Là một trong năm phần của chương trình môn GDCD, học phần “Công dân với đạo đức” góp phần đào tạo những người lao động mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức,vừa có năng lực hoạt đ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa của đề tài 11
7 Cấu trúc của đề tài 12
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM TRONG PHẦN CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 13
1.1 Một số vấn đề lí luận về dạy học trải nghiệm 13
1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm và dạy học trải nghiệm 13
1.1.2 Nội dung dạy học trải nghiệm 16
1.1.3 Hình thức dạy học trải nghiệm 19
1.1.4 Phương pháp dạy học trải nghiệm 22
1.2 Tầm quan trọng của dạy học trải nghiệm trong học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 27
1.2.1 Mục tiêu và cấu trúc của học phần “Công dân với đạo đức” trong môn GDCD lớp 10 ở trường THPT 27
Trang 21.2.2 Đặc điểm tri thức và vai trò của dạy học trải nghiệm trong học phần
“Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 31
1.2.3 Một số hình thức và phương pháp dạy học trải nghiệm có ưu thế trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 33
1.2.4 Quy trình thiết kế bài học sử dụng dạy học trải nghiệm trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 42
Kết luận chương 1 45
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM TRONG PHẦN CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT YÊN HÒA, HÀ NỘI 46
2.1 Thực trạng dạy học trải nghiệm trong phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa, Hà Nội 46
2.1.1 Một vài nét về trường THPT Yên Hòa, Hà Nội 46
2.1.2 Thực trạng sử dụng dạy học trải nghiệm phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa 48
2.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả vận dụng dạy học trải nghiệm trong phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa, Hà Nội 65
2.2.1 Về phía nhà trường 65
2.2.2 Về phía giáo viên 67
2.2.3 Về phía học sinh 70
Kết luận chương 2 72
KẾT LUẬN 73
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, tháchthức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, những thànhtựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnhtranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưahội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững Cũng trong khoảng thời giantrước và sau khi nước ta tiến hành đổi mới, thế giới chứng kiến những biến đổi sâusắc về mọi mặt Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư nối tiếpnhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc,đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất làcác quốc gia đang phát triển như Việt Nam Mặt khác, những biến đổi về khí hậu,tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái vànhững biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu
Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới, tậptrung phát triển giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho cácthế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọibiến động của thiên nhiên và xã hội Không nằm ngoài xu thế đó, giáo dục nước tacũng cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đápứng được với yêu cầu mới của thời đại
Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêucầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong đó nêu rõ:“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triến toàn diện năng lực và phẩm chất
Trang 5người học” [12] Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu việc dạy các môn học nói chung và
môn GDCD nói riêng phải giáo dục phẩm chất, năng lực cho HS phù hợp với yêucầu mới
Môn GDCD ở trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hìnhthành nên thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và cung cấp trithức, kĩ năng sống cho con người, giúp hình thành nhân cách tốt đẹp Là một trong
năm phần của chương trình môn GDCD, học phần “Công dân với đạo đức” góp
phần đào tạo những người lao động mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức,vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị tư tưởng, vừa có ýthức trách nhiệm cộng đồng, vừa có trách nhiệm đối với gia đình và đối với chính
bản thân mình Có thể thấy được, môn GDCD nói chung và học phần “Công dân với đạo đức” nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và
phẩm chất, năng lực cho HS THPT
Để giáo dục đạo đức cho HS THPT nhằm phát triển năng lực của người học
có nhiều phương pháp dạy học có thể đáp ứng được trong đó DHTN là mộtphương pháp dạy học có nhiều ưu thế
Trong thực tiễn việc dạy và học môn GDCD nói chung và phần “Công dân với đạo đức” nói riêng hiện nay chưa đạt được hiệu quả thực sự bởi nhiều nguyên
nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là phương pháp dạy học chưa phù hợp, chủ yếuvẫn là lối truyền thụ một chiều, thụ động, thiếu tính thực tiễn, việc sử dụng cácphương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS còn chưanhiều, từ đó đã làm giảm sút vị trí của môn học trong nhà trường THPT Chính vì
vậy, cần phải tổ chức dạy học phần “Công dân với đạo đức” theo hướng tích cực
hóa hoạt động, tạo điều kiện cho HS phát huy hết khả năng của mình để có thể điđến mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cho HS
Trang 6Vì những lí do trên, em mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vận dụng DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa, Hà Nội”
2 Lịch sử nghiên cứu
Tài liệu nước ngoài
Trong công cuộc cải cách giáo dục căn bản và toàn diện của nước ta hiệnnay, HĐTN trong học tập của HS được coi trọng ở tất cả các môn học cũng như ởcác nội dung, hoạt động giáo dục nằm ngoài môn học Tuy nhiên, trên thế giới, líluận và các thực tiễn coi trong HĐTN ở trường học đã xuất hiện từ rất sớm Ngay
từ đầu thế kỉ XX, lí luận của nhà giáo dục người Mĩ John Dewwey (1859-1952)với nguyên lý Học thông qua làm đã có ảnh hưởng tới giáo dục Mĩ và giáo dục thế
giới.
John Dewey cho rằng “quá trình sống và quá trình giáo dục không phải là hai mà thực chất chỉ là một quá trình Giáo dục tốt nhất phải là sự học tập trong cuộc sống Ông yêu cầu nhà trường phải là một dạng cuộc sống xã hội, trở thành một xã hội thu nhỏ, phải đem những thứ thiