1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN: Dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động giải toán chuyển động đều

46 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 652,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN: Dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt độnggiải toán chuyển động đều I/ MỞ ĐẦU 1.. Song, lớp 5 có một vị trí đặc biệt quan trọng

Trang 1

SKKN: Dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động

giải toán chuyển động đều

I/ MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thế giới hiện đại, cuộc đua về kinh tế thực chất là cuộc đuatranh về khoa học và công nghệ Cốt lõi của khoa học và công nghệ là trítuệ của con người Trong mọi tiềm lực, thì tiềm lực về trí tuệ con người là

vô tận, có giá trị quyết định thành bại của mọi cuộc đua tranh Sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học- công nghệ, sự bùng nổ thông tin, sự phát triểnnăng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đanglàm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trởthành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội Giáo dục là nềntảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nhu cầu xã hội hiệnđại và đóng góp vai trò chủ yếu trong công việc nâng cao ý thức dân tộc,tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau

Đứng trước những đòi hỏi của xã hội trong thời đại mới, giáo dục vàđào tạo đã có những bước chuyển mình rõ rệt, hướng vào mục tiêu hìnhthành và phát triển năng lực, phẩm chất cho người học Nghị quyết 29-NQ/

TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng vềđổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đưa ra quan điểm chỉđạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực,bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bịkiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.”

Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốchội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã nêumục tiêu: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thôngnhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáodục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp;góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáodục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể,

mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”, nội dung đổi mớigiáo dục: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học”, “Đổi mới căn bản phươngpháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩmchất và năng lực học sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trongchương trình; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việcđiều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dầnnăng lực học sinh.”

Trang 2

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, pháttriển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình ảnh nhân cáchcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệmcông dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sốnglao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ vàcác kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở (Trích: LuậtGiáo dục, 2005)

Mục tiêu giáo dục của lớp 5 cũng không nằm ngoài mục tiêu giáodục Tiểu học đó Song, lớp 5 có một vị trí đặc biệt quan trọng: Là lớpcuối của bậc Tiểu học hoàn thành chương trình lớp 5, học sinh phải cómột hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo làm nền tảng cho học lên các lớpcủa bậc phổ thông Trung học

Để đạt được mục tiêu trên, nhà trường Tiểu học phải dạy đủ cácmôn học theo quy định, trong đó môn Toán đóng một vai trò vô cùngquan trọng Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rấtlớn Toán học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việchình thành và phát triển nhân cách học sinh Trên cơ sở cung cấp nhữngtri thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân,các đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đờisống và một số yếu tố hình học đơn giản Trong đó mảng toán chuyểnđộng đều vô cùng quan trọng

Dạy học giải toán chuyển động đều ở bậc tiểu học nhằm mục đíchchủ yếu sau:

Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thaotác thực hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dược vậndụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn

Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc củangười lao động, như: cẩn thận, chu đáo, cụ thể

Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyệnphương pháp và kỹ năng suy luận, khơi gợi và tập dượt khả năng quansát, phỏng đoán, tìm tòi

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy một số học sinh giải cácloại toán không hứng thú còn lúng túng nhất là giải các bài toán vềchuyển động đều, nhiều học sinh giải bài theo cách máy móc, dậpkhuôn…Nhưng có những học sinh giải các bài tập đó rất nhanh, có nhiềucách sáng tạo khi trình bày bài, thời gian còn lại ngồi chơi… Từ đó, đểgây hứng thú cho tất cả học sinh, các em có tâm thế hào hứng trong mỗitiết học từ đó sẽ phát huy hết năng lực của bản thân khi giải được các bàitoán cơ bản về chuyển động đều sau đó rèn tư duy sáng tạo cho học sinh

qua mỗi dạng bài Với các lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu : “Dạy

Trang 3

học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động giải toán về chuyển động đều’’

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Môn toán ở tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng cần có một phươngpháp dạy học cụ thể phù hợp với từng loại toán

Xét riêng về loại toán chuyển động đều ở lớp 5, ta thấy đây là loạitoán khó, rất phức tạp, phong phú đa dạng và có nhiều kiến thức áp dụngvào thực tế cuộc sống Mặt khác việc hình thành, rèn luyện, củng cố các

kỹ năng giải toán chuyển động đều gần như chưa có nên các em khôngthể tránh khỏi những khó khăn, lúng túng khi giải loại toán này Vì vậyrất cần phải có phương pháp dạy học thật cụ thể để phát huy khả năngcủa từng học sinh, nâng đỡ tư duy sáng tạo cho học trò thông qua dạy cácbài toán chuyển động đều

Trước thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi luôn nhận thức vai trò, tráchnhiệm gắn liền với sự nghiệp giáo dục nên tôi luôn học hỏi đào sâu suynghĩ để trang bị cho mình vốn kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, để đảmbảo chất lượng giảng dạy, khẳng định và nâng cao vai trò của người giáoviên trong sự nghiệp trồng người

Việc tìm hiểu nghiên cứu quá trình dạy và học phân môn toán đã rút

ra một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 5 biết cách giải các bài toán

và nâng đỡ tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua giải toán về chuyểnđộng đều

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp dạy học theo hướng phân hóa đối tượng nhằm phát triểnnăng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua hoạt động giải toán vềchuyển động đều lớp 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Dạy giải toán chuyển động đều lớp 5-trường Tiểu học Lê Văn Tám– quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra thực tế, quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

5 Kế hoạch nghiên cứu

- Phân loại đối tượng học sinh

- Toán chuyển động đều lớp 5

- Tìm ra các giải pháp để tạo hứng thú, sự hấp dẫn, phát triển năng lựcgiải quyết vấn đề và nâng đỡ sự sáng tạo cho học sinh thông qua giải các bàitoán chuyển động đều

6 Cấu trúc

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung được chia làm 3 chương:

Trang 4

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động giải toán chuyển động đều

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

II/ NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

Giáo dục tiểu học được đánh giá là nền tảng của văn hóa cả nước,

nó chiếm một vai trò quan trọng trong xã hội và là cơ sở để phát triển nềnvăn hóa nước nhà Trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học vànhận thức của học sinh, nhà nước đề cao sự phát triển tư duy của conngười Bởi đó là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng học tập

và giáo dục cho học sinh đang được Đảng, nhà nước, cha mẹ học sinh vàngành, các cấp quan tâm

Mỗi môn học ở Tiểu học đều hình thành và phát triển những cơ sởban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong cácmôn học ở Tiểu học môn toán có vị trí rất quan trọng vì:

Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụngtrong đời sống, rất cần thiết cho người lao động và rất cần thiết cho mônhọc khác ở tiểu học và học tiếp bậc trung học

Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng

và hình dạng không gian của thế giới hiện thực nhờ đó mà học sinh cóphương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cáchhoạt động có hiệu quả trong đời sống

Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phươngpháp suy luận, phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết có vấn đề

có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo Nó góp phần phát triển tríthông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp vàoviệc hình thành phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạtsáng taọ và đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết, quantrọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn,làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học

Môn toán là môn học thống nhất có sự sắp xếp theo logic và trật tựnhất định, nó làm nổi rõ toàn bộ hạt nhân của toàn bộ chương trình Môntoán ở tiểu học chiếm số giờ rất lớn, xuyên suốt quá trình học toán là việcthực hiện các phép tính từ đơn giản đến phức tạp

Chương trình môn Toán ở Tiểu học bao gồm 5 mạch kiến thức:

Số học và các phép tính:

Số học và các phép tính là nội dung trọng tâm đồng thời là hạt nhâncủa chương trình môn Toán ở Tiểu học Nội dung này tập trung vào số tựnhiên và số thập phân, còn phân số chỉ gồm một số nội dung cơ bản nhất

để phục vụ cho dạy học số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế

Trang 5

Một số yếu tố đại số như dùng dấu so sánh, dùng chữ thay số, biểu thức

số, biểu thức có chứa chữ, cũng được tích hợp trong nội dung số học đểlàm nổi dần một số quan hệ số lượng và cấu trúc của các tập hợp số

Yếu tố hình học:

Yếu tố hình học là nội dung cơ bản trong chương trình môn Toán ởTiểu học Nội dung này bao gồm các biểu tượng ban đầu và một số tínhchất cơ bản của hình thường gặp, gắn với thực tế đời sống Yếu tố hìnhhọc sắp xếp không hoàn toàn tách thành phần riêng biệt mà nó được kếthợp chặt chẽ, gắn bó với các nội dung khác

Đại lượng và phép đo đại lượng:

Đại lượng và phép đo đại lượng bao gồm các biểu tượng đại lượng

và đơn vị đo đại lượng cơ bản thường gặp trong cuộc sống Nội dung đạilượngvà đo đại lượng được giới thiệu dần theo từng lớp, gắn liền với sựphát triển về các vòng số và HS công nhận bằng con đường trực giác

Yếu tố thống kê:

Một số yếu tố thống kê được chính thức đưa vào nội dung giảng dạy

từ lớp 3 gồm các kiến thức ban đầu gắn liền với thực tiễn đời sống hàngngày, phù hợp với trình độ nhận thức của HS và chủ yếu được tích hợptrong nội dung số học và đo lường

Giải toán có lời văn:

Giải toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môntoán ở bậc tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơvới nội dung của số học và số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơbản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình Giải toán có thểgiúp các em thấy được nhiều kinh nghiệm toán học Ví dụ: các số, các phéptính, các đại lượng … đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực.Trongthực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứnggiữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm…

Giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh nănglực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải toán,

tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phânbiệt giữa cái đã cho và cái phải tìm Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toángóp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo vàlàm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kếtquả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, tư duy sáng tạo…

Giải toán có lời văn được sắp xếp thành một hệ thống từ thấp đếncao trong từng lớp và xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5 Ngoài các bài toánđơn, toán hợp giải bằng các phép tính, công thức với các mối quan hệtrực tiếp và đơn giản hoặc vận dụng các phương pháp, thủ thuật giải theoyêu cầu của từng lớp, còn có một số dạng bài toán toán điển hình và bàitoán liên quan đến chuyển động

Nội dung toán chuyển động đều và các dạng bài tập trongchương trình lớp 5

Trang 6

Bài toán được khéo léo đưa ra và giới thiệu với học sinh lớp 4dưới dạng các bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệnghịch Qua đó học sinh bước đầu nắm được mối quan hệ giữa các đạilượng trong toán chuyển động đều Hệ thống bài toán chỉ là những ví

dụ đơn giản Sang lớp 5, toán chuyển động đều mới chính thức thểhiện vị trí của mình, là bộ phận của chương trình toán tiểu học, tuynhiên với kiến thức cơ bản và sơ đẳng nhất Ba đại lượng : quãngđường, thời gian, vận tốc được sách giáo khoa chia nhỏ trong chươngtrình và giới thiệu riêng từng đại lượng

Trong chương trình lớp 5, những bài toán về chuyển động đềuchiếm một số lượng tương đối lớn Đây là một dạng toán khó đối vớihọc sinh Học tốt dạng toán này giúp học sinh rèn kĩ năng đổi đơn vị

đo thời gian, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải toán có lời văn Đồng thời

là cơ sở tiền đề để giúp học sinh học tốt chương trình toán và chươngtrình vật lí ở các lớp trên

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn toán đặcbiệt là dạng toán chuyển động là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

- Về phía giáo viên:

GV của các trường đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, được đàotạo chính quy Hầu hết giáo viên đều nhiệt tình, tâm huyết với nghề

-Về chương trình toán chuyển động đều:

Các em được tìm hiểu bài học chủ yếu qua nội dung SGK, nên chỉnắm được bài một cách máy móc các bước giải các bài toán chuyển độngtheo mẫu mà chưa thực sự hiểu về bản chất của các kiến thức thực tế khác

Trang 7

liên quan đến toán chuyển động đều, các công thức liên quan đến nhaugiữa ba đại lượng trong toán chuyển động là vận tốc, thời gian và quãngđường Do đó các em sẽ gặp khó khăn khi giải các bài toán hợp nhiềukiến thức và vận dụng tính trong thực tế.

Một số công thức, biểu tượng toán chuyển động đều còn có cơ sở

từ kiến thức nền tảng đã được học sinh làm quen từ những năm học trước,nhưng có những kiến thức liên quan đến toán chuyển động đều thì là lầnđầu tiên các em được tiếp cận

Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh trong quá trìnhgiải bài toán về chuyển động đều

Là một bộ phận trong chương trình toán Tiểu học, dạng toánchuyển động đều là một thể loại gần như mới mẻ và rất phức tạp với họcsinh lớp 5 Các em thực sự làm quen trong thời gian rất ngắn (Học kỳ IIlớp 5) Việc rèn luyện, hình thành, củng cố kĩ năng, kĩ xảo giải toán củahọc sinh ở loại này gần như chưa có Chính vì vậy học sinh không thểtránh khỏi những khó khăn, sai lầm Qua thực tế giảng dạy và khảo sáthọc sinh ở một số lớp, tôi thấy sai lầm của học sinh khi giải toánchuyển động đều là do những nguyên nhân sau:

a) Sai lầm do học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn

kẽ dữ kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán.

b) Khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linh hoạt.

c) Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản.

d) Vốn ngôn ngữ của học sinh còn nhiều hạn chế.

Nhận thức của GV về dạy phát triển năng lực giải quyết vấn đề cònchung chung thể hiện ở chỗ hiểu, đánh giá về năng lực, mức độ của HStiểu học thông qua kết quả phiếu trưng bày ý kiến, trò chuyện, phỏng vấn,tọa đàm, còn chưa nhất quán, nhiều quan niệm còn mơ hồ, không rõràng, thiếu cơ sở; chưa có một môi trường sư phạm thích hợp cho việcdạy năng lực giải quyết vấn đề nói chung, phát triển năng lực giải quyếtvấn đề cho HS nói riêng Chẳng hạn như GV chưa kích thích nhu cầu,động cơ sáng tạo cho HS trong quá trình DH, chưa khơi gợi sự say mê,tích cực trong học tập, chưa thực sự cởi mở, thân thiện để HS được đắmmình trong những tương tác giữa GV – HS, HS – HS, HS – tài liệu thểhiện suy nghĩ, quan điểm, sức sáng tạo cá nhân qua việc giải quyết cácnhiệm vụhọc tập, chưa được tự do trao đổi, tự do bày tỏ quan điểm cũngnhư những ý tưởng mới của mình, ; GV chưa chú ý đến phát triển nănglực giải quyết vấn đề ở từng học sinh, đặc biệt là kĩ năng tìm hiểu-khámphá vấn đề, kĩ năng thiết lập không gian vấn đề, kĩ năng thiết lập và thựchiện giải pháp, kĩ năng đánh giá và phản ánh giải pháp – bốn yếu tố cơbản nhất của phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thể hiện ởchỗ, trong dạy học GV chỉ chú ý nhiều đến việc truyền đạt hết nội dung

DH, mà không chú ý đến rèn luyện, kích thích việc giải quyết các nhiệm

Trang 8

vụ học tập một cách mềm dẻo, độc đáo Hơn nữa, GV chưa chú ý đào sâutrong cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề, cách thức tìm kiếm lời giải,đáp án, giải pháp cho những vấn đề học tập, chưa rèn luyện cho HS cáchsuy nghĩ linh hoạt, mềm dẻo, chiếm lĩnh nội dung học tập một cách thuầnthục, tạo ra sản phẩm học tập một cách độc đáo mới mẻ, ; trong quátrình dạy học, GV chưa chú ý đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn

đề cho HS (HS ở mức Hoàn thành, Hoàn thành tốt…) thể hiện ở chỗ, mọivấn đề khó, nâng cao, trừu tượng, đòi hỏi sự sáng tạo, sự linh hoạt, mềmdẻo trong giải quyết vấn đề đều được GV tập trung vào nhóm đối tượng

HS Hoàn thành tốt( khá giỏi) và trong quan niệm của GV, nhóm đốitượng HS trung bình hoàn thành), dưới trung bình( Chưa hoàn thành)không đủ sức để giải quyết những nhiệm vụ, vấn đề đó, vì vậy, GV khônggợi mở, dẫn dắt, kích thích cũng như bằng những hướng dẫn cụ thể đểnhóm HS này giải quyết những nhiệm vụ học tập đòi hỏi sự sáng tạo.Thực tế, nhóm HS Hoàn thành và Chưa hoàn thành dường như đứngngoài cuộc

Vì lí do đó, tôi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm của bản thân giúp học sinh làm tốt các bài toán dạng toán chuyển động ở lớp 5

Trang 9

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU.

Biện pháp 1: Đánh giá, phân loại học sinh.

Để hoạt động học tập trong mỗi tiết học thực sự có hiệu quả, ngay

từ đầu chương mới, kiến thức mới hay đầu tiết học giáo viên nên tìmhiểu đánh giá, phân loại học sinh về nhận thức, năng lực, phẩm chất làmtiền đề cho việc chia nhóm học tập Thông thường, giáo viên dựa vào khảnăng nhận thức, những kiến thức kĩ năng đã có cùng với năng lực, phẩmchất để phân loại học sinh ra các mức (các mức này, xét ở mỗi đơn vịkiến thức chỉ mang tính tương đối); Phân loại học sinh theo các mức nhưsau: Mức Hoàn thành tốt, Hoàn thành và Chưa hoàn thành Nhóm học tậphoạt động có hiệu quả là nhóm gồm các thành viên có năng lực đa dạng:Khả năng nhận thức cao, trung bình và thấp, đa dạng về thành phần Khichia nhóm học tập, có thể chọn phương án 4 học sinh trong một nhómchia thành 2 cặp đôi cho phù hợp với điều kiện của lớp học; sắp xếp cácthành viên vào một nhóm, sao cho các thành viên nhóm càng đa dạngcàng tốt Mỗi nhóm đều có 1 nhóm trưởng có năng lực điều hành Vớinhóm như vậy, mỗi một vấn đề cần giải quyết sẽ mang lại hiệu quả hơn.Việc chia nhóm học tập không mang tính cố định, nó thay đổi theo khảnăng nắm bắt kiến thức của học sinh sau mỗi mảng kiến thức

Việc chia nhóm học tập như vậy giúp giáo viên có định hướng rõ ràng đểxây dựng mục tiêu cụ thể, chi tiết mà các nhóm cần phải hướng tới là gì?Hiện tại nhóm học trò này đã nắm được gì, mức độ đạt được của từngnhóm ra sao? Cần phải bổ sung, nâng cao trên chuẩn thế nào ở nhómHoàn thành tốt… dựa trên mục tiêu chung của mỗi bài theo chuẩn kiếnthức, kĩ năng trong chương trình học

Đây là việc làm tưởng như đơn giản nhưng không hề đơn giản, nóđòi hỏi người thầy phải có sự theo dõi liên tục, bám sát từng học sinh để

có nhận xét đúng khả năng cũng như năng lực của từng em… để từ đóxây dựng mục tiêu cụ thể, lượng bài học sinh mỗi nhóm cần đạt đượctheo chuẩn kiến thức kĩ năng và hệ thống bài tập mở rộng cho từng nhómtrong mỗi bài giảng với từng nhóm học cụ thể để khơi gợi, phát huy hếtkhả năng giải quyết vấn đề của mỗi trò khi tiếp nhận kiến thức mới dưới

sự tổ chức, chỉ dẫn của người thầy Bên cạnh đó là tạo ra môi trường họctập thân thiện, gần gũi, tạo niềm say mê, sự thích thú, tạo nhu cầu muốntiếp nhận kiến thức của mỗi học sinh dựa trên khả năng của từng em Vớinhững việc làm trên, chính là bước chuẩn bị cho việc dạy học theo hướngphân hóa đối tượng

Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theonăng lực nhận thức, mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từngđối tượng người học, tức là trên cơ sở am hiểu từng cá thể, giáo viên tiếp

Trang 10

cận người học ở tâm lí, năng khiếu, nguyện vọng, mong muốn trong cuộcsống,…Có thể nói trong phương pháp dạy học phân hóa, giáo viên phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục” Dạy học phân hóa là phương phápdạy học có tính đến sự khác biệt của người học(cá nhân) hoặc nhómngười học Ở tiểu học, dạy học phân hóa thường được thể hiện ở việc lấyChuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản, ngoài kế hoạch dạy học thôngthường, phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp nhằm đưa họcsinh “Chưa hoàn thành” đạt chuẩn - “Hoàn thành” và giúp đối tượng đãđạt mức “Hoàn thành” phát triển ở mức “Hoàn thành tốt” Dạy học có sửdụng các biện pháp phân hóa thích hợp với các đối tượng khác nhau trongcùng một lớp học, trong cùng khoảng thời gian, đảm bảo thống nhất mộtchương trình và kế hoạch dạy học Nhìn bề ngoài, dạy học theo cách nàykhông có gì khác biệt so với dạy học thông thường

Biện pháp 2: Xác định mục tiêu của nhóm học sinh khi tham gia hoạt động dạy học toán chuyển động đều ở lớp 5.

