Thông thường đối với doanh nghiệp kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì sẽ được hoàn thuế khi có số thuế đầu vào không thuộc diện phải nộp lớn hơn số thuế đầu r
Trang 1KIỂM TRA MÔN: LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ BÀI: Đề 5: Tìm hiểu quy định pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay (thực trạng quy định, thực trạng thi hành và kiến nghị hoàn thiện)
Bài làm
Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu dùng, về bản chất là thuế gián thu, thuế này đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức và cá nhân Chủ thể bán hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế, còn người tiêu dùng là người chịu thuế
Vì hạn chế của việc đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nước dưới hình thức thuế doanh thu là đánh thuế vào hàng hóa lưu chuyển qua các khâu dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng ở các khâu nên thuế doanh thu được thay thế bằng thuế giá trị gia tăng Luật thuế giá trị gia tăng được Quốc hội ban hành năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một số diều năm 2003, 2005 Năm 2008 Luật thuế giá trị gia tăng mới được ban hành thay thế luật cũ Sau đó năm 2013 được Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm khắc phục những bất cập trên thực tiễn
1. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH
Luật thuế giá trị gia tăng là luật nội dung quy định về chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế Đây là
cơ sở để xác định số thuế phải nôp của người nộp thuế
Hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại số thuế giá trị gia tăng mà người nộp thuế
đã nộp khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định Hoàn thuế là nghĩa vụ của cơ quan thuế, đồng thời là quyền của người nộp thuế Hoàn thuế được thực hiện nhằm bảo đảm tính liên hoàn và trung lập của thuế giá trị gia tăng Thông thường hàng hóa luân chuyển qua các khâu không bị đánh thuế mà chỉ bị đánh thuế khi hàng hóa chuyển sang cho người tiêu dùng Cụ thế gồm: (1)trong các giai đoạn từ khai thác , sản xuất, lưu thông mà hàng hóa chưa được chuyển giao cho người tiêu dùng thì các khoản thuế giá trị gia tăng đã nộp sẽ được khấu trừ hoặc hoàn thuế, (2) hàng hóa xuất khẩu
Trang 2Trong quan hệ giữa khấu trừ thuế và hoàn thuế, hoàn thuế là hệ quả tiếp theo của khấu trừ thuế, người nộp thuế khi chưa được khấu trừ hết sẽ được hoàn thuế Quyền được khấu trừ thuế là cơ sở để thực hiện quyền yêu cầu hoàn thuế Thông thường đối với doanh nghiệp kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì sẽ được hoàn thuế khi có số thuế đầu vào (không thuộc diện phải nộp) lớn hơn số thuế đầu ra (số thuế phát sinh trong kỳ phải nộp sẽ được hoàn thuế
a. Nguyên tắc hoàn thuế giá trị gia tăng
Phải đảm bảo lợi ích của người nộp thuế khi phát sinh quyền yêu cầu hoàn thuế, đồng thời đảm bảo thuận lợi cho cơ quan thuế trong tiếp nhận hồ sơ và xử lý hoàn thuế
b. Điều kiện, thủ tục được hoàn thuế giá trị gia tăng
- Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT phải
là cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền, có con dấu theo đúng quy định của pháp luật, lập và lưu giữ sổ kế toán, chứng từ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán; có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng theo mã số thuế của cơ sở kinh doanh (Tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp phải được đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực theo Mẫu số: 08-MST Ban hành kèm theo Thông tư số156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính)
- Các trường hợp cơ sở kinh doanh đã kê khai đề nghị hoàn thuế trên tờ khai thuế GTGT, thì không được kết chuyển số thuế đầu vào đã đề nghị hoàn thuế vào số thuế được khấu trừ của tháng/quý tiếp sau
- Thủ tục hoàn thuế GTGT thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
c. Các trường hợp hoàn thuế gia trị gia tăng
Theo Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2013 và Điều
10 Nghị định số 10/VBHN-BTC quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế giá trị gia tăng, các trường hợp được hoàn thuế gồm:
Đối với cơ sở kinh doanh
- Cơ sở hoạt động kinh doanh có số thuế được hoàn:
Trang 3+ Theo thời hạn được hoàn: cụ thể là trường hợp lũy kế sau ít nhất mười hai tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc ít nhất sau bốn quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ mà vẫn còn số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế
+ Theo mức thuế tối thiểu được hoàn: đây là trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có
dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng
- Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có
số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế giá trị gia tăng đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại
Chú ý: Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết
Đối với cá nhân, tổ chức theo chính sách ngoại giao
- Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất
Trang 4cảnh (Trường hợp hoàn thuế này dựa trên căn cứ hàng hóa thuộc diện chịu thuế là hàng hóa tiêu dùng nội địa)
- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán
đã có thuế giá trị gia tăng
Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo
- Chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại được hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả cho hàng hoá, dịch vụ mua tại Việt Nam để phục vụ cho chương trình, dự án;
- Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá, dịch vụ phục
vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả cho hàng hóa, dịch
vụ đó
2. THỰC TRẠNG THI HÀNH
Hàng hóa được coi là biện pháp kích thích hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu; bảo đảm công bằng cho các chủ thể tuân theo pháp luật các quy định về điều kiện, thủ tục hoàn thuế đảm bảo thuận lợi cho quản lý thuế, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp thuộc đối tượng hoàn thuế Với số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn mỗi năm, nhiều doanh nghiệp đã có thêm điều kiện quay vòng vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong quá trình lập hồ sơ hoàn thuế
Sau hơn 10 năm thực hiện, đã có hơn 36.000 đơn vị đề nghị hoàn thuế so với hơn 5 triệu đối tượng nộp thuế Năm 2012, tổng số tiền hoàn thuế GTGT là 85.245
tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2011 Trong đó, chủ yếu là hoàn thuế cho các trường hợp xuất khẩu (chiếm 45,4%); hoàn thuế cho cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên
Trang 5tục trở lên có số thuế đầu vào chưa khấu trừ hết (chiếm 29,5%) và các dự án đang trong giai đoạn đầu tư
Tuy nhiên, chính sách ưu đãi về hoàn thuế GTGT và chương trình cải cách thủ tục hành chính thuế hiện nay đang bị lợi dụng, làm giảm hiệu quả của chính sách và sự công bằng trong kinh doanh Theo số liệu của Tổng cục Thuế, trong giai đoạn 2007-2010, cơ quan thuế chỉ tiến hành kiểm tra 20.500 hồ sơ “hậu kiểm”, nhưng đã truy thu và phạt vi phạm hành chính thuế 349.664 triệu đồng Cũng trong giai đoạn này, cơ quan thuế kiểm tra 20.800 hồ sơ “tiền kiểm” (kiểm tra trước, hoàn thuế sau) đã phải từ chối hoàn thuế giá trị gia tăng với số tiền lên đến 1.147.425 triệu đồng Tình trạng gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng ngày càng trầm trọng là do còn nhiều tồn tại, bất cập trong quy định về quy trình hoàn thuế hiện nay
Thực tế hiện nay đang tồn tại hai hình thức phổ biến gian lận thuế GTGT để xin hoàn thuế là:
- Thứ nhất, ngụy tạo hồ sơ xuất khẩu Trường hợp này phải có sự đồng lõa
giữa doanh nghiệp và một số cán bộ hải quan cửa khẩu Hồ sơ xin hoàn thuế phải kèm theo bảng kê chứng từ chứng minh xuất khẩu Nếu hải quan không xác nhận, thì doanh nghiệp không thể nào gian lận và xin hoàn thuế được
- Thứ hai, ngụy tạo hồ sơ nộp thuế GTGT đầu vào trong trường hợp có
hàng hóa thực để xuất khẩu, nhưng không nộp thuế GTGT đầu vào
Bên cạnh đó, thực tế còn đang có những thủ đoạn thường gặp sau đây của các đối tượng gian lận việc hoàn thuế GTGT:
- Bán hàng không xuất hoá đơn để che dấu doanh thu đầu ra, làm cơ sở cho việc tính thuế GTGT, nhằm chiếm đoạt số tiền thuế GTGT người mua đã nộp cho người bán
- Giá cả và số lượng khi xuất hoá đơn bán hàng ghi trong liên lưu nhỏ hơn liên giao
- Không có giao dịch, nhưng “bên bán” thông đồng với bên mua vẫn xuất hoá đơn ghi và giao cho “bên mua”, nhằm hợp thức hoá số hàng đầu vào cho “bên mua” khi khấu trừ hoặc hoàn thuế
Trang 6- Thông đồng với các doanh nghiệp xuất khẩu lập hoá đơn khống để kê khai hoàn thuế khi xuất khẩu, sau đó chia nhau số tiền hoàn thuế
- Lợi dụng quy định về các trường hợp được hoàn thuế đối các dự án đang trong giai đoạn đầu tư, thành lập đơn vị mới có chức năng thi công các công trình phụ trợ để “chiếm dụng” thuế
3. KIẾN NGHỊ VÀ HOÀN THIỆN
Hiện nay quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đang được tiếp tục nghiên cứu sửa đổi nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng Kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cho hoàn thuế giá trị gia tăng đối với
dự án đầu tư và xuất khẩu đối với thuế giá trị gia tăng đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh chưa khấu trừ hết được chuyển sang khấu trừ kỳ tiếp theo Dựa theo thực trạng ở Việt Nam, em xin đưa ra các kiến nghị sau:
Thứ nhất, nên quy định ngưỡng nhất định để hoàn thuế Theo đó, các cơ sở
kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có lũy kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra, nếu dưới ngưỡng đó, thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ Như vậy sẽ tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cua cơ quan thuế, và cả đối tượng nộp thuế Đối với hoàn thuế xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, thì nên quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khai trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm
Thứ hai, khi cơ quan thuế kiểm tra hồ sơ, phát hiện các đơn vị cung cấp
chứng từ nộp thuế chưa kê khai hoặc kê khai, nhưng chưa nộp thuế, thì yêu cầu doanh nghiệp cùng phối hợp để thu nợ đọng thuế của đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ; tạm thời loại chứng từ đó chưa hoàn thuế trong kỳ này Bởi, trên thực tế đã xảy ra tình trạng đơn vị kê khai đề nghị hoàn thuế, nhưng số thuế chưa được nộp vào ngân sách, do bên nhận chuyển tiền chưa khai hoặc còn nợ thuế, dẫn đến sai bản chất của hoàn thuế
Thứ ba, thời hạn được giải quyết hoàn thuếlà quá ngắn Trong trường hợp
ngành Thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian lận thuế giá trị gia tăng, cần có thời gian
để xác minh, thì thời hạn 15 ngày là không đủ, bởi vì việc xác minh các hóa đơn mất rất nhiều thời gian, thậm chí nhiều trường hợp, không được cơ quan thuế các địa phương phản hồi Thời gian xác minh khi có dấu hiệu nghi ngờ gian lận cần
Trang 7được kéo dài hơn, có thể là 60 ngày thay cho quy định tối đa 30 ngày như hiện hành
Thứ tư, theo báo cáo của cơ quan thuế, chỉ khoảng 50% số hồ sơ gửi đi xác
minh là được phản hồi Trong trường hợp này ngành Thuế buộc phải hoàn thuế cho doanh nghiệp Đây là một kẽ hở khiến hành vi “chiếm dụng” tiền ngân sách thông qua hoàn thuế ngày càng gia tăng Hơn nữa việc hoàn thuế giá trị gia tăng dựa trên những hóa đơn chứng từ đã có, còn tính trung thực của các hoá đơn chứng từ này (đã phát sinh từ 3 tháng trước đó), thì không được xác minh đầy đủ Đây là thời gian đủ để các doanh nghiệp thực hiện phi vụ lừa đảo rồi bỏ trốn Vì vậy, cần phải thực hiện việc kiểm tra, ngăn chặn từ xa, chứ không phải chờ đến khi doanh nghiệp xin hoàn thuế giá trị gia tăng
Thứ năm, cần quy định bắt buộc mọi nghiệp vụ kinh tế của doanh nghiệp dù
lớn hay nhỏ đều phải thanh toán qua ngân hàng nhằm giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường, góp phần giảm lạm phát, đồng thời giảm thiểu sự khai khống, khai sai số thuế GTGT đầu vào, giảm thất thu ngân sách nhà nước
Thứ sáu, nguyên tắc đảm bảo công bằng ghi nhận trong hiến pháp làm cơ sở
hình thành nguyên tắc công bằng trong luật thuế Thế nhưng, việc quy định “hoàn thuế trong trường hợp có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan nhà nước có thầm quyền” là một quy định làm mất tính thực thi của Luật thuế giá trị gia tăng Hơn nữa, với quy định này sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng và tuỳ tiện trong quá trình quyết định hoàn thuế Vì vậy, để người nộp thuế có thể hiểu quyền và nghĩa vụ của mình, các quy định của luật thuế càng đơn giản thì càng dễ thực hiện
Thứ bảy, ăng cường cho lực lượng hải quan, thuế nội địa kiểm soát chặt chẽ những đối tượng nghi vấn, giám sát và làm thủ tục giám sát cả phương tiện, thanh toán tiền hàng xuất khẩu kết nối với cơ quan thuế nội địa để quản lý chặt chẽ thủ tục xuất khẩu được hoàn thuế
Tóm lại, để giải quyết được "tận gốc" tình trạng gian lận hoàn thuế GTGT này, không chỉ là nhiệm vụ của ngành tài chính mà còn cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, các địa phương và của toàn xã hội