Mục đích của đề tài:Luận văn nghiên cứu năng lực làm chủ, đánh giá thực trạng năng lực làm chủ của người dân, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao năng lực làm chủ của người dân t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Sơn Hoan
Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốtnghiệp Thạc sĩ Triết học họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học ĐàNẵng vào ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinhthần, trở thành trung tâm trong mọi chiến lược phát triển của cácquốc gia, dân tộc trên thế giới Chăm lo phát triển năng lực conngười trong các hoạt động sống, hoạt động xã hội chính trị, đảm bảocác quyền làm chủ của con người trong đời sống xã hội là mục tiêunghiên cứu của các nhà khoa học chính trị nhằm tháo gỡ những ràngbuộc về thể chế, khai thác tiềm năng, khơi dậy tối đa năng lực làmchủ của con người trong chinh phục khoa học công nghệ, tri thức,làm chủ đời sống, đó cũng là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đã vàđang hướng tới
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân” là một trong những phương hướng chủ yếu, xuyên suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bản chất của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa là tất cả vì con người, duy trì và phát huy bảnchất tốt đẹp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Theo đó, Nhân dân làngười làm chủ của đất nước, pháp luật được xây dựng trên cơ sở ýchí và nguyện vọng của Nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của mọingười dân, phát huy tính tối đa năng lực làm chủ của người dân Với
sự phát triển, từng bước hoàn thiện các thể chế pháp lý, luật pháp đãđạo điều kiện ngày càng tốt hơn để mọi người dân được bình đẳng,quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ Mọi công dân
Trang 4đều có quyền nâng cao trình độ nhận thức, tiếp cận tri thức mới, làmchủ khoa học và công nghệ, biến khoa học kỹ thuật thành hành động
và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu làm chủ đất nước trong thời đại mới
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, năng lực làm chủcủa người dân ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung, vẫn còn nhiều hạnchế cần khắc phục như: năng lực nhận thức pháp luật chưa cao, thiếuchủ động trong tự nghiên cứu, tiếp cận luật pháp, dẫn đến tình trạngthiếu am hiểu hoặc không làm chủ được hành vi và dễ bị lôi kéo,kích động vào các hoạt động vi phạm pháp luật Đã và đang đặt ranhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu luận giải, tìm kiếm các giảipháp nâng cao năng lực làm chủ của người dân trong điều kiện hiệnnay Trong đó, vấn đề giải quyết mâu thuẫn giữa việc phát huy nănglực làm chủ của người dân với thực tế hoàn thiện thể chế pháp lý,pháp luật đang diễn ra chậm, giải quyết mâu thuẫn giữa quyền và lợiích hợp pháp của người dân với thực tiễn công tác quản lý hànhchính ở nước ta là một trong những khó khăn lớn, gây cản trởngười dân trong việc tối ưu hóa năng lực làm chủ của mình Nhữngvấn đề này đang đặt ra yêu cầu nghiên cứu cấp thiết, giải quyếtnhững tồn tại vướng mắc về thể chế, rào cản về thể chất, tri thức, vănhóa nhằm phát huy tối đa năng lực làm chủ của người dân trong nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề“Năng lực làm chủ của người dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trang 52.1 Mục đích của đề tài:
Luận văn nghiên cứu năng lực làm chủ, đánh giá thực trạng
năng lực làm chủ của người dân, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao năng lực làm chủ của người dân trong xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Để thực hiện mục đích như trên, đề tài có một số nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất là, làm rõ lý luận về năng lực làm chủ và lý luận nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Thứ hai là, đánh giá thực trạng năng lực làm chủ của người
dân trong xây dựng nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam hiện nay
- Thứ ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
làm chủ của người dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Năng lực làm chủ của người dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ năng lực làm chủ của ngườidân Việt Nam (những người có đủ quyền công dân) trong xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận của đề tài:
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính
Trang 6sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về con người và phát triểnnăng lực làm chủ của người dân Đề tài tiếp thu, kế thừa có chọn lọcnhững giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu đã công bố liênquan đến nội dung của đề tài.
