1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nồng độ TESTOSTERON ở bệnh nhân đái tháo đường mắt hội chứng chuyển hóa

33 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 72,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một đề tài lạ về suy giảm sinh dục ở bệnh nhân đái tháo đường mắc hội chứng chuyển hóa. Mục tiêu chung Xác định tình trạng suy giảm testosteron ở những nam bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có và không có chuyển hóa và tác động của tình trạng suy giảm testosteron lên các chỉ số sinh hóa cũng như chức năng sinh dục của bệnh nhân. Mục tiêu chính 1. Khảo sát nồng độ Testosterone trung bình trên bệnh nhân nam bị ĐTĐ típ 2 ở lứa tuổi ≥ 40 tuổi tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương. 2. So sánh tỉ lệ suy giảm nồng độ testosterone trên những bệnh nhân nam ĐTĐ típ 2 có và không có HCCH. Mục tiêu phụ 1. Tỉ lệ giảm Testosterone trên bệnh nhân nam ĐTĐ típ 2 40 60 tuổi và ≥ 60 tuổi 2. So sánh tỉ lệ suy giảm nồng độ Testosterone trên bệnh nhân nam ĐTĐ típ 2 ≥ 60 tuồi có và không có HCCH 3. Tỉ lệ ADAM dương tính với nồng độ Testosterone thấp trên bệnh nhân nam ĐTĐ típ 2 4. ADAM dương tính trên bệnh nhân trên nam ĐTĐ típ 2 có và không có HCCH.

Trang 2

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Tập tục của các nước Phương Đông rất khắc khe trong quan niệm đánh giá vềđạo đức con người cho nên những bệnh nhân cao tuổi thường hay dấu bệnh Cứnghĩ rằng ở những người đàn ông cao tuổi bị suy giảm về tình dục thì càng cóđiều kiện thể hiện đạo đức của mình Có biết đâu trong tâm tư sâu thẳm củangườibệnh luôn luôn ám ảnh một mặc cảm bất lực hết sức nặng nề Đó là nguồngốc về một loạt các bệnh thần kinh , tâm thần và hàng loạt các bi kịch gia đình Đóng vai trò trong hoạt động tình dục của nam giới là nội tiết tố nam giớiTestosterone do tế bào Leydig tiết ra Testosterone được bài tiết từ tuần thứ 8của thai kỳ , tăng dần ở tuổi dậy thì và được bài tiết suốt cả cuộc dời nam giới Ởnam giới không xuất hiện một giai đoạn suy giảm hoàn toàn chức năng sinh dụcnhư nữ giới nhưng tuổi càng cao thì sự bài tiết testosterone càng giảm dần Giảm nồng độ testosterone không những ảnh hưởng vấn đề tình dục mà còn

có thể dự báo nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cũng như hội chứng chuyển hóatrong tương lai

Vào năm 2014 Al Hayek AA và cộng sự[11]đã cho biết tỉ lệ suy sinh dục ởbệnh nhân nam Jordan đái tháo đường và không đái tháo đường lần lượt là24,3% và 8,3%

Laaksonen DE và cộng sự (2004)[18] tiến hành nghiên cứu trên 702 đàn ôngPhần Lan không bị đái tháo đường cũng như không không bị hội chứng chuyểnhóa , sau 11 năm theo dõi đã ghi nhận testosterone toàn phần và SHBG thấp làyếu tố dự đoán độc lập tiến triển hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường ở namgiới trung niên Như vậy suy sinh dục là một dấu hiệu sớm rối loạn chuyển hóainsulin và glucose tiến triển thành hội chứng chuyển hóa hoặc đái tháo đường vàgóp phần vào sinh bệnh học của bệnh

Trang 3

Cũng rất là quan trọng khi MMAS (2006) đã cung cấp bằng chứngtestosterone thấp là yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa (theo định nghĩacủa NCEP ) và đái tháo đường ở nam giới không béo phì Varant Kupelian vàcộng sự (2006) [23] nghiên cứu 950 nam giới ghi nhận nồng độ thấp huyết thanhSHBG , testosterone toàn phần và biểu hiện lâm sàng do giảm androgen đều cóliên quan đến tiến triển hội chứng chuyển hóa đặc biệt là người không thừa cân ,tuổi trung niên và BMI dưới 25 kg/m2 Chính sự giảm SHBG và hay biểu hiệnlâm sàng thiếu androgen có thể là dấu hiệu báo sớm về nguy cơ tim mạch và làthời điểm can thiệp sớm ở người không béo phì.

Như vậy testosterone thấp ảnh hưởng chất lượng cuộc sống

Mặt khác , để tầm soát các triệu chứng của Hội chứng suy Testosterone ở namgiới lớn tuổi người ta dùng một số bảng câu hỏi , trong đó chúng tôi nhận thấybảng câu hỏi ADAM (Androgen deficiency aging male ) [phiên bảng Việt hóađược TS.BS Nguyễn Thành Như biên tập][6] đơn giản, dể hiểu với độ nhạy cảm88% và độ đặc hiệu 60%

Qua bảng câu hỏi này AlHayek AA (2013) đã ghi nhận 19,8% bệnh nhân namđái tháo đường và 3% bệnh nhân nam không đái tháo đường có triệu chứng củaHội chứng suy Testosterone ở nam giới (P value < 0,005)

Tại Việt Nam , các tác giả Nguyễn Thị Bạch Oanh, Nguyễn Hải Thụy,Nguyễn Cửu Lợi (2012)[5]đã khảo sát nồng độ testosterone huyết tương của 54bệnh nhân nam đái tháo đường và 31 người bình thường nam giới cùng độ tuổighi nhận nồng độ tetosterone huyết tương ở bệnh nhân nam đái tháo đường thấphơn so với nhóm chứng (4,5+/- 1,59 so với 5,27 +/- 1,59, p< 0,05) Nồng độtestosterone huyết tương dựa theo tuổi, nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng trong

độ tuổi < 60 tuổi và >= 60 tuổi lần lượt là (4.07+/-1.19 so với 5,36 +/-1,89ng/ml) và (4,76+/- 1,76 so với 5,22 +/- 1,39 ng/ml, p<0,05)

Trang 4

Theo sự hiểu biết của chúng nghiên cứu này đã xác định nộng độ testosteronehuyết tương theo nhóm tuổi trên bệnh nhân nam đái tháo đường típ 2 nhưng chưaxác định tỉ lệ nồng độ testosteone trên hai nhóm bệnh nhân nam đái tháo đườngtíp 2 có và không có hội chứng chuyển hóa.

Hơn nữa chúng tôi muốn sử dụng bảng câu hỏi ADAM để tầm soát triệu

chứng của Hội chứng suy Testosterone trên những bệnh nhân này Từ đó tìm mối

tương quan giữa triệu chứng của Hội chứng suy Testosterone và nồng độtestosterone nhằm tiếp cận đa ngành để quản lý Hội chứng suy Testosterone(Morales, 2012)[19]

Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh nồng độ testosterone giữa hainhóm bệnh nhân nam đái tháo đường típ 2 có và không có hội chứng chuyển hóa Với ba mục tiêu :

- So sánh tỉ lệ nồng độ testosterone giữa hai nhóm bệnh nhân nam đái tháođường típ 2 có và không có hội chứng chuyển hóa

- So sánh tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng của Hội chứng suy Testosteronequa bảng câu hỏi ADAM giữa hai nhóm bệnh nhân nam đái tháo đường típ

2 có và không có hội chứng chuyển hóa

Trang 5

Hội chứng chuyển hóa được xác định cao ở bệnh nhân đái tháo đường típ

2 bệnh nhân có HCCH có yếu tố nguy cơ cao biến chứng mạn tính với biếnchứng mạch máu lớn và biến chứng mạch máu nhỏ Mối liên quan giữa HCCH ,đái tháo đường và bệnh tim mạch đã được xác định và được nghiên cứu ở nhữngdân số khác nhau hội chứng chuyển hóa là yếu tố nguy cơ bệnh lý tim mạch ,đái tháo đường típ 2 , ngược lại ở những đối tượng mắc bệnh tim mạch, đái tháođường típ 2 có tỉ lệ hội chứng chuyển hóa cao[24],[22]

1.1.2 Tình trạng đề kháng insulin:

Đề kháng insulin là một tình trạng trong đó có các tổ chức nhạy cảminsulin (mỡ , cơ , gan ) đáp ứng kém với các dạng sinh học của insulin, ảnhhưởng đến sự ổn định nội mô của glucose theo chiều hướng gia tăng insulin làmnồng độ insulin cao hơn bình thường Hậu quả của gia tăng insulin máu sẽ gâynhiều rối loạn chuyển hóa biến chứng nhiều cơ quan

Từ lâu người ta đạ nhận thấy đáp ứng chuyển hóa với insulin ( sự nhạycảm với insulin ) bị suy giảm trong một số tình trạng sinh lý và bệnh lý như béophì , thai nghén , bị bệnh cấp tính, đái tháo đường típ 2 Tuy nhiên rất khó xácđịnh vai trò của sự suy giảm độ nhạy cảm insulin[4]

Trang 6

Ngày nay tiêu chuẩn vàng để đánh giá hoạt tính của insulin là kỹ thuật

“kẹp hay cố định”(nồng độ glucose được cố định hoặc kẹp ở một mức trong khiđánh giá sự tiết insulin hoặc cố định nồng độ insulin trong khi đo hoạt tính củanó) Bergaman và cộng sự đã phát triển một kỹ thuật đánh giá đồng thời sự tiếtinsulin và độ nhạy cảm toàn thân với insulin bẳng một mô hình toán học dựa vàonhiều mẫu trong khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường tĩnh mạch Đánh giá sự nhạy cảm insulin bằng kỹ thuật “kẹp” hoặc mô hình toán học điềuthấy tương quan tốt khi so sánh trực tiếp[10] Mỗi kỹ thuật có lợi thế riêngnhưng khó áp dụng thường qui và trên số lớn bệnh nhân Bởi vậy , do insulin lúcđói là một phép đo gián tiếp đơn giản đề kháng insulin qa đó do gián tiếp đơngiản đề kháng insulin bằng chỉ số HOMA-IR (hoemeostasis model essesesmentinsulin resistance)