Mục tiêu chung (cơ bản) tất cả các nhóm học tập cần phải đạt được thông qua việc giải đúng các bài tập:

1 Loại bài toán cơ bản: Vận dụng công thức theo sơ đồ:

v = vận tốc; s = quãng đường; t = thời gian

Dạng bài này có cấu trúc rõ ràng, biết 2 yếu tố, tìm một yếu tố còn lại

Bài 1/ trang 139( Bài vận tốc) : Một người đi xe máy trong 3 giờ đi

được 105km Tính vận tốc của người đi xe máy.

Bài 2/ trang 139: Một máy bay bay được 1800km trong 2,5 giờ Tínhvận tốc của máy bay

Bài 3/ trang 139: Một người chạy được 400 m trong 1 phút 20 giây.Tính vận tốc chạy của người đó với đơn vị đo là m/giây

Bài 1/trang 139( Tiết luyện tập): Một con đà điểu khi cần có thể chạyđược được 5250m trong 5 phút Tính vận tốc chạy của đà điểu

Bài 2/ trang 140: Viết vào ô trống:

v = s : t

Trang 11

Bài 4/ trang 140: Một ca nô đi từ 6 giờ 30 phút đến 7 giờ 45 phútđược quãng đường 30km Tính vận tốc của ca nô.

Bài 1/ trang 141 (Bài quãng đường): Một ca nô đi với vận tốc15,2km/giờ Tính quãng đường đi được của ca nô trong 3 giờ

Bài 2/ trang 141: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc12,6km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó

Bài 3/ trang 141 Một xe máy đi từ A lúc 8 giờ 20 phút với vận tốc 42km/giờ, đến B lúc 11 giờ Tính độ dài quãng đường AB

Bài 1/ trang 142 (Tiết luyện tập): Tính độ dài quãng đường với đơn

vị là ki-lô-mét rồi viết vào ô trống:

s

Bài 2/ trang 141: Một ô tô đi từ A lúc 7 giờ 30 phút, đến B lúc 12 giờ

15 phút với vận tốc 46 km/giờ Tính độ dài quãng đường AB

Bài 3/ trang 142: Ong mật có thể bay được với vận tốc 8 km/giờ.Tính quãng đường bay được của ong mật trong 15 phút

Bài 4/ trang 142: Kăng-gu-ru có thể di chuyển (vừa chạy vừa nhảy)với vận tốc 14m/giây Tính quãng đường di chuyển được của Kăng-gu-rutrong vòng 1 phút 15 giây

Bài 1/ trang143: Viết số thích hợp vào ô trống:

Bài 1/ trang 143 (tiết luyện tập)

Trang 12

Muốn tính thời gian “đuổi kịp” của 2 chuyển động cùng chiều, cùnglúc ta lấy khoảng cách ban đầu giữa hai chuyển động chia cho hiệu haivận tốc:

tđuổi kịp = V 1 V s 2

tđuổi kịp: Thời gian để 2 chuyển động gặp nhau

- Chuyển động ngược chiều

Học sinh nắm được quy tắc và công thức tính:

Muốn tính thời gian gặp nhau của 2 chuyển động ngược chiều và cùng lúc ta lấy quãng đường chia cho tổng vận tốc của 2 chuyển động

tgặp nhau = V 1 V s 2

Ví dụ: Quãng đường AB dài 276km Hai ô tô khởi hành cùng một

lúc, một xe đi từ A đến B với vận tốc 42km/giờ, một xe đi từ B đến A vớivận tốc 50km/giờ Hỏi từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ 2 ô tô gặp nhau?

Ví dụ: Quãng đường AB dài 25km; Trên đường đi từ A đến B một

người đi bộ 5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B Tính vận tốccủa ô tô (bài 3- Sách giáo khoa 140)

Ví dụ: Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12km/giờ Sau 3

giờ một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36km/giờ Hỏi kể từ lúc

xe máy bắt đầu đi, sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp (bài 1 trang

146-147 SGK toán 5)

3 Toán “chuyển động đều” dạng vận dụng cao.

- Hai động tử chuyển động ngược chiều nhau (xa nhau, gần nhau)

- Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau.

- Vật chuyển động trên dòng sông.

- Vật chuyển động có chiều dài đáng kể.

- Chuyển động theo đường vòng.

- Bài toán chuyển động dạng “ Tìm vận tốc trung bình”.

- Bài toán chuyển động “ Lên dốc, xuống dốc”.

- Bài toán chuyển động dạng “Chạy đi, chạy lại nhiều lần”.

- Bài toán chuyển động dạng “Vòi nước chảy vào bể”

- Bài toán liên quan đến chuyển động của kim đồng hồ:

+ Hai kim trùng khít lên nhau

Khoảng cách giữa 2 kim lớn hơn 0

Khoảng cách giữa 2 kim bằng 0

+ Hai kim vuông góc với nhau

Khoảng cách giữa 2 kim nhỏ hơn hoặc bằng 1/4 vòngđồng hồ

Khoảng cách giữa 2 kim lớn hơn 1/4 vòng đồng hồ vànhỏ hơn hoặc bằng 3/4 vòng đồng hồ

Khoảng cách giữa 2 kim lớn hơn 3/4 vòng đồng hồ

Trang 13

+ Hai kim thẳng hàng với nhau.

Khoảng cách giữa 2 kim nhỏ hơn hoặc bằng 1/2 vòng

đồng hồ

+ Hai kim chuyển động đổi chỗ cho nhau.

Biện pháp 3: Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức cho các nhóm học sinh/ từng học sinh thông qua hoạt động dạy học toán chuyển động đều ở lớp 5.

Như chúng ta đã biết, mỗi mảng kiến thức khi truyền tải tới học tròđều có mục tiêu, yêu cầu cần hướng tới rất cụ thể Từ mục tiêu củachương, bài đến mục tiêu cơ bản của từng tiết học, người giáo viên lấy đólàm đích trình độ phát triển chung trong cả lớp phải hướng tới Vậy làmthế nào, cách nào đưa diện các em Chưa hoàn thành bài học lên trình độchung Cùng tiết học đó, có cách nào trong quá trình diễn ra bài giảng đểđưa các em diện Hoàn thành, Hoàn thành tốt đạt những yêu cầu nâng caotrên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản

Trong các giờ học chính khóa, căn cứ vào nội dung theo phân phốichương trình có thể sử dụng một số biện pháp dạy học theo hướng phânhóa đối tượng nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề cho học sinhtrong qua hoạt động giải toán chuyển động đều

Trước khi tiến hành giờ dạy, giáo viên nên tổ chức hoạt động khởiđộng nhằm tạo khí thế mới cho giờ học nhưng điều quan trọng hơn là tạolập nhóm học tập mới Trong mỗi nhóm, trình độ, khả năng tiếp nhậnkiến thức của mỗi trò không đều nhau Việc phân loại khả năng tiếp nhậnkiến thức của mỗi trò, giáo viên đã nắm bắt được nhưng bản thân trò thìkhông nghĩ tới Chính vì vậy giáo viên phải thật khéo léo, linh hoạt đểcác em không hề biết, tránh làm tổn thương tới trẻ Trong suy nghĩ trẻ chỉbiết tiết học này mình lại được ngồi với các bạn khác tiết trước Như vậy

là giáo viên đã tạo được tâm thế tốt, học sinh phấn khởi, hào hứng chotiết học

Tạo được nhóm học tập là hoạt động kế tiếp sau khi giáo viên đã

có trong tay hệ thống bài tập theo các mức độ khác nhau, có bài tập đểđào sâu, nâng cao cho học sinh Hoàn thành tốt, Hoàn thành cùng với hệthống câu hỏi gợi ý, dẫn dắt phù hợp với từng đối tượng học sinh nhưngvẫn dựa trên trình độ phát triển chung, đảm bảo mục tiêu, bám theo yêucầu tiết học

Trong giờ học, khuyến khích học sinh có năng lực tiếp nhận kiếnthức ở mức bình bình hoặc chưa nhanh khi các em muốn trả lời câu hỏi,bày tỏ ý kiến, phân hóa việc giúp đỡ, kiểm tra và đánh giá học sinh Dạyhọc theo hướng phân hóa đối tượng tạo ra phân hóa sự giúp đỡ của giáoviên Ở các tiết học theo hướng này, học sinh tiếp nhận kiến thức ở mức

Trang 14

bỡnh bỡnh hoặc chưa nhanh được giỳp đỡ hơn những học sinh Hoàn thànhtốt.

Học sinh cú khả năng tiếp nhận kiến thức nhanh, khi tham gia hỡnhthức học này sẽ được trải nghiệm thờm nhiều điều mới mẻ Được gợi ýcỏch làm mới ngũai cỏch làm của bản thõn, làm thờm bài tập ở mức caohơn tưởng như khụng liờn quan đến kiến thức nhưng dưới sự khơi gợi củangười thầy, khi vận dụng kiến thức đó biết, kết hợp điều chỉnh suy nghĩkhi gặp khú khăn sẽ tỡm hướng giải quyết Như vậy ta đó tạo cơ hội chohọc sinh phỏt huy hết năng lực giải quyết vấn đề vốn cú của mỗi học sinh

Với hỡnh thức dạy học theo hướng phõn húa đối tượng, việc tỏcđộng qua lại giữa cỏc học sinh thể hiện rừ nột Nú thể hiện ở chỗ, lấyđiểm mạnh của học sinh này điều chỉnh nhận thức cho học sinh khỏc.Học sinh hỗ trợ nhau, tương tỏc, cựng nhau trao đổi giải quyết vấn đề bàitoỏn yờu cầu Khả năng quan sỏt, bao quỏt lớp của người giỏo viờn rấtquan trọng, phải khộo lộo, linh hoạt nhỡn thấy học sinh đang gặp khú khăncần sự giỳp đỡ Hay phỏt hiện được cỏch giải hay đầy sỏng tạo của một sốhọc sinh nhõn đà này cần phải mở rộng hơn nữa cho trũ…

Dạy học theo hướng phõn húa đối tượng sẽ giỳp cho học sinh cúđiều kiện hơn khi nhận xột, đỏnh giỏ bản thõn, đỏnh giỏ bạn sau mỗi giờhọc và phỏt huy hết khả năng của bản thõn khi tham gia giải quyết vấn đề,tỡnh huống trong học tập Giỏo viờn cú nhận xột, đỏnh giỏ cụ thể hơn, sỏtthực tế hơn về khả năng, năng lực cũng như phẩm chất của học sinh vàtạo được nhiều cơ hội cho học sinh phỏt huy khả năng sỏng tạo của bảnthõn

Vớ dụ: Tiết 130-Bài: Vận tốc

Căn cứ vào mục tiờu bài học: Giỳp HS có biểu tợng về khái niệm

vận tốc, đơn vị vận tốc Biết tính vận tốc của một chuyển động đều Đõy

là cỏc khỏi niệm hoàn toàn mới mẻ với học sinh lớp 5 giai đoạn này Trờnthực tế những kiến thức xoay quanh vấn đề đang diễn ra trong cuộc sốnghằng ngày của chớnh cỏc em, cỏc em đó được làm quen chỉ khỏc là chưađược gọi thành tờn, thành khỏi niệm Vậy làm như thế nào để huy độnghết vốn hiểu biết đú là điều mà người thầy cần suy nghĩ để đưa ra tỡnhhuống cú vấn đề, đưa học sinh đi từ thực tế, từ những kiến thức đơn giảnnhằm gõy hứng thỳ, tạo nhu cầu tũ mũ tỡm hiểu cho học trũ

Với bài dạy này việc sử dụng đồ dựng dạy học đối với 2 bài toỏn ởphần bài mới rất quan trọng để học sinh biết trong cựng một đơn vị thờigian, cỏc chuyển động khỏc nhau thường đi được độ dài quóng đườngkhỏc nhau Việc ứng dụng cụng nghệ thụng tin ở phần này bản thõn tụithấy là rất cần thiết Những điều học sinh quan sỏt thấykết hợp với sự dẫndắt của giỏo viờn tất cả cỏc em sẽ hiểu được “ Độ dài quóng đường màchuyển động đi được trong một đơn vị thời gian chớnh là vận tốc” Để họcsinh hiểu sõu hơn, giỏo viờn nờn cho học trũ lấy vớ dụ thực tế của một vàichuyển động để so sỏnh vận tốc giữa cỏc chuyển động với nhau

Trang 15

Từ đú mục tiờu chung cả lớp cần đạt được là có biểu tợng về khái

niệm vận tốc, đơn vị vận tốc Biết tính vận tốc của một chuyển động đều,

thụng qua việc giải 3 bài tập

Nhúm 1: Giải được 3 bài tập

Bài 1/ trang 139 : Một người đi xe mỏy trong 3 giờ đi được 105km Tớnh vận tốc của người đi xe mỏy.