4.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài sử dụng tổng hợp cácphương pháp: phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, đối chiếu,
so sánh… để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1 Về mặt lý luận:
Đề tài hệ thống hóa được lý luận về năng lực làm chủ củangười dân và vai trò của năng lực làm chủ trong xây dựng nhà nướcpháp quyền Đề xuất được giải pháp có tính khả thi cho việc nângcao năng lực làm chủ của người dân trong xây dựng nhà nước phápquyền ở Việt Nam hiện nay
5.2 Về mặt thực tiễn:
Đề tài cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việchọc tập và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dân chủ và nhà nướcpháp quyền
6 Kết cấu luận văn
Trong các chuyên ngành nghiên cứu triết học, chính trị học
và các khoa học nói chung, vấn đề năng lực, năng lực làm cá nhâncũng như năng lực làm chủ của người dân đã thu hút sự quan tâmnghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, các nhà nghiên cứu chính trịtrở thành tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả trong quá trìnhnghiên cứu đề tài này Trong quá trình chọn lọc, nghiên cứu, chúng
Trang 7tôi tạm phân chia thành các nhóm chủ đề những nghiên cứu cơ bản nhau sau:
- Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về năng lực làm chủ
- Nhóm những công trình nghiên cứu về năng lực làm chủ của người dân
- Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng năng lực làm chủ của người dân trong Nhà nước pháp quyền
Trang 8CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN
1.1.1 Khái niệm năng lực
Thuật ngữ “năng lực” hay (competence) là một thuật ngữxuất phát từ nguồn gốc Latinh, bắt nguồn của nó là “competentia”với nghĩa cơ bản là gặp gỡ Trong ngôn ngữ Anh, từ năng lực được
sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau Điều đó phụ thuộc vào ngànhnghề, lĩnh vực nghiên cứu cũng như ngữ cảnh và trong từng tìnhhuống sử dụng cụ thể Chính vì như vậy mà người Anh nói riêng, cácnước sử dụng tiếng anh nói chung đã sử dụng một số từ thay thế để
nói về năng lực, ví dụ như: Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, Aptitude… Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất vẫn là Competence (hoặc Competency).
Tùy vào góc độ tiếp cận mà có nhiều quan điểm khác nhau
về khái niệm năng lực Trên phương diện triết học, năng lực đượchiểu
“ theo nghĩa rộng là những đặc điểm tâm lý của cá thể điềutiết hành vi của cá thể và cũng là điều kiện sống của cá thể Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì năng lực là toàn bộ những đặctính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với mộthình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thànhtrong lịch sử”, “năng lực của con người là sản phẩm của sự
Trang 9phát triển xã hội”, nó “không những do hoạt động của bộ nãoquyết định mà trước hết là do trình độ phát triển của lịch sử
mà loài người đã đạt được Theo ý nghĩa đó thì năng lực củacon người không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và
hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó”[62, tr.379].Trong quan điểm các nhà mácxít, năng lực con người đượcđặt trong tổng hòa về phẩm chất, nhân cách của cá nhân con người.Theo đó, con người là một thể thống nhất giữa cái tự nhiên và xã hội
Tiếp tục kế thừa quan điểm của C Mác, V.I Lênin cho rằng,chỉ có thông qua các hoạt động trong thực tiễn, cá nhân mới phát lộtài năng và những phẩm chất “kết hợp với năng lực hiểu biết về conngười, với năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức, thì mới có thểrèn luyện ra những nhà tổ chức lớn” [40, tr.94] Qua đây có thể thấyrằng, Lênin đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ trong xây dựng xã hội mới làphải chú tâm phát triển năng lực cho con người, nâng cao năng lựcnhận thức cho người dân, năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hànhđộng, năng lực lãnh đạo đối với đội ngũ lãnh đạo
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập nhiều đếnnăng lực cá nhân, trong đó năng lực của cán bộ lãnh đạo luôn đượcNgười quan tâm nhắc nhở Giữa “đạo đức” và “tài năng”, Người chorằng, năng lực chính là “tài năng” của con người Bên cạnh cái đứccon người thì tài năng là một yếu tố không thể thiếu được của conngười, đặc biệt là đối với người lãnh đạo Người nói: “người nào cóđức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa”, “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
Trang 10không có tài làm việc gì cũng khó” Mỗi cán bộ phải “chuyên”, phải
có “tài”, có năng lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, có năng lực lãnhđạo, quản lý, có năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước, Nhận thức rõ vai trò, tầm quantrọng của năng lực, Người đặc biệt chú trọng việc tuyển dụng
“những người có năng lực, có đạo đức vào gánh vác công việc to tátcủa quốc gia”[50, tr.132]
Thông qua những luận giải trên, năng lực có thể hiểu: Năng lực là tổng hợp các thuộc tính riêng có của cá nhân tạo thành khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra và bảo đảm cho những hoạt động đó đạt kết quả tối ưu.
