1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng giải pháp tập luyện duy trì và nâng cao sức khoẻ người cao tuổi tại câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trời quận hai bà trưng, hà nội

183 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội n=703.2 Thực trạng mục đích tham gia tập luyện của người cao tuổi tại Câu 59 lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Trang 1

VŨ THÀNH LONG

ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP TẬP LUYỆN DUY TRÌ VÀ

NÂNG CAO SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÂU LẠC BỘ SỨC KHỎE NGOÀI TRỜI QUẬN HAI BÀ TRƯNG, HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH – 2019

Trang 2

VŨ THÀNH LONG

ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP TẬP LUYỆN DUY TRÌ VÀ

NÂNG CAO SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÂU LẠC BỘ SỨC KHỎE NGOÀI TRỜI QUẬN HAI BÀ TRƯNG, HÀ NỘI

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Tác giả luận án

Vũ Thành Long

Trang 4

: Đái tháo đường : Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa)

: Huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu)

: Hormon tăng trưởng : Hiệu số huyết áp : kilogam lực : kilogam : kilomet : Kinh tế - Xã hội : Mật độ xương : Tần suất lặp lại : mililít

: milimet thủy ngân : Nâng cao sức khỏe : Người cao tuổi : Trung bình : Thái cực quyền : Thái cực trường sinh : Thể dục dưỡng sinh : Thể dục thể thao : Thực nghiệm : Văn hoá, Thông tin và Thể thao : Tổ chức y tế thế giới

Trang 5

Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (n=70)

3.2 Thực trạng mục đích tham gia tập luyện của người cao tuổi tại Câu 59 lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (n=70)

3.3 Thực trạng hình thức tổ chức tập luyện cho người cao tuổi tại Câu 60

lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (n=70)

3.4 Thực trạng nội dung tập luyện của người cao tuổi tại Câu lạc bộ 61

sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (n=70)

3.5 Thành tích đạt được qua thi đấu và biểu diễn của Câu lạc bộ sức 62

khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018

3.6 Thực trạng và nhu cầu tham gia tập luyện của người cao tuổi tại Sau

Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (n=70) tr.63 3.7 Thực trạng nhận thức về tác dụng tập luyện thể dục thể thao 65

thường xuyên của người cao tuổi tại Câu lạc bộ (n=70)

3.8 Thực trạng nhận thức về lợi ích của Yoga đối với cơ thể người tập 66

của hội viên Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời (n=30)

Thực trạng nhận thức về lợi ích của Đi bộ định lượng đối với cơ

3.9 thể của hội viên Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà 68

Trưng, Hà Nội (n=19)

3.10 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện của Trung tâm Văn 70

hóa – Thông tin & Thể thao Quận Hai Bà Trưng (n=70)

Thực trạng đội ngũ huấn luyện viên, hướng dẫn viên phục vụ hoạt

3.11 động tập luyện và thi đấu cho người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức 71

khỏe ngoài trời

3.12 Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá trạng thái sức khỏe 73

người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời (n = 25)

Trang 6

3.14 Kết quả kiểm tra, đánh giá đặc điểm hình thái và mật độ xương của 77

người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời (nữ, n=60)

3.15 Kết quả kiểm tra chức năng hệ hô hấp của người cao tuổi tại Câu 78

lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (nữ, n=60)

Kết quả kiểm tra chức năng hệ tim mạch của người cao tuổi tại

3.16 Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (nữ, 79

n=60)

3.17 Kết quả kiểm tra chức năng hệ thần kinh- thần kinh cơ của người 79

cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trời (nữ, n=60)

3.18 Kết quả kiểm tra thể lực của người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức 80

khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (nữ, n=60)

Kết quả phỏng vấn tự đánh giá cảm giác chủ quan về trạng thái sức

3.19 khỏe của người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trời (nữ, 81

n=60)

3.20 Kết quả phỏng vấn lựa chọn giải pháp duy trì và nâng cao sức 94

khỏe người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời (n = 25)

Kết quả phỏng vấn lựa chọn nội dung tập luyện duy trì và nâng Sau 3.21 cao sức khỏe người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời

tr.95 (n=25)

3.22 Kết quả phỏng vấn lựa chọn giai đoạn và các nội dung xây dựng 100

chương trình tập luyện Yoga cho người cao tuổi (n=25)

3.23 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các nội dung cấu trúc buổi tập Yoga 100

cho người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời (n=25)

3.24 Kết quả tọa đàm lựa chọn các tư thế Yoga cho chương trình tập 101

luyện Yoga của người cao tuổi tại Câu lạc bộ (n=25)

3.25 Kế hoạch đi bộ với lượng vận động tăng dần trong năm cho người 103

cao tuổi tham gia thực nghiệm tại Câu lạc bộ

3.26 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phương án tập luyện kết hợp Yoga và 106

Đi bộ định lượng

3.27 Kết quả so sánh nhận thức về tác dụng tập luyện thể dục thể thao 115

thường xuyên giữa 2 nhóm trước thực nghiệm (n 1 = n 2 =15)

Trang 7

3.29 Kết quả kiểm tra và so sánh đặc điểm hình thái và mật độ xương 117

của 2 nhóm trước thực nghiệm (n 1 = n 2 =15)

3.30 Kết quả kiểm tra và so sánh đặc điểm chức năng hô hấp của 2 118

3.35 Kết quả so sánh nhận thức của người cao tuổi về lợi ích của Yoga 122

đối với cơ thể thời điểm trước và sau thực nghiệm (nữ, n= 30)

Kết quả so sánh nhận thức của người cao tuổi về tác dụng của tập

3.36 luyện thể dục thể thao thường xuyên thời điểm trước và sau thực 123

nghiệm (nữ, n= 30)

Kết quả so sánh nhận thức của người cao tuổi về lợi ích của Đi bộ

3.37 định lượng đối với cơ thể thời điểm trước và sau thực nghiệm (n 1 = 123

15)

3.38 Kết quả kiểm tra và so sánh đặc điểm hình thái và mật độ xương 124

của 2 nhóm sau thực nghiệm (n 1 = n 2 =15)

3.39 Nhịp tăng trưởng các tiêu chí hình thái và mật độ xương của 2 125

Trang 8

nghiệm (n 1 = n 2 =15)

3.45 Kết quả phỏng vấn tự đánh giá cảm giác chủ quan về tình trạng 131

sức khỏe của 2 nhóm sau thực nghiệm (n 1 = n 2 =15)

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TT

Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá

3.1 trạng thái sức khỏe người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài 73

trời

3.2 Nhịp tăng trưởng các tiêu chí đánh giá đặc điểm thần kinh- thần 129

kinh cơ của 2 nhóm sau thực nghiệm

Trang 9

Trang Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ

Mục lục

1.1.2 Tình hình người cao tuổi hiện nay 6 1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về người cao tuổi 8 1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi 8 1.2.2 Những quan điểm, chủ trương của Đảng 9 1.2.3 Luật pháp và chính sách của Nhà nước 11 1.3 Đặc điểm quá trình lão hoá và sức khỏecủa người cao tuổi 16

1.3.2 Những biến đổi giải phẫu, chức năng sinh lý ở người cao tuổi 20 1.3.3 Khái niệm sức khỏe và nâng cao sức khỏe 23 1.4 Cơ sở khoa học của việc tập luyện Yoga và hoạt động vận 28 động nâng cao sức khỏe người cao tuổi

1.4.1 Cơ sở khoa học của việc tập luyện Yoga nâng cao sức khỏe 28 1.4.2 Khái niệm, cơ chế tác động và một số hoạt động vận độngnâng 34 cao sức khỏe

1.5 Tổng quan về câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời 37 1.5.1 Khái niệm câu lạc bộ, câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở 37

Trang 10

1.5.3 Sơ lược về Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Hà Nội 39

1.6.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 39 1.6.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 42

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 45

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 45

2.1.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 52

2.2.5 Kế hoạch và thời gian nghiên cứu 56 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 57 3.1 Thực trạng hoạt động tập luyện và sức khỏe người cao tuổi 57 tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 3.1.1 Nghiên cứu thực trạng hoạt động tập luyện của người cao tuổi 57 tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 3.1.2 Thực trạng sức khỏe người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe 71 ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

3.1.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 82

3.2 Xây dựng chương trình tập luyện theo các giải pháp nhằm 89 duy trì và nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi tại Câu lạc bộ

Trang 11

các giải pháp

3.2.2 Lựa chọn và xác định nội dung các giải pháp nhằm duy trì và

nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài 93 trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

3.2.3 Xây dựng chương trình tập luyện theo các giải pháp duy trì và

nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài 98 trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

3.2.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 107

3.3 Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã xây dựng

nhằm duy trì và nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi tại Câu lạc 112

bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

Những thập kỷ gần đây, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, đã gia tăng nhanh Cuộc tổng điều tra dân số và nhà

ở năm 2009 cho thấy: Dân số nước ta đến 01/04/2009 là 85.789.573 người, trong đó

có trên 7,72 triệu người trên 60 tuổi (chiếm 9%), tỷ lệ này ở nông thôn là 9,1% và ở thành phố là 8,6% [65] Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng tăng Trước năm 1945 là 32 tuổi, nay là 73,0 tuổi (2011) Năm 2011, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hoá dân số.Tuổi thọ tăng cao phản ánh những thành tựu to lớn của phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng góp của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe (NCSK) nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, sự nỗ lực tham gia thực hiện của nhân dân Hiện tượng tăng dân số già đồng thời cũng là một thách thức cho xã hội Cùng với sự lão hóa là sự giảm sút sức khỏe, khả năng thích ứng và bệnh tật gia tăng, từ đó đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho toàn xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và NCSK người cao tuổi (NCT).

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc chăm sóc NCT Từ tư tưởng

và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các văn kiện Đại hội Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đều khẳng định: NCT là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhiệm vụ chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội và trong giai đoạn hiện nay nhiệm vụ đó đã được nâng lên một tầm cao mới là NCSK với nguyên lý thực hiện được thể hiện ở ba hoạt động chính (3 trụ cột): Xây dựng chính sách, Tạo khả năng - gồm tạo một môi trường thuận lợi, cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội chọn lựa những điều có lợi cho sức khỏe và Phối hợp liên ngành.

Tuy nhiên, các chính sách về NCT hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về NCT và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác NCT những năm qua, bao gồm cả việc xây dựng, ban hành và triển khai các văn bản pháp qui, tạo điều kiện cho NCT được lựa chọn những điều có lợi cho việc NCSK.

Trang 13

Lão hóa là một quá trình sinh học tự nhiên và diễn ra sau tuổi trung niên, kết thúc ở cái chết Các giả thuyết về lão hóa đã chỉ ra nguyên nhân và các biểu hiện của già hóa là kết quả tương tác giữa cơ thể và môi trường, vì vậy lão hóa không thể ngăn chặn Quá trình lão hóa gây nên những thay đổi về cấu tạo và chức năng sinh lý: giảm khả năng thích nghi, mất khả năng đối phó và sự suy giảm chức năng của tất cả các cơ quan trong cơ thể dẫn đến việc NCT dễ mắc bệnh Lão hóa không thể ngăn chặn, nhưng có thể làm chậm quá trình đó nhờ vào sự nhận thức tích cực nhằm làm hạn chế các tác động bất lợi đối với sức khỏe, quan trọng nhất chính là tạo khả năng cho người dân tự biết kiểm soát và nâng cao sức khỏe của mình.

Thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới và tiếp

đó là Nghị quyết 08-NQ/TW 01/12/2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bức phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 [2],[7], trong những năm gần đây, phong trào tập luyện thể dục thể thao (TDTT) đã phát triển sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, nhiều người đã ý thức được tầm quan trọng của việc tập luyện đối với sức khỏe, trong đó có NCT Việc thường xuyên tập luyện TDTT đã được khoa học chứng minh không chỉ nâng cao thể lực mà còn giúp NCT cảm thấy vui vẻ, lạc quan, yêu đời, giảm căng thẳng trong cuộc sống [15],[16],[19],[26] Với những lợi ích như vậy, các hình thức tổ chức, các phương pháp và phương tiện tập luyện cho đối tượng NCT ngày càng được các nhà khoa học quan tâm và mở rộng nghiên cứu Trong đó Yoga, các bài tập thể dục và võ dưỡng sinh, các hình thức vận động trong tự nhiên là những phương pháp tập luyện khá phổ biến và phù hợp với đối tượng NCT [15],[16],[19], [42],[47],[81].

Yoga là một hình thức tập luyện cổ xưa xuất xứ từ Ấn Độ, là tổ hợp của các bài tập, tư thế khác nhau và đã được chứng minh là mang lại những lợi ích thiết thực cả về thể chất lẫn tinh thần Yoga với đặc trưng là những động tác chậm rãi, mềm dẻo, lượng vận động không gây căng thẳng nên rất phù hợp với NCT[17],[27], [39],[44],[47],[66],[86] Hiện nay Yoga được tổ chức tập luyện dưới nhiều hình thức như tự tập luyện, tập luyện theo nhóm, tập luyện trong các CLB

Tuy nhiên, với số lượng đồ sộ các bài tập Yoga thì không phải bài tập nào cũng phù hợp với mọi đối tượng NCT, do đó cần phải chọn lọc và xây dựng kế hoạch luyện tập một cách khoa học mới đảm bảo đem lại lợi ích như mong muốn.

Các hình thức vận động trong tự nhiên là các bài tập được tổ chức tập luyện trong môi trường tự nhiên như vườn hoa, công viên Bên cạnh những tác động có

Trang 14

lợi của động tác hoạt động vận động, các hình thức vận động này còn phát huy được vai trò, ưu thế của các yếu tố môi trường tự nhiên tác động tới sức khỏe như không khí, ánh sáng…Tuy vậy, trong thực tiễn các bài tập thường được thực hiện theo cảm nhận chủ quan, chưa có sự hướng dẫn về kỹ thuật, chưa kiểm soát lượng vận động và đánh giá hiệu quả, do đó hiệu quả tập luyện không cao, thậm chí là cả hậu quả không mong muốn [15], [16],[41],[42].

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Yoga tại các Trung tâm nghiên cứu khoa học như: trường Đại học Y Maryland (Mỹ); Bệnh viện Moriguchi – Keijinkai Osaka (Nhật Bản); Trung tâm y khoa Đại học Lomalinda California…những công trình này có ý nghĩa rất to lớn trong việc xác định các cơ sở lý luận ứng dụng Yoga nhằm duy trì và NCSK con người.

Việt Nam, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về tập luyện TDTT cho NCT như: “Nghiên cứu một số biện pháp NCSK cho người cao tuổi” của Thang Văn Minh (2005); “Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục dưỡng sinh nhằm duy trì và NCSK cho giáo viên trung cao tuổi” của Nguyễn Văn Hiếu (2006); “Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể chất NCSK cho NCT mắc hội chứng bệnh cao huyết áp” của Nguyễn Thùy Dương (2006); “Nghiên cứu tác dụng của thực hành Yoga lên một số chỉ tiêu sinh học ở người đái tháo đường” của Hoàng Thị Ái Khuê (2010); “Tác dụng của tập luyện Yoga lên một

số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hoá ở bệnh nhân đái tháo đường tại Thành phố Vinh, Nghệ An” của Phạm Thị Hằng Nga (2011);“Nghiên cứu ứng dụng bài tập Yoga nhằm duy trì và tăng cường độ dẻo dai cho hội viên tuổi 35-40” của Đỗ Thị Ngần (2011); “Nghiên cứu tác dụng Võ cổ truyền Bình Định nhằm duy trì sức khỏe người cao tuổi” của Nguyễn Ngọc Sơn (2011)

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã có nhiều đóng góp về lý luận

và thực tiễn trong việc duy trì, NCSK cho NCT Song trong thực tiễn có thể nhận thấy chưa có tác giả nào đề cập đến việc phối hợp giữa tập luyện Yoga với các hình thức vận động trong tự nhiên cho NCT, đặc biệt, tại CLB sức khoẻ ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội đến nay vẫn chưa đưa Yoga vào nội dung tập luyện mặc dù điều kiện cho phép và NCT có nhu cầu tập luyện.

Xuất phát từ thực trạng của vấn đề nghiên cứu, với mong muốn tìm hiểu, bổ sung hoàn thiện cơ sở lý luận và làm phong phú thêm những giải pháp tập luyện cho NCT, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:“Ứng dụng giải pháp tập luyện

Trang 15

duy trì và nâng cao sức khỏe người cao tuổi tại Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”

Mục đích nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài lựa chọn và xây dựng giải pháp tập luyện duy trì và NCSK cho NCT sinh hoạt tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống các phương tiện và phương pháp tập luyện duy trì và NCSK cho NCT ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nhiệm vụ 1: Thực trạng hoạt động tập luyện và sức khỏe NCT tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Nhiệm vụ 2: Xây dựng chương trình tập luyện theo các giải pháp nhằm duy trì

và NCSK cho NCT tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Nhiệm vụ 3: Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của các giải pháp

đã xây dựng nhằm duy trì và NCSK cho NCT tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đánh giá hoạt động tập luyện của NCT tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho thấy các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức tập luyện đang được áp dụng còn thiếu đa dạng, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của NCT tham gia tập luyện Đề tài cho rằng nếu lựa chọn và xây dựng được các giải pháp tập luyện khoa học, phù hợp với đặc điểm thể chất và tình trạng sức khỏe của NCT, phù hợp với nhu cầu

và điều kiện khách quan sẽ có tác dụng duy trì và NCSK cho NCT.

Ý nghĩa khoa học của luận án

Hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện hệ thống kiến thức về các vấn đề liên quan tới quá trình lão hóa và công tác duy trì, NCSK cho NCT, các kiến thức chuyên môn về xây dựng chương trình tập luyện; hệ thống hóa nội dung và các tiêu chí đánh giá toàn diện các mặt phản ánh trạng thái sức khỏe của NCT theo cấu trúc nội hàm khái niệm sức khỏe của WHO; xây dựng chương trình tập luyện Yoga và Đi bộ định lượng; xác định phương án tập luyện kết hợp Yoga với Đi bộ định lượng theo hướng xã hội hóa và đáp ứng nhu cầu người tập luyện.

Trang 16

Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án đánh giá được thực trạng hoạt động tập luyện và sức khỏe NCT tại CLB sức khỏe ngoài trời Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Cụ thể: Thực trạng tập luyện được đánh giá theo 05 tiêu chí; Các yếu tố ảnh hưởng gồm: 02 yếu tố chủ quan (nhu cầu và nhận thức) và 02 yếu tố khách quan (CSVC và đội ngũ HLV); Lựa chọn được

06 nội dung và 25 tiêu chí cho phép đánh giá tương đối toàn diện các mặt phản ánh tình trạng sức khỏe của NCT theo cấu trúc nội hàm của khái niệm sức khỏe, bao gồm: (1) Hình thái: 3 tiêu chí và phân loại chỉ số cơ thể theo 4 mức, mật độ xương: 1 tiêu chí - T-Score và đánh giá mức độ loãng xương theo 4 mức;

(2) Thể lực: 3 tiêu chí; (3) Chức năng hô hấp: 3 tiêu chí; (4) Tim mạch: 6 tiêu chí;

(5) Thần kinh – thần kinh cơ: 3 tiêu chí; (6) Tinh thần và xã hội (cảm giác chủ quan): 6 tiêu chí

Từ kết quả xác định và phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, luận

án đã lựa chọn được 03 nhóm giải pháp gồm: (1) Mở rộng nội dung tập luyện (Yoga và Đi bộ đinh lượng), (2) Kết hợp Yoga và Đi bộ đinh lượng dưới hình thức tổ chức tập đan xen, (3) nâng cao nhận thức về tác dụng tập luyện đối với cơ thể và xác định các nội dung cụ thể cho từng giải pháp Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng chương trình tập luyện chi tiết theo các giải pháp nhằm duy trì, NCSK cho NCT và tổ chức thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các giải pháp được lựa chọn trong 01 năm.

