1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỬ DỤNG cây KHOAI mì (sắn) để PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI dê ở AN GIANG, VIỆT NAM tt

24 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 98,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu này được thiết kế với các mục tiêu chọn cây sắn thích nghi với vùng đất và tận dụng nguồn thức ăn này để phát triển chăn nuôi dê; Cụ thể là cải thiện giá trị dinh dưỡn

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

LÊ THỊ THÚY HẰNG

SỬ DỤNG CÂY SẮN (Manihot esculenta Crantz) ĐỂ PHÁT TRIỂN

CHĂN NUÔI DÊ Ở AN GIANG, VIỆT NAM

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã ngành: 9620105

TÓM TẮT LUẬN ÁN NGÀNH CHĂN NUÔI

HUẾ-2020

Trang 2

Luận án hoàn thành tại: Trường Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Huế

Giáo viên hướng dẫn:

1 Phó Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Xuân Bả

2 Tiến sỹ Đinh Văn Dũng

Luận án sẽ là nguồn tài liệu tham khảo tại:

1 Thư viện Quốc gia

2 Thư viện trung tâm trường ĐH Nông Lâm Huế, Đại học Huế

Trang 3

Danh sách các từ viết tắt

EPS Self-produced polymeric substance Polyme tự sản xuất

phần

Trang 4

GIỚI THIỆU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

An Giang, một tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam, là một tỉnh đầu nguồn ở Đồng bằng sông Cửu Long, và là một trong những vựa lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long Tổng diện tích đất nông nghiệp là hơn 282.676 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 85,2% (Niên giám thống kê của An Giang, 2018) An Giang là một tronghai tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có đồi núi, chủ yếu ở phía Tây Bắc của tỉnh, gồm huyện Tinh Biên và Tri Tôn Đây là cụm núi cuối cùng của người An Nam, vì vậy các đặc điểm địa chất cũng có những điểm tương đồng với Nam Trường Sơn An Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa

và mùa khô Nhiệt độ dao động từ 200C đến 360C và lượng mưa từ 1400 đến 1600

mm Mùa mưa ít nhất là vào tháng hai và cao nhất vào tháng Chín Độ ẩm trung bình là 75-80% (Trạm khí tượng thủy văn An Giang, 2017) Do địa hình, tài

nguyên đất được chia thành các loại khác nhau: đất phù sa, đất kiềm, đất núi Tổng diện tích đất đồi ở An Giang là khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh Nông nghiệp ở vùng núi này không thuận lợi vì năng suất thấp, thiếu nước tưới vào mùa khô, nhưng khi mùa mưa đến, một số huyện bị ảnh hưởng bởi

lũ lụt, ví dụ: lũ lụt năm 2018 đã ảnh hưởng đến hàng trăm ha lúa và cây trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long Theo Naqvi và Sejian (2011) cho thấy hạn hán, lũ lụt

và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, là do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra

Dựa trên các vấn đề và khó khăn trên, chúng tôi cho rằng cây sắn là cây có điều kiện phát triển thích hợp vùng đất đồi núi khan hiếm nước như các huyện miền núi tại An Giang Ngoài ra cây sắn là một trong những nguồn thức ăn thô giàu protein, có thể cải thiện tình trạng chăn nuôi gia súc nhai lại, đặc biệt là con dê; đồng thời góp phần giảm phát thải khí metan Vì vậy, nghiên cứu này được thiết kế với các mục tiêu chọn cây sắn thích nghi với vùng đất và tận dụng nguồn thức ăn này để phát triển chăn nuôi dê; Cụ thể là cải thiện giá trị dinh dưỡng của thân cây sắn và thời gian tồn trữ bằng cách xử lý urê Ngoài ra, bổ sung bã bia và than sinh học vào khẩu phần thức ăn cơ bản là cây sắn để tăng tốc độ tăng trưởng

và giảm lượng phát thải khí thải mêtan trên dê thịt

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung của đề tài là tận dụng cây sắn nhằm cải thiện hiệu quả chăn nuôi và giảm phát thài khí metan do chăn nuôi dê tại tỉnh An Giang, Việt Nam Mục tiêu cụ thể là:

- Đánh giá tiềm năng nguồn cây sắn và giá trị dinh dưỡng của thân cây sắn

và cây sắn tươi tại An Giang

- Xác định mức ure xử lý thân cây sắn để cải thiện giá trị dinh dưỡng, khả năng tồn trữ thân cây sắn xử lý