1.1.2 Năng lực làm chủ của người dân
Năng lực làm chủ của người dân có thể được hiểu là tổng hợp những thuộc tính riêng có về trí thức, thái độ và kỹ năng riêng có, tương đối ổn định của người dân tạo khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động nào đó của cá nhân và xã hội, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu.
1.2 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.2.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Mặc dù, lý luận về nhà nước pháp quyền đã được nghiên cứu
từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất
về nhà nước pháp quyền được thừa nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu.Các nhà nghiên cứu tùy theo góc độ nghiên cứu, nội dung, mục đíchnghiên cứu mà đưa ra những khái niệm khác nhau về nhà nước phápquyền Có người đưa ra khái niệm nhà nước pháp quyền trên cơ sở lý
Trang 11luận, có người tiếp cận khái niệm nhà nước pháp quyền từ góc độ cụthể, song có người đưa ra khái niệm trên cơ sở liệt kê các dấu hiệuđặc trưng của nó, cũng có người tiếp cận khái niệm này bằng cáchphân tích mối quan hệ giữa khái niệm nhà nước pháp quyền với kháiniệm khác gần gũi.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể hiểu là tổ chức quyền lực công khai trong hệ thống chính trị của xã hội công dân, được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, sự ngự trị, tính tối cao của luật pháp trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước, sự phân công quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân.
1.2.2 Bản chất và đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Một là, Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế
độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
Hai là, Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Ba là, Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội Bốn là, quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được
tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực.
Trang 12Năm là, trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.
Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
1.2.3 Mối quan hệ giữa năng lực làm chủ của người dân với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Giữa năng lực làm chủ của người dân và xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mối quan hệ hữu cơ, gắn
bó mật thiết với nhau, đồng thời tác động lẫn nhau trong tiến trìnhxây dựng và phát triển nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sựhiện diện của năng lực làm chủ của người dân là một trong nhữngtiêu chí cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Không thể xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam nếukhông phát huy được năng lực làm chủ của người dân và thực hànhdân chủ, bởi dân chủ là bản chất của Nhà nước pháp quyền, là đòi hỏitất yếu, khách quan của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền.Mối quan hệ trên được biểu hiện như sau:
Một là, nâng cao năng lực làm chủ của người dân trong nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi tất yếu, khách quantrong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay,nhằm bảo đảm bản chất Nhà nước
Hai là, nâng cao năng lực làm chủ của người dân là nhân tố
bảo đảm tính thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền
Ba là, Nhà nước pháp quyền hoàn thiện là điều kiện để năng
lực làm chủ đạt được sự tối ưu
Trang 13Chương 2.
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1.1 Thực trạng năng lực nhận thức về quyền làm chủ và phương thức thực hiện quyền làm chủ của người dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Sau đổi mới, nhận thức về quyền làm chủ và phương thứcthực hiện quyền làm chủ của Đảng và nhân dân ta không ngừng đượccải thiện, điều đó thể hiện qua những thành tựu đã đạt được trên tất
cả các mặt đời sống xã hội Người dân ngày càng nhận thức đầy đủhơn về tất yếu khách quan phải chung tay xây dựng nhà nước dânchủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy các quyềnlàm chủ của người dân trong cuộc sống thực tế
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, quahơn 70 năm lãnh đạo đất nước và hơn 30 năm thực hiện công cuộcđổi mới, Đảng và Nhân dân ta đã không ngừng làm phong phú lýluận về dân chủ xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện các phương thức thựchiện quyền làm chủ của mình Dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thànhmục tiêu cao cả mà toàn Đảng, toàn Nhân dân ta luôn hướng đến,quyết tâm biến điều đó thành hiện thực
Hiện nay, đại đa số người dân đều cảm nhận được tính ưuviệt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, không ảo tưởng kỳ vọng ởhoàn thiện chế độ dân chủ của nước ta bằng một chế độ “đa