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về người cao tuổi

1.1.1 Khái niệm về người cao tuổi

Theo quy ước của Liên Hiệp Quốc, những người từ 60 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, được gọi là người già và chia thành hai nhóm tuổi: 60-74 là NCT và trên 75 tuổi là người già Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): độ tuổi 60 - 74 là NCT, 75 - 90 là người già, trên 90 là người sống lâu.

Pháp lệnh NCT ở Việt Nam do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành tháng 4/2000 quy định những người từ đủ 60 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính là người già [48] Ở Việt Nam đang sử dụng cụm từ “người cao tuổi” thay cho “người già” do tuổi thọ ngày càng tăng, nhiều người trên 60 tuổi vẫn còn hoạt động, cống hiến cho xã hội nên cụm từ “người cao tuổi” phù hợp hơn. 1.1.2 Tình hình người cao tuổi hiện nay

Những thập kỷ gần đây, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, đã gia tăng một cách đáng kể Song song với tăng tuổi thọ, số lượng NCT ngày càng cao Năm 1950, số lượng NCT trên toàn thế giới là gần 200 triệu, năm 1975 là 350 triệu, năm 2000 là 590 triệu, ước tính đến 2025 sẽ là 1.121 triệu Như vậy, trong vòng 75 năm (từ 1950–2025), số NCT trên thế giới tăng 423%, đó là sự tăng trưởng rất nhanh [36], [65].

Trong vòng 50 năm trở lại đây, sự gia tăng số lượng NCT diễn ra ở các nước phát triển là 89%, ở các nước đang phát triển là 347% Như vậy, trái với quan niệm thông thường là NCT chỉ tăng nhanh ở các nước phát triển, còn những nước đang phát triển vốn có nền kinh tế thấp, số lượng NCT tăng không đáng kể Thực tế đã cho thấy ở các nước đang phát triển tốc độ gia tăng số NCT nhanh hơn, dự báo năm 2025, số NCT ở khu vực các nước đang phát triển sẽ chiếm 3/4 tổng số NCT trên thế giới [65].

Trong số NCT thì người ở độ tuổi rất già (từ 80 tuổi trở lên) có tốc độ tăng nhanh hơn cả Số người trên 80 tuổi năm 1950 trên toàn thế giới là 15 triệu người, đến năm 2025 sẽ là 111 triệu người (tăng 640%), trong đó ở các nước phát triển tăng 450% và ở các nước đang phát triển là 857% [36],[65].

Cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy: Dân số nước ta đến 01/04/2009 là 85.789.573 người trong đó có trên 7,72 triệu người trên 60 tuổi (chiếm 9% dân số), tỷ lệ này ở nông thôn là 9,1% và ở thành phố là 8,6% Những

Trang 18

vùng có tỷ lệ NCT cao hơn cả là Đồng bằng sông Hồng (11,2%), Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung (10,3%) Những vùng có tỷ lệ người cao tuổi thấp là Tây Nguyên (5,6%), Đông Nam Bộ (6,8%), Trung du và miền núi phía Bắc (8,1%), Đồng bằng sông Cửu Long (8,3%) [36],[65].

Hiện tượng tăng dân số già đồng thời là một thách thức cho xã hội trên toàn thế giới Ý thức được tầm quan trọng đó, Liên Hiệp Quốc đã triệu tập Đại hội thế giới về NCT, lần đầu tiên vào năm 1982 tại Vienne Đại hội lịch sử này đã

“trịnh trọng tuyên bố, phải đảm bảo đầy đủ, không có một hạn chế nào đối với NCT, mọi quyền cơ bản và không thay đổi, đã được ghi trong Tuyên ngôn về quyền con người” Đại hội cũng “trịnh trọng tuyên bố, song song với việc nâng cao tuổi thọ, phải đảm bảo cho NCT một cuộc sống có chất lượng cao, trong đó mọi NCT đều có quyền và nghĩa vụ phát huy mọi khả năng đóng góp sức mình cho việc xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn” Đại hội thế giới về NCT đã nhất trí thông qua một chương trình hành động (Chương trình Vienne về tuổi già) có giá trị trong 50 năm và tập trung vào 6 điểm: một là, sức khỏe và ăn uống; hai là, nhà ở và môi trường; ba là, gia đình; bốn là, bảo trợ xã hội; năm là, việc làm; sáu là, giáo dục huấn luyện.

Sau mười năm thực hiện, Liên Hiệp Quốc đã chỉ đạo các tổ chức chuyên nghiệp, các quốc gia sơ kết rút kinh nghiệm vào năm 1992 và trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung cho kế hoạch 10 năm tiếp theo Liên Hiệp Quốc cũng đã quyết định lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm là ngày Quốc tế NCT và lấy năm 1999 là năm Quốc tế NCT.

Tóm lại, thực tiễn cho thấy tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển đã gia tăng một cách đáng kể, trong đó có Việt Nam Song song với tăng tuổi thọ trung bình, số lượng NCT ngày càng cao Tuổi thọ người dân được tăng cao phản ánh những thành tựu to lớn của phát triển kinh tế

- xã hội, trong đó có sự đóng góp của công tác bảo vệ, chăm sóc và NCSK nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, sự nỗ lực tham gia thực hiện của nhân dân Hiện tượng tăng dân

số già đồng thời cũng là một thách thức cho xã hội trên toàn thế giới Cùng với sự lão hóa là sự giảm sút sức khỏe, giảm khả năng thích ứng và bệnh tật gia tăng, từ đó

đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho toàn xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và

NCSK NCT.

Trang 19

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về người cao tuổi

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến NCT Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của NCT đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại Đặc biệt, những tình cảm dành cho NCTbiểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam - văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của NCT trong xã hội Người luôn coi NCT là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6/1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với

bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo Hô điều nên hô, làm việc nên làm Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, NCT Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của NCT là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa” Người còn cho rằng, NCT phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi

“Công việc ngày càng nhiều, càng mới … nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”.

Trang 20

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên) Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó NCT có vai trò đặc biệt quan trọng Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các

cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước” Người luôn

là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước,

vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân Một con người mà

“dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa …”

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với NCT Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng” Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu-Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân

sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi

từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác Cụ già

ấy được biết đến trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn” Có thể nói, đó chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc

- một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả [18].

1.2.2 Những quan điểm, chủ trương của Đảng

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc chăm sóc NCT Hiến pháp từ

1945 đến nay đều ghi rõ, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm chăm sóc NCT Cụ

Trang 21

thể: Chỉ thị 134/CT ngày 11 tháng 5 năm 1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giao cho các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội trách nhiệm chăm sóc NCT Nghị quyết số 46-NQ/TW 23/02/2005 của Bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [6], Nghị quyết số 20–NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành về việc tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc, NCSK nhân dân [9] Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ sức khỏe, trong đó

có hẳn một chương (chương 7) đề cập đến việc bảo vệ sức khỏe NCT.

Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW về chăm sóc NCT, quy định “Việc chăm sóc đời sống vật chất

và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội” Theo đó, Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban Đảng, Bộ LĐ-TB&XH, Bộ

Y tế, Bộ Tư pháp, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò NCT phục vụ công cuộc đổi mới; phối hợp với Hội nghiên cứu, rà soát các chính sách luật pháp, đề xuất những văn bản pháp quy nhằm bảo

vệ, chăm sóc và phát huy NCT Trước hết cần quan tâm chăm sóc những NCT có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội NCT Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động” [3].

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu: “Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, NCT thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh thiếu niên…” [5].

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13/6/2001 của Ban chấp hành TW khẳng định Hội NCT Việt Nam là tổ chức xã hội của NCT, có các nhiệm

vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh NCT Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện Đồng thời khẳng định “Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí họat động cho Hội Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội” [4].

Trang 22

Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…” [8].

Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12 của Ban bí thư TW Đảng đều khẳng định: NCT là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, chăm sóc

và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1.2.3 Luật pháp và chính sách của Nhà nước

1.2.3.1 Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp

1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Điều 32 Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe và cứu trợ xã hội…” Điều 64 Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha

mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ…”, Điều 87 ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ

mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” [50].

Ngày 23/11/2009, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khoá XII, Quốc hội đã ban hành Luật NCT [49], trong đó quy định về quyền, nghĩa vụ của NCT, trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe NCT của con, cháu, Luật NCT là nền tảng pháp lý, bảo đảm quyền và lợi ích của NCT, là cơ sở để hình thành chính sách và giải pháp phù hợp với xu thế già hóa, tốc độ già hóa dân số ở nước

ta Các quy định của Luật NCT đã từng bước đi vào cuộc sống, phục vụ đắc lực cho công tác an sinh xã hội, chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò NCT.

Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ

ốm đau, già yếu, tàn tật…khoản 2 Điều 47 quy định “Cháu có bổn phận chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”.

Trang 23

Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1992) đã dành một chương về bảo

vệ, chăm sóc sức khỏe NCT… trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật quy định “…NCT được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”.

Luật Lao động quy định tại Điều 124: Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm

Điều 151 Bộ luật Hình sự quy định “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, Luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi người phạm tội là người già.

1.2.3.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, năm 1982, nước ta có tổ chức năm quốc tế NCT Nhiều tổ chức của NCT đã thành lập tại khắp mọi miền của đất nước và có những hoạt động đa dạng, phong phú và hiệu quả, như Hội trọng thọ, Câu lạc bộ (CLB) hưu trí, Hội phụ lão… Ngoài ra, trong nhiều tổ chức quần chúng khác NCT cũng là những thành viên tích cực, như CLB sức khỏe ngoài trời, CLB dưỡng sinh, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ… Các tổ chức đã tạo điều kiện cho NCT có nơi sinh hoạt, có cơ hội đóng góp cho xã hội, đất nước Trong công cuộc bảo vệ sức khỏe NCT cần tính đến điều kiện thuận lợi này, có

sự hướng dẫn chu đáo dựa trên những hiểu biết sinh – y học hiện đại và truyền thống tốt đẹp của NCT Việt Nam Ngành y tế từ rất sớm (1970) đã có hẳn một chương trình nghiên cứu y học tuổi già, năm 1980 thành lập đơn vị nghiên cứu y học tuổi già và năm 1983 thành lập Viện bảo vệ sức khỏe NCT.

