6, tr.104]; phần kết thúc thường
có nhiệm vụ:
- “Điểm lại khái quát toàn bộ nội dung của phần thân một cách có ấn tượng
- Nêu bật những kết quả tìm tòi, khảo sát, nghiên cứu mà người thực hiện vănbản đã khám phá được
- Mở ra những phương diện, những đối tượng, những cách thức… xem xétkhác có quan hệ và có tác dụng tích cực đối với việc khai thác đề tài – chủ đề đượcnêu ra trong văn bản.” [5, tr 450]
Văn bản được tạo ra từ tổng thể ba phần như trên là kiểu văn bản có tính chất
cổ điển Với câu đố, chỉ có một số ít là có cấu tạo như vậy; còn lại đa số chỉ có phầnthân và phần kết mà không có phần mở, do yêu cầu của nó là phải “giấu tên” vật đố
Ở luận án này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về cấu tạo văn bản (gồm ba phần:
phần mở, phần thân, phần kết) của Diệp Quang Ban để tìm hiểu đặc điểm cấu trúc
của văn bản câu đố, đồng thời chỉ ra điểm đặc biệt trong cấu trúc của loại văn bản
đặc biệt này (mô hình cấu trúc đồng dạng)
iv Liên kết văn bản
Để biến một chuỗi câu trở thành văn bản thì nhân tố quan trọng nhất chính làtính liên kết “Tính liên kết của văn bản có hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nộidung.” [110, tr 25] Mỗi văn bản đều có hai loại liên kết này
a Liên kết hình thức: là “hệ thống các phương thức liên kết hình thức” và những cáiđược liên kết với nhau trong văn bản là các câu (phát ngôn)” [5, tr 535]
b Liên kết nội dung
Trang 33Tất cả các câu trong văn bản đều phải phối hợp với nhau, cùng tập trung thểhiện một nội dung “Trong liên kết nội dung lại tách ra hai bình diện: liên kết chủ đề
và liên kết logic” [110, tr 25]
Liên kết chủ đề: Đây “là bình diện quan trọng thứ nhất của liên kết nội dung”[110, tr 24] Chủ đề ở đây được hiểu như đề tài: vật, việc – đối tượng được nói đến.Liên kết này đòi hỏi tất cả các câu trong toàn văn bản phải xoay quanh một chủ đề,cùng “nói đến những đối tượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết vớinhau.” [110, tr 240] Có thể thực hiện việc vừa nêu theo hai cách: duy trì chủ đề hoặctriển khai chủ đề
Liên kết logic: “Nếu ở liên kết chủ đề sự chú ý tập trung vào vật, việc được nóiđến, thì ở liên kết lôgic cái được chú ý trước hết là phần nêu đặc trưng của vật, việcđược nói đến.” [5, tr 550] Có thể xem xét liên kết lôgic trong phạm vi một câu hoặcgiữa câu với câu (hoặc rộng hơn nữa: giữa cụm câu này với cụm câu khác, giữa phầnnày của văn bản với phần kia của văn bản) Như vậy, có thể hiểu “liên kết lôgic là sợidây nối kết hợp lí giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặctrưng này với đặc trưng kia trong những câu liên kết với nhau” [5, tr 550]
Ở luận án này, chúng tôi không nghiên cứu liên kết hình thức mà chỉ xem xétliên kết nội dung văn bản câu đố kết hợp lý thuyết định danh khi tìm hiểu các mảngchủ đề được phản ánh (trong lời giải) và đặc trưng được chọn làm miêu tả tố vật đố(qua lời đố)
1.2.2.2 Lý thuyết chiếu vật, biểu thức chiếu vật và nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu
và biểu thức quy chiếu.
i Chiếu vật, biểu thức chiếu vật và nghĩa chiếu vật (sở chỉ)
a Chiếu vật
* Khái niệm
Theo Đỗ Hữu Châu: “Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạonên ngữ cảnh của nó được gọi là sự chiếu vật (referent, cũng được gọi là sự sở chỉ)”[17, tr 186]
* Phân loại: Theo Đỗ Hữu Châu [17], có hai loại chiếu vật:
Một là chiếu vật cứng ( rigid reference) còn gọi là chiếu vật duy nhất
Trang 34Hai là chiếu vật linh hoạt hay không duy nhất: tùy theo ngữ cảnh mà sự vậtđược quy chiếu sẽ thay đổi (Mỗi biểu thức này có thể thay đổi nhiều nghĩa chiếuvật khác nhau, tùy ngữ cảnh).