Trang 5

- Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung than sinh học lên mức ăn vào, khả năng tiêu hóa, khả năng tích lũy nitơ khi cho dê ăn thân cây sắn xử lý bằng ure

- Xác định mức bổ sung bã bia ảnh hưởng đến khả năng ăn vào, khả năng tiêu hóa và tăng trưởng của dê khi cho ăn khẩu phần cơ bản là cây sắn tươi

- Xác định tỷ lệ bổ sung than sinh học để giảm phát thải khí metan khi cho

dê ăn khẩu phần cơ bản là cây sắn tươi và bổ sung bã bia

3 Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Kết quả của nghiên cứu có giá trị khoa học cho các nhà quản lý, là nền tản cho các nghiên cứu tiếp theo; là nguồn tài liệu khoa học để tham khảo ở các trườngĐại học, sinh viên ngành Nông nghiệp

- Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng xử lý thân cây sắn bằng ure có thể tồn trữ để làm nguồn thức ăn cho dê quanh năm, đặc biệt là mùa nước nổi và mùa mưa,khan hiếm thức ăn xanh

- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho các doanh nghiệp và nhà chăn nuôi sử dụng và điều chỉnh chế độ ăn của dê theo hướng giảm khí thải metan

- Giới thiệu cây sắn làm thức ăn cho dê, làm giảm hàm lượng HCN, cải thiện sự tăng trưởng và giảm phát thải khí mê-tan bằng việc bổ sung bã bia vàthan sinh học

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Trong chương này, có những điểm chính sau (i) Sản xuất dê và sắn ở tỉnh AnGiang; (ii) việc sử dụng các nguồn thức ăn có sẵn cho chăn nuôi dê; (iii) giới thiệu

về một số nguồn thức ăn chính của địa phương như sắn và phụ phẩm nông nghiệp

và bã bia (iv) thức ăn và chiến lược sử dụng thức ăn để giảm thiểu khí mêtan từchăn nuôi dê Tổng quan tài liệu cho thấy tiềm năng sử dụng nguồn thức ăn địaphương để sản xuất dê với hai mục đích tăng hiệu suất chăn nuôi và giảm phát thảikhí mê-tan

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA CÂY SẮN NHƯ NGUỒN THỨC ĂN CHO DÊ TẠI AN GIANG, VIỆT NAM

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

An Giang là một trong hai tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có đồi núi,chủ yếu ở phía tây bắc của tỉnh, thuộc huyện Tinh Biên và Tri Tôn An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa ít nhất là vào tháng Hai và mùa mưa là cao nhất vào tháng Chín Độ ẩm trung bình là 75-80% Khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Do địa hình, tài nguyên đất được chia thành các loại khác nhau: đất phù sa, đất kiềm, đất núi Đất đồi chủ yếu phân bố ở hai huyện Tri Tôn và Tinh Biên, một phần nhỏ của huyện Thoại Sơn (khu vực Ba Thê) Tổng diện tích đất đồi ở An Giang là khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh Vì vậy, diện tích đất chăn thả bị hạn chế, đồng cỏ cũng bị hạn chế Sắn được trồng ở đó, nó không quá nhiều (chiếm0,5% đất nông nghiệp) Sản lượng củ sắn ở vùng này là 28,7 tấn / năm Ước tính một lượng lá sắn là 61 nghìn tấn thêm nữa là vào mùa mưa, rơm và những loại phụ phẩm khác

Không đủ cho gia súc Trong khi đó thì cây sắn ở đây không được tận dụng làm thức ăn cho gia súc, người dân trồng sắn vùng này chủ yếu là lấy củ, thân cây thì

bỏ trên đồng hoặc đốt khi mùa khô Ngay cả với tổng đàn gia súc trong tỉnh là 98.758 con trong năm 2017 (niên giám thống kê của An Giang, 2018), nguồn cung cấp thức ăn thô không đủ cho đàn gia súc trong mùa mưa, nhưng thân lá sắn là nguồn tài nguyên giàu protein nhưng không được sử dụng để nuôi gia súc, đặc biệt

là ở khu vực đồi núi Những khu vực này thích hợp phát triển chăn nuôi dê Cùng với những điều kiện trên, sự phát triển của hệ thống cây trồng và vật nuôi cũng được quan tâm, đặc biệt là vùng Tinh Biên và Tri Tôn ở tỉnh An Giang Mục đích của khảo sát là tìm hiều diện tích, mục đích trồng sắn ngoài việc làm nguồn tinh bột cho chế biến công nghiệp, còn có sử dụng để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, đặc biệt là với số lượng dê ngày càng tăng như hiện nay

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các số liệu được sử dụng để tiến hành điều tra trong hai huyện Tri Tôn và TịnhBiên

Số liệu thứ cấp:

- Diện tích trồng và năng suất sắn ở mỗi huyện trong tỉnh An Giang

- Số lượng dê được nuôi ở mỗi huyện trong tỉnh An Giang

Chọn 120 hộ trong mỗi huyện để phỏng vấn (60 hộ trồng sắn; 60 hộ nuôi dê)

Thu thập số liệu và cách tiến hành

Ở mỗi huyện, chọn 60 hộ có trồng sắn (hoặc chăn nuôi dê) để phỏng vấn,sau đó chọn năm hộ có trồng sắn để đo đạc và tính năng suất, điều kiện chọn hộ là

có trồng sắn với thời gian sắn được tám tháng tuổi và có diện tích đất trồng sắn là >1000m2 Tiến hành phân lô thí nghiệm với diện tích 1000 m2 / lô để thu gom và

Trang 7

tính năng suất thức ăn của cây sắn tươi Năm vị trí được chọn trong mỗi lô đất theophương pháp đường chéo Diện tích đất của mỗi vị trí là 4m2 (Tổng diện tích là 4 *

5 = 20m2) Ở mỗi vị trí, đến ngày thu hoạch củ, tất cả các cây sắn đều được chặt vàcân (không có củ và rễ) Cây sắn là toàn bộ cây trên mặt đất Cây sắn được chiathành hai phần: thân lá sắn (1) - là hai phần ba của phần trên mặt đất của cây sắn;phần này có thể làm thức ăn cho gia súc); và thân cứng (2) (màu xanh bên phảitrong hình 2.1) - cao hơn một phần ba so với mặt đất

Trong thí nghiệm, phần thân lá sắn (1) được chia làm 2 phần: thân mềm (3) + lá có

cả cọng (4) Chúng tôi tạm gọi thân mềm (3) là thân cây sắn

Các công thức tính như sau:

Trọng lượng của cây = thân lá sắn (1) + thân cứng (2)

Trọng lượng của thân lá sắn (1) = Thân cây sắn (3) + lá (4)

Các chỉ tiêu phân tích

Tất cá các mẫu thân lá sắn và thân cây sắn đều phân tích vật chất khô, đạmthô và tro theo phương pháp AOAC (1990) ADF, NDF được phân tích theo VanSoest và Robertson (1991) HCN và tannin tổng được phân tích theo ISO 6703-1:1984 (TCVN 6181:1996), AOAC 955.35 by AOAC (2016)

Phân tích thống kê

Tất cả số liệu của thí nghiệm được sử dụng phần mềm EXCEL Microsoft Office

2010 lưu trữ và tính toán Phân tích GML; phương sai, trung bình độ lệch chuẩnđược tính bởi phần mềm MINITAB 16

Kết quả và thảo luận

Sản xuất sắn

Thành phần hóa học của sắn

Thành phần hóa học của sắn được thể hiện ở Bảng 2.1.

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của các phần của cây sắn

% DM

HCN (mg/kg FW)

Ghi chú: FW: trọng lượng tươi

VCK: vật chất khô, CP: đạm thô, NDF: xơ trung tính, HCN: acid cyanua

Trang 8

Bảng 2.2 Năng suất từng phần của cây sắn với các giống sắn khác nhau

Sắn ngọt (tấn/ha)

Tỷ lệ %

Sắn đắng (tấn/ha)

Tỷ lệ % Cây sắn tươi

Thân cứng 13.2 ± 3.6 33.5 17.2 ± 4.5 54.0Thân lá sắn 26.2 ± 7.2 66.5 14.7 ± 3.8 46.1 Thân mềm 8.7 ± 2.4 22.1 4.9 ± 1.3 15.3

Lá cả cọng 17.5 ± 4.8 44.4 9.8 ± 2.5 30.7

Cây sắn khô

Thân cứng 5.5 ± 1.5 49.1 6.4 ± 1.6 62.1 Thân lá sắn 5.7 ± 1.6 50.9 3.9 ±1.0 37.9 Thân mềm 2.1 ± 0.5 18.4 1.2 ± 0.3 11.3

Lá cả cọng 3.6 ± 1.0 32.5 2.7 ± 0.76 26.6 Đạm thô của thân lá sắn

theo VCK (tấn/ha) 0.79 ± 0.23 - 0.52 ± 0.15

-Tỷ lệ trọng lượng tươi và khô của cây sắn được thể hiện trong Bảng 2.2 Phần thân

lá sắn Thức ăn thô của sắn là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giống sắn

Sự khác biệt này là do sự khác biệt về giống, điều kiện canh tác, vùng canh tác, đất, phân thời gian cắt

Bảng 2.4 Phương thức chăn nuôi dê ở hai huyện TỊnh Biên và Tri Tôn

Trang 9

Số trại trong huyện

Nhốt hoàn toàn 31 51.7 35 58.3 66 55.0

Bán chăn thả 27 45.0 25 41.7 52 43.3

Chăn thả hoàn toàn 2 3.33 0 0.00 2 1.67

Nuôi nhốt hoàn toàn là phương thức chăn nuôi chính ở An Giang, vớiphương thức chăn nuôi này, người chăn nuôi dễ quản lý từng cá thể, có thể pháthiện bệnh hoặc quản lý động dục kịp thời, nhưng thức ăn phải được kiểm soát tíchcực, trong khi hệ thống bán chăn nuôi giúp dê có thời gian tự chọn lựa thức ăn, cỏ,phát triển các tính năng phù hợp và giảm lượng thức ăn dự trữ, nhưng khó kiểmsoát được lên giống

Bảng 2.5 Thức ăn và cách cho dê ăn ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên

Kết luận

An Giang, chăn nuôi dê đang phát triển với điều kiện thuận lợi như nguồn thức ăn dồi dào, nhiều chính sách hỗ trợ từ địa phương Tuy nhiên, một số hạn chếcho phát triển chăn nuôi dê cụ thể như chất lượng giống thấp, thiếu trang trại lớn

và nguồn thức ăn còn nghèo dinh dưỡng, thức ăn phần lớn phụ thuộc vào mùa vụ, thường thiếu thức ăn vào mùa nước nổi, mùa mưa Trong khi đó, sắn là cây hiện cótiềm năng ở An Giang, điều kiện thuận lợi để phát triển Tổng lượng thân lá sắn trung bình là 5 tấn / ha trong năm 2017 Chúng có thể được sử dụng làm nguồn protein, thay thế cho cỏ, đây là nguồn thức ăn quanh năm cho gia súc nhai lại nhưng hiện nay nông dân không sử dụng vì hàm lượng HCN cao Làm thế nào để khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng và tồn trữ thân lá sắn (kể cả thân cây) làm thức ăn cho gia súc và giảm hàm lượng HCN, đặc biệt là mùa khan hiếm thức ăn

Trang 10

CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG URE ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÂY SẮN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA RAU MUỐNG VÀ THAN SINH HỌC ĐẾN KHẢ NĂNG ĂN VÀO, TIÊU HÓA VÀ NITƠ TÍCH LŨY CỦA DÊ TRÊN KHẨU PHẦN CƠ BẢN LÀ THÂN CÂY SẮN Ử URE

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sắn (Manihot esculenta Crantz) là một loại cây thân gỗ lâu năm thuộc họ

Euphorbiaceae Thức lá sắn có thể được sử dụng như một chất bổ sung cho động

vật ở dạng tươi hoặc héo hoặc là sấy khô (Phengvichith và Ledin, 2007; Wanapat

và cs., 1997) Sau khi khi trồng, 9 đến 10 tháng thu hoạch củ, sản lượng thân sắn

có thể đạt khoảng 5 tấn chất khô / ha (Mùi, 1994) Người ta ước tính rằng hơn 2,5triệu tấn sản lượng thân lá sắn (phần có thể làm thức ăn gia súc) được sản xuất tạiViệt Nam, trong đó khoảng 15.000 tấn ở An Giang, nhưng phần thân lá sắn nàythường bị vứt đi sau khi thu hoạch củ, vì hàm lượng glucoside cyanogen, chủ yếu

là linamarin và lotaustralin (Alan và John, 1993)

Sử dụng urê (CO (NH2)2 để xử lý rơm rạ đã được nghiên cứu rộng rãi vàchứng minh là có hiệu quả ở vùng nhiệt đới (Schiere và Ibrahim, 1989; Chenost vàKayouli, 1997; Trạch và cs., 2001; ThúyHang và cs., 2005), rơm được xử lý bằng 3hoặc 4% urê được xem là phương pháp xử lý rơm hiệu quả hơn so với các biệnpháp xử lý khác Theo Thanh và cs (2013), thân cây sắn chứa 33% VCK nhưngchỉ có 5,5% protein thô (CP) trong VCK Do đó, người ta đưa ra giả thuyết rằng cóthể có hiệu quả gấp đôi từ việc ủ sắn bằng urê: (i) để cung cấp amoniac cần thiếtcho các sinh vật dạ cỏ và (ii) để cải thiện khả năng tiêu hóa của thân cây nhiềucellulose như rơm đã được chứng minh rộng rãi vì rơm là nguồn của thức ăn cóhàm lượng protein thấp (Trạch và cs., 1998) Những tiến bộ khoa học gần đây đãđược thực hiện như sử dụng thích hợp cây sắn như một phương pháp nhằm tăngcường hiệu quảchăn nuôi gia súc nhai lại Với nền tảng này, mục tiêu cụ thể củanghiên cứu là xác định mức độ ure để xử lý thân cây sắn sẽ tạo điều kiện cho việcbảo quản và đồng thời cải thiện khả năng tiêu hóa của nó Tiếp theo, xác định tácdụng của việc bổ sung than sinh học và rau muống đến khả năng tăng trưởng của

dê thịt trên khẩu phần ăn cơ bản là thân cây sắn được xử lý bằng ure, được chứngminh là nguồn thức ăn tiềm năng cho dê của Thanh và cs (2013)

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này gồm 02 thí nghiệm:

THÍ NGHIỆM 1

Thí nghiệm gồm có năm nghiệm thức với năm mức urea khác nhau (0, 1, 2,

3 và 4%, tính trên VCK) được thêm vào thân cây sắn tươi cắt nhỏ; và năm mốcthời gian bảo quản (0, 2, 4, 6 và 8 tuần) Mỗi nghiệm thức có bốn lần lập lại Tổng

Trang 11

số lượng thân cây sắn sử dụng trong thí nghiệm này là hai tấn Thân cây sắn saukhi thu hoạch củ, bỏ hết lá và cắt nhỏ (5- 10cm) bằng tay Lấy mẫu đại diện đểphân tích nhanh VCK bằng microwave (Undersander và cs., 1993) trước khi trộnure vào để tính lượng ure cần cho vào mỗi túi với từng nghiệm thức khác nhau.Trọng lượng của mỗi túi ủ là 20 kg Sau khi trộn đều thân cây sắn với ure cho vàotúi polyetylen và hút hết khí bên trong ra cột chặt miệng túi lại, đem bảo quản ởnhiệt độ phòng Sau mỗi thời điểm bảo quản (0; 2; 4; 6 và 8 tuần), lấy mẫu đánhgiá cảm quan qua các chỉ tiêu như nấm mốc, mùi, đo pH, NH3 và phân tích thànhphần hóa học như VCK, đạm thô, khoáng tổng số, xơ thô.

THÍ NGHIỆM 2

BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hình vuông la – tinh, bốn con dê Bách Thảo lai (14 ± 2 kg), bốn nghiệm thức với việc có hoặc không có bổ sung rau muống và than sinh học trên khẩu phần cơ bản là thân cây sắn được xử lý bằng 3%urea sau 21 ngày bảo quản và bốn giai đoạn; Cụ thể:

Nghiệm thức UCS: Chỉ cho ăn thân cây sắn xử lý ure

Nghiệm thức UCSW: thân cây sắn xử lý ure + 1% rau muống

Nghiệm thức UCSB: thân cây sắn xử lý ure + 1% than sinh học

Nghiệm thức UCSWB: thân cây sắn xử lý ure + 1% rau muống + 1% thansinh học

Mỗi giai đoạn kéo dài 15 ngày (mười ngày cho thích nghi và 5 ngày để thuthập phân và nước tiểu) Giữa các giai đoạn có một khoảng thời gian 7 ngày thíchnghi và được cho ăn theo khẩu phần của giai đoạn tiếp theo của thí nghiệm

Động vật thí nghiệm và cách quản lý thí nghiệm

Dê thí nghiệm được nuôi nhốt trong chuồng cá thể được làm từ tre và thiết

kế để dễ thu phân và nước tiểu riêng biệt Dê được cân khoảng thời gian cố định 06:30 đến 07:30 trước khi cho ăn vào lúc bắt đầu và kết thúc mỗi giai đoạn thí nghiệm

