1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ tranh hấp ph t sinh trong t i trợ thương mại quố tế ằng thư tín dụng tại l ciệt nam

92 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 736 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNSau thời gian tham dự khóa học cao học Tài chính – Ngân hàng tại Trường Đạihọc Ngoại Thương Hà Nội, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô đã giúp tôitrang bị thêm kiến thức và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG THƯ TÍN DỤNG

(L/C) TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

THÁI QUỲNH TRANG

Hà Nội - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Mã số: 83.40.201

Họ và tên học viên: Thái Quỳnh Trang Người hướng dẫn: PGS.TS Đặng Thị Nhàn

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướngdẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thị Nhàn Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong

đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giáđược chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệutham khảo

Tác giả

Thái Quỳnh Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian tham dự khóa học cao học Tài chính – Ngân hàng tại Trường Đạihọc Ngoại Thương Hà Nội, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô đã giúp tôitrang bị thêm kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện luận văn “Các tranh chấp phát sinh trong tài trợ thương mại quốc tế bằng thư tín dụng L/C tại Việt Nam”

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới PGS

TS Đặng Thị Nhàn đã chỉ dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiêncứu đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã hợp tác và chia sẻ những thôngtin, tư liệu hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Đồng thời, tôi cũng xin gửilời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã động viên

và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn

Học viên

Thái Quỳnh Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯ TÍN DỤNG (L/C) VÀ CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG TÀI TRỢ TMQT BẰNG L/C 6

1.1 Khái quát chung về tài trợ thương mại quốc tế 6

1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế 6

1.1.2 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế 7

1.1.3 Các hình thức tài trợ TMQT của Ngân hàng thương mại 8

1.2 Khái quát chung về tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C 11

1.2.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C 11

1.2.2 Các hình thức tài trợ TMQT bằng L/C 16

1.2.3 Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động tài trợ TMQT bằng L/C 21

1.3 Các tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C 25

1.3.1 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người nhập khẩu 25

1.3.2 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người xuất khẩu 27

1.3.3 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của ngân hàng phát hành 28

1.3.4 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của ngân hàng thông báo 29

1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp trong tài trợ TMQT bằng L/C 30

1.4.1 Phương thức thương lượng 30

1.4.2 Phương thức hòa giải 31

1.4.3 Phương thức giải quyết bởi Trọng tài 32

1.4.4 Phương thức giải quyết tại Tòa án 32

1.5 Một số tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C trên thế giới 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG TÀI TRỢ TMQT BẰNG L/C TẠI VIỆT NAM 40

2.1 Thực trạng tài trợ TMQT bằng L/C tại Việt Nam 40

2.2 Phân tích một số tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C tại Việt Nam 43 2.2.1 Tranh chấp phát sinh do Người nhập khẩu vi phạm 43

Trang 6

2.2.2 Tranh chấp phát sinh do Người xuất khẩu vi phạm 45

2.2.3 Tranh chấp phát sinh do Ngân hàng phát hành vi phạm 50

2.2.4 Tranh chấp phát sinh do Ngân hàng thông báo vi phạm 56

2.3 Đánh giá thực trạng tranh chấp tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C tại Việt Nam 57 2.3.1 Đánh giá chung 57

2.3.2 Nguyên nhân phát sinh các tranh chấp trong tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C tại Việt Nam 59

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG TÀI TRỢ TMQT BẰNG L/C TẠI VIỆT NAM 63

3.1 Xu thế phát triển của tài trợ TMQT bằng L/C trên thế giới và Việt Nam 63

3.2 Các biện pháp hạn chế và giải quyết tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C tại Việt Nam 65

3.2.1 Các biện pháp hạn chế tranh chấp phát sinh 65

3.2.2 Các biện pháp giải quyết tranh chấp phát sinh 74

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Doanh số thanh toán quốc tế - tài trợ TMQT 35Bảng 2.2 Cam kết trong nghiệp vụ thư tín dụng 36

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

B/L Bill of Lading (Vận đơn)

International Standard Banking Practice for the Examination of

ISBP Documents Under Documentary Credits

(Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng

từ trong phương thức tín dụng chứng từ)L/C Letter of credit (Thư tín dụng)

TDCT Tín dụng chứng từ

TMCP Thương mại cổ phần

TMQT Thương mại quốc tế

UCP The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits

(Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ)

XNK Xuất nhập khẩu

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây, thương mại quốc tế pháttriển với tốc độ và quy mô lớn chưa từng có Phạm vi các mối quan hệ trao đổi hànghóa được mở rộng, các hình thức giao dịch ngày càng đa dạng và phong phú Đểthực hiện hợp đồng, tài trợ TMQT là một khâu then chốt trong quá trình mua bángiữa các bên Trong các phương thức tài trợ TMQT, phương thức tài trợ bằng thư tíndụng L/C chiếm vị trí quan trọng hàng đầu

Tuy nhiên, trong thực tế, tranh chấp trong tài trợ TMQT thường xuyên xảy ra.Các tranh chấp này phát sinh từ nhiều nguyên nhân phức tạp khác nhau bao gồm kỹthuật áp dụng phức tạp, nhiều nguồn luật điều chỉnh,…Do đó, các bên trong hợpđồng cần hết sức chú ý trong từng nghiệp vụ cụ thể, nghiên cứu kỹ đối tác, ký kếtcác điều khoản hợp đồng chặt chẽ, đúng luật, trung thực và trách nhiệm trong thựchiện nghĩa vụ đã cam kết để hạn chế tối đa các tranh chấp có thể phát sinh

Khi có tranh chấp xảy ra, các bên phải tìm các biện pháp hòa giải, thươnglượng trên tinh thần hợp tác, thiện chí để tránh lãng phí tiền bạc của các chủ thểtrong giao dịch Quá trình giải quyết tranh chấp đòi hỏi các bên phải tuân thủ mộtcác triệt để các nội dung quy định trong các văn bản pháp lý quốc gia và quốc tếđược tham chiếu

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, thương mại quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đốivới mỗi quốc gia Mở rộng thương mại không chỉ đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận,phát huy lợi thế so sánh mà còn là cách tốt nhất để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh

tế Những năm gần đây, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam đã mở rộngquan hệ buôn bán với nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước công nghiệpphát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong khối Liên minh Châu Âu – EU.Góp phần vào sự phát triển đó là sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng Cácngân hàng thương mại đóng vai trò cầu nối quan trọng trong thanh toán xuất nhậpkhẩu, trong việc hỗ trợ cấp tín dụng cho doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ chấtlượng cao cho các đối tác nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại Các ngânhàng thương mại Việt Nam cũng không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợthương mại quốc tế, đa dạng các hình thức tài trợ như chiếu khấu chứng từ, bảolãnh, tái bảo lãnh, tài trợ trên cơ sở nhờ thu Trong đó, hình thức tài trợ bằng thưtín dụng vẫn là nghiệp vụ cơ bản, phục vụ đắc lực cho hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu

Tuy nhiên, tín dụng chứng từ không phải là một nghiệp vụ đơn giản, đòi hỏi

kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, quy trình thực hiện liên quan đến nhiều bêntham gia, yêu cầu chặt chẽ về bộ chứng từ phù hợp, có nhiều nguồn luật điều chỉnh

mà các bên tham gia lại không nắm rõ được về các văn bản pháp lý quốc gia vàthông lệ quốc tế, từ đó dẫn đến nhiều vụ tranh chấp trong tài trợ thương mại quốc tếbằng L/C Khi tranh chấp xảy ra, các bên tham gia vào hợp đồng đều mong muốntìm cách giải quyết hiệu quả và có lợi cho mình nhất Nhưng không phải lúc nào cácbên cũng tìm được tiếng nói chung để giải quyết bằng hòa giải, thương lượng, nhiều

vụ việc phải đưa ra Trọng tài hoặc Tòa án để phân xử, thời gian giải quyết kéo dài,tác động đến hoạt động kinh doanh của các bên, kết cục quyền lợi của các bên đều

bị ảnh hưởng Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu đề tài: “ tranh hấp

ph t sinh trong t i trợ thương mại quố tế ằng thư tín dụng tạ

i iệt Nam”

là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cao

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất giải pháp nhằm hạn chế và giảiquyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C trên cơ sởphân tích một số vụ việc tranh chấp xảy ra thực tế Để đạt được mục đích này, cácmục tiêu cụ thể được đặt ra là:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tài trợ TMQT bằng thư tín dụng, các tranhchấp thường phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C, nguyên nhân và cách giảiquyết tranh chấp phát sinh

- Tìm hiểu thực trạng tài trợ TMQT tại một số ngân hàng thương mại ở ViệtNam hiện nay và phân tích phán quyết của Trọng tài/ Tòa án của một số vụ việctranh chấp xảy ra trong thực tế tại Việt Nam

- Đề xuất biện pháp nhằm hạn chế và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng thư tín dụng

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay đề tài thư tín dụng nói chung và tài trợ thương mại quốc tế bằngL/C nói riêng thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả cả trên thếgiới và tại Việt Nam, bên cạnh các bài viết, bài phân tích trên các tạp chí, có thể kể

ra ở đây một số công trình nghiên cứu sau:

- “Risk Analysis of Letter of Credi – Based on Priciples of Independence and Strict Compliance”, Yan Hao, Sichuan University of Science and Engineering,

2013 Dựa trên UCP500 và UCP600, đề tài phân tích hai nguyên tắc cơ bản của thưtín dụng, vấn đề về rủi ro và giả mạo chứng từ Từ đó, tác giả tổng hợp các rủi ro

mà các bên tham gia vào hoạt động thanh toán bằng L/C có thể gặp phải, không chỉngười xuất khẩu mà cả người nhập khẩu và ngân hàng

- “Approaches to Resolving the International Documentary Letters of Credit Fraud Issue”, Yanan Zhang, Social Sciences and Business Studies, 2011 Đề tài tiếp

cận vấn đề gian lận và giả mạo chứng từ trong L/C cả về mặt luật pháp và kinh tế

Về mặt luật pháp, tác giả phân tích các quy định liên quan đến L/C trong luật Anh

và Trung Quốc, đồng thời đánh giá phương thức giải quyết tranh chấp bằng

Trang 12

Tòa án, Trọng tài và các phương thức khác Về khía cạnh kinh tế, đề tài đề xuất các biện pháp để người mua, người bán và ngân hàng có thể hạn chế tranh chấp xảy ra.

- “Collected DOCDEX Decisions 2013-2016”, Gary Collyer & Dave Meynell.

Tác giả tổng hợp 30 phán quyết của Trọng tài, phân tích các ý kiến của chuyên gia

về vụ việc gây tranh chấp, đồng thời tham chiếu chéo đến các điều khoản của ICC

- “Các tranh chấp thường phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng L/C và cách giải quyết”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS TS Nguyễn Thị

Quy, 2002, Trường Đại học Ngoại thương Trong đề tài này, tác giả đã phân tíchcác tranh chấp và cách giải quyết các tranh chấp đó trong thanh toán bằng L/C tạiViệt Nam, rút ra các kết luận chủ yếu giúp cho các doanh nghiệp và các ngân hàngthương mại Việt Nam tham khảo vận dụng khi có tranh chấp xảy ra

- “Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn thạc sĩ của Cao Xuân Quảng, 2008, Khoa luật Đại

học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu bản chất của thư tín dụng, thực tiễn cáctranh chấp phát sinh phổ biến từ đó đề ra phương hướng về việc xây dựng một vănbản có tính pháp lý cao điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ ngành Luật Kinh tế của

Đặng Thị Phương Thủy, 2012 Tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận và hệ thốngvăn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, phân tích cáctranh chấp phổ biến, từ đó chứng minh sự cần thiết và đưa ra các kiến nghị trongviệc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng, các kiến nghịnhằm tăng cường tính hiệu quả của các phương thức giải quyết tranh chấp

Trang 13

- “Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam”,

Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Lan Anh, 2018, Trường Đại học Luật,Đại học Huế Tác giả tìm hiểu về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tàithương mại, từ đó làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp tronghợp đồng thương mại, đồng thời chỉ ra những hạn chế và đề xuất kiến nghị nhằmphát triển hơn nữa phương thức này ở Việt Nam

Các đề tài trên đã đóng góp những kết luận khoa học có giá trị trong quá trìnhtìm hiểu phương thức thanh toán bằng thư tín dụng L/C, tuy nhiên chưa tiếp cậndưới góc độ tín dụng chứng từ là một hình thức tài trợ thương mại quốc tế Vì thế,tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu của mình là hoàn toàn cần thiết, phù hợp với xuthế chung và không có sự trùng lặp trong quá trình nghiên cứu so với những đề tàikhác đã được đưa ra cho tới thời điểm hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các tranh chấp phát sinh trong tàitrợ thương mại quốc tế bằng L/C, đặc biệt là những tranh chấp liên quan đến nghĩa

vụ, trách nhiệm của các bên khi tham gia vào giao dịch

Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn chủ yếu ở các tranh chấp điển hìnhxảy ra giữa một bên là các doanh nghiệp hoặc ngân hàng Việt Nam và một bên làcác doanh nghiệp hoặc ngân hàng phía nước ngoài liên quan đến các thương vụ muabán hàng hóa quốc tế, cách thức có thể áp dụng để giải quyết các loại tranh chấpnày Các vụ việc được phân tích có phán quyết cuối cùng của Trọng tài hoặc Tòa ántrong thời gian từ năm 2015 đến nay, liên quan đến các ngân hàng: Ngân hàngTMCP Quân Đội, Ngân hàng TMCP Đông Á, Ngân hàng TMCP Ngoại ThươngViệt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, những phương pháp được

sử dụng trong luận văn này bao gồm: phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu,phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh – đối chiếu

Trang 14

Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn là nguồn dữ liệu thứ cấp được thuthập từ nhiều nguồn như sách, các bài báo chuyên ngành về tài chính ngân hàng,báo cáo thường niên của một số ngân hàng thương mại,

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, danh mục các từ viết tắt,danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương nhưsau:

Chương 1: Lý luận chung về thư tín dụng (L/C) và các tranh chấp phát sinhtrong tài trợ TMQT bằng L/C

Chương 2: Thực trạng tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng thư tíndụng (L/C) tại Việt Nam

Chương 3: Các biện pháp nhằm hạn chế và giải quyết tranh chấp phát sinhtrong tài trợ TMQT bằng L/C

Trang 15

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯ TÍN DỤNG (L/C) VÀ CÁC TRANH

CHẤP PHÁT SINH TRONG TÀI TRỢ TMQT BẰNG L/C

1.1 Khái quát chung về tài trợ thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử và ngày càng chiếm mộtvai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày Ngày nay, các nước đều tham gia vàohoạt động thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước đều có lợi ích từ hoạt động này thôngqua việc chuyên môn hóa sản xuất theo cách phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất

Theo nghĩa hẹp, thương mại quốc tế được hiểu là việc một người bán ở quốc gia này cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho một người mua ở một quốc gia khác

(Nguyễn Thị Quy, 2012) Hiểu theo nghĩa rộng hơn, theo điều 3.1, Luật Thương mạiViệt Nam năm 2015, ngoài trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ thì khái niệm thươngmại quốc tế còn mở rộng thêm các hoạt động đầu tư, xúc tiến thương mại và cáchoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận trên phạm vi quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng phát triển mạnh mẽ củathương mại quốc tế đã tạo môi trường cạnh tranh gay gắt khiến các quốc gia bằngcách này hay cách khác đều phải thực hiện các biện pháp hỗ trợ thương mại quốc tếphát triển Đồng thời, các doanh nghiệp và ngân hàng cũng có nhu cầu tham gia sâurộng vào thương mại quốc tế Chính vì thế, tài trợ thương mại quốc tế là một tất yếukhách quan góp phần cho thương mại quốc tế phát triển trong xu thế hội nhập kinh

Trang 16

Như vậy, tài trợ thương mại quốc tế là một khái niệm rất rộng, nó không chỉ đềcập đến việc sử dụng các hình thức tài trợ hữu hình như cấp vốn (Financing), tíndụng (Credit) hoặc cho vay (Loan) để bổ sung trực tiếp nguồn lực tài chính, mà cònthông qua việc sử dụng các chính sách, biện pháp kinh tế hoặc các hình thức tài trợ

vô hình khác nhằm tạo ra các điều kiện tài chính và cơ hội kinh doanh có lợi chocác doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế nhằm mục đích sinh lợi

1.1.2 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế

1.1.2.1 Căn cứ vào phương tiện tài trợ

- Tài trợ tài chính: Đây là hình thức tài trợ bằng tiền, chiếm tỷ trọng lớn trongtổng tài trợ thương mại quốc tế Người tài trợ dùng vốn huy động của mình để tàitrợ cho khách hàng trong thời hạn thỏa thuận

- Tài trợ bằng hàng hóa, dịch vụ của người cung ứng tài trợ: người cung ứngtài trợ loại này không phải là các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng, mà làcác nhà sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ hoạt động trong thương mại quốc

tế, thường bao gồm bán chịu trả chậm bằng hối phiếu kỳ hạn, cho thuê tài chính,hàng đổi hàng…

- Tài trợ bằng “chữ tín” của người tài trợ: người tài trợ mang toàn bộ địa vị, uytín và thương hiệu của mình đứng ra cam kết thanh toán hay cam kết bồi thường chongười thụ hưởng, nếu người nhận tài trợ không hoàn thành nghĩa vụ quy định trongthư tín dụng, thư bảo lãnh

- Tài trợ bằng dịch vụ tài chính và ngân hàng: các tổ chức trung gian tài chínhđược ủy thác thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán quốc tế, hối đoái, ký gửi và bảo quản tiền tệ, séc, thẻ ngân hàng, hối phiếu và các chứng từ có giá khác

1.1.2.2 Căn cứ vào người cung ứng tài trợ

- Tài trợ của Chính phủ: đây là hình thức tài trợ gián tiếp thông qua ngân hàngtrung ương, các tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan củachính phủ dưới các hình thức bảo lãnh, tái chiết khấu,… hoặc thông qua việc banhành các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ

Trang 17

- Tài trợ của Ngân hàng Trung ương: Ngân hàng trung ương tài trợ trực tiếpcho các trung gian tài chính thông các nghiệp vụ như tái chiết khấu, tái cấp vốnđồng thời tài trợ gián tiếp cho mọi chủ thể của nền kinh tế thông qua việc thực hiện các chính sách tài chính - tiền tệ.

- Tài trợ của các trung gian tài chính (chủ yếu là các ngân hàng thương mại):Đây là hình thức tài trợ phổ biến nhất trên thế giới Đặc trưng của hình thức tài trợnày là tài trợ thông qua việc mua lại các chứng từ, hối phiếu, và các hình thức chovay xuất nhập khẩu

- Tài trợ của bản thân người mua/người bán: đây là nguồn tài trợ được thựchiện thông qua việc mua bán chịu hàng hóa và dịch vụ Các công cụ thường được sửdụng là hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ hoặc ứng trước…

Như vậy, nguồn vốn tài trợ thương mại quốc tế là rất đa dạng Tuy nhiên, giớihạn về nội dung của luận văn chỉ xin tìm hiểu về các hình thức tài trợ thương mạiquốc tế của các ngân hàng thương mại (NHTM)

1.1.3 Các hình thức tài trợ TMQT của Ngân h ng thương mại

Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ phức tạp Với tư cách làtrung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạtđộng xuất nhập khẩu diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận lợi cho cá nhân và nhàxuất khẩu, nhập khẩu Dựa trên tiêu chí ta có thế chia tài trợ thương mại quốc tế củacác NHTM thành các hình thức sau:

1.1.3.1 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Trang 18

nào để được NH chấp nhận: dễ được định giá; dễ cho NH quyền được sở hữu hợp pháp; và dễ tiêu thụ.

- Tài trợ không có bảo đảm

Đây là hình thức NH tài trợ mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặcbảo lãnh của một người thứ ba Cơ sở để cho vay chỉ dựa vào uy tín, quy mô, hiệuquả kinh doanh, hiệu quả của phương án và có quan hệ truyền thống với NH

1.1.3.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay

- Tín dụng ngắn hạn

Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sửdụng cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các đơn vị,chiếm tỉ trọng lớn tại ngân hàng, cho vay để nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máymóc thiết bị, để thu mua chế biến hàng xuất khẩu…

-Tín dụng trung và dài hạn

Thời hạn của tín dụng trung và dài hạn tùy theo quy định của mỗi nước, ở ViệtNam tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1-5 năm, tín dụng dài hạn từ 5 năm trở nên.Hình thức này được cung cấp để đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cảitạo mở rộng, khôi phục, cải tiến thiết bị

1.1.3.3 Căn cứ vào phương thức thanh toán

- Tài trợ theo phương thức thanh toán Nhờ thu

NH nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà NK Nếu nhà NK không đủkhả năng thanh toán, thì cần phải có sự tài trợ của NH cho vay thanh toán hàngNK

Nhờ thu đi trong thanh toán hàng XK: trên cơ sở phương thức thanh toán

Nhờ thu, NH có thể tài trợ cho nhà XK thông qua hình thức chiết khấu bộ chứng

từ Nhờ thu Ở đây, nhà XK xuất trình bộ chứng từ nhờ thu cho NH của mình,nhưng thay vì lập một chỉ thị nhờ thu, anh ta sẽ lập một yêu cầu tài trợ chiết khấu.Nội dung văn bản yêu cầu trợ chiết khấu là trao quyền để NH của nhà XK xử lí bộchứng từ nhờ thu theo bất kì cách thức nào thích hợp nhằm đảm bảo

Trang 19

được thanh toán Về thực chất, khi thực hiện chiết khấu, NH đã mua lại hối phiếu

và bộ chứng từ nhờ thu của nhà XK và do đó sẽ tiến hành thu tiền hàng theo danhtính của NH Thông thường, NH tài trợ sẽ thanh toán cho nhà XK toàn bộ giá trịcủa bộ chứng từ nhờ thu với điều kiện có truy đòi Tiếp theo, NH sẽ gửi bộ chứng

từ này để thu nợ tiền hàng từ nhà NK thông qua NH thu hộ

- Tài trợ theo phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

Hiện nay, phương thức TDCT không chỉ được xem là một dạng thức tài trợTMQT an toàn chặt chẽ nhất, mà còn là một phương thức tài trợ đảm bảo uy tín của

NH dành cho các DN XNK Chính vì vậy mà hình thức tài trợ trên cơ sở phươngthức thanh toán TDCT ngày càng trở nên phổ biến

- Một số hình thức tài trợ thương mại quốc tế khác

Tín dụng thuê mua

Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó người chothuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng Ngườithuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê và khi kết thúcthời hạn họ có thể có được quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được mua lại tài sản thuêhay là được quyền thuê tiếp

Tài trợ bảo lãnh và tái bảo lãnh

Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm được khả năng tàichính để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu Do vậy, nhà xuất khẩu

sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là ngân hàng thương mạiđứng ra bảo lãnh thanh toán Ngược lại, do không biết rõ hoặc không tin tưởngnhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnhgiao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng Trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh

là đảm bảo đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợp người xin bảo lãnhkhông thực hiện đủ nghiệp vụ nào đó với bên nước ngoài

Bao thanh toán

Hai hình thức bao thanh toán phổ biến hiện nay là Factoring và Forfaiting

Trang 20

Theo định nghĩa của Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế: “Hợpđồng Factoring (Factoring contract) là hợp đồng giữa đơn vị bán và đơn vị baothanh toán (Factors), theo đó người bán có thể hoặc sẽ chuyển nhượng cho các đơn

vị bao thanh toán các phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa/ dịch vụgiữa người bán và người mua hàng Đơn vị bao thanh toán phải thực hiện ít nhất haitrong bốn chức năng sau: (i) Tài trợ cho bên bán, bao gồm các khoản vay và thanhtoán trước, (ii) Quản lý các tài khoản liên quan tới các khoản phải thu, (iii) thu hộcác khoản phải thu, (iv) Bảo hiểm rủi ro không thanh toán của con nợ

So với Factoring, Forfaiting ít được áp dụng hơn Forfaiting là loại tín dụngtrung hạn và dài hạn mà một NHTM hoặc một công ty tài chính ứng trước khônghoàn lại cho nhà xuất khẩu một tỷ lệ % nhất định so với tổng giá trị hóa đơn để dànhlấy quyền đòi lại tiền từ người nhập khẩu và chịu mọi rủi ro mà người nhập khẩukhông thanh toán được nếu có xảy ra Các Forfaiter chỉ cấp tín dụng này cho ngườixuất khẩu khi người nhập khẩu của anh ta đã được một ngân hàng bảo lãnh (ĐinhXuân Trình, 2006)

Forfaiting còn được xem là bao thanh toán tuyệt đối, để phân biệt vớiFactoring là bao thanh toán tương đối

1.2 Khái quát chung về tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C

1.2.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế bằng L/C

1.2.1.1 Khái niệm thư tín dụng (L/C)

Theo quy định tại Điều 16 Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN của Thống đốcNgân hàng Nhà nước ngày 26/3/2002 về việc ban hành Quy chế thanh toán qua các

tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: “Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điềukiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (ngườixin mở thư tín dụng), theo đó ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch

vụ thanh toán để:

- Trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của ngườithụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thưtín dụng; hoặc

Trang 21

- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền theo lệnhcủa người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộchứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng”.

Đây là định nghĩa trực tiếp về thư tín dụng duy nhất trong hệ thống pháp luậtViệt Nam, đã phản ánh được bản chất của thư tín dụng là cam kết bằng văn bản củangân hàng, được phát hành theo lệnh của người mua cho người bán hưởng và thểhiện được hai phương thức thanh toán là trả ngay và trả chậm

Theo UCP 600 của Phòng Thương Mại Quốc Tế (2007), “Tín dụng là bất cứ một thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy

bỏ và theo đó là một sự cam kết rõ ràng của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp”.

Như vậy, ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thịcủa khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) hoặc đại diện cho chính bản thânmình :

- Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát; hoặc

- Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu

; hoặc

- Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng

1.2.1.2 Đặc điểm của thư tín dụng L/C

a) Mối quan hệ giữa Thư tín dụng và các hợp đồng trong thanh toán bằng L/CTài trợ TMQT thông qua hình thức sử dụng L/C có nhiều loại hợp đồng được

ký kết, bao gồm hợp đồng điều chỉnh mối quan hệ, trách nhiệm trong phạm vi giữahai bên đối tác với nhau, hoặc hợp đồng mà nội dung của nó là cơ sở để phát sinhmột nghĩa vụ, trách nhiệm trong một hợp đồng khác, cụ thể:

(1) Hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu: Ngoàinhững điều kiện chủ yếu của một hợp đồng mua bán thông thường, người bán và

Trang 22

người mua, đồng thời phải thỏa thuận về điều kiện thanh toán Nếu hai bên thỏathuận phương thức thanh toán bằng L/C thì hợp đồng mua bán phải chứa đựng cácnội dung khung (cơ sở để phát sinh một quan hệ thứ 2) để cho L/C ra đời.

(2) Hợp đồng giữa người nhập khẩu trong nước và ngân hàng phát hành:Dựa trên nội dung của hợp đồng mua bán, người mua viết đơn yêu cầu mở thư tíndụng và gửi đến cho ngân hàng phát hành Ở quy trình này, ngân hàng thương mại

có thể thực hiện tài trợ cho người nhập khẩu bằng hình thức cấp tín dụng ký quỹ mởL/C cho người nhập khẩu sau khi chấp nhận yêu cầu mở L/C của người mua gửiđến Mức độ tài trợ của ngân hàng đối với người nhập khẩu phụ thuộc vào mối quan

hệ của hai bên, đặc biệt là độ tin cậy về khả năng tài chính của người nhập khẩutrong việc hoàn trả tín dụng về sau khi hợp đồng đáo hạn

(3) Thư tín dụng: Dựa theo đơn xin mở thư tín dụng của người mua gửitới, ngân hàng phát hành sẽ phát hành một cam kết trả tiền cho người hưởng lợi thưtín dụng khi người này hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và lập chứng từ thanh toánphù hợp với các quy định trong thư tín dụng

Ngoài các hợp đồng chính là cơ sở để tạo lập nên mối quan hệ trong tài trợtheo phương thức tín dụng chứng từ nói trên, còn một số các hợp đồng khác cũngđược tiến hành đồng thời như: hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, hợp đồng tài trợ ứngtiền hàng, hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng chuyên chở, hợp đồng bảo hiểm, bảo lãnhnhận hàng, hợp đồng xác nhận thư tín dụng…

b) Giao dịch dựa vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa thực tế

Trong phương thức tín dụng chứng từ, chứng từ xuất trình là căn cứ duy nhất

để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người được hưởng lợi,đồng thời cũng là căn cứ duy nhất cho người mua hoàn trả hay từ chối hoàn trả tiềncho ngân hàng

c) Các chủ thể liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

- Người xin mở thư tín dụng (The applicant, The importer, The Buyer,

Accountee)

Trang 23

Các đối tượng xin mở thư tín dụng có thể là người mua hàng hóa, nhà nhậpkhẩu hay người trả tiền Theo điều 2 - UCP 600, người yêu cầu mở L/C là bên màtheo yêu cầu của bên đó, tín dụng thư được phát hành.

- Người thụ hưởng (The Beneficiary, The Seller, The Exporter)

Người thụ hưởng có thể là người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kỳ dongười thụ hưởng chỉ định, nói cách khác người thụ hưởng dùng L/C này để trả chocác khoản nợ đến từ những người ký phát hối phiếu (Drawer)

Theo điều 2 UCP 600, người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của bên đó,một tín dụng được phát hành

- Ngân hàng mở thư tín dụng (The Opening Bank, The Issuing Bank)

Các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mở thư tín dụng theo yêu cầu của nhà nhậpkhẩu và đồng thời cũng cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu

Ngân hàng mở thư tín dụng hay còn gọi tắt là ngân hàng phát hành được địnhnghĩa theo điều 2 UCP 600 như sau: là ngân hàng theo yêu cầu của đơn xin mở L/Choặc nhân danh chính mình phát hành một tín dụng

- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank)

Ngân hàng thông báo thư tín dụng được định nghĩa trong UCP 600 là ngânhàng tiến hành thông báo tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành

Các ngân hàng này sẽ chịu trách nhiệm thông báo cho người hưởng thụ biếtkhi nào thư tín dụng đã được chuyển đến

Trong quá trình thực hiện thanh toán thông qua phương thức tín dụng chứng từhay xảy ra những tình huống cần có sự tham gia của ngân hàng khác nhằm giảm,tránh những rủi ro cho người thụ hưởng hoặc thực hiện những nghiệp vụ khác vềthanh toán, chuyển nhượng hay chiết khấu L/C theo yêu cầu của các bên tham gianói trên Cụ thể:

- Ngân hàng xác nhận (The Confirming Bank)

Trang 24

Ngân hàng xác nhận là ngân hàng sẽ thanh toán cho người thụ hưởng thayngân hàng mở thư tín dụng trong trường hợp ngân hàng này không thể thanh toánđược L/C Thông thường, ngân hàng xác nhận sẽ là ngân hàng thông báo hay ngânhàng lớn có uy tín trên thị trường quốc tế.

Theo điều 2 - UCP 600, ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo yêu cầu hoặctheo yêu cầu của ngân hàng phát hành thực hiện xác nhận cam kết thanh toán củamình đối với một tín dụng

- Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank)

Ngân hàng thanh toán là ngân hàng được chỉ định thanh toán cho người thụhưởng khi được ngân hàng phát hành chỉ định có thể là ngân hàng thông báo hoặcngân hàng khác

- Ngân hàng chấp nhận (The Accepting Bank)

Ngân hàng chấp nhận sẽ thay mặt ngân hàng mở L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu kỳ hạn

- Ngân hàng chiết khấu (The Negotiating Bank)

Ngân hàng chiết khấu thực hiện chiết khấu bộ chứng từ tín dụng, có thể là ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng khác

- Ngân hàng được chỉ định (The Nominated Bank)

Ngân hàng được chỉ định là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền đểthanh toán, thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả chậm, ký chấp nhận lên hối phiếu vàthanh toán vào ngày đáo hạn, hoặc chiết khấu thư tín dụng

- Ngân hàng bồi hoàn (The Reimbursing Bank)

Ngân hàng bồi hoàn là ngân hàng hoàn trả lại số tiền mà ngân hàng thanh toán

đã trả cho người thụ hưởng, có thể là ngân hàng mở L/C, ngân hàng chỉ định hay đại

lý của các ngân hàng

- Ngân hàng chuyển nhượng (The transferring Bank)

Trang 25

Ngân hàng chuyển nhượng là ngân hàng được phép chuyển nhượng giá trị L/Cđược quy định trong L/C chuyển nhượng.

1.2.2 Các hình thức tài trợ TMQT bằng L/C

1.2.2.1 Tài trợ Nhập khẩu

a) Tài trợ phát hành L/C

Đối với nhà NK, mở L/C được xem là hình thức tài trợ đặc trưng nhất của

NH trong phương thức thanh toán TDCT, bởi vì bất kỳ thương vụ nào có sử dụngphương thức thanh toán TDCT thì đều cần đến hình thức tài trợ phát hành L/C của

NH Trách nhiệm của NH phát hành L/C là rất lớn, vì vậy NH luôn yêu cầu kháchhàng có một tỷ lệ ký quỹ nhất định được xác định trên cơ sở uy tín của kháchhàng, loại L/C, loại hàng hoá nhập… Tỷ lệ ký quỹ có thể từ 0-100% Khi NH yêucầu khách hàng ký quỹ 100% nghĩa là NH chỉ đồng ý tài trợ cho khách hàng vềmặt uy tín Ngược lại, khi tỷ lệ ký quỹ là nhỏ hơn 100% thì nghĩa là NH đã tài trợcho khách hàng cả về uy tín lẫn tài chính Bên cạnh việc cho phép tỷ lệ ký quỹdưới 100%, NH còn có các biện pháp tài trợ về mặt tài chính khác cho người NKtrong nghiệp vụ mở L/C

b) Tài trợ theo hạn mức TDCT

NH căn cứ vào kế hoạch NK của khách hàng để cấp cho khách hàng hạnmức tín dụng và cho phép khách hàng được mở L/C (thường là L/C trả ngay)trong khuôn khổ hạn mức đó Loại hình đảm bảo tín dụng thường áp dụng là chính

lô hàng NK hoặc một tỷ lệ ký quỹ nhất định theo hạn mức được duyệt hoặc theogiá trị L/C phát hành

c) Cho vay ký quỹ

Trong trường hợp nhà NK đủ điều kiện phát hành L/C nhưng không có đủvốn để thực hiện ký quỹ thì có thể yêu cầu NH cho vay ký quỹ L/C NH sẽ căn cứvào uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ và tài sản đảm bảo để quyếtđịnh có cho vay ký quỹ hay không Hình thức này không những giúp giải quyếtkhó khăn về vốn lưu động cho nhà NK, mà còn tăng tính an toàn và mang lại hiệu

Trang 26

quả cho NH, đồng thời đảm bảo tuân thủ những quy định pháp lý của NH về kýquỹ.

d) Tài trợ xác nhận L/C

Trong thực tế cũng có những trường hợp người XK không tin tưởng về uytín toán của NH phát hành, hoặc lo ngại về rủi ro quốc gia của nhà NK và NH pháthành, khi ấy, họ có thể yêu cầu có thêm một cam kết thanh toán của một NH khác(thường là một NH có uy tín cao ở nước của nhà XK), có hiệu lực pháp lý tươngđương với cam kết thanh toán của NH phát hành L/C Cam kết thanh toán thứ hainày được biểu hiện qua nghiệp vụ tài trợ xác nhận L/C của NH ở nước người XK.Thực chất tài trợ xác nhận L/C là một nghiệp vụ bảo lãnh cho uy tín thanhtoán của NH phát hành, hay sâu xa hơn là uy tín của nhà NK Theo đó, NH xácnhận đã đảm nhận trước nhà XK tất cả các rủi ro liên quan đến uy tín và khả năngthanh toán của nhà NK, của NH phát hành và cả rủi ro quốc gia NK

e) Tài trợ thanh toán bằng L/C

- Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập

Theo hình thức này, để được tài trợ thì nhà NK phải có kế hoạch kinh doanhkhả thi, xác định rõ tại thời điểm thanh toán dự kiến số tiền thiếu hụt cần tài trợ làbao nhiêu vì thông thường NH không bao giờ cho vay toàn bộ giá trị của L/C đểtrả nợ Trên cơ sở xem xét, phân tích kế hoạch và phương án của khách hàng, NH

sẽ quyết định tài trợ và xác định mức NH chấp nhận tài trợ Tất cả các công đoạnnày phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người XK về đến NHđứng ra tài trợ Nếu bộ chứng từ đã về rồi nhà NK mới xin tài trợ thanh toán thìkhả năng bị NH từ chối tài trợ là rất lớn, vì NH có rất ít thời gian xem xét bộchứng từ cũng như đánh giá khả năng thu hồi vốn của khách hàng cho khoản tiền

mà NH tài trợ

- Cho vay bắt buộc

Về nội dung hình thức này cũng giống như cho vay thanh toán bộ chứng từhàng nhập Tuy nhiên, tình trạng cho vay bắt buộc phát sinh khi người NK khôngthanh toán hoặc không đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng NH khi đó sẽ

Trang 27

cho vay trên giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho NH nướcngoài Nhà NK nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịulãi suất vay cho khoản tiền này tương ứng lãi suất vay quá hạn Hơn nữa, thời gianvay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày NH trả thay, áp lực thanh toán

nợ vay cho NH vì vậy sẽ rất lớn

f) Bảo lãnh cho hoạt động nhập khẩu sử dụng phương thức thanh toán TDCT - Bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm

Việc NH mở L/C trả chậm NK phải tuân theo một số quy định như: hàng hoáphải phù hợp với chính sách XNK hàng năm của Nhà nước liên quan đến vay vàtrả nợ nước ngoài, số dư L/C trả chậm ngắn hạn (dưới 1 năm và phải nằm tronghạn mức), ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối đa là ba lần giữa số dư cho vay và bảolãnh vay ngắn hạn nước ngoài trên vốn tự có của NH và NH không có nợ quá hạnphát sinh từ nghiệp vụ mở L/C trả chậm, việc trích lập quỹ bảo lãnh theo quy địnhhiện hành về bảo lãnh và tái bảo lãnh

- Bảo lãnh bằng cách chấp nhận hối phiếu theo L/C

Chấp nhận hối phiếu là hành vi cam kết trả tiền của người có nghĩa vụ trảtiền khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán Hành vi pháp lý này được thể hiệnbằng chữ ký của người đó ở mặt trước, góc trái của hối phiếu

Hình thức tài trợ này thực chất chỉ là một sự đảm bảo về mặt tài chính của

NH chứ NH chưa phải xuất tiền ngay cho người thụ hưởng Chỉ trong trường hợphối phiếu đến hạn mà người NK không thực hiện nghĩa vụ của mình thì NH -người chấp nhận hối phiếu mới phải trả tiền thay cho người NK Trong phươngthức thanh toán TDCT, nếu L/C quy định hối phiếu loại trả chậm thì nó phải được

ký chấp nhận bởi NH phát hành

- Bảo lãnh nhận hàng

Bảo lãnh nhận hàng là một hình thức tài trợ của NH nhằm giúp người NK cóthể lấy được hàng Bảo lãnh nhận hàng áp dụng trong trường hợp hàng hoá đếntrước bộ chứng từ, đặc biệt là khi chưa có vận đơn gốc Khi đó, nếu không

Trang 28

có sự can thiệp của NH, người NK chắc chắn sẽ không có quyền nhận hàng hoá.Hàng hoá sẽ phải để ở cảng trong một thời gian nhất định, có thể bị giảm phẩmchất hoặc ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của nhà NK, hơn nữa lạiphải chịu chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn Để tránh tình trạng này, nhà NK sẽ yêucầu NH phát hành một cam kết (thay cho vận đơn) gọi là bảo lãnh nhận hàng.Người NK sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng cho công ty vận tải để tới cảng nhậnhàng.

1.2.2.2 Tài trợ xuất khẩu

a) Tài trợ trước khi giao hàng

- Cho vay sản xuất hàng xuất khẩu

Giai đoạn chuẩn bị hàng xuất bao gồm: thu mua nguyên vật liệu, gia công,chế biến nguyên vật liệu thành sản phẩm Với những giá trị hợp đồng lớn, thờigian tạo thành sản phẩm dài, người XK thường không đủ vốn lưu động để chuẩn

bị toàn bộ lô hàng XK vì vốn nằm gọn trong cả ba khâu Do vậy, người XK phảinhờ vào sự tài trợ của NH Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp

NH tài trợ vừa là NH thanh toán cho L/C xuất, nhà XK xuất trình bộ chứng từ vàđược thanh toán tại NH Để giám sát và kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốnvay đúng mục đích, thông thường NH thực hiện tài trợ như sau:

Khi cho vay NH thường yêu cầu nhà XK phải có một số vốn nhất định cộngthêm với số tiền vay NH để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuất hàng XK Thôngthường NH chỉ tài trợ khoảng 70% giá trị lô hàng XK Sau khi giao hàng xong nhà

XK lập bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong L/C nộp vào NH để xinthanh toán tiền Trên hối phiếu đòi tiền nợ thì NH sẽ là người hưởng lợi trực tiếptrên hối phiếu NH kiểm tra bộ chứng từ nếu phù hợp sẽ chuyển ra nước ngoài đòitiền NH mở L/C Khi nhận được điện chuyển tiền từ NH nước ngoài, NH thôngbáo ghi có trên tài khoản cho vay để thu nợ

- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Do trong TMQT rủi ro ngày càng lớn cho nên bảo lãnh ngày càng có vai tròquan trọng Nhà NK không tin cậy hoàn toàn vào khả năng thực hiện hợp đồng

Trang 29

của người XK, họ sẽ nhờ vào bảo lãnh của NH Hình thức này trong NH gọi làbảo lãnh thực hiện hợp đồng Loại bảo lãnh này nhằm phòng chống rủi ro chongười NK trong trường hợp người XK không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng.Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng thay thế cho yêu cầu ký quỹ mà người

NK đề nghị đối với người XK để đảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng Do đógiá trị tối đa của bảo lãnh là tương đương với bồi thường (tính tỷ lệ % trên giá trịhợp đồng, dao động ở mức 10%- 15%) Thông thường hiệu lực của loại bảo lãnhnày chấm dứt khi người được bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ cung ứng của họ.b) Tài trợ sau khi giao hàng

- Tài trợ chiết khấu bộ chứng từ theo L/C

Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà XK sau khi giao hàng xong có thể thươnglượng với NH thực hiện chiết khấu bộ chứng từ Chiết khấu bộ chứng từ XK làhình thức NH tài trợ nhà XK thông qua việc mua lại hoặc cho vay căn cứ vào bộchứng từ hàng xuất Hoạt động này của NH nhằm tài trợ vốn lưu động cho người

XK để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gianchờ người NK nước ngoài thanh toán tiền hàng Số tiền chiết khấu tuỳ thuộc mỗi

NH nhưng thường không quá 90% giá trị L/C xuất và phải nằm trong hạn mức tíndụng Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng) vàchiết khấu có truy đòi (chiết khấu mở) Hiện nay đa số các NH thực hiện chiếtkhấu có truy đòi

- Ứng trước tiền hàng cho nhà XK

Trường hợp bộ chứng từ không đủ điều kiện chiết khấu, có những sai sót mà

NH không đồng ý chiết khấu thì nhà XK có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước tiềnhàng, thông thường tỷ lệ khoảng 50%-60% giá trị hàng xuất NH tiến hành thu nợbằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài để đòi nợ, trong vòng 60 ngày kể từngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được báo Có của NH nước ngoài, NH

sẽ tự động ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi của khách hàng Nếu tài khoản của kháchhàng không đủ số dư thì NH sẽ chuyển số tiền chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ

Trang 30

quá hạn trong vòng 7 ngày làm việc Khi được thanh toán từ phía NH nước ngoài,

sẽ khấu trừ trực tiếp khoản vay cùng với các chi phí khác có liên quan

1.2.3 ăn ản ph p lý điều chỉnh hoạt động tài trợ TMQT bằng L/C

1.2.3.1 Tập quán quốc tế

- Quy tắc và thực hành thống nhất về thư tín dụng

Hiện nay trên thế giới, nội dung pháp lý chủ yếu điều chỉnh về thư tín dụngđược quy định trong “Các quy tắc thực hành thống nhất thư tín dụng” viết tắt làUCP và đây cũng được coi là văn bản quan trọng nhất hiện nay điều chỉnh hoạtđộng thanh toán bằng thư tín dụng Đây là tập hợp các tập quán và thông lệ quốc tếtrong lĩnh vực thư tín dụng, được soạn thảo bởi các nhà thực hành mà chủ yếu làngân hàng dưới sự chủ trì của phòng thương mại quốc tế vào năm 1933 và đã đượcsửa đổi nhiều lần

Với sự đòi hỏi phải có sự hiểu biết thấu đáo và thống nhất trong phạm vi toànthế giới và để tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng và đẩy mạnh giao lưuthương mại quốc tế, giúp cho các công ty, các tập đoàn khác nhau ở các quốc giakhác nhau trong quan hệ buôn bán, thanh toán được dễ dàng, ICC (Phòng thươngmại quốc tế) đã ban hành Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ màbản sửa đổi mới nhất là UCP600 - 2007 Do đó việc áp dụng các quy định của cácquy tắc và thực hành thống nhất thư tín dụng được quyết định bởi các bên tronggiao dịch thương mại và các ngân hàng Tuy nhiên trong một số trường hợp, ngânhàng trung ương của một số nước có thể can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp để các thưtín dụng phải bị điều chỉnh bởi các UCP Ví dụ như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,trong quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm quyết định711/2001/QĐ-NHNN, quy định: “Việc mở L/C trả chậm để nhập khẩu hàng hóaphải đảm bảo phù hợp với:…, quy tắc thực hành thống nhất về thư tín dụng chứng

từ của Phòng Thương mại Quốc tế…”

Ngoài ra, còn có một lưu ý rằng cho dù các quy tắc và thực hành thống nhấtthư tín dụng của phòng thương mại quốc tế có thể đưa ra giải pháp để giải quyếtphần lớn các khó khăn trong lĩnh vực thư tín dụng, các bên vẫn phải quy định luật

Trang 31

áp dụng đối với hợp đồng cơ sở (hợp đồng mua bán) Nếu không, luật quốc gia củangân hàng phát hành và của nơi thực hiện thanh toán thư tín dụng có khuynh hướngđược áp dụng.

Mặc dù UCP là bộ quy tắc được áp dụng rộng rãi ở rất nhiều nước nhưng nócũng không mang tính chất bắt buộc đối với các bên có liên quan mà mang tính chấttùy nghi Chỉ khi trong thư tín dụng có dẫn chiếu áp dụng UCP thì UCP đó mới cógiá trị pháp lý ràng buộc với các bên tham gia vào quan hệ thanh toán đó Bên cạnh

đó các bên có thể thỏa thuận trong thư tín dụng là không thực hiện hoặc thực hiệnkhác đi một số điều mà UCP đã quy định Các bên cũng có thể loại trừ, sửa đổi, bổsung thêm những điều mà hai bên đều thấy cần thiết nhưng UCP lại không dề cập

và quy định đến UCP chỉ áp dụng cho thanh toán quốc tế, không áp dụng cho thanhtoán nội địa Trong trường hợp áp dụng UCP mà có sự xung đột với pháp luật quốcgia thì luật quốc gia có giá trị cao hơn về mặt pháp lý

Các văn bản khác điều chỉnh hoạt động tài trợ TMQT bằng thư tín dụng:

- Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng viết tắt là ISBP Đây là tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế nhằm kiểm tra

chứng từ theo thư tín dụng Văn bản mới nhất là ISBP 745 năm 2013 Thông quaviệc sử dụng văn bản này, người kiểm tra chứng từ có thể thực hiện các công việccủa mình vừa phù hợp với tập quán đang sử dụng trên thế giới Nhờ đó giảm điđáng kể một lượng chứng từ bị từ chối thanh toán do có sự khác biết khi xuất trìnhlần đầu tiên

- Bản phụ chương UCP600 về việc xuất trình chứng từ điện tử Bản diễn giải

số 1.1 năm 2007 (eUCP -2007) bao gồm 12 điều và có một số khác biệt với UCP

- Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa ngân hàng theo thư tín dụng (URR725 - 2008) Đây là quốc tắc được áp dụng cho các giao dịch hoàn trả giữa các

ngân hàng, nhằm ràng buộc các bên tham gia trừ khi có sự thỏa thuận rõ ràng kháctrong Ủy quyền hoàn trả Ngân hàng phát hành L/C có trách nhiệm quy định trongthư tín dụng là: “yêu cầu hoàn trả tuân thủ theo URR725” Trong việc hoàn trả tiền giữa các ngân hàng tuân thủ quy tắc này, ngân hàng hoàn trả hành động theo chỉ thị

Trang 32

hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành Quy tắc này không loại bỏ hoặc thay đổi các điều khoản của UCP.

- Tập quán thư tín dụng dự phòng (ISP98) Tập quán thư tín dụng dự phòng

chỉ áp dụng cho loại thư tín dụng dự phòng và thường áp dụng ở thị trường Mỹ cònUCP thì áp dụng được cho cả thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng

1.2.3.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động tài trợ TMQT bằng thư tín dụng

Thư tín dụng xuất hiện tại Việt Nam trong nền kinh tế từ những năm 50 thế kỷtrước, tuy nhiên phải sau năm 1993 bộ phận pháp luật trong lĩnh vực này mới đượcchú ý xây dựng Trước đó, Việt Nam không có một văn bản pháp lý nào trực tiếpđiều chỉnh các hoạt động liên quan đến thanh toán bằng thư tín dụng Tuy nhiên, saukhi tiến hành mở cửa nền kinh tế, chúng ta đã dần nhận thức được tầm quan trọngcủa hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng, cũng như vai trò của nó đối với lĩnhvực thương mại quốc tế Vì vậy, nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật điềuchỉnh chi tiết hoạt động thanh toán này Có thể đưa ra một số những văn bản phápluật chủ yếu hiện hành như sau:

- Pháp lệnh ngoại hối 2005, Pháp lệnh 06/2013/UBTVQH13 Sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ L/C, thông thường, nếu người thụ hưởngxuất trình được bộ chứng từ phù hợp với Thư tín dụng thì ngân hàng có trách nhiệmchuyển tiền cho người thụ hưởng đó Người thụ hưởng này thông thường là các đốitác nước ngoài, do đó, việc chuyển tiền của ngân hàng phải tuân thủ các quy địnhcủa pháp lệnh ngoại hối và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm góp phần thựchiện chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước

- Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về Về thanh toán không dùng tiền mặt và Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

Nghị định, thông tư này quy định về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm: mở và sử dụng tài khoản thanh toán; dịch vụ thanh toán không dùng

Trang 33

tiền mặt; dịch vụ trung gian thanh toán; tổ chức, quản lý và giám sát các hệ thốngthanh toán Trong thông tư 46/2014/TT-NHNN có nêu: Việc cung ứng dịch vụ thanhtoán quốc tế của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được thực hiện theo quyđịnh của pháp luật về quản lý ngoại hối, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam là thành viên và theo tập quán thương mại quy định tại khoản 4,Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng được các bên thỏa thuận áp dụng.

- Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/3/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy

tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và Thông tư số 21/2016/TT-THNN ngày 30/6/2016 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2013/TT-NHNN

Thông tư này quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy

tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với kháchhàng Các công cụ chuyển nhượng bao gồm: a) Hối phiếu đòi nợ; b) Hối phiếu nhậnnợ; c) Séc; d) Các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy địnhcủa pháp luật Các loại giấy tờ có giá khác bao gồm: a) Tín phiếu Ngân hàng Nhànước; b) Trái phiếu Chính phủ; c) Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; d) Tráiphiếu Chính quyền địa phương; đ) Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu

do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành theo quy định củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam; e) Kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu do tổ chức khácphát hành và được chiết khấu theo quy định của pháp luật hiện hành

Hiện tại, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào quy định cụthể, chi tiết về các phương thức tài trợ thương mại quốc tế nói chung và phươngthức tài trợ bằng thư tín dụng nói riêng Do đó, việc ban hành một văn bản pháp luậtriêng để điều chỉnh hoạt động thanh toán L/C là sẽ tạo nên một hành lang pháp lý, là

cơ sơ quan trọng để các bên áp dụng và thực hiện

- Mối quan hệ giữa tập quán quốc tế và luật quốc gia Việt Nam

Trong trường hợp giữa tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam có sự khác biệtthì pháp luật Việt Nam chiếm ưu thế và phải được tuân thủ.ản Quan điểm này thể

Trang 34

hiện rõ trong tài liệu ICC số xuất bản 511 (1993): “’Do được dẫn chiếu áp dụng vàothư tín dụng, UCP chi phối giao dịch thư tín dụng là cơ bản nhưng không phải làduy nhất Tòa án và trọng tài thường vận dụng UCP bởi nó là một tuyển tập cácthông lệ và tập quán về thư tín dụng được phổ biến và thông dụng nhất trên toàn thếgiới Nó được hiểu như là một văn bản đạt được sự hoàn hảo gần với một bộ luậtquốc tế Tuy nhiên, sự áp dụng UCP và thư tín dụng không ngăn cản việc tòa án ápdụng pháp luật quốc gia … Quan điểm của ICC là UCP không thể thay đổi đượcluật quốc gia Những tranh chấp (nếu có) tốt nhất là để tòa án xem xét và giảiquyết”.

1.3 Các tranh chấp phát sinh trong tài trợ TMQT bằng L/C

Trong thương mại quốc tế nói chung và hoạt động tài trợ TMQT nói riêng, cácbên trong hợp đồng thường ở các quốc gia có vị trí địa lý cách xa nhau, thiếu cácthông tin cần thiết khi tìm hiểu về đối tác, việc am hiểu luật lệ, tập quán buôn báncủa mỗi nước lại hạn chế Do vậy, các tranh chấp xảy ra là điều khó tránh khỏi.Tranh chấp trong tài trợ TMQT theo phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) xảy ra

do những bất trắc ngoài ý muốn có thể gây thiệt hại và làm giảm uy tín đối với cácbên tham gia giao dịch bằng L/C như: Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C

và các ngân hàng tham gia

1.3.1 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người nhập khẩu

Sau khi ký kết hợp đồng mua bán, nhiệm vụ của người nhập khẩu là dựa vàocác nội dung khung đã thoả thuận trong hợp đồng để viết yêu cầu mở L/C Các lỗi

mà người nhập khẩu thường gặp, đó là:

Thứ nhất, khi ký hợp đồng xong, người mua, có thể vì một lý do nào đó màkhông mở L/C hoặc mở L/C chậm so với thời hạn quy định trong hợp đồng muabán Mở L/C chậm là việc người mua mở L/C sau khi thời hạn mở L/C quy địnhtrong hợp đồng đã chấm dứt Như vậy, nếu hợp đồng quy định một thời hạn cụ thểcho việc mở L/C thì rất dễ xác định thế nào là mở L/C chậm Tuy nhiên, trong thựctiễn, có trường hợp hợp đồng không quy định hoặc quy định không rõ ràng về thờihạn mở thư tín dụng, dẫn đến tranh chấp về việc người mua có mở L/C chậm hay

Trang 35

không? Mặt khác, có những hợp đồng chỉ quy định các hình thức trách nhiệm khikhông thực hiện hợp đồng, còn việc chậm mở L/C không phải là không thực hiệnhợp đồng mà là thực hiện không đúng những nghĩa vụ quy định trong hợp đồng Vìvậy, phải có chế tài riêng để giải quyết và chế tài đó phải được quy định rõ tronghợp đồng.

Thứ hai, trong nhiều trường hợp, người mua đưa vào L/C một số nội dungkhác với hợp đồng mua bán Nguyên nhân thì có nhiều, song nguyên nhân chínhvẫn là do năng lực đàm phán của một số doanh nghiệp còn hạn chế, trình độ tiếngAnh chưa tốt, hiểu sai hoặc hiểu không hết các điều khoản trong hợp đồng mẫu,tranh chấp phát sinh khi người mua phát hiện ra khâu ký kết hợp đồng chưa chặtchẽ, có nhiều kẽ hở Nếu tiếp tục thực hiện mở L/C đồng nghĩa với việc chấp nhậnhợp đồng không hiệu quả Ðể đối phó với thực trạng nói trên, nhiều doanh nghiệpViệt Nam đã cố ý thoái thác trách nhiệm – không mở L/C theo như nội dung củahợp đồng đã ký kết, và tranh chấp phát sinh là điều không thể tránh khỏi

Thứ ba, cũng có trường hợp, người mua yêu cầu ngân hàng phát hành ngừngtrả tiền hàng cho người hưởng lợi mà thiếu một cơ sở pháp lý cần thiết

Về mặt nguyên tắc, người mua không được quyền can thiệp vào quá trìnhthanh toán của ngân hàng phát hành cho người hưởng lợi Nhưng cũng có trườnghợp, người bán không giao hàng hoặc giao hàng kém chất lượng nhưng vẫn lậpđược bộ chứng từ phù hợp với L/C Nếu ngân hàng không phát hiện được hành vilừa đảo nói trên thì ngân hàng vẫn phải trả tiền cho người bán, do ngân hàng chỉ xử

lý bộ chứng từ mà không cần quan tâm đến tình trạng thực tế của hàng hoá Cam kếttrả tiền của ngân hàng là một cam kết chỉ dựa vào chứng từ và sự phù hợp chứng từvới thư tín dụng, nó độc lập hoàn toàn với các quan hệ thương mại khác Ðây chính

là một vấn đề mà cho đến nay UCP 600 vẫn chưa đưa ra được một chế tài xử lý phùhợp Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, trong thực tế, người mua vẫn có quyềnđình chỉ việc trả tiền của ngân hàng Muốn vậy, người mua phải có các bằng chứng

về sự lừa đảo để làm căn cứ viết đơn yêu cầu toà án ra lệnh cho ngân hàng đình chỉtrả tiền hoặc kiện ngân hàng để ngăn cản việc trả tiền đó Trong

Trang 36

trường hợp này, ngân hàng sẽ phải chấp nhận lệnh của toà án, vì UCP vẫn chỉ là vănbản pháp lý áp dụng dưới luật quốc gia và luật quốc tế.

1.3.2 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người xuất khẩu

Khi tham gia vào phương thức tài trợ thương mại quốc tế bằng thư tín dụng,người bán thường vi phạm các lỗi như:

Thứ nhất, lập các chứng từ thanh toán không phù hợp với các quy định trongL/C Trong giao dịch bằng thư tín dụng, Ðiều 5, UCP 600 đã nêu rõ: “Các ngânhàng giao dịch bằng các chứng từ và không giao dịch bằng hàng hoá, dịch vụ hoặccác thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan” Việc lập và xuất trình một bộchứng từ phù hợp đòi tiền ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận L/C lànghĩa vụ cơ bản của người hưởng lợi Nếu vì một lý do khách quan hay chủ quannào đó mà người hưởng lợi không xuất trình được một bộ chứng từ đòi tiền phù hợpthì quyền lợi của chính bản thân người hưởng lợi, ngân hàng trả tiền, ngân hàngchiết khấu sẽ bị ảnh hưởng

Thứ hai, do người bán không thể tạo lập được các chứng từ phù hợp do ngườimua khống chế Trong thực tế, có thể do sức ép của thị trường, cũng có thể donghiệp vụ non kém mà người bán đã chấp nhận một L/C trong đó yêu cầu một haymột số loại chứng từ do người mua hoặc thay mặt người mua cấp Chính vì vậy, khingười mua không có thiện chí hoặc không thể cung cấp các chứng từ do phía mìnhcung cấp thì người bán không thể lập được bộ chứng từ phù hợp với L/C và khôngthể nhận được tiền hàng, từ đó tranh chấp phát sinh

Theo UCP 600, khi đàm phán ký kết hợp đồng, người mua và người bán tự dothoả thuận các loại chứng từ yêu cầu xuất trình Trường hợp này rõ ràng người bán

đã tự chuốc lấy rủi ro khi đồng ý chấp nhận một thư tín dụng yêu cầu một loạichứng từ do người mua hoặc thay mặt người mua cấp Việc yêu cầu loại chứng từnào trong bộ chứng từ đòi tiền thường được quy định trong hợp đồng mua bán Xảy

ra thiếu đảm bảo an toàn thanh toán là do hợp đồng mua bán, quan hệ thương mạigiữa các thương nhân chứ không phải là thiếu sót của hệ thống thanh toán tín dụngchứng từ