* Vai trò: “Nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầutiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp”.[17, tr 186 - 187]
b Biểu thức chiếu vật
* Khái niệm
Biểu thức chiếu vật là “Kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếuvật [15, tr 63]; trong đó, cái biểu đạt “là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó”, còn cáiđược biểu đạt “là sự vật được quy chiếu hay nghĩa chiếu vật tương ứng” [17, tr 187]Với câu đố, nếu lời đố là cái biểu đạt thì lời giải - sự vật được quy chiếu(nghĩa chiếu vật) chính là cái được biểu đạt
“Biểu thức chiếu vật không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa chiếu vật [17,
tr 196] nên người nghe, người đọc cần “căn cứ vào ngữ cảnh và ngôn cảnh suy ý,thử nghiệm và loại trừ các khả năng khác nhau (tức các nghĩa chiếu vật khác nhau)
mà quyết định chọn một nghĩa chiếu vật trong ngữ cảnh và ngôn cảnh phù hợp nhấtvới biểu thức chiếu vật nghe được, đọc được” [17, tr 196]
Ở câu đố về động thực vật trong tiếng Việt, có trường hợp một biểu thứcnhưng quy chiếu nhiều vật đố Bên cạnh đó cũng có nhiều biểu thức khác nhaunhưng chỉ quy chiếu một vật đố Người giải đố phải suy cho đúng cái nghĩa chiếuvật nằm trong ý định chiếu vật của người ra đố
* Vai trò: “Các biểu thức chiếu vật là những cái neo mà phát ngôn thả vào ngữ cảnh
tới bằng biểu thức chiếu vật của diễn ngôn đang xem xét.” [15, tr 63]
Trang 35Theo Đỗ Hữu Châu: “Nghĩa chiếu vật hay sự vật được quy chiếu (referent)của cụm từ (biểu thức chiếu vật (referring expression)” [17, tr 185]
“Sự vật tương ứng với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật (nghĩa sởchỉ) của biểu thức đó Nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật thường là sự vật(kể cả người), tuy nhiên, hoạt động, tính chất, trạng thái cũng có thể là nghĩa chiếu
vật.” [15, tr 63]
Theo Diệp Quang Ban: Nghĩa chiếu vật (referential meaning) (cũng dịch sởchỉ) là “thứ nghĩa đồng nhất với, hoặc quy chiếu đến một thực thể trong thế giớithực (thực thể này là vật chiếu – referent – của cái nghĩa đó)” [6, tr 332]
Như vậy, nghĩa chiếu vật chính là sự vật được quy chiếu Nghĩa chiếu vật củacâu đố chính là sự vật được đố (lời giải)
ii Quy chiếu và biểu thức quy chiếu
“Biểu thức quy chiếu là phương tiện người nói chỉ ra sự vật nào (bao gồm cả conngười) trong thế giới mà họ đang nói tới”
c Vai trò của quy chiếu và biểu thức quy chiếu
Quy chiếu và biểu thức quy chiếu là một phương tiện liên kết của văn bản, làmột hành vi dụng học của người viết nhằm thực hiện mục đích giao tiếp Các biểuthức ngôn ngữ này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập và phân tích diễnngôn, kết nối văn bản, đảm nhận chức năng liên nhân của ngôn ngữ; góp phần hiểunghĩa phát ngôn trong từng loại hoạt động giao tiếp cụ thể
Trang 36Biểu thức quy chiếu không chỉ đơn thuần trỏ tới các sự vật mà còn có thể trỏtới cả đặc tính, quan hệ, sự kiện, hoạt động khi người nói có ý định cho ngườinghe/người đọc biết đặc tính, quan hệ, sự kiện nào đang được nói tới Trong trườnghợp có những đặc điểm không tồn tại trong bản thân sự vật.