Chỉ số HOMA-IR = [insulin mU/l x glucose mmol/l]/22,5

Chỉ số HOMA-IR tương quan rất hợp lý với tiêu chuần vàng là chỉ số kẹp

Vừa qua một số tác giả đã đề nghị sử dụng chỉ số nhạy cảm insulin (ISI) bằngcách đo nồng độ glucose và insulin trước và sau khi uống glucose Chỉ số ISItương quan chặt chẽ với đề kháng insulin được đo trực tiếp và dự báo đái tháođường sau này [2]

Đề kháng insulin thường di kèm với những vấn đề sức khỏe khác như làđái tháo đường , rối loạn lipid máu , tăng huyết áp, bệnh tim mạch Đề khánginsulin là trung tâm của HCCH gây ra tăng glucose máu , rối loạn ly giảifibrinogen, bệnh lý mạch máu , rối loạn lipid máu , rối loạn chức năng nội mạc ,béo phì , rối loạn dung nạp glucose , tăng huyết áp Các bệnh lý và rối loạn trên

là những thành tố của HCCH

Trang 7

1.2 Đái tháo đường típ 2:

1.2.1 Đại cương:

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính , do hậu quả của tình trạng thiếuinsulin tuyết đối hoặc tương đối , bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăngglucose huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đường , đạm , mỡ,chấtkhoáng các rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng cấp tính , các tình trạng

dễ bị nhiễm trùng và về lâu dài sẽ gây ra biến chứng mạch máu lớn và mạch máunhỏ Bản thân bệnh tiểu đường là yếu tố nguy cơ của biến cố tim mạch , ngoài rabệnh cũng thường kèm theo nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch nằm trong HCCH

Bệnh đái tháo đường là một trong những bệnh mạn tính không lây đang cókhuyh hướng gia tăng trên toàn thế giới Theo kết quả của cuộc điều tra cơ bảnsức khỏe quốc gia tại Mỹ , NISH năm 1993, có khoảng 7,8 triệu người mắc bệnhđái tháo đường tại Mỹ Tỉ suất cho mọi lứa tuổi 3,1% năm 1993, tăng gấp 3 lần tỉ

lệ mắc bệnh vào 1958 Từ năm 1958 đến năm 1993 số người được chẩn đoán đáitháo đường tăng gấp 5 lần

Tần suất đái tháo đường ở Việt Nam đã gia tăng rõ rệt trong 30 năm qua các điều tra cơ bản trước 1975 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh rất thấp dưới 1% Nhưng

từ 1990 trở về sau , theo một số tài liệu đã công bố cho thấy tỉ lệ đái tháo đường

ở Việt Nam vào khoảng 0,95-4%[13],[8] Như vậy đái tháo đường hầu nhưkhông đáng kể ở Việt Nam, ngày nay bệnh đã gia tăng ở cùng một mức độ nhưtình hình chung của các nước trên thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á

1.2.2 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường típ 2:

Có hai khía cạnh sinh lý bệnh liên hệ mật thiết với nhau trong đái tháo đường típ

2 là đề kháng insulin và rối loạn trong sự tiết insulin Hai khía cạnh này ở haitrạng thái quân bình trên người bình thường

Trang 8

Duy trì hằng định glucose phụ thuộc 3 yếu tố : sự tiết insulin, kích thíchthu nạo glucose ở mô ngoại vi (cơ , mỡ) và các mô nội tạng (gan , ruột) và ứcchế glucose ở gan.

Sau khi ăn , glucose sẽ tăng trong máu và tụy sẽ tiết ra insulin , các yếu tốnày sẽ tăng sự thu nạp glucose ở mô ngoại vi (chủ yếu là cơ) và nội tạng (gan,ruôt) và ức chế sản xuất glucose từ gan Nếu có khiếm khuyết tại tế bào beta cơ ,gan sẽ xảy ra rối loạn dung nạp với glucose , nói cách khác rối loạn dung nạpglucose là hậu quả trong sự khiếm khuyết sự tiết insulin hoặc đề kháng insulintại mô đích Trên thực tế có thể thấy một số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 thểtạng gầy , những bệnh nhân này có giảm tiết insulin là chính , một số bệnh nhânđái tháo đường típ 2 có thể tạng mập và yếu tố khiếm khuyết chính ở đây là tìnhtrạng đề kháng insulin

Trang 9

1.3.2 Chức năng chính của testosterone :

1.3.2.1 Quyết định giới tính nguyên phát của phái nam:

Trong phôi thai nhiểm sắc thể Y làm luống sinh dục bài tiết một ít lượngtestosterone , có tác dụng làm bào thai phát triển theo hướng nm giới (phát triển

bộ phận sinh dục nam )