Thức ăn và cách chăm sóc

Than sinh học được làm bằng cách đốt trấu trong bếp Gasifier (TLUD)(Olivier 2010) Lượng bổ sung hàng ngày được tính toán dựa theo trọng lượng vàmức ăn vào của dê Lượng ăn trong trong được chia làm hai lầnMỗi ngày chia hailần mỗi ngày trong cá và cho vào từng máng ăn riêng biệt với thân cây sắn và raumuống

Rau muống được cắt nhỏ bằng tay trước khi đưa vào máng ăn Lượng bổsung và cách cho ăn cũng giống như than sinh học Thân cây sắn (không có lá)được thu hoạch (bỏ phần thân sứng có độ cao 40-50cm so với mặt đất), lúc câysắn được trồng 150 ngày, chiều cao 100 - 120 cm Thân cây sắn được cắt nhỏ bằngmáy, trộn với urê (3% VCK; không thêm nước) và được ủ trong túi nhựa và ủ yếm

Trang 12

khí Sau khi ủ 21 ngày, chúng được sử dụng làm thức ăn cơ bản cho dê Lượngthức ăn hàng ngày được tính bằng 80% so với tổng số lượng thức ăn tính theo 3%trọng lượng cơ thể Thức ăn này được chia làm 2 lần trong ngày và cho ăn riêngvới các loại thức ăn còn lại

Tỷ lệ tiêu hóa và nitơ tích lũy

Trong mỗi giai đoạn, sẽ lấy mẫu phân và nước tiểu vào năm ngày cuối của giai đoạn, mỗi ngày cân và lấy mẫu hai lần vào lúc 7:00 và 16:00 Lọ đựng nước tiểu sẽ có chứa 100 ml axit sulfuric 10% sẵn, lượng này có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào độ pH, giữ pH dưới 4.0 Sau mỗi giai đoạn thu thập: (i) một mẫu 10% nước tiểu được lưu trữ ở -4o C để phân tích nitơ (AOAC 1990); (ii) phân được trộn lại với nhau và lấy mẫu (10%) được bảo quản đông lạnh ở -20oC Dịch dạ cỏ được lấy trước khi ăn và sau khi ăn 4 giờ

Các chỉ tiêu phân tích trong thí nghiệm

Tất cả các mẫu của thân cây sắn, thân cây sắn xử lý với ure, rau muống và than sinh học đều tính vật chất khô, và khoáng tổng số, đạm thô, xơ trung tính và

xơ acid Phân và nước tiểu đều phân tích VCK, NH3 Dịch dạ cỏ được đo pH và phân tích NH3 Các chỉ tiêu NH3, đạm thô được phân tích theo phương pháp của Kjeldahl Xơ trung tính và xơ acid được phân tích theo Van Soest và Robertson (1990) Hàm lượng HCN được xác định theo phương pháp tiêu chuẩn của AOAC (2016) Tổng hàm lượng tannin được xác định theo phương pháp (955,35) của AOAC (2016) Năng lượng chuyển hóa của thức ăn (MJ / kg) được tính từ tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD:%) theo công thức của Mc Donald và cs (2002)

Đánh giá cảm quan mẫu thân cây sắn xử lý bằng ure

Đánh giá cảm quan mẫu thân cây sắn xử lý qua các chỉ tiêu màu sắc, mùi vànấm mốc Kết quả cho thấy thân cây sắn được xử lý bằng ure trong điều kiện yếmkhí cho chất lượng tốt sau 8 tuần bảo quản: không bị nấm mốc, mùi ammoniacnhiều hay ít tùy thuộc vào mức ure bổ sung ở các nghiệm thức ngoại trừ nghiệmthức 1 (không có urê)

Thành phần hóa học của thân cây sắn xử lý với các mức độ khác nhau và thời gian bảo quản khác nhau

Hàm lượng đạm thô của thân cây sắn được xử lý thay đổi phụ thuộc vàonhiều yếu tố như nguyên liệu, môi trường và quá trình xử lý Hơn nữa, sự gia tănghàm lượng đạm thô có liên quan đến mức độ urê khi xử lý, hàm lượng nước củanguyên liệu và nhiệt độ Hàm lượng đạm thô của thân cây sắn sau khi xử lý tăng

Ngày đăng: 15/04/2020, 04:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w