Trang 37

Thứ ba, người bán có hành vi gian lận thương mại, lập một bộ chứng từ phùhợp với L/C nhưng đó là bộ chứng từ giả mạo Trên thực tế, người bán không giaohàng hoặc giao hàng giả nhưng với mục đích lừa đảo anh ta vẫn lập chứng từ giả đểđòi tiền ngân hàng phát hành Như vậy, ở đây, người bán vừa vi phạm nghĩa vụ giaohàng vừa vi phạm nghĩa vụ giao chứng từ giả mạo Trường hợp này thường xảy rakhi người mua không nắm rõ đối tác nên đã gặp phải các công ty lừa đảo Nếukhông phát hiện được hành vi lừa đảo, không có chứng cớ rõ ràng thì ngân hàng vẫnphải trả tiền và không chịu trách nhiệm gì Vì vậy, người mua lúc này chỉ có mộtcách duy nhất để ngăn chặn việc trả tiền của ngân hàng là cung cấp các bằng chứng

về sự lừa đảo cho toà án để xin lệnh đình chỉ thanh toán Tuy nhiên, biện pháp nàychỉ có kết quả khi ngân hàng chưa kịp thanh toán cho người bán Nếu ngân hàng đãthanh toán rồi thì người mua chỉ có thể khiếu nại hoặc kiện người bán ra toà án haytrọng tài nhờ phân xử Nhiều trường hợp toà án không thể xử được vì phía đối tác làcông ty “ma” hoặc sau khi lấy được tiền hàng đã tuyên bố phá sản, do đó người muaphải gánh chịu thiệt hại Vì vậy, cách giải quyết tốt nhất là người mua luôn phải xemxét, nghiên cứu kỹ đối tác trước khi ký kết hợp đồng và can thiệp kịp thời khi pháthiện các dấu hiệu lừa đảo

1.3.3 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của ngân hàng phát hành

Trong tài trợ TMQT bằng L/C, các ngân hàng tham gia vào phương thức nàyvới tư cách là một bên độc lập, có trách nhiệm đảm bảo cho việc thanh toán diễn ratheo đúng quy định Việc vi phạm trách nhiệm của ngân hàng phát hành có thể xảy

ra trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, ngân hàng không mở LC đúng như yêu cầu trong đơn xin mở L/C.Nếu ngân hàng phát hành L/C thiếu một số chứng từ như chứng nhận chất lượng, sốlượng… có thể làm cho người mua không nhận được đủ hàng hóa hoặc nhận hànghóa kém chất lượng Hoặc có thể việc thiếu chứng từ làm cho hàng hóa không đượcphép nhập cảnh chẳng hạn thiếu chứng nhận kiểm dịch mà Hải quan yêu cầu thìngân hàng rõ ràng phải bồi thường cho người mua các chi phí đã bỏ ra Cũng cótrường hợp, ngân hàng chậm trễ trong việc mở L/C làm cho người mua bị người bánquy kết chậm mở L/C mà việc chậm trễ này ảnh hưởng đến việc giao hàng của

Trang 38

người bán, gây cho người bán các chi phí phát sinh như phí lưu kho, lưu bãi, phạtchờ tàu…

Thứ hai, ngân hàng không phát hiện được những sai biệt (Discrepancies) củachứng từ hoặc không thông báo hết những sai biệt UCP 600 (2007) quy địnsx2wh:ngân hàng phải kiểm tra tất cả các chứng từ được quy định trong thư tín dụng vớimột sự cẩn thận hợp lý để xác định các chứng từ trên bề mặt của chúng là phù hợpvới các điều kiện của thư tín dụng Trường hợp, ngân hàng không thông báo hết cácsai biệt, khiến người mua đồng ý thanh toán cho người bán, có thể dẫn đến việc sau

đó người mua không nhận được hàng, hoặc nhận hàng kém chất lượng Do đó, nếuNgân hàng kiểm tra chứng từ không cẩn thận, không phát hiện hết các sai biệt củachứng từ so với L/C hoặc không thông báo hết sai biệt đó thì có thể xảy ra tranhchấp

Thứ ba, ngân hàng không cầm giữ chứng từ chờ định đoạt của người bán.Trường hợp chứng từ không phù hợp ngân hàng phát hành làm thông báo từ chốithanh toán và nói rõ là ngân hàng đang cầm giữ chứng từ chờ định đoạt của ngườibán Khi đó, nếu bộ chứng từ bị thất thoát, hoặc vẫn giao chứng từ cho người mua,làm cho người mua có cơ hội nhận hàng và từ chối chứng từ, từ đó gây thiệt hại chongười bán

Thứ tư, ngân hàng vi phạm thời gian kiểm tra chứng từ theo UCP600 UCP600quy định ngân hàng xác nhận sẽ có một thời gian hợp lý là không quá ngày làm việctiếp theo ngày nhận chứng từ để kiểm tra chứng từ và quyết định việc có trả tiền haykhông Tranh chấp có thể phát sinh nếu ngân hàng kiểm tra chứng từ vượt quá thờihạn quy định Khi đó, dù bộ chứng từ có lỗi, ngân hàng cũng có thể mất quyền từchối thanh toán

1.3.4 Tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của ngân hàng thông báo

Ngân hàng thông báo là ngân hàng phục vụ người hưởng lợi, người XK trongL/C Ngân hàng này có trách nhiệm thông báo L/C và các sửa đổi của thư tín dụngtới người XK Ngân hàng thông báo có thể rơi vào các tranh chấp sau:

Thứ nhất, ngân hàng thông báo một L/C thiếu tính chân thật bên ngoài Tranhchấp phát sinh trong trường hợp ngân hàng thông báo nhận được một L/C không có

Trang 39

Test hoặc có Test nhưng không giải mã được nhưng vẫn thông báo cho người XK,khiến người XK nghĩ rằng L/C có hiệu lực nên tiến hành giao hàng Hoặc là tranhchấp cũng có thể phát sinh khi ngân hàng thông báo một sửa đổi L/C nhận được từngười XK chứ không phải từ ngân hàng phát hành, khiến cho người bán lập bộchứng từ không phù hợp với các điều kiện của L/C gốc, từ đó dẫn đến việc khôngnhận được thanh toán.

Thứ hai, ngân hàng thông báo thực hiện không đúng các chỉ dẫn của ngânhàng phát hành L/C Nhiều trường hợp, ngân hàng phát hành ủy quyền cho ngânhàng thông báo trả tiền, chấp nhận trả tiền xác nhận L/C hoặc chiết khấu bộ chứng

từ của người XK khi bộ chứng từ phù hợp với các quy định của L/C Tranh chấpxảy ra khi ngân hàng thông báo không thực hiện đúng theo ủy quyền và mất quyềnđòi lại số tiền đã thanh toán Nhiều trường hợp, quan điểm về bộ chứng từ phù hợpcủa ngân hàng thông báo và ngân hàng phát hành không giống nhau gây ra tranhchấp

L/C

Khi có tranh chấp các bên thường tìm đến các phương thức giải quyết tranhchấp khác nhau để giải tỏa xung đột, bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích, tạo lập lại sựcân bằng mà các bên có thể chấp nhận được Có nhiều phương thức giải quyết tranhchấp Thực tiễn và khoa học pháp lý ghi nhận bốn phương thức giải quyết tranhchấp sau: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án

1.4.1 Phương thứ thương lượng

“Thương lượng là việc bàn bạc nhằm đi đến thỏa thuận giải quyết một vấn đềnào đó giữa các bên“ Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không chínhthức, không có sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước hay bên thứ ba nào.Thương lượng thể hiện quyền tự do thỏa thuận và tự do định đoạt của các bên Phầnlớn các điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng các bên đều quy định việcgiải quyết tranh chấp bằng thương lượng khi có sự vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó,Điều 329 Luật Thương mại có quy định: “Tranh chấp thương mại trước hết phải

Trang 40

được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên” Tuy nhiên, đây được hiểu làđiều luật mang tính tùy nghi, không được hiểu là một quy định bắt buộc.

Ưu điểm:

– Không đòi hòi thủ tục phức tạp;

– Không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý ngặt nghèo;

– Hạn chế tối đa chi phí;

– Ít phương hại đến mối quan hệ giữa các bên;

– Giữ được bí mật kinh doanh

Nhược điểm: Đòi hỏi các bên đều phải có thiện chí, trung thực với tinh thầnhợp tác cao, nếu không, việc thương lượng sẽ thất bại và lại phải theo một phươngthức khác để giải quyết

1.4.2 Phương thức hòa giải

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xãhội loài người trên nhiều lĩnh vực, chứ không riêng đặc trưng gì với tranh chấp Hợpđồng Hòa giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thốngnhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án

đã thỏa thuận qua hòa giải

Các ưu điểm của giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế trong thực tế bằngphương thức hòa giải:

– Là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém.– Các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không gây ratình trạng đối đầu giữa các bên, vì vậy duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa cácbên

– Các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và sử dụng chứng

từ đó giữ được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên

– Hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện

Ngày đăng: 15/04/2020, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w