Có thể nói, biểu thức quy chiếu là một trong những yếu tố vô cùng quan trọngtrong giao tiếp Nếu thiếu đi biểu thức quy chiếu, con người sẽ gặp rất nhiều khókhăn để có thể truyền tải được thông tin cho người khác hiểu mình đang đề cập tớiđối tượng nào Sự liên kết của biểu thức quy chiếu thể hiện trước hết ở tính kết nốigiữa “tên gọi” và “sự vật” trong cuộc sống, để người khác có thể biết được đốitượng nào đang được đề cập tới
Theo chúng tôi, đặc trưng ngữ nghĩa của câu đố gồm đặc trưng ngữ nghĩa củalời đố (được hiểu là những đặc trưng/đặc điểm được người ra đố lựa chọn, miêu tả,định hướng quy chiếu vật đố) và đặc trưng ngữ nghĩa của lời giải (nghĩa chiếu vật –vật đố được quy chiếu) Vì vậy, nội dung phần 2.2 – chương 2 và 3.1.1.2 – chương
3 của luận án được chúng tôi triển khai dựa trên lý thuyết về nghĩa chiếu vật, nghĩachiếu vật, quy chiếu của Đỗ Hữu Châu
1.2.2.3 Lý thuyết định danh
a Khái niệm
Về khái niệm định danh, G.V.Consanski cho rằng, định danh là “sự cố định (haygắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm (significat) phản ánh cáiđặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệcủa đối tượng cũng như quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần; nhờ đó các đơn
vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” (dẫn theo [111,
tr 33 – 34])
Theo Nguyễn Như Ý, định danh là “Sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chứcnăng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đóhình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú
và câu” [129, tr 89]
Ngoài ra, Mai Ngọc Chừ đưa ra cách hiểu về từ định danh là “những từ cókhả năng dùng làm tên gọi cho các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, quan hệ,
… trong thế giới” [22, tr 195]
Trang 37Như vậy, định danh là một chức năng quan trọng, không thể thiếu của ngônngữ Chúng tôi thống nhất cách hiểu định danh theo khái niệm của Mai Ngọc Chừ.
b Cơ sở của định danh
C Mác quan niệm “Tên gọi của sự vật nào đó không có gì chung với bản chấtcủa nó, tôi hoàn toàn không biết gì về người này, nếu như tôi chỉ biết anh ta là
Jakov” (dẫn theo [117, tr 177])… Đỗ Hữu Châu cho rằng “Nguyên tắc tạo thành
các tên gọi là nguyên tắc có lí do” như “Nguyên tắc chi phối các tên gọi trong hoạtđộng bình thường của nó là nguyên tắc không có lí do” [13, tr 166] Nguyễn ĐứcTồn thì khẳng định các tên gọi đều có lí do “Tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí
do, chứ không phải võ đoán” [117, tr 177] Theo ông, “không có lí do thì có lẽ khó
mà đặt được tên gọi cho một sự vật mới” [117, tr 178]
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả luận án, định danh có thể có lí do hoặckhông có lí do – Đây cũng chính là hai dạng cơ sở của định danh:
Thứ nhất, dạng không có lí do (võ đoán): tức là gọi tên sự vật không dựa trên
lí do nào cả Ta sẽ khó có thể giải thích được vì sao lại gọi tên các loài động vật là
con trâu, con bò, con gà,… hay thực vật là cây tre, cây lúa….