Đõy là bài toỏn mức 1(cơ bản) nờn tất cả học sinh chỉ ỏp dụng đỳngcụng thức là ra kết quả

Thao tỏc mỗi học sinh thường tự suy nghĩ khi tham gia giải quyếtvấn đề ở đõy là:

Bước 1: Tỡm hiểu, khỏm phỏ vấn đề: học sinh đọc đề toỏn và phõntớch bài toỏn:

? Bài toỏn cho biết gỡ? (Một người đi xe mỏy trong 3 giờ đi được105km)

? Bài toỏn hỏi gỡ?( Tớnh vận tốc của người đi xe mỏy).

? Để tỡm được vận tốc ta làm như thế nào hay ỏp ụng kiến thức nào

để làm bài ( HS phõn tớch được tỡnh huống cụ thể, phỏt hiện được tỡnhhuống cú vấn đề, chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khỏc)

Bước 2: Thiết lập khụng gian vấn đề: lựa chọn, sắp xếp, thụng tinvới kiến thức đó học Xỏc định thụng tin, biết tỡm hiểu cỏc thụng tin cúliờn quan, từ đú xỏc định cỏch thức, quy trỡnh, chiến lược giải quyết vàthống nhất cỏch hành động

Muốn tỡm vận tốc của người đi xe mỏy(tức là quóng đường trungbỡnh người đú đi được trong 1 giờ) ta lấy quóng đường người đú đi đượcchia cho thời gian người đú đó đi

Bước 3: Lập kế hoạch và thực hiện giải phỏp:

+ Lập kế hoạch: thiết lập tiến trỡnh thực hiện (thu thập dữ liệu,thảo luận, xin ý kiến, giải quyết cỏc mục tiờu…), thời điểm giải quyếttừng mục tiờu

+ Thực hiện kế hoạch: thực hiện và trỡnh bày giải phỏp, điều chỉnh

kế hoạch để phự hợp với thực tiễn và khụng gian vấn đề khi cú sự thayđổi

Bước 4: Đỏnh giỏ và phản ỏnh giải phỏp: Thực hiện và đỏnh giỏgiải phỏp giải quyết vấn đề Suy ngẫm về cỏch thức và tiến trỡnh giảiquyết vấn đề Điều chỉnh và vận dụng trong tỡnh huống mới, xỏc nhậnnhững kiến thức và kinh nghiệm thu được Đề xuất giải phỏp cho nhữngvấn đề tương tự

Học sinh ở mức hoàn thành tốt sẽ đọc đề bài và tự phõn tớch đề đểlàm bài

Với học sinh tiếp thu bài chưa nhanh, khả năng tự giải quyết vấn đề cũnhạn chế , giỏo viờn cú hệ thống cõu hỏi dẫn dắt như:

? Bài toỏn cho biết gỡ, bài toỏn hỏi gỡ?

? Hóy toỏm tắt bài toỏn?

Trang 16

? Muốn tìm vận tốc của người đi xe máy em làm thế nào?

Bài giải:

Vận tốc của người đi xe máy là:

105 : 3 = 35 (km/giờ)Đáp số: 35 km/giờ

Bài 2/ trang 139: Một máy bay bay được 1800km trong 2,5 giờ Tính vận tốc của máy bay.

Đây là bài toán mức 1(cơ bản) nên tất cả học sinh chỉ áp dụng đúngcông thức là ra kết quả Tuy nhiên đòi hỏi học sinh kĩ năng tính toán, chiacho số thập phân

Bài giải:

Vận tốc của máy bay là:

1080 : 2,5 = 720 (km/giờ)Đáp số: 720 km/giờ

Bài 3/ trang 139: Một người chạy được 400 m trong 1 phút 20 giây Tính vận tốc chạy của người đó với đơn vị đo là m/giây.

Đây là bài toán mức 2 nên có học sinh bắt đầu lúng túng áp dụngcông thức khi làm bài Đòi hỏi học sinh kĩ năng giải quyết vấn đề caohơn, để giải được bài toán phải có thêm bước chuyển đổi đơn vị đo thờigian

Bài giải:

Đổi: 1 phút 20 giây = 80 giây

Vận tốc chạy của người đó là:

400 : 80 = 5 (m/giây)Đáp số: 5 m/giây

Sự linh hoạt của giáo viên khi dạy phân hóa đối tượng lúc này thểhiện ở cách tổ chức chữa bài cho học sinh Với những bài cơ bản như trênnên để cho học sinh chia sẻ bài làm của mỗi cá nhân trong nhóm, để ýnhanh và bao quát tất cả lớp nhưng chú ý tới những em hằng ngày làmchưa tốt Có thể gọi em ở mức hoàn thành ( những em chưa nhanh) pháthuy năng lực giải quyết vấn đề của bản thân, có cơ hội báo cáo bài củamình cho cả lớp, tạo niềm vui có thêm động lực cho chính các em đó Với những học sinh này, giáo viên có thể dùng hệ thống câu hỏi nhỏ

để khai thác mức độ thông hiểu của học sinh Như:

? Để tìm được vận tốc của xe máy, em đã làm thế nào?

? Em vận dụng kiến thức nào để giải bài này?

Nhóm 2: Giải được 3 bài tập trong SGK và làm thêm một số bài:

Ở tiết học này, với học sinh tiếp thu nhanh, kĩ năng tính toán tốt thìthời gian để giải quyết 3 bài toán này rất đơn giản với các em nên giáoviên phải chuẩn bị thêm các bài tập ở mức độ tăng dần cho các em

Ví dụ: Bài tập làm thêm: Một người đi xe máy trong 1 giờ 30 phút đi được 45 km Tính vận tốc của người đi xe máy.

Bài giải:

Trang 17

Cách trình bày 1:

Đổi: 1 giờ 30 phút = 1,5 giờVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45 : 1,5 = 30 (km/giờ)Đáp số: 30 km/giờ

Cách trình bày 2:

Đổi: 1 giờ 30 phút = 90 phútVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45 : 90 = 0,5 (km/phút)Đáp số: 0,5 km/phút

Cách trình bày 3:

Đổi: 1 giờ 30 phút = 90 phútVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45 : 90 = 21 (km/phút)Đáp số: 21 km/phút

Cách trình bày 4:

Đổi: 1 giờ 30 phút = 90 phút

45km = 45000mVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45000 : 90 = 500 (m/phút)Đáp số: 500 m/phút

Tuy nhiên, cũng có học sinh sẽ làm

Đổi: 1 giờ 30 phút = 1,3 giờVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45 : 1,3 = 34,63333 (km/giờ)Đáp số: 34,63333 km/giờ

Hay:

Đổi: 1 giờ 30 phút = 1,3 giờVận tốc chạy của người đi xe máy là:

45 : 1,3 = 45013 (km/giờ)Đáp số: 45013 km/giờ

Giáo viên có thể dùng câu hỏi để trao đổi với học trò sau khi các em

tự giải quyết:

? Để tìm ra kết quả bài toán, em đã làm qua các bước nào?