1.3.2.2 Quyết định giới tính thứ phát :

Đến tuổi dậy thì , tinh hoàn (tế bào leydig) bắt đầu sản xuất testosterone , chínhtestosterone tạo nên giới tính thứ phát nam như : hình dáng người , phát triển cơbắp , mọc râu , lông nách , lông mu , giọng nói trầm

1.3.2.3 Trên chuyển hóa:

Làm tăng tổng hợp protein rất mạnh , nên nam giới phát triển cơ bắp Tăng sao mã gene, các phân tử DNA ở trong nhân tế bào để tạo RNAthông tin (mRNA)

Tăng giải mã gene trên mạng nội bào tương có các hạt ribosome để tổnghợp các phân tử protein

(Doping trong thể thao : các vận động viên đã lạm dụng những chế phẩmcủa testosterone , làm cho cơ bắp phát triển mạnh và cường lực cơ bắp tăng ,nâng cao thành tích thi đấu )

1.3.2.4 Trên việc tạo tinh trùng:

Nó phối hợp với hormone FSH (Follicle Stimulating Hormone) thùy trướctuyến yên để tạo tinh trùng

1.3.2.5 Gây sự ham muốn tình dục ở phái nam:

Điều này rất quan trọng , vì nó là động cơ thúc đẩy việc duy trì nòi giống

ở người và các loài động vật

Trang 10

1.3.3 Những rối loạn chuyển hóa do đái tháo đường:

Bệnh đái tháo đường không phải chỉ là gây rối loạn chuyển hóa glucid ,

mà còn gây rối loạn chuyển hóa lipid và protein , rối loạn chuyển hóa lipid cònquaan trọng hơn

1.3.3.1 Rối loạn chuyển hóa glucid:

Insulin có tác dụng làm tăng sự vận chuyển glucose từ huyết tương quamàng để vào tế bào Thiếu insulin, mức vận chuyển glucose vào tế bào giảm đi

20 lần , nghĩa là đường huyết tăng cao quá ngưỡng thận (là 180mg/dl) ,gây đáitháo đường , glucose bị thải qua nước tiểu , do áp suất thẩm thấu nó kéo theonước , lượng nước mất tỉ lệ thuận với lượng glucose mất , do đó ta dùng từ đáitháo đường

1.3.3.2 Rối loạn chuyển hóa lipid:

Insulin có tác dụng ức chế mạnh men lipase ở mô mỡ , thiếu insulin meen lipaseđược giải phóng , nó phát huy tác dụng là tăng tiêu triglyceride để cho acid béo

và glycerol Men lipase tiêu mỡ dự trữ của cơ thể và giải phóng acid béo bão hòavào máu (saturated fatty acid) Gan sẽ bắt giữ acid béo và tăng tổng hợptriglyceride và cholesterol Những chất này được đưa vào tuần hoàn dưới dạnglipoprotein co tỉ trọng rất thấp (VLDL: Very low density lipoprotein) Váo máuVLDL sẽ trở thành lipoprotein có tỉ trọng thấp (LDL: low density lipoprotein) Như vậy , trong bệnh đái tháo đường , lipid huyết cao , cụ thể là tăng :

Trang 11

tinh thể cholesterol trong thành mạch, tổ chức xơ (fibroblast) sẽ bao lấy các tinhthể cholesterol và calci kết tủa vào các mảng cholesterol , làm cho thành mạchcứng lại Các yếu tố này gây ra hậu quả nghiêm trọng:

- Tăng huyết áp do:

o Thành mạch dày ra : lớp cơ trơn phì đại , các mảng cholesterol , tổchức xơ xâm nhập và calci kết tủa

o Thành mạch cứng lại mất tính đàn hồi do tổ chức xơ và calci

- Lòng mạch hẹp lại, làm cho sự tưới máu cho các cơ quan bị kém đi , dothành mạch dày ra và các mảng cholesterol lối vào trong

- Máu dễ đông trong mạch, gây ra những cục huyết khối (thrombus) làm tắcmạch ở khắp cơ thể , nguy hiểm nhất ở tim và não, gây nhồi máu cơ tim ,nhồi máu não máu dễ đông trong mạch vì các mảng cholesterol lồi vàotrong lòng mạch ,làm tiểu cầu dễ bám vào và phát động quá trình đôngmáu

- Mạch máu dễ bị thoái hóa, do thành mạch xơ cứng lại , ép vào các mạchmáu nuôi các tế bào thành mạch – các tế bào thành mạch không được nuôidưỡng sẽ bị thoái hóa và chết , dễ gây phình và bễ mạch , đôi khi rất nguyhiểm do vỡ những mạch máu lớn như động mạch chủ bụng

- Đột quị: do vỡ mạch máu não , gây xuất huyết não- vỡ do hai lí do : dotăng huyết áp ( tuần hoàn não ở trong một hộp sọ kín , không phình rađược) và thành mạch bị xơ thoái hóa ( xơ vữa động mạch ) nên sẽ bễ vỡ.Tất cả những biến đổi về mạch máu nói trên được gọi là bệnh xơ vữa độngmạch (atheroslerosis)