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117-TTg về chăm sóc NCT và hỗ trợ hoạt động cho Hội NCT Việt Nam [59] Chỉ thị khẳng định:

“Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT

là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội NCT, Thủ tướng đã chỉ thị:

(1) Về chăm sóc người cao tuổi

Trang 24

Uỷ ban Nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc NCT và được thể hiện trong kế hoạch phát triển KT-XH ngắn hạn và dài hạn, trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sống mới Dành tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề XH, chăm sóc, phát huy vai trò NCT và hỗ trợ Hội NCT.

(2) Đối với Hội người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và điều kiện hoạt động.

(3) Đối với các Bộ, ngành

Bộ LĐ-TB&XH quản lý về mặt nhà nước đối với Hội NCT,có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội NCT ở Trung ương, xã, phường và thị trấn.

Các Bộ, ngành khi soạn thảo văn bản pháp luật về chính sách đối với NCTcần tham khảo ý kiến Hội NCT trước khi trình Chính phủ và Quốc hội.

Chỉ thị 117-TTg cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục TDTT, Mặt trận tổ quốc Việt Nam… tạo điều kiện và phối hợp chăm sóc và phát huy vai trò NCT.

Pháp lệnh NCT của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2000) ra đời là bước đi thích hợp để chăm sóc NCT Pháp lệnh NCT đã dành chương 2 (14 Điều) về phụng dưỡng, chăm sóc NCT Tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc phụng dưỡng chăm sóc NCT [48].

Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định

và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh NCT” Điều 9 nêu rõ: NCT được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989; NCT được hưởng dịch vụ ưu tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT ngày

24 tháng 01 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), NCT

từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.

Trang 25

Căn cứ Nghị định số 30/CP, Bộ LĐ-TB&XH ban hành Thông tư 16/TT /2002 “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 30/CP của Chính phủ”.

Nghị định 120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/CP năm 2002 Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, gia đình của NCT mua thẻ BHYT cho NCT.

Nghị định 121/CP năm 2003 về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hội NCT cấp xã.

Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 35/2011/TT-BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe NCT,trong đó quy định: NCT được chăm sóc sức khỏe, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban ND các cấp

có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khỏe cho NCT tại địa phương Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khỏe NCT…Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khỏe và thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT tại địa phương Trường hợp NCT bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của NCT…[14].Có thể nói, thông tư 35/2011 của Bộ Y tế đã tiến một bước dài trong việc thể chế hoá chính sách y tế cho NCT.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về NCT Việt Nam.

Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc NCT.

Nghị định 67/CP/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không

có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đ/tháng.

Bằng thực tiễn hoạt động Hội NCT Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước, tham mưu giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể về NCT như: Thành lập Uỷ ban Quốc gia về NCT Việt Nam, xây dựng Chương trình hành động Quốc gia về NCT giai đoạn 2006 –

2010, tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh NCT, chế độ trợ cấp cho NCT từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH, chế độ khám chữa bệnh cho NCT, chế độ cho cán bộ Hội theo Công văn 372 của Bộ Nội vụ (2008).

Trang 26

Tuy nhiên, các chính sách về NCT hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về NCT và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác NCT những năm qua, đó là:

Thứ nhất, Các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ chăm sóc và phát huy vai trò NCT; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác NCT trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ hai, mặc dù Pháp lệnh NCT và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của NCT đã được ban hành và tổ chức thực thi trong thực tế nhưng

ở mức hạn chế vì các văn bản đó đều là các văn bản dưới luật Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về NCT còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn Hơn nữa, Pháp lệnh NCT ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, tỷ lệ NCT mới chiếm khoảng 8% dân số.

Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật NCT, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh NCT và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về NCT ở nước ta hiện nay, vừa đáp ứng được nhu cầu hội nhập vừa có tính lâu dài.

Tóm lại, từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp qui của Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của NCT trong lịch sử, cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, từ đó xác định quyền

và nghĩa vụ chăm sóc và phát huy vai trò NCT; Nhiệm vụ chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội được nâng lên tầm cao mới là NCSK với nguyên lý thực hiện thể hiện ở ba hoạt động chính: Xây dựng chính sách, Tạo khả năng - gồm tạo một môi trường thuận lợi, cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội chọn lựa những điều có lợi cho sức khoẻ và Phối hợp liên ngành.

Tuy nhiên, các chính sách về NCT hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về NCT và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác NCT những năm qua, bao gồm cả việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp qui và việc triển khai, tạo điều kiện cho NCT được lựa chọn những điều có lợi cho việc

Trang 27

NCSK Chính vì vậy, việc lựa chọn và xây dựng các giải pháp NCSK cho NCT cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

1.3 Đặc điểm quá trình lão hoá và sức khoẻ của người cao tuổi 1.3.1 Lão hoá

1.3.1.1 Khái niệm lão hoá cơ thể

Trong sinh học, lão hóa (tiếng Anh: senescence, xuất phát từ senex trong tiếng Latin có nghĩa là "người già", "tuổi già") là trạng thái hay quá trình tạo nên tuổi tác, già nua.

Lão hóa tế bào là một hiện tượng khi các tế bào phân lập trở nên hạn chế khả năng phân chia trong môi trường nuôi cấy.

Lão hóa cơ thể đề cập đến quá trình trưởng thành và già nua của sinh vật Tuổi già của sinh vật thường kèm theo biểu hiện giảm khả năng chống chọi với stress, mất dần cân bằng nội môi và tăng nguy cơ mắc bệnh tật Do

đó, cái chết là một kết cục cuối cùng của lão hóa Một số nhà khoa học trong lĩnh vực biogerontology cho rằng tuổi già bản thân nó là một loại bệnh và có thể cứu chữa được, mặc dù đây là một vấn đề đang tranh cãi [72].

Như vậy có thể thấy, lão hóa là một quá trình sinh học tự nhiên và diễn ra liên tục trong đời sống cá thể sau tuổi trung niên, kết thúc ở cái chết Các biểu hiện của già hóa là kết quả tương tác giữa cơ thể và môi trường, vì vậy lão hóa không thể ngăn chặn nhưng có thể làm chậm quá trình đó nhờ vào sự nhận thức tích cực nhằm làm hạn chế các tác động bất lợi đối với sức khỏe [32],[72].

1.3.1.2 Giả thuyết về lão hóa

Nguyên nhân gây lão hóa được giải thích bằng nhiều thuyết khác nhau Quá trình lão hóa diễn ra ở mọi cơ quan, tuy nhiên nếu thực hiện tích cực một số biện pháp chúng ta có thể trì hoãn quá trình lão hóa [72].

Ở Việt Nam, lão hóa là một vấn đề rất được quan tâm, tuy nhiên tài liệu về lão hóa còn rất giới hạn Trong phạm vi luận án xin đề cập đến một số thuyết về quá trình lão hóa làm cơ sở cho việc nhận thức cơ chế của quá trình này.

Trang 28

Các tế bào soma của người bình thường đều có một đời sống có giới hạn Thông thường tế bào chết đi sau 40-60 chu kì sao chép Thời gian sống của mỗi

tế bào được quyết định về di truyền học bởi hai hệ thống độc lập với nhau:

(1) Hệ thống kiểm soát đời sống tế bào nhờ quà trình làm hao mòn các telomere ở các đầu tận cùng nhiễm sắc thể.

Ở người, các chuỗi lặp lại của telomere có từ 5000 đến 15000 base Telomere có nhiệm vụ bảo đảm sự bền vững của nhiễm sắc thể, chống lại thoái hóa có hại, chống lại sự tái tổ hợp sai lạc và có vai trò điều hòa gene.

Mỗi lần phân chia, các nhiễm sắc thể đều mất một số lượng nhỏ DNA của telomere, khoảng chừng 50-100 base Khi các telomere trở nên quá ngắn thì các nhiễm sắc thể sẽ kém bền vững, hậu quả là các tế bào không thể phân chia được nữa Các nhà nghiên cứu đang bắt đầu đánh giá kích thước của telomere như một "thước đo" chuẩn xác tuổi thọ của các tế bào.

(2) Hệ thống kiểm soát sự tiến triển chu kì tế bào thông qua các gene p53, ADN-PK và INK4:

Gen ADN-PK sửa chữa những gene bị tổn thương Trong khi gene p53 không cho các gene bị tổn thương tự nhân lên Khi có một biến cố lớn trong tế bào, protein p53 sẽ phát đi một hiệu lệnh để tế bào này tự hủy Các nhà khoa học cho rằng các yếu tố lối sống ảnh hưởng đến cơ chế hoạt động của gene p53.

Protein p16INK4a là sản phẩm chính từ sự mã hóa của gene INK4 Sự biểu hiện p16INK4a gia tăng theo tuổi tác và quá trình biểu hiện này liên quan đến quá trình già hoá của tế bào đã được thừa nhận là chi phối tới quá trình lão hóa Khi càng lớn tuổi thì nồng độ p16INK4a sẽ càng cao Kết quả nghiên cứu cho thấy là p16INK4a đã chi phối quá trình lão hóa bằng cách giới hạn

sự tự làm mới của các tế bào có khả năng nhân đôi [54].

Thuyết gốc tự do

Các phản ứng sinh hóa bên trong tế bào "phóng" ra các gốc tự do (radical libre, free radical) Các gốc tự do là nguyên nhân chính gây xáo trộn hoạt động của các ty lạp thể (mitochondries), bám vào các DNA, gây đột biến bên trong các tế bào…Nói một cách khác, các gốc tự do là nguyên nhân của sự tự hủy hoại, của sự lão hóa ở cấp tế bào [38].

Gốc tự do là những tiểu phân hóa học (phân tử, nguyên tử, ion) có một nguyên tử đơn độc ở lớp ngoài cùng Với áp lực mạnh của điện tử đơn độc, gốc tự

Trang 29

do có khả năng tương tác với tất cả các phân tử của những tế bào bên cạnh

nó, phá vỡ hoàn toàn màng tế bào, làm hư hại gene di truyền hoặc hủy hoại toàn bộ tế bào Nó làm tế bào già đi và gây ra các bệnh lý [31],[38].

Thuyết kích tố

Thuyết này dựa vào nhận xét rằng mọi giai đoạn của đời sống đều do kích

tố điều hành Lúc nhỏ có kích tố tăng trưởng Từ tuổi dậy thì có các kích tố nam,

nữ Khi sự bài tiết các kích tố yếu đi thì cơ thể già dần Còn nhiều kích tố khác cũng ảnh hưởng tới sự lão hóa, ví dụ như DHEA và Melatonin [10].

Đáng chú ý nhất là hormone tăng trưởng hGH Hormone tăng trưởng được sản xuất ở tuyến yên Các nhà khoa học đã khám phá một yếu tố quan trọng liên quan mật thiết với tuổi già, đó là sự thiếu hụt hormone tăng trưởng hGH hGH được phóng thích bởi tuyến yên vào máu, nó nhanh chóng đến gan để được chuyển thành chất DGF-1, DGF-2 Đây là những phân tử truyền tin và được xem là "yếu tố tăng trưởng", kích thích sự phát triển các phần khác nhau của cơ thể Lượng hGH đạt tối

đa lúc 20 tuổi và sau đó giảm dần Đến tuổi 60 thì lượng hGH chỉ bằng khoảng 20% so với lúc trẻ hGH giúp tăng chiều dài xương, tăng tổng hợp protein trong tế bào, giúp cho cơ rắn chắc, phục hồi sự hư hỏng của da và tim, chống lại sự thoái hóa của tế bào, từ đó ngăn chặn được sự lão hóa Hormone này kích thích sự tổng hợp collagen, giúp tạo sự khỏe mạnh, dẻo dai cho sụn, gân, dây chằng và xương Khi tuổi cao, việc giảm collagen dẫn đến nhăn da, yếu cơ xương khớp…[20],[21].

15-Thuyết miễn dịch

Miễn dịch bảo vệ cơ thể bằng nhiều cách Có thể là các bạch cầu trực tiếp tấn công, vô hiệu hóa vi trùng, nấm bệnh Có thể là các bạch cầu đặc biệt tạo ra chất kháng thể, lưu thông trong máu và vô hiệu hóa tác nhân ngoại nhập.

Lý thuyết này dựa vào hai nhận xét:

Thứ nhất là với tuổi già, cơ thể sản xuất ít kháng thể, đồng thời phẩm chất cũng kém;

Thứ hai là với tuổi già, cơ thể đôi khi lại tạo ra kháng thể chống lại chính các phân tử cấu tạo cơ thể, đưa tới bệnh hoạn, suy yếu [31].

Thuyết về sự lầm lẫn

Sự lầm lẫn có thể do:

Sự hư hao, cơ thể với các chức năng hao mòn theo thời gian vì những va chạm, xâm lấn Nếu không được tu bổ, chữa trị thì cơ thể sẽ bị tiêu hủy Thuyết này

Trang 30

được bác học người Đức August Weismann đưa ra năm 1882 Theo Dan Georgakas, cơ thể già vì thường xuyên bị tác hại bởi các áp lực từ bên ngoài như xúc động, va chạm thực thể, nhiễm độc môi trường [54].

Phản ứng tròng tréo: Chất tròng tréo thường là một hóa chất cột hai phân tử riêng rẽ với nhau Sự tròng tréo (cross linkage) chất đạm làm tổn thương mô và tế bào, ngăn cản sự thu nhập chất dinh dưỡng, giảm bài tiết chất phế thải, đưa tới sự suy yếu cơ thể.

Thuyết về sự tích lũy những sai lầm

Để tăng trưởng, cơ thể liên tục biến chế các phân tử đạm và DNA Nhưng những phần tử này không phải lúc nào cũng được sản xuất hoàn hảo Có nhiều tổn thương trong việc tổng hợp chất đạm, tạo ra chất đạm bất thường mà khi tích tụ với nhau sẽ gây hư hao cho tế bào, mô và các bộ phận Theo thuyết này, khi ta về già thì cơ thể dễ phạm các lỗi lầm kể trên, đưa đến sự già [54].

Tích trữ những đột biến

Thuyết này liên quan tới các tế bào thân (somatic cells) là loại tế bào luôn luôn sinh sản và hủy diệt Gene trong tế bào bị ảnh hưởng của các tác nhân nguy hại như tia phóng xạ, hóa chất độclàm thay đổi cấu tạo, chức năng lệch lạc, kém hoạt động Sự đột biến có thể truyền sang thế hệ tế bào kế tiếp [54].

1.3.1.3 Đặc điểm của lão hoá cơ thể

Lão hóa là một tiến trình tự nhiên và xảy ra liên tục, tăng dần theo thời gian, không ngăn chặn được nhưng có thể làm chậm lại [70] Cơ thể đạt đỉnh cao về thể chất và chức năng ở tuổi 35, sau đó suy giảm dần Những thay đổi

về cấu tạo sẽ dẫn đến sự thay đổi hình dạng bên ngoài và chức năng sinh lý.

Những hậu quả của sự lão hóa gây ra cho cơ thể: [25],[43]

Giảm khả năng thích nghi khi thời tiết quá lạnh hay quá nóng vì

cơ thể họ không thể điều chỉnh nhiệt độ một cách có hiệu quả.

Mất khả năng đối phó: thương tích hay bệnh tật chỉ làm giảm chất lượng sống ở người trẻ tuổi nhưng có thể làm cho người già trở nên tàn phế.

Sự suy giảm chức năng của các cơ quan trong cơ thể dẫn đến việc NCT dễ mắc bệnh Những bệnh thường gặp là tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, loãng xương, và những bệnh nhiễm khuẩn.

Những đặc điểm của quá trình lão hóa cơ thể:

Trang 31

Hiện tượng lão hóa ở mỗi người khác nhau Ngay trong một cơ thể, sự thay đổi ở cơ quan này không giúp tiên đoán được sự lão hóa của cơ quan khác.

Đặc điểm của quá trình lão hoá cơ thể là làm giảm chức năng mọi

cơ quan, do đó hạn chế khả năng thích ứng và phục hồi, dễ đưa đến rối loạn cân bằng nội môi Đó là tiền đề cho bệnh tật xuất hiện Có thể là bệnh nhẹ từ tuổi trẻ nay phát triển mạnh ở cơ thể già, cũng có thể là bệnh mới, tương đối đặc trưng cho người già Do vậy tỉ lệ tử vong tăng tăng gấp đôi sau mỗi 8 năm, diễn biến bệnh không điển hình, dễ bất ngờ [21],[43].

Bệnh đặc trưng cho tuổi già thường gặp: ung thư, tim mạch, tiểu đường, loãng xương, tự miễn.…Cứ mỗi thập niên tuổi, tỷ lệ chết do tim mạch lại tăng gấp

2-3 lần Với ung thư, nhiễm khuẩn cũng tương tự Bệnh tim mạch và ung thư làm giảm thọ 10-12 năm [25],[31].

Thống kê cho thấy người già trên 65 tuổi thường mang 1-2 bệnh mạn tính khác nhau Trên thực tế, số người chết thuần tuý do già là rất hiếm [10].

1.3.2 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý ở người cao tuổi 1.3.2.1 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ thần kinh

Hệ thần kinh có chức năng chỉ huy, điều hòa mọi hoạt động của cơ thể Về mặt giải phẫu, khối lượng não bộ giảm dần, chỉ còn khoảng 1.180g

ở nam và 1.060g ở nữ khi 85 tuổi so với 1.400g và 1.260g khi 20 – 25 tuổi.

Về mặt sinh lý, biến đổi thường gặp nhất là giảm khả năng thụ cảm như giảm thị thực, thính lực, khứu giác, vị giác, xúc giác; các khớp thần kinh giảm tính linh hoạt trong dẫn truyền xung động Hậu quả là phản xạ không điều kiện chậm hơn, yếu hơn; hoạt động của thần kinh cao cấp có những biến đổi: giảm

ức chế rồi giảm hưng phấn, sự cân bằng kém đi dẫn đến rối loạn hình thành phản xạ có điều kiện; thực tế thường gặp trạng thái cường giao cảm, rối loạn giấc ngủ với giấc ngủ không sâu, ban ngày dễ ngủ gà ngủ gật.

Về mặt tâm lý, nhiều người có sức khỏe bình thường vẫn giữ được một phong thái hoạt động thần kinh cao cấp như lúc còn trẻ Khi sức khỏe giảm, tâm

lý và tư duy có những biến đổi và mức độ biến đổi tùy thuộc vào thể trạng chung

và thái độ của những người xung quanh Đặc điểm tâm lý là hướng đời sống nội tâm, trí nhớ và kiến thức chung về nghiệp vụ vẫn khá tốt nhưng thường giảm ghi nhớ những việc mới, những vấn đề trừu tượng [33],[56],[99].

1.3.2.2 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ vận động

Trang 32

Có rất nhiều thay đổi diễn ra trong hệ cơ xương khớp của người già Những thay đổi tác động lớn đến sức khỏe và các chức năng sống của NCT [23].

Giảm tổng khối lượng xương và cơ Giảm khối lượng xương diễn ra dưới dạng mất calci xương làm xương trở nên giòn và yếu, loãng xương và tăng nguy

cơ gãy xương Ở phụ nữ hiện tượng này nổi bật hơn Cần lưu ý rằng sự giảm khối lượng xương và cơ có thể được hạn chế bởi luyện tập TDTT.

Có sự giảm dần sức căng cơ, tính mềm dẻo và sức mạnh của cơ Sau tuổi 30 khối lượng cơ bắt đầu giảm, đến năm 70 chỉ còn bằng một nửa so với lúc còn trẻ Hậu quả là người già giảm sức mạnh và độ bền [23].

Lớp sụn nằm giữa các khớp mỏng đi, các mặt khớp dễ bị tổn thương.

Sự tổn hại của khớp dẫn đến viêm xương khớp, thường gặp ở người già.

Tập thể dục rất cần thiết để duy trì sức khỏe tuổi già, có thể tạo ra những ảnh hưởng tích cực lên NCT bao gồm khả năng duy trì sức mạnh và sức dẻo dai của hệ cơ xương khớp Tất cả NCT nên được khuyến khích để tìm một chương trình luyện tập mà họ ưa thích và có thể tham gia thường xuyên Luyện tập TDTT thường xuyên giúp làm chậm quá trình lão hóa trên hệ cơ xương khớp [28], [55].