Thứ hai, dạng có lí do (phi võ đoán) Ở dạng này, cần xem định danh là mộtquá trình, bao gồm hai yếu tố là chủ thể định danh và đối tượng được định danh.Căn cứ vào đối tượng được định danh sẽ có lí do khách quan, còn căn cứ chủ thểđịnh danh sẽ có lí do chủ quan Cụ thể như sau:
Lí do khách quan: Đây là loại lí do dễ nhận thấy nhất, vì dấu hiệu khu biệt gọitên dựa trên một đặc trưng, một thuộc tính nào đó của bản thân sự vật được chọn Vídụ: từ đặc điểm cấu tạo của đối tượng “quả trứng” mà có lời đố (20) “Không bưng
mà kín” [125, tr 219]
Lí do chủ quan: ta phải dựa vào ý muốn chủ quan của chủ thể định danh mớibiết được lí do vì sao dùng tên này để gọi sự vật – đây là loại lí do không phải ai cũngnhận thấy được Gắn với đối tượng của luận án, định danh câu đố thực hiện dựa trên
cơ sở dạng có lí do (phi võ đoán) Lí do khách quan được dùng nhiều ở lời đố miêu tảtrực tiếp; còn lời đố định miêu tả gián tiếp lại chủ yếu sử dụng lí do chủ quan) Khôngthể có tên vật đố mà ngẫu nhiên tự sinh ra và không có ý nghĩa Tên vật đố (lời giải)
là do người ra đố đặt, người giải đố tìm ra (qua lời đố) Nếu đưa ra lời đố vô nghĩa,không thể lí giải được thì đố - giải không thành công, không có ý nghĩa
Trang 38c Các phương thức định danh
Căn cứ vào cách thức tiến hành định danh và khả năng lí giải đối tượng địnhdanh, có hai phương thức định danh là định danh trực tiếp và định danh gián tiếp.Thứ nhất là phương thức định danh trực tiếp (phương thức cấu tạo từ, phươngthức khách quan) Phương thức định danh này liên quan đến cơ sở định danh (dạng
có lí do - cụ thể là lí do khách quan) Nó dựa vào đặc điểm, trạng thái, tính chất củachính đối tượng được định danh hoặc dựa vào sự vật hiện tượng; có liên quan chặtchẽ đến đối tượng để đặt tên đối tượng
Thứ hai là phương thức định danh gián tiếp (phương thức chuyển nghĩa,phương thức chủ quan): Phương thức này “gắn bó khăng khít với sự chuyển nghĩa
của các từ…” [117] tức là cách gọi nó nhưng không phải là nó Do cơ sở định danh
của phương thức này là dạng có lí do (cụ thể là lí do chủ quan) nên nếu chỉ dựa trênlớp ngôn ngữ bề mặt, nghĩa đen mà từ ngữ đó biểu thị, chúng ta không thể lí giảiđược ngôn ngữ
d Đặc trưng tư duy, văn hóa – ngôn ngữ trong định danh
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau: “Trong ýnghĩa của từ cũng còn ghi giữ lại cả những yếu tố của văn hóa dân tộc như: các hình
ảnh, cách so sánh truyền thống, sự biểu trưng….” [117, tr 98] Định danh thể hiện
khả năng tư duy nhận thức, tư duy văn hóa thế giới khách quan của con người Theo Humboldt, ngôn ngữ phải được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽvới ý thức và tư duy, với văn hoá và cuộc sống tinh thần của con người Bởi ngônngữ không phản ánh trực tiếp thế giới bên ngoài, mà nó cho thấy cách thức riêngcủa mỗi dân tộc trong việc giải thích thế giới Ngôn ngữ khác nhau thì thế giới quankhác nhau, các ngôn ngữ khác nhau không phải là những cách biểu đạt khác nhau
về thế giới mà là những cách nhìn thế giới khác nhau
Cũng theo ông, cần phải phân biệt giữa “hình thức bên trong” và “hình thức bênngoài” của ngôn ngữ, của từ; trong đó “hình thức bên trong” gắn với thế giới quan củacộng đồng bản ngữ, còn “hình thức bên ngoài” thì gắn với ngữ âm, ngữ pháp…
Trong lý thuyết định danh ngôn ngữ, áp dụng ý tưởng của Humboldt khi nóiđến “hình thức bên trong” của từ, người ta thường quy vào cách thức người bản ngữlựa chọn đặc điểm/thuộc tính nào đó của vật làm cơ sở để đặt tên cho nó Tuy nhiên, có
Trang 39thể thấy rằng trong ngôn ngữ học hiện thời cái công việc nghiên cứu “hình thức bêntrong” này thường chỉ tập trung vào các từ, chứ không nhằm tới những kết cấu lớn hơn.Lời đố về động thực vật, những con vật/ cây cối thường được miêu tả vớimột/một số thuộc tính/đặc điểm nào đấy (chúng tôi tạm gọi là “định danh” để nhậndiện con vật/cây ); nhằm chỉ dẫn, định hướng và gợi mở cho người giải đố suy