1.3.3.3 Rối loạn chuyển hóa protein:

Insuline có tác dụng tăng tổng hợp protein và ức chế việc tiêu thụ protein :

-Tăng tổng hợp protein : do 3 tác dụng :

Trang 12

Tăng chuyển aminiacid từ dịch khe qua màng để vào tế bào , aminoacid lànguyên liệu để tổng hợp protein Khi thiếu insulin , mức chuyển aminoacid vào

tế bào giảm đi 20 lần , không có aminoacid , tế bào không có nguyên liệu để tổnghợp protein , nên tế bào ngừng tổng hợp protein

Tăng sao mã gene trong nhân tế bào để tạo RNA thông tin (mRNA)

Tăng quá trình giải mã trên mạng nội bào tương có hạt để tổng hợp protein

-Ức chế sự tiêu protein:

Insulin tăng tiêu glucose đến dạng acetyl-CoA Chính acetyl-CoA gây ức chếngược chiều âm tính (negative feed-back mechanism) đối với sự tiêu protein.Khi thiếu insulin , glucose không được tiêu , nên không có acetyl-CoA để ức chếngược chiều với protein Mặt khác vì thiếu glucose , nên tế bào phải tăng tiêuprotein để sinh năng lượng với dạng ATP (adenosine triphosphate)

Do đó khi thiếu insilin , cơ thể sẽ ngưng hay giảm tổng hợp protein vàtăng protein

1.3.4 Vai trò của testosterone:

1.3.4.1 Bệnh đái tháo đường với hàm lượng testosterone huyết tương :

Trong bệnh đái tháo đường , việc suy giảm chức năng của tinh hoàn gầnnhư là tự nhiên Tế bào kẽ của các ống sinh tinh , tế bào Leydig sẽ giảm sản xuấttestosterone đồng thời các tế bào mầm nguyên thủy của ống sinh tinh cũng giảmhay ngừng sự biệt hóa để tạo tinh trùng

Như vậy trong bệnh đái tháo đường , hàm lượng testosterone huyết tương

sẽ giảm thấp và cả globulin gắn hormone sinh dục (SHBG) cũng giảm thấp Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự suy giảm chức năng của tuyến sinh dục nam, giảm bài tiết testosterone làm bệnh đái tháo đường nặng hơn , tăng nguy cơ sinhbiến chứng như sự đề kháng insulin , không dung nạo glucose , bệnh lý tim mạch, hội chứng chuyển hóa , béo phì nội tạng, suy thận , rối loạn cương

Trang 13

1.3.4.2 Liệu pháp tetosterone trong việc điều trị bệnh đái tháo đường típ 2:

Trong ba thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu đã chứng minh mộtcách rõ ràng rằng testosterone đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ hằngđịnh mức đường huyết và trong chuyển hóa chất (chuyển hóa glucid, lipid, vàprotein)

Nhiều công trình nghiên cứu đã áp dụng liệu pháp điều trị thay thếtestosterone , giữ cho mức tetosterone huyết tương ở mức trung bình sinh lý , chỉđịnh điều trị cho những người đàn ông bị bệnh đái tháo đường típ 2 , có suy giảmtuyến sinh dục và hàm lượng testosterone huyết tương giảm thấp Kết quả thậtđáng ghi nhận , các triệu chứng và cả những biến chứng của bệnh đái tháo đườngtíp 2 được cải tiến rõ rệt : sự đề kháng insulin, kiểm soát chỉ sô HbA1c, giữ ổnđịnh mức đường hueyt61 trong một thời gian dài , hội chứng chuyển hóa , giảmbéo phì nội tạng và làm cho chất lượng cuộc sống tốt hơn

1.3.4.3 Cơ chế tác dụng của Testosterone:

Testosterone là một hormone làm tăng mạnh sự tổng hợp protein của tếbào Trong đó có protein receptor màng , nhất là receptor nhận insulin Nguyênnhân cảu bệnh đái tháo đường típ 2 là thiếu receptor để tiếp nhận insulin , chứkhông phải thiếu insulin , nên cho testosterone tế bào sẽ tăng việc tiếp nhậninsulin, tế bào nhạy cảm với insulin nhiều hơn , giảm đề kháng insulin, nghĩa làinsulin sẽ được đưa vào tế bào dễ dàng , và chính insulin sẽ điều chỉnh chuyểnhóa chất : glucid, lipid, và protein Như vậy các triệu chứng và biến chứng củabệnh đái tháo đường sẽ không xuất hiện Mặt khác , khi insulin đã vào được tếbào , thì chính nó cũng là một hormone làm tăng tổng hợp protein mạnh , tácdụng tăng tổng hợp protein được nhân lên gấp đôi nên hiệu quả của điều trị càngtốt hơn Ngoài tác dụng điều trị bệnh đái tháo đường típ 2, testosterone còn haitác dụng quan trọng khác nữa là: Một là : tăng sự ham muốn tình dục , một yếu