1.3.2.3 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ tim mạch Đối với tim, nếu không có bệnh lý đi kèm thì khối lượng của cơ tim thường giảm, hệ tuần hoàn nuôi tim cũng giảm hiệu lực làm ảnh hưởng đến dinh dưỡng của cơ tim Sự biến đổi ở tim trái rõ hơn, nhịp tim thường chậm hơn do giảm tính linh hoạt của xoang tim, việc cung cấp máu bị giảm dần.

Đối với mạch máu, các động mạch nhỏ ngoại biên hẹp lại làm mất một

số mao mạch, giảm cung cấp máu đến các mô tế bào, làm tăng sức cản, hậu quả là tim phải tăng sức bóp Tình trạng xơ cứng động mạch chủ cũng rất phổ biến Tĩnh mạch giảm trương lực và độ đàn hồi, do đó dễ bị giãn.

Đối với thành phần sinh hóa của máu, nhóm bêta lipoprotein tăng, nhóm alpha lipoprotein giảm Lượng lipide toàn phần, triglycerid, acid béo không este hóa, cholesterol trong máu đều tăng.

Đối với huyết áp, ở những người khỏe mạnh thì HATT tăng nhưng không vượt quá giới hạn (<29 mmHg) và HATTr tăng đến 8,6 mmHg so với còn trẻ [70]. 1.3.2.4 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ hô hấp

Trang 33

Sự lão hóa chủ yếu ở hệ hô hấp ngoài với biến đổi về hình thái học và chức năng do nhiều yếu tố như: sụn sườn bị vôi hóa, khớp sườn – xương sống cứng, đĩa đệm thoái hóa, cơ lưng dài teo làm hạn chế cử động.

Tế bào biểu mô hình trụ phế quản dày và bong ra, tế bào biểu mô tiết dịch loạn dưỡng, chất nhầy giảm lượng và cô đặc Lớp dưới biểu mô xơ hóa Mô xơ quanh phế quản phát triển làm ống phế quản không đều, có chỗ hẹp chỗ phình Hoạt động lông rung giảm Nhu mô phổi giảm mức đàn hồi, các phế nang cũng

bị giãn ra Về chức năng, các dung tích phổi đều giảm Tỷ lệ thể tích khí thở ra trong 1 giây trên dung tích sống (VEMS/CV) giảm từ 75% xuống còn 50 – 60% Thông khí tối đa giảm rõ rệt, khả năng hấp thu oxy cũng kém hơn [32],[70].

1.3.2.5 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ miễn dịch Kháng thể dịch thể: Giảm nồng độ các kháng thể tự nhiên (kháng thể nhóm máu), giảm đáp ứng tạo kháng thể với kháng nguyên lạ, tăng sản xuất tự kháng thể (gặp ở 10-15% người già) Cơ chế: Có thể do giảm hoạt động của tế bào lymphoT ức chế.

Đáp ứng miễn dịch tế bào: Giảm phản ứng da: Tuberculin, DNCB (Dinitroclorobenzene); Giảm phân bào với chất kích thích: phytohemaglutinin, concanavalin A; Giảm sản xuất và giảm cả số thụ thể với Interleukin-2; Giảm sản xuất Interleukin-3, GM-CSF; Interleukin-4, 5, 6 thì bình thường hoặc tăng; Giảm hoạt tính và số lượng tế bào lympho TCD4 (giảm kháng thể).

1.3.2.6 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ tiết niệu Thận là một cơ quan bảo đảm sự thanh lọc các chất cặn bã khỏi cơ thể, là cơ sở thực hiện ổn định nội môi Biểu hiện lão hóa xuất hiện sớm ở thận từ tuổi 20 với những biến đổi ở các mao mạch của thận Đến khoảng 70 – 80 tuổi, số nephron còn hoạt động sẽ giảm khoảng 1/3 hoặc 1/2 so với lúc mới sinh Những nephron mất đi được thay thế bằng mô liên kết, đó là hiện tượng xơ hóa thận và chức năng, mức lọc của vi cầu thận giảm dần.

1.3.2.7 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ tiêu hoá Đối với ống tiêu hóa, có hiện tượng thu teo nhưng ở mức độ nhẹ Sự suy yếu các cơ thành bụng và các dây chằng dẫn đến trạng thái sa nội tạng Đáng chú ý là sự giảm hoạt lực của các dịch và các men tiêu hóa Nhu động của dạ dày và ruột cũng giảm theo tuổi, khả năng tiêu hóa hấp thu ở ruột giảm dễ dẫn đến sự rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến vấn đề dinh dưỡng [32].

Trang 34

Đối với gan, sự biến đổi được ghi nhận là giảm khối lượng, gan chỉ còn khoảng 930 – 980 gam lúc 75 tuổi so với 1.430 gam lúc 40 tuổi Quá trình teo tế bào nhu mô gan đi đôi với quá trình thoái hóa mỡ Chức năng gan kém dần, nhất

là việc chuyển hóa chất đạm, giảm độc, tái tạo dễ có rối loạn chức năng.

Đối với túi mật và đường dẫn mật, ghi nhận tình trạng giảm độ đàn hồi, túi mật giãn ra nên dễ có rối loạn điều hòa sự lưu thông của mật.

1.3.2.8 Những biến đổi giải phẫu và chức năng sinh lý hệ nội tiết Hoạt động của hệ nội tiết thường gắn liền với hoạt động của hệ thần kinh Trong quá trình điều hòa mọi chức năng của cơ thểcó sự kết hợp chặt chẽ giữa thần kinh và nội tiết để hình thành một hệ thống điều hòa thần kinh thể dịch.

Biến đổi các tuyến nội tiết trong quá trình lão hóa không đồng thì và đồng tốc Bắt đầu là tuyến ức, sau đến tuyến sinh dục rồi tuyến giáp trạng, cuối cùng

là tuyến yên và thượng thận Rối loạn thần kinh nội tiết có thể có nhiều biểu hiện

đa dạng, tạo điều kiện cho một số bệnh tật phát sinh và phát triển như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, loãng xương… Ngoài ra, những sự biến đổi trong chức năng của các tuyến nội tiết cũng làm thay đổi những phản ứng thích nghi đối với các stress, thông thường xảy ra theo hướng cường giao cảm.

1.3.3 Khái niệm sức khoẻ và nâng cao sức khoẻ

1.3.3.1 Khái niệm sức khoẻ

Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật (WHO, 1948) Trong định nghĩa này, sức khoẻ đã được quan niệm theo nghĩa rộng, không chỉ về thể chất mà cả những yếu tố khác, đó là tinh thần và xã hội [22].

Ngoài ra, định nghĩa này cũng hàm ý, để có được sức khoẻ, chúng ta không thể chỉ thực hiện việc phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng

mà còn cần phải thực hiện các hoạt động mang lại đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú cùng các hoạt động cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội.

Ngoài khái niệm được thống nhất sử dụng của WHO, trong thực tiễn còn tồn tại nhiều quan điểm khác tương đồng như:

Quan điểm của Bác Hồ về sức khoẻ: “Khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ như vậy là sức khoẻ” được đăng trong bài “Sức khỏe và thể dục”.

Cố GS Phạm Song cũng cho rằng: Sức khỏe là trạng thái tinh thần hài hoà, cân bằng, sống có ý chí, lí tưởng, có kiểm soát.

Trang 35

Có thể thấy, các định nghĩa, các quan điểm được nêu lên đều có những điểm chung: Sức khỏe là trạng thái hài hòa toàn diện về cả thể chất, tinh thần và xã hội.

1.3.3.2 Nâng cao sức khoẻ

Khái niệm nâng cao sức khỏe

WHO (1977) đã định nghĩa: NCSK là quá trình làm cho dân chúng nâng cao

sự kiểm soát vấn đề sức khỏe và cải thiện sức khỏe của chính bản thân họ.

Mục đích của NCSKlà cải thiện sức khỏe con người và để con người kiểm soát nhiều hơn trên các vấn đề sức khỏe của họ.

Theo Bộ Y tế (1993), “NCSK là một quá trình nhằm giúp nhân dân

tự thay đổi những hành vi có hại cho sức khỏe để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường sức khỏe”.

NCSK là một khái niệm lần đầu tiên được chính thức đề cập trong Hiến chương Ottawa của WHO năm 1986 Khái niệm bắt nguồn từ khái niệm chăm sóc sức khoẻ ban đầu được đề cập trong bản Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978.

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là phương cách, trong đó từng cá nhân, gia đình, cộng đồng tự ý thức và thực hiện việc chăm sóc sức khoẻ cho chính mình với sự hỗ trợ của ngành Y tế và các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội [40],[62].

Còn NCSK chính là sự hỗ trợ, mà trong đó (theo WHO) quan trọng nhất chính là tạo khả năng cho người dân kiểm soát và NCSK của mình Chi tiết hơn, nguyên lý thực hiện NCSK thể hiện ở ba hoạt động chính:

- Xây dựng chính sách, đây là hoạt động nhằm thúc đẩy sự hoàn

thành các chính sách mang lại sức khoẻ cho người dân.

- Tạo khả năng, là hoạt động nhiều mặt, bao gồm tạo môi trường thuận

lợi, cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội, giúp người dân có khả năng chọn lựa những điều có lợi cho sức khoẻ.

- Phối hợp liên ngành tạo điều kiện phối hợp các ban ngành đoàn thể, tổ chức xã hội để tạo hiệu quả tốt cho sức khoẻ người dân đến mức cao nhất.

Ba hoạt động này cũng nói lên cơ chế của NCSK là “môi trường lành mạnh”, “tự chăm sóc” và “trợ giúp lẫn nhau” theo quan điểm của Bộ trưởng Bộ Y tế và phúc lợi quốc gia Canada đã nêu ra năm 1984 [35].

Như vậy, NCSK là một quan niệm tích cực do nhấn mạnh đến các nguồn lực

cá nhân, xã hội, chính trị NCSK không chỉ chú trọng đến hành vi, lối sống mà gồm

cả môi trường sống, đường lối, chính sách tạo điều kiện cho sức khỏe [11],[40].

Trang 36

Các nguyên tắc NCSK

Các yếu tố ảnh hưởng và quyết định tới sức khỏe rất đa dạng Theo

mô hình của Lalonde (1974) cho thấy, các yếu tố bao gồm các nhóm: Nhóm yếu tố sinh học; Hành vi, lối sống; Dịch vụ y tế; Môi trường.

Như vậy, muốn NCSK cần tác động đồng bộ các giải pháp với sự tham gia của cả xã hội và mỗi cá nhân dựa trên các nguyên tắc sau [35]:

(1) NCSK thu hút toàn bộ người dân trong bối cảnh sống hàng ngày của

họ, không chỉ tập trung vào những người có nguy cơ cao cho một loại bệnh.

(2) NCSK hướng tới các hành động nhằm tác động lên các yếu tố quyết định tạo nên sức khỏe Điều đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành ngoài y tế do tính đa dạng của các điều kiện ảnh hưởng đến sức khỏe.

(3) NCSK kết hợp các phương pháp khác nhau: truyền thông, giáo dục, luật pháp, biện pháp tài chính, thay đổi về tổ chức, sự phát triển cộng đồng và các hoạt động của địa phương chống lại các mối nguy hiểm cho sức khỏe.

(4) NCSK nhằm vào sự tham gia cụ thể và có hiệu quả của quần chúng (5) NCSK trước hết là một thể nghiệm về mặt xã hội và chính trị, không phải là một dịch vụ y tế, mặc dù các nhà chuyên môn giữ vai trò quan trọng.

Quan điểm đổi mới của Đảng về NCSK nhân dân

Trước đây, Đảng, Nhà nước xác định 2 nhiệm vụ của công tác y tế là phòng bệnh, chữa bệnh, thì Nghị quyết 46/NQ-TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và NCSK nhân dân trong tinh hình mới đã nêu ra một yêu cầu mới, đó là NCSK nhân dân Bảo vệ, chăm sóc và NCSK nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo vệ nguồn nhân lực cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc,

là một chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện chăm sóc sức khoẻ toàn diện, gắn phòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và tập luyện TDTT NCSK.

Bổn phận bảo vệ, chăm sóc và NCSK nhân dân là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp

uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các

tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt [58].

Mục tiêu nhấn mạnh phải NCSK, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực.

Trang 37

Trong nhiệm vụ và giải pháp đã chỉ ra, phải mở rộng và phát triển có hiệu quả các trương trình mục tiêu quốc gia về y tế và NCSK Phát triển phong trào vệ sinh, phòng bệnh và TDTT Triển khai mạnh các biện pháp kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, kịp thời dự báo, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đối với sức khoẻ do thay đổi lối sống, môi trường và điều kiện lao động [11], [61].

Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi nhiều yếu tố tổng hợp, trong đó:

- Người dân được sống trong một chế độ xã hội mà Nhà nước quan

tâm thực sự đến sức khoẻ nhân dân, luôn luôn ban hành những luật pháp, chủ trương chính sách nhằm bảo vệ, chăm sóc và NCSK nhân dân.

- Xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh, người dân được sống trong một xã hội có an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; có một nền tự do, dân chủ; một xã hội công bằng, văn minh, mọi người có điều kiện phát triển toàn diện về mọi mặt; có đời sống kinh tế ổn định, gia đình ấm no, hạnh phúc.

- Tạo ra môi trường tự nhiên không bị ô nhiễm, ngăn chặn tình trạng phá rừng, chủ động và ngăn ngừa và hạn chế tác hại của mưa bão, lũ lụt, lở đất….

- Tạo ra đời sống văn hoá tinh thần phong phú, được hưởng thụ những thành quả văn hoá, nghệ thuật, vui chơi, giải trí, được khuyến khích và tổ chức

để người dân tham gia tập thể dục, rèn luyện thân thể và các hoạt động thể thao.

- Xây dựng một xã hội mà con người có hiểu biết, có kỹ năng

sống, có lối sống lành mạnh, trong sáng, xoá bỏ mê tín, dị đoan và các

tệ nạn xã hội khác [61][62].

Các giải pháp NCSK nhân dân trong Nghị quyết 20-NQ/TW

Trong Nghị quyết 20-NQ/TW, các giải pháp được đề cập rõ ràng, cụ thể, đặc biệt các bộ phận tổ chức thực hiện là toàn bộ hệ thống chính trị chứ không riêng ngành y tế Sau đây là các giải pháp cụ thể [9 ]:

- Tập trung nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, đề cao trách

nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân; xây dựng và tổ chức thực hiện đồng bộ các đề án, chương trình về NCSK và tầm vóc người Việt Nam Quan tâm các điều kiện để mỗi người dân được bảo

vệ, NCSK, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo.

- Khuyến nghị, phổ biến chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng

nhóm đối tượng, khẩu vị của người Việt Triển khai các chương trình

bổ sung vi chất cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em, NCT.

Trang 38

- Khẩn trương hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về an

toàn thực phẩm Thực hiện việc kiểm soát an toàn thực phẩm dựa trên đánh giá nguy cơ, sản xuất kinh doanh theo chuỗi, truy xuất nguồn gốc.

- Tập trung chỉ đạo công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ

ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu tới sức khoẻ.

- Đổi mới căn bản GDTC, tăng số môn tập luyện tự chọn trong nhà

trường, kết hợp chặt chẽ với tập luyện ngoài nhà trường Phát triển mạnh các phong trào rèn luyện thân thể Tăng cường công tác y tế học đường.

- Phát huy hiệu quả các thiết chế, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá,

TDTT Tăng cường tuyên truyền, vận động xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, vệ sinh; xoá bỏ các tập tục lạc hậu ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.

- Triển khai các giải pháp phòng, chống thảm hoạ; bảo đảm an toàn

giao thông, an toàn lao động; phòng, chống cháy, nổ, bệnh nghề nghiệp.

Bài học rút ra cho việc NCSK người cao tuổi

Nâng cao sức khỏe cho NCT là một nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa các bệnh tuổi già gây nên.

Để tăng cường sức khỏe người già, trước hết cần xây dựng nếp sống lành mạnh, cởi mở, vui tươi, ăn ngủ – tập luyện điều độ là điều cần thiết để NCSK NCT cũng nên từ bỏ những thói quen xấu như hút thuốc lá, uống bia rượu…

Để NCSK cho NCT thì việc vận động thường xuyên rất quan trọng, hoạt động này giúp làm chậm lại quá trình lão hóa của cơ thể, giúp cơ - xương - khớp dẻo dai hơn Do đặc điểm thể chất mà NCT cần có chế độ tập luyện phù hợp với tuổi và trạng thái sức khỏe của mình Những môn thể thao thích hợp là tập dưỡng sinh, đi bộ, đạp xe đạp với tốc độ thong thả, bơi lội nhẹ nhàng… Các hoạt động này cũng chỉ nên kéo dài khoảng 30 – 45 phút mỗi ngày và nên cách giờ ngủ ít nhất 3 tiếng để cơ thể có thời gian nghỉ ngơi [45].

Ngoài ra còn có thể NCSK NCT bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, trong

đó cần quan tâm trước hết tới việc bổ sung Vitamin và khoáng chất thiết yếu.

Tóm lại, qua phân tíchcho thấy, lão hóa là một quá trình sinh học tự nhiên và diễn ra liên tục trong đời sống cá thể sau tuổi trung niên, kết thúc ở cái chết Các giả thuyết về lão hóa đã chỉ ra nguyên nhân và các biểu hiện của già hóa là kết quả

Trang 39

tương tác giữa cơ thể và môi trường, vì vậy, lão hóa không thể ngăn chặn Quá trình lão hóa gây nên những thay đổi về cấu tạo của cơ thể, dẫn đến sự thay đổi hình thái và chức năng sinh lý: giảm khả năng thích nghi, mất khả năng đối phó và sự suy giảm chức năng, dẫn đến việc NCT dễ mắc bệnh.

Lão hóa không thể ngăn chặn, nhưng có thể làm chậm quá trình đó nhờ vào sự nhận thức tích cực nhằm làm hạn chế các tác động bất lợi đối với sức khỏe Nguyên lý thực hiện NCSK thể hiện ở ba hoạt động chính: Xây dựng chính sách, Tạo khả năng - gồm tạo một môi trường thuận lợi, cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội chọn lựa những điều có lợi cho sức khoẻ và Phối hợp liên ngành.

Xác định việc NCSK là nhiệm vụ của toàn xã hội, vì vậy mỗi người có thể phát huy vai trò cá nhân để cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị này.

1.4 Cơ sở khoa học của việc tập luyện Yoga và hoạt động vận động nâng cao sức khỏe người cao tuổi

1.4.1 Cơ sở khoa học của việc tập luyện Yoga nâng cao sức khỏe 1.4.1.1 Tổng quan về tập luyện Yoga

Yoga là chìa khóa vàng để mở tung cánh cửa dẫn đến sự bình an, tĩnh lặng và niềm hoan lạc, cảm giác này xuất hiện khi bạn thực hành các asana (tư thế) và pranayama (hơi thở) Các asana phục hồi sự ổn định trong cơ thể thông qua các hoạt động của cơ bắp, xương cốt, tăng cường tưới máu cho cơ thể, cải thiện hô hấp

và tăng cường sinh lực (điều hòa nội tiết, hệ miễn dịch…) [82] Thực hành Yoga và phép luyện thở là phương pháp trị liệu stress hiệu quả và tự nhiên nhất [83] Trong khi phục hồi cơ thể, Yoga giải phóng tinh thần, thoát khỏi cảm xúc tiêu cực khiến bạn hy vọng và lạc quan Đó là sự tái sinh [29],[44],[66],[68] Các asana hợp nhất thể xác, tinh thần, trí tuệ và cái tôi thành một, trải qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (Arambhavastha): Thực hành ở mức độ rèn luyện thể lực Giai đoạn này rất quan trọng đối với người mới học, không thể bỏ qua Để học được các asana cần phải chú ý sao cho mọi cử động được chính xác, ngay từ đầu cần phải cố gắng học duy trì tư thế trong một thời gian.

Giai đoạn 2 (Ghatavastha): Ý chí cùng cộng hưởng với thể xác Người học thực hành các tư thế một cách chính xác, cơ thể đã được kiểm soát, nhưng người học phải thúc đẩy tâm trí tiếp xúc với từng bộ phận của cơ thể.

Trang 40

Giai đoạn 3 (Parichayavastha): Xuất hiện khi trí tuệ và thể xác hợp nhất làm một.Đây là giai đoạn của sự hiểu biết sâu sắc, khi tinh thần của bạn đem thể xác tiếp cận với trí tuệ Các điều chỉnh về tư thế không chỉ có

cơ bắp, xương và khớp mà ở bậc cao, các điều chỉnh ở giai đoạn này tinh

tế và sáng suốt hơn, phải thuộc lĩnh vực thể xác, trí não và sinh lý hơn.

Giai đoạn 4 (Nispattyavastha): Trạng thái hoàn mỹ một khi trí tuệ cảm nhận được sự hòa nhập làm một của thể xác và bề mặt da, nó cho ta cái tôi (Atman) Ở giai đoạn này asana mang tính tâm linh [1],[27],[52],[69].

1.4.1.2 Cơ sở khoa học của thực hành thở trong Yoga với việc nâng cao sức

khỏe

Trong Yoga, hít thở và chuyển động cơ thể cần được kết hợp thông minh với nhau.Nếu thở không đúng cách Yoga có thể mang lại tác dụng ngược đối với cơ thể Điều bắt buộc để thực hành tốt Yoga là phải biết khi nào cần hít vào và khi nào cần thở ra Có 05 nguyên tắc vàng trong kỹ thuật hít thở trong Yoga mà chúng ta có thể

áp dụng trong hầu hết các chuỗi và các phong cách Yoga và hiểu cách cơ thể ta hít thở như thế nào sẽ giúp hiểu rõ hơn những nguyên tắc này [85].

Khái quát về hoạt động hít thở

Hít (hay Inhalations) là một quá trình chủ động trong chu trình hít thở, được tạo ra bởi những cử động của cơ hoành, cơ liên sườn và các cơ hô hấp thứ cấp Để không khí đi vào phổi: các cơ hô hấp co nâng xương sườn và xương

ức lên cao, giúp ngực mở rộng hướng ra ngoài và lên trên; khi cơ hoành co, vòm

cơ hoành hạ xuống nén dạ dày và ống tiêu hóa lại, khoang bụng mở rộng ra Kết quả là áp lực trong phổi giảm xuống (tạo áp lực âm) và không khí đi vào.

Thở (hay Exhalations) là quá trình thụ động của chu trình hít thở Trong khi thở ra, cơ hoành và các cơ hô hấp được thả lỏng Các mô đàn hồi phổi bị kéo dãn ra trong khi hít vào sẽ đột nhiên co lại, áp lực bên trong phổi tăng lên, và không khí bị đẩy ra khỏi phổi.

Thở làm thay đổi hình dạng của cơ thể, giống như sự chuyển động Các

tư thế asana có thể giúp mở rộng ngực và bụng hoặc sẽ nén lại tất cả Do hơi thở và cử động liên kết với nhau một cách tự nhiên, vì vậy trong Yoga chúng cần được kết hợp với nhau một cách khoa học Hơi thở chính xác giúp hỗ trợ asana

và tăng cường hiệu quả của asana Ngược lại, nếu thở không đúng cách, cử động sẽ bị hạn chế và ảnh hưởng tiêu cực đến hơi thở [51].

Ngày đăng: 15/04/2020, 04:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Hoàng Công Dân (2002), “Đi bộ và chạy dưỡng sinh”, Kỷ yếu Hội thảo KH về Vận động và dinh dưỡng cho người cao tuổi, Bệnh viện Lão khoa TƯ – WHO, Bộ Y tế, tr.70– 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi bộ và chạy dưỡng sinh
Tác giả: Hoàng Công Dân
Năm: 2002
19. Dương Xuân Đạm (1997), “Nghiên cứu một phương pháp luyện tập dưỡng sinh đối với người lớn tuổi”, Luận án PTS khoa học Y - Dược, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một phương pháp luyện tập dưỡng sinh đối với người lớn tuổi
Tác giả: Dương Xuân Đạm
Năm: 1997
24. Đỗ Đình Hồ, Phạm Huy Hùng (2002), “Thực trạng phong trào dưỡng sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Đề tài Sở KHCN Tp. Hồ Chí Minh, tr.33 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phong trào dưỡng sinhtại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Đình Hồ, Phạm Huy Hùng
Năm: 2002
26. Trần Thị Hòa (1998), “Nghiên cứu xây dựng chương trình tập luyện cho NCT thị xã Tuyên Quang”, Lận văn thạc sỹ GDH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng chương trình tập luyệncho NCT thị xã Tuyên Quang
Tác giả: Trần Thị Hòa
Năm: 1998
28. Hoàng Thị Ái Khuê (2010), “Xây dựng một số chương trình tập luyện TDTT phù hợp với sức khỏe người cao tuổi”, Đề tài KHCN cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một số chương trình tập luyện TDTT phù hợp với sức khỏe người cao tuổi
Tác giả: Hoàng Thị Ái Khuê
Năm: 2010
29. Hoàng Thị Ái Khuê, Phạm Thị Hằng Nga (2011),“Tác dụng của tập Yoga lên một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa ở bệnh nhân đái tháo đường tại thành phố Vinh”, Luận văn thạc sỹ sinh học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng của tập Yogalên một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa ở bệnh nhân đái tháođường tại thành phố Vinh
Tác giả: Hoàng Thị Ái Khuê, Phạm Thị Hằng Nga
Năm: 2011
35. Đinh Thế Lập (2002), “Chính sách chăm sóc người cao tuổi Việt Nam: hiện tại, nhu cầu tương lai”, Kỷ yếu Hội thảo chăm sóc người già tại cộng đồng, Bệnh viện Lão khoa TƯ, Hà Nội, tr.42 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chăm sóc người cao tuổi ViệtNam: hiện tại, nhu cầu tương lai
Tác giả: Đinh Thế Lập
Năm: 2002
37. Trịnh Hữu Lộc (2007), “Nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập quyền dưỡng sinh với sức khỏe người cao tuổi nữ”, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện KH TDTT, Hà Nội, tr.20 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập quyềndưỡng sinh với sức khỏe người cao tuổi nữ
Tác giả: Trịnh Hữu Lộc
Năm: 2007
38. Nguyễn Nghiêm Luật (2001), “Sự liên quan giữa các gốc tự do và bệnh tật”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, Vol 16, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự liên quan giữa các gốc tự do và bệnh tật
Tác giả: Nguyễn Nghiêm Luật
Năm: 2001
42. Thang Văn Minh (2005), “Nghiên cứu một số biện pháp NCSK cho người cao tuổi”, luận văn thạc sỹ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp NCSK cho người cao tuổi
Tác giả: Thang Văn Minh
Năm: 2005
43. Đỗ Nguyên Phương (1999), “Tình trạng sức khoẻ hiện nay của người cao tuổi Việt Nam”, Người cao tuổi Việt Nam: thực trạng và giải pháp, Nxb Lao động - Xã hội, Tp. Hồ Chí Minh, tr.97 – 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng sức khoẻ hiện nay củangười cao tuổi Việt Nam
Tác giả: Đỗ Nguyên Phương
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 1999
53. Nguyễn Ngọc Sơn (2011), “Nghiên cứu tác dụng võ cổ truyền Bình Định nhằm duy trì sức khoẻ người cao tuổi”, Luận án tiến sĩ GDH, Viện KH TDTT, Hà Nội, tr.148 – 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng võ cổ truyền BìnhĐịnh nhằm duy trì sức khoẻ người cao tuổi
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2011
57. Phạm Thắng (2002), “Vai trò của tăng cường hoạt động thể lực ở người già”, Kỷ yếu Hội thảo KH về Vận động và dinh dưỡng cho người cao tuổi, Bệnh viện Lão khoa TƯ – WHO, Bộ Y tế, tr. 21 – 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tăng cường hoạt động thể lực ởngười già
Tác giả: Phạm Thắng
Năm: 2002
58. Trần Đức Thọ và cs (1999), “Chăm sóc người già tại cộng đồng”, Hội thảo kinh nghiệm chăm sóc người già tại cộng đồng, Bệnh viện Lão khoa TƯ, Hà Nội, tr. 10 – 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc người già tại cộng đồng
Tác giả: Trần Đức Thọ và cs
Năm: 1999
60. Lê Thị Thanh Thúy (2004), “Nghiên cứu tác dụng của tập luyện thể dục dưỡng sinh đối với người cao tuổi về mặt tâm thể tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án thạc sĩ GDH, Đại học TDTT 2, tr.77 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng của tập luyện thểdục dưỡng sinh đối với người cao tuổi về mặt tâm thể tại Thànhphố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thị Thanh Thúy
Năm: 2004
62. Nguyễn Văn Tiên (2001), “Già hóa dân số ở Việt Nam: mô hình chăm sóc sức khoẻ người già một số xã vùng đồng bằng sông Hồng”, Luận án tiến sỹ Học viện Quân y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số ở Việt Nam: mô hìnhchăm sóc sức khoẻ người già một số xã vùng đồng bằng sôngHồng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiên
Năm: 2001
67. Lê Anh Tuấn và cộng sự (2003), “Nghiên cứu tác dụng của tập dưỡng sinh đối với sức khỏe NCT Thành phố Hà Nội”, Đề tài NCKH cấp thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng của tập dưỡng sinh đối với sức khỏe NCT Thành phố Hà Nội
Tác giả: Lê Anh Tuấn và cộng sự
Năm: 2003
17. J.M.Déchanet (2007), 10 bài Yoga thông dụng, Dịch giả: Lê Thanh, Nxb TDTT Khác
18. Trịnh Đình Dương (2000), Danh nhân Hồ Chí Minh, Nxb Lao động Khác
20. V.V.Folkis (1990), Sự hoá già và kéo dài tuổi thọ, Nxb Khoa học, Saint Perterburg Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w