đoán, tìm ra lời giải Nó cung cấp thêm một cách nói thú vị - một kiểu định nghĩa sự
vật theo cách tư duy dân gian (theo kiểu định danh bậc hai); đem lại một góc nhìnmới mẻ, bất ngờ về những sự vật, hiện tượng đã trở nên quen thuộc với mỗi người(chứ không giống định nghĩa thông thường trong từ điển) Qua đó, ta nhận ra tàiquan sát, sự thông minh và óc phán đoán, nhanh nhạy của nhân dân lao động
Lý thuyết định danh (cùng lý thuyết liên kết logic trong văn bản) được chúngtôi vận dụng để tìm hiểu các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố - phần 2.2 chương2; để thấy được khi miêu tả vật đố (động thực vật), người ra đố thường dựa vào đặcđiểm nào, việc lựa chọn những đặc điểm ấy phản ánh điều gì trong tư duy – văn hóacủa người Việt
1.2.2.4 Lý thuyết lập luận
Lý thuyết lập luận gắn với tên tuổi của hai nhà ngôn ngữ học Pháp - OswaỉdDucrot và Jean Ciaude Anscombre Lý thuyết này bao gồm nhiều vấn đề (khái niệmlập luận, công thức lập luận, cấu tạo lập luận, quan hệ lập luận, chỉ dẫn lập luận,phân loại lập luận và cơ sở lập luận); song người viết chỉ trình bày những vấn đềliên quan được ứng dụng trong triển khai nội dung chương 3 của luận án: khái niệmlập luận, công thức lập luận, cấu tạo lập luận, quan hệ lập luận và cơ sở lập luận
i Khái niệm lập luận
Trong cuộc sống, con người luôn luôn cần dùng tới lập luận Dùng lập luận đểchứng minh, thanh minh, giải thích hay thuyết phục Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu
từng khẳng định Không có diễn ngôn nào không phải là lập luận Vậy lập luận là gì? Trong Đại cương ngôn ngữ học, tác giả nhận định: “Lập luận là đưa ra những lí
lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy
mà người nói muốn đạt tới” [15, tr 155] Đồng quan điểm trên, Đỗ Việt Hùng cho
Trang 40rằng “Lập luận là đưa ra những lí lẽ (được gọi là luận cứ trong lập luận) nhằm dẫndắt người nghe đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục)” [65, tr 532]
Hay đó là “trình bày lí lẽ một cách có hệ thống, có logic nhằm chứng minhcho một kết luận về một vấn đề Lập luận rất chặt chẽ Cách lập luận thiếu logic
Những lập luận đó không thể đứng vững” [126, tr 555]
“Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn đến một kết luận nào đấy, các lí lẽđưa ra được gọi là luận cứ Luận cứ có thể là một ý kiến mà cũng có thể là sự kiện,một nội dung miêu tả.” [19, tr 89]
Theo định nghĩa của Nguyễn Đức Dân [27] “Lập luận là một hoạt động ngôn
từ Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người ngheđến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay chấp nhận một
(một số) kết luận nào đó” [27, tr 165].
Đồng quan điểm trên, nhưng diễn đạt theo một cách khác, Diệp Quang Ban chorằng: “Trong việc trình bày các ý kiến, người ta có thể từ ý kiến này rút ra ý kiến khácbằng những suy lí Việc đưa ra những luận cứ (căn cứ để lập luận) nhằm đạt đến mộtkết luận nào đó (mang tính thuyết phục) được gọi là lập luận” [5, tr 322]
Như vậy, dù diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng các nhà nghiên cứungôn ngữ đều đã chỉ ra bản chất của lập luận là đưa ra những luận cứ (dẫn chứng và
lí lẽ) để hướng người đọc, người nghe tới một kết luận nào đó Dẫn chứng giúpchúng ta tin, lí lẽ để cho chúng ta hiểu, khi đã tin và hiểu thì sẽ bị thuyết phục, lúc
ấy lập luận đã thành công
Lập luận được hiểu theo hai nghĩa: Một là chỉ hành vi lập luận (sự lập luận);hai là chỉ toàn bộ cấu trúc của lập luận, cả về nội dung, cả về hình thức (sản phẩmcủa hành vi lập luận)
Trong luận án, chúng tôi thống nhất cách hiểu về lập luận theo quan điểm của
Đỗ Hữu Châu: “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết
luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [15, tr.155] Cụ
thể hơn, lập luận trong câu đố là hành vi ngôn ngữ mà người ra đố đưa ra những lí lẽ(chủ yếu là miêu tả) nhằm dẫn dắt người giải đố tìm ra vật đố (lời giải)
ii Cấu tạo của lập luận
Theo Nguyễn Đức Dân [27], một lập luận gồm ba thành tố logic là: tiền đề