Trang 14

tố cần thiết giúp cải thiện chất lượng cuộc sống ,hai là: làm tăng sự sản xuất tinhtrùng , giữ vai trò chính trong sinh sản

1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

1.4.1 Nước ngoài:

Năm 2009 , Ông Saad và cộng sự[23] cho biết hơn 30 năm qua, việctestosterone có một vai trò quan trọng trong chuyển hóa đường và mỡ là khôngthể chối cãi Hội chứng chuyển hóa là một chuỗi những yếu tố nguy cơ dẫn đếnđái tháo đường tip 2, xơ vữa động mạch, tử vong tim mạch Những yếu tố chínhcủa hội chứng chuyển hóa bao gồm: béo bụng, đề kháng Insulin, không dung nạpglucose, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu (tăng TG, giảm HDL-c), tình trạngtiền đông máu và tiền viêm Những nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang đã ghi nhậnmối tương quan giữa nồng độ testosterone máu và độ nhạy cảm Insulin, và nồng

độ testosterone thấp có liên quan đến gia tăng nguy cơ đái tháo đường típ 2,minh họa bởi tình trạng thiếu androgen ở những người đàn ông bị ung thư tiềnliệt tuyến Nồng độ testosterone và nồng độ globulin gắn hormone sinh dục(SHBG) thấp hơn gia tăng tỉ suất mới mắc của hội chứng chuyển hóa Có tài liệucho rằng giảm testosterone trong máu nên là 1 yếu tố trong định nghĩa hội chứngchuyển hóa bởi vì nồng độ thấp testosterone có liên quan đến hoặc dự đoán sựtiển triển của hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường típ 2 Điều trị testosterone

ở những người đàn ông suy sinh dục đảo ngược một phần nguy cơ không có lợitiến triển đái tháo đường típ 2 và xơ vữa động mạch Cho đến hiện tại, nhữngnghiên cứu trên hiệu quả của testosterone trong chuyển hóa đường ở nhữngngười đàn ông suy sinh dục không nhiều nhưng thuyết phục, và nếu đái tháođường được đặt trong bối cảnh của hội chứng chuyển hóa, kết quả điều trịtestosterone hiện tại là rất đáng khích lệ

Trang 15

Năm 2010, Hernandez-Mijares A và cộng sự [16] người Tây Ban Nha chobiết một trong những yếu tố liên quan đái tháo đường típ 2 ở nam giới, dự đoán

đề kháng insulin và sự phát triển bệnh tim mạch là sự giảm nồng độ testosterone

Để đánh giá nồng độ testosterone ở bệnh đái tháo đường và đánh giá mối liên hệgiữa các yếu tố nguy cơ tim mạch , bệnh động mạch ngoại biên , bệnh thiếu máu

cơ tim yên lặng thì Ông tiến hành đo TT , SHBG và tính FT bằng công thứcVermeulen Kết quả ghi nhận 23% TT thấp( bình thường là lớn hơn hoặc bằng12nmol/l ), 21,8% FT thấp( bình thường là lớn hơn 225pmol/l ) trên tổng số 192bệnh nhân nam đái tháo đường và cũng cho biết có liên quan đến BMI , vòng eo,bệnh lý thần kinh do đái tháo đường , triglyceride , CRP, glucose, insulin và chỉ

số đề kháng insuline HOMA nhưng không có sự gia tăng bệnh động mạch ngoạibiên, bệnh thiếu máu cơ tim yên lặng

Năm 2011, tác giả Ogbera AO[20] thuộc trường Đại Học Lagos ở Anh đitìm mối tương quan giữa nồng độ testosterone và hội chứng rối loạn chuyển hoátrên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 Ông đã nghiên cứu trên 203 người Nigeria

bị đái tháo đường típ 2 trong độ tuổi từ 30 đến 86 tuổi Kết quả cho thấy có 36%

bị giảm testosterone và 44% bị hội chứng chuyển hoá 47% bệnh nhân có hộichứng chuyển hóa bị giảm testosterone trong khi 43% bệnh nhân này không cógiảm testosterone (p=0.6) Xử lý thống kê cho thấy giá trị trung bình củatestosterone ở bệnh nhân có HCCH thấp hơn bệnh nhân không có HCCH nhưng

sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu này đi đến kết luận là

có tần suất xảy ra HCCH ở nam đái tháo đường típ 2 trong khi so sánh bệnhnhân có và không có giảm testosterone Nghiên cứu này cũng kết luận là không

có sự tương quan giữa nồng độ testosterone trong huyết tương và các thông sốđịnh nghĩa rối loạn chuyển hoá (sử dụng theo tiêu chuẩn của InternationalDiabetes Federation, liên đoàn đái tháo đường thế giới)