? Tại sao phải có bước đổi đơn vị đo thời gian?

? Ai có cách làm khác?

? Nhận xét bài làm của các bạn?

? Cho biết lí do bạn làm sai bài?

Trang 18

? Theo em cách nào trình bày ngắn gọn nhất?

Quá trình quan sát, nhận xét là học sinh đã thể hiện vốn kiến thức cơbản đã học, đã biết để lập luận trao đổi trước lớp, tranh luận cách làm, chỉ

ra cái được và cái chưa được, đúng là thứ nào, sai là do đâu như vậybạn chưa đúng sẽ nhìn ra khâu mình sai lầm, vì sao mình sai, và sửa lạinhư thế nào cho đúng Đây là hình thức giáo viên thường làm, bởi trongmột lớp học không phải nhận thức của các em đều như nhau tạo môitrường cho các em thể hiện bản thân, phát huy hết khả năng, năng lực củabản thân, có thể đúng ngay nhưng cũng có thể chưa đúng nhưng cái quantrọng sau đó là học sinh vui vẻ tiếp nhận cái đúng, cái hay mình cần nắmbắt, học tập bạn

Khi đã dự kiến hết sai lầm học sinh có thể mắc phải khi giải quyếtbài trên thì giáo viên chuẩn bị nội dung bài tập tiếp theo liên qua đến việcchuyển đổi đơn vị đo thời gian

Ví dụ: Bài tập làm thêm: Điền vào chỗ chấm

Nhóm 3: Giải được 3 bài tập trong SGK, làm thêm 2 bài trên và bài sau:

Ví dụ: Bài tập làm thêm: Nối mỗi ý ở cột A với kết quả tương ứng ở cột B:

1 Một người đi xe đạp trong 3 giờ đi được

45km Vận tốc của người đi xe đạp là: a 800km/giờ

2 Một máy bay bay được 1200km trong 1,5

3 Một người đi xe máy trong 1 giờ 30 phút đi

được 45 km Vận tốc của người đi xe máy là: c 30 km/giờNhư vậy, trong thời lượng tiết học, giáo viên đã xây dựng đượcchuẩn lượng kiến thức, kĩ năng, phát huy khả năng giải quyết vấn đề cho

Trang 19

từng đối tượng học sinh, có câu hỏi khái quát cho học sinh tiếp thu nhanh,tốt; có đường dẫn, câu hỏi nhỏ, chi tiết, cụ thể cho học sinh tiếp nhậnthông tin, kiến thức chưa nhanh Bên cạnh đó là các bài tập phát huy nănglực cho học sinh hoàn thành tốt

- Tổ chức hoạt động học tập ngoại khóa (Bồi dưỡng học sinh năngkhiếu)- học tập chuyên đề “ Câu lạc bộ Toán” theo hướng phân hóa đốitượng nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong quahoạt động giải toán chuyển động đều

Tổ chức các hoạt động ngoại khóa có tác dụng bổ sung, hỗ trợ chodạy học nội khóa (nhằm thu hút những học sinh yêu thích môn Toán, tạohứng thú học tập cho học sinh, bổ sung, đáo sâu hơn, mở rộng hơn kiếnthức học sinh đã được tiếp cận trên lớp tại những giờ học chính khóa, gắnkết giữa lí thuyết với thực tế cuộc sống…) Học sinh tham gia hoạt độngngoại khóa theo hình thức tự nguyện, không bắt buộc Hình thức buổihoạt động ngoại khóa được tổ chức khá đa dạng Có thể là buổi nóichuyện, buổi tham quan, sinh hoạt câu lạc bộ, đọc báo-tạp chí hay giảitoán nhanh…

Mục tiêu hoạt động ngoại khóa môn Toán muốn hướng tới đối vớihọc sinh Hoàn thành tốt nội dung bài học, chương học sẽ được tiếp cậnvới những dạng bài ở mức cao hơn, đòi hỏi học sinh phải đầu tư suy nghĩ,phán đoán, liên tưởng, sáng tạo…bằng chính khả năng, năng lực của bảnthân Với nhóm học sinh chưa hoàn thành bài học; hay mắc lỗi khi làmbài; lúng túng khi gặp bài toán chuyển động…thì buổi hoạt động ngoạikhóa là thời gian giáo viên bù đắp những khiếm khuyết ở dạng bài cơ bản

về giải toán chuyển động đều cho những học trò này Vì vậy việc lựachọn nội dung và hình thức cho một buổi hoạt động ngoại khóa với chủ

đề “ Giải tóan chuyển động đều” là rất quan trọng Chắt lọc nội dung cầncung cấp một cách cô đọng, bài bản thông qua hệ thống bài tập đảm bảo

từ dễ đến khó, tạo hứng thú tới học sinh, đặt học sinh vào tình huống cóvấn đề Việc xây dựng cách cách giải khác nhau và dự kiến những sai lầmhọc trò mắc phải là bước chuẩn bị rất cần thiết của thầy( cô) Thầy (cô) lànhững người luôn giúp đỡ học trò khi gặp khó khăn, bằng những câu hỏidẫn dắt, gợi mở … để học sinh nói ra được suy nghĩ của bản thân, cáchgiải quyết bài toán theo năng lực của bản thân…để từ đó giáo viên xâydựng nội dung theo nhu cầu, theo mong muốn của học sinh

Trong chương trình toán ở tiểu học, đến kì II của lớp 5, học sinh mớiđược làm quen với toán chuyển động đều Toán chuyển động đều củng cốcho học sinh vững hơn các đơn vị đo độ dài và đo thời gian đã học trước

đó mà còn giúp học sinh biết được mối quan hệ giữa ba đại lượng: độ dàiquãng đường đi, thời gian đi và vận tốc của chuyển động Các bài toánchuyển động đều còn giúp học sinh gắn toán với cuộc sống Khi tổ chứchoạt động ngoại khóa về chủ đề giải toán chuyển động đều, giáo viên sau

Trang 20

khi phân loại học sinh theo trình độ, khả năng nhận thức sẽ xây dựng nộidung phù hợp vớ từng nhóm học trò.