Trang 16

2012 , Anderson SG[13] tiến hành nghiên cứu tầm soát suy sinh dục trênbệnh đái tháo đường trên 6457 bệnh nhân nam từ 18- 80 tuổi có bệnh đái tháođường Rõ ràng là có một tập hợp con nam giới đái tháo đường thiếu hụtandrogen có thể được hưởng lợi từ việc thay thế testosterone

Năm 2013, tỉ lệ nồng độ testosterone thấp trên bệnh nhân nam đái tháođường típ 2 đã được báo cáo khắp nơi trên thế giới, Al Hayek AA[12]và cáccộng sự tiến hành một nghiên cứu cắt ngang với 1089 bệnh nhân nam đái tháođường típ 2 có độ tuổi từ 30-70 tại trung tâm đái tháo đường Amman, Jordan, từtháng 8/2008 đến tháng 2/2009 tất cả được yêu cầu hoàn thành bảng câu hỏiADAM , lấy máu xét nghiệm TT, FT, SHBG , FSH, LH, PRL, bilan mỡ vàHbA1c Kết quả ghi nhận 36,5% bệnh nhân đái tháo đường có TT < 3ng/ml,29% có triệu chứng suy adrogen Nhóm TT< 3ng/ml , 80,2% có triệu chứng suyandrogen, 16,9% có suy sinh dục nguyên phát , 83,1% có suy sinh dục thứ phát Vậy kết quả nghiên cứu này cho thấy nam giới đái tháo đường típ 2 có tỉ lệ caonồng độ testosterone thấp Tuổi , thu nhập , BMI và bệnh thần kinh đái tháođường là yếu tố nguy cơ độc lập đối với testosterone

Năm 2014, Prevost G[21] người Pháp đã tiến hành nghiên cứutestosterone huyết tương , béo phì , HCCH và đái tháo đường ghi nhận tần sốbệnh đái tháo đường và hoặc HCCH tăng đồng thời với BMI Nam giới trưởngthành thay đổi mức testosterone huyết tương ngược với BMI Ở người đàn ôngtrưởng thành có HCCH nồng độ TT, SHBG , FT thấp hơn đáng kể so với ngườikhông có HCCH Sau khi điều chỉnh yếu tố gây nhiễu cũng nhãn thấy như vậy Phong tỏa androgen (cách điều trị phổ biến ung thư tiền liệt tuyến ) gây ra môhình chuyển hóa giống HCCH Họ nhận thấy nam giới trên 65 tuổi giảmtestosterone liên quan với tăng nguy cơ đôt quỵ hay tử vong do tim mạch Điều

Ngày đăng: 16/04/2020, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Thanh Đức , Nguyễn Văn Trí , Nguyễn Trí Công (2011) “Hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Đa Khoa Vĩnh Long”, tạp chí y học TPHCM, tập 15 số 1,tr.270-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Đa Khoa Vĩnh Long
Tác giả: Lê Thanh Đức, Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Trí Công
Nhà XB: tạp chí y học TPHCM
Năm: 2011
4.Nguyễn Thy Khuê (2003) “ Rối loạn chuyển hóa lipid”, Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản y học ,tr 405-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn chuyển hóa lipid”, "Nội tiết học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
5. Nguyễn Thị Bạch Oanh và cộng sự (2012) , “Nồng độ testosterone ở bệnh nhân nam đái tháo đường típ 2 ”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học hội nghị nội tiết &amp; đái tháo đường toàn quốc lần thứ 6, tạp chí nội tiết đái tháo đường, (6),tr.137-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nồng độ testosterone ở bệnh nhân nam đái tháo đường típ 2
Tác giả: Nguyễn Thị Bạch Oanh, cộng sự
Nhà XB: Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học hội nghị nội tiết & đái tháo đường toàn quốc lần thứ 6
Năm: 2012
6.Nguyễn Thành Như (2013) “Hội chứng suy Testosterone”, Nam khoa lâm sàng ,Nhà xuất bản tổng hợp TPHCM, tr112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng suy Testosterone”, "Nam khoa lâm sàng
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp TPHCM
7.Nguyễn Thị Thịnh (2001), “Tình hình đặc điểm đái tháo đường ở Tỉnh Hà Tây” , Kỹ yếu toàn văn các đề tài khoa học,Hội nghị nội tiết –đái tháo đường Việt Nam lần thứ nhất – Hà Nội , NXB y học , tr 348-349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đặc điểm đái tháo đường ở Tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Thịnh
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2001
8.Phạm Đinh Tuấn (2003) “Khảo sát ti lệ đái tháo đường trong cộng đồng dân số thành phố Long Xuyên , tỉnh An Giang ”, tạp chí y học TPHCM chuyên ngành nội tiết , tập 7 , số 1 , tr 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ti lệ đái tháo đường trong cộng đồng dân số thành phố Long Xuyên , tỉnh An Giang
Tác giả: Phạm Đinh Tuấn
Nhà XB: tạp chí y học TPHCM chuyên ngành nội tiết
Năm: 2003
9.Phạm Nam Việt , Phó Minh Tín,Nguyễn Hoàng Đức , Diệp Thanh Bình, Từ Thanh Trí Dũng (2009) “Khảo sát tần suất rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2”,tạp chí y học TPHCM,tập 13(1),tr.201-204.Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tần suất rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2
Tác giả: Phạm Nam Việt, Phó Minh Tín, Nguyễn Hoàng Đức, Diệp Thanh Bình, Từ Thanh Trí Dũng
Nhà XB: tạp chí y học TPHCM
Năm: 2009
10.Alexander W và cộng sự (2003) “ The coming of age of the metabolic syndrome ”, Diabetes Care ,pp 3180-3181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The coming of age of the metabolic syndrome ”, "Diabetes Care
11.Al Hayek AA và cộng sự (2014) , “The prevalence of Hypogonadodism among diabetic and non-diabetic men in Jordan” , J Diabetes Complications, 28(2) , pp. 135-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevalence of Hypogonadodism among diabetic and non-diabetic men in Jordan
Tác giả: Al Hayek AA, cộng sự
Nhà XB: J Diabetes Complications
Năm: 2014
12.AlHeyk AA (2013) , “Prevalence of low testosterone levels in men with type 2 diabetes mellitus : a cross- sectional study ”, J Family Community Med, 20(3), pp 179-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of low testosterone levels in men with type2 diabetes mellitus : a cross- sectional study ”, "J Family Community Med
13.Anderson SG và cộng sự (2012) , “Screening for hypogonadism in diabetes 2008/9: results from the Cheshire Primary Care cohort ”, Prim Care Diabetes , 6(2), pp143-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening for hypogonadism in diabetes 2008/9: results from the Cheshire Primary Care cohort
Tác giả: Anderson SG, cộng sự
Nhà XB: Prim Care Diabetes
Năm: 2012
14.Devaraj S và cộng sự (2004) , “ Metabolic syndrome : an appraisal of the pro- inflammatory and procoagulant status” . Endocrinnol Metab Clin Am (33) , pp 431-453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metabolic syndrome: an appraisal of the pro-inflammatory and procoagulant status
Tác giả: Devaraj S, cộng sự
Nhà XB: Endocrinology and Metabolism Clinics of North America
Năm: 2004
15. Ganong William F(1997). “Review of Medical Physical -18 th” ed, Appleton &amp;Lange, Connecticut,USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Medical Physical -18 th
Tác giả: William F. Ganong
Nhà XB: Appleton & Lange
Năm: 1997
16. Grundy SM, Brewer HB, Cleeman JI et al (2004), “Definition of metabolic syndrome”, Circulation, pp 551-556 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition of metabolic syndrome
Tác giả: Grundy SM, Brewer HB, Cleeman JI
Nhà XB: Circulation
Năm: 2004
17.. Guyton Arthur C (2006).” Textbook of Medical Physical” -11 th” ed,Elsevier Inc, Philadelphia ,USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of Medical Physical
Tác giả: Arthur C Guyton
Nhà XB: Elsevier Inc
Năm: 2006
18.Hernandez-Mijares A và cộng sự (2010), “Testosterone levels in maes with type 2 diabetes and their ralationship with cardivascular risk factor andcardiovascular disease”, J Sex Med , 7(5), pp1954-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testosterone levels in maes with type 2 diabetes and their ralationship with cardivascular risk factor and cardiovascular disease”, "J Sex Med
Tác giả: Hernandez-Mijares A và cộng sự
Năm: 2010
19.Kupelian V và cộng sự (2006) , “Low sex hormon- binding globuling , total testosterone and symptomatic , and symptomatic androgen deficiency areassociatedwith the development of the metabolic syndrome in non-obese men”. J Clin Endocrinol Metab , 91(3) , pp.843-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Low sex hormon- binding globuling , total testosterone and symptomatic , and symptomatic androgen deficiency areassociatedwith the development of the metabolic syndrome in non-obese men
Tác giả: Kupelian V, cộng sự
Nhà XB: J Clin Endocrinol Metab
Năm: 2006
20.Laaksonen DE và cộng sự (2004) ,” Testosterone and sex hormon-binding globulin predict the metabolic syndrome and diabetis in middle-aged men” , Diabetes Care,27(5) , pp .1036-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testosterone and sex hormon-binding globulin predict the metabolic syndrome and diabetis in middle-aged men
Tác giả: Laaksonen DE, cộng sự
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 2004
21. Morales A(2012) “Androgen Deficiency in the Aging Male”. In Campbell- Walsh Urology , 10 th ed.Saunders Elsevier, Philadelphia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Androgen Deficiency in the Aging Male
Tác giả: Morales A
Nhà XB: Saunders Elsevier
Năm: 2012
22.Ogbera AO (2011), “Relationship between serum testosterone levels and features of the metabolic syndrome defining criteria in patients with type 2 diabetes mellitus ”, West Afr J Med ,30(4),pp 277-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship between serum testosterone levels and features of the metabolic syndrome defining criteria in patients with type 2 diabetes mellitus ”, "West Afr J Med
Tác giả: Ogbera AO
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w