Nhắc lại điều cơ bản học sinh cần nắm được khi học toán chuyển động

1 Đơn vị đo độ dài thường dùng: km; m Đổi đơn vị: 1km = 1000m

2 Đơn vị đo thời gian thường dùng: giờ; phút; giây

Đổi đơn vị: 1 giờ = 60 phút;

1 phút = 60 giây

3 Viết số đo thời gian có nhiều đơn vị: khi số đo thời gian của đơn vịnhỏ có giá trị lớn hơn 1 đơn vị lớn thì phải đổi bớt ra đơn vị lớn để số đothời gian của đơn vị nhỏ bé hơn 1 đơn vị lớn

4 Phân biệt số đo thời gian với thời điểm (vì viết giống nhau) trongcác bài toán có lời văn:

Ví dụ: “ Bạn Hà ngủ dậy lúc 6 giờ 30 phút” thì 6 giờ 30 phút làthời điểm Hà ngủ dậy

Hay: “ Bạn Lan ngủ 6 giờ 30 phút” thì 6 giờ 30 phút là số đo thờigian Lan ngủ

5 Các kí hiệu, công thức:

s là độ dài quãng đường đi được

t là thời gian chuyển động (đi )

Nhóm 1: Mức độ nhận biết

Trước hết học sinh cần nhận biết về đơn vị đo thời gian để khôngnhầm với thời điểm của một việc nào đó Học sinh chỉ cần nắm được cáccông thức nếu mối quan hệ của ba đại lượng s; t; v để tính đại lượng chưabiết qua hai đại lượng đã biết Trong đó chưa yêu cầu học sinh phải đổicác đơn vị

Ví dụ 1 Hà ngủ dậy lúc 6 giờ 30 phút và sau đó 30 phút Hà đi đến

trường, Hà đi từ nhà đến trường hết 30 phút Hỏi Hà đến trường lúc nào?

Trang 21

Phân tích:

- “Sau đó 30 phút” và “đi đến trường hết 30 phút” nói đến số đothời gian “Hà đến trường lúc nào?” và “ngủ dậy lúc 6 giờ 30 phút” là nóiđến thời điểm

Bài giải

Hà đến trường lúc:

6 giờ 30 phút + 30 phút + 30 phút = 7 giờ 30 phút

Đáp số: 7 giờ 30 phútVới học sinh nhận thức chưa nhanh, giáo viên có thể phân tích từng bước,từng thời điểm trung gian để học sinh làm từng bước nhỏ như sau:

Hà đến bắt đầu đi từ nhà đến trường: 6 giờ 30 phút + 30 phút =

Ví dụ 2 Một xe máy chạy với vận tốc 50km/giờ Hỏi trong 2 giờ ô tô đi

được quãng đường dài bao nhiêu?

Ví dụ 3 Một con chuột túi chạy 20 phút với vận tốc không đổi thì chạy

được quãng đường dài 16,8km Tính vận tốc của con chuột túi

Giải

Ta có t = 20 phút và s = 16,8km nên v = s : t = 16,8km : 20 phút = 0,84km/phútVận tốc của con chuột túi là:

16,8 : 20 = 0,84(km/phút)Đáp số: 0,84km/phút

Nhóm 2: Mức độ thông hiểu ( Ngoài việc nắm bắt 6 nội dung như nhóm 1) cần bổ sung:

1 Học sinh hiểu công thức ở mức biết đổi các đơn vị thống nhất thìmới áp dụng

2 Hiểu ý nghĩa của vận tốc khi so sánh hai chuyển động để biếtchuyển động nào chậm hơn hay nhanh hơn

30 phút

6 giờ 30 phút + 30 phút

Trang 22

3 Hiểu tổng (hiệu) vận tốc của đối tượng đi trên sông có dòng chảykhi đi xuôi (ngược) dòng nước.

Ví dụ 4 Một con đại bàng bay với vận tốc 90km/giờ trong 50 phút Tính

độ dài quãng đường mà đại bàng đã bay qua

Giải

Đổi 1 giờ = 60 phút nên v = 90km/60 phút = 1,5km/phút

Do đó: s = vt = 1,5km/phút50 phút = 75km

Ví dụ 5 Một con thỏ chạy một quãng đường 1,5km hết 2 phút và một

con chuột túi chạy với vận tốc 14m/giây Hỏi con nào chạy nhanh hơn?

Ví dụ 6 Một chiếc ca nô đi từ bến A đến bến B cách nhau 48km Biết

rằng ca nô đi xuôi dòng nước và đi hết 2 giờ Vận tốc ca nô trên đồng hồ

đo là 20km/giờ thì vận tốc dòng nước là bao nhiêu?

Bài toán chuyển động đều ở mức độ này có thể xét:

* Hai đối tượng chuyển động ngược chiều trên đoạn đường AB có

độ dài s: đối tượng chuyển động từ A đến B với vận tốc và đối tượngchuyển động từ B đến A với vận tốc thì thời gian t để hai đối tượnggặp nhau chính là thời gian để tổng độ dài quãng đường đi được của haiđối tượng chính bằng s Yêu cầu đặt ra mở mức độ này chỉ nên là 2 đốitượng cùng xuất phát thì 2 đối tượng gặp nhau khi nào? Học sinh chỉ cầnvận dụng công thức:

Cần chú ý học sinh đổi các đơn vị vận tốc và đơn vị đo độ dài chothống nhất trước khi áp dụng công thức

Trang 23

Ví dụ 7 Hai tỉnh A và B cách nhau 240km Cùng vào lúc 6 giờ 15 phút

có một xe máy đi từ A đến B với vận tốc 32km/giờ và một ô tô đi từ Bđến A với vận tốc 43km/giờ Hỏi sau bao lâu hai xe sẽ gặp nhau?

Hai xe gặp nhau lúc nào (lúc mấy giờ)? Khi đó học sinh thêm phép tính

6 giờ 15 phút + 3 giờ 12 phút = 9 giờ 27 phút

Khi gặp nhau hai xe cách A bao nhiêu km? Khi đó học sinh cần tính độdài quãng đường xe máy đi được: 323,2 = 102,4(km)

* Hai đối tượng chuyển động cùng chiều trên đoạn đường AB có độ dài

s, chẳng hạn từ A đến B, với các vận tốc khác nhau Cóthể đưa ra các yêu cầu:

Cùng xuất phát thì sau thời gian t thì khoảng cách giữa hai đối tượng làbao nhiêu? Khi đó khoảng cách tính theo công thức: k = t(

Đối tượng vận tốc nhỏ chuyển động trước một khoảng thời gian T thì saubao lâu đối tượng vận tốc cao hơn đuổi kịp? Khi đó thời gian để đuổi kịptính theo công thức : 1

2 1

T v t

Ví dụ 8 Một con đà điểu đang chạy với vận tốc 50km/giờ thì bị đại bàng

phát hiện cách đó 1km và đuổi theo với vận tốc 90km/giờ Hỏi sau baolâu thì đại bàng đuổi kịp đà điểu?

Ví dụ 9 Rùa và Thỏ chạy thi Rùa xuất phát trước Thỏ 40 phút và bò với

vận tốc 2m/phút Thỏ đuổi theo với vận tốc 12m/phút Hỏi Thỏ đuổi kịpRùa sao bao nhiêu phút?

Giải

Khi Thỏ bắt đầu chạy thì Rùa đã bò được:

Ngày đăng: 15/04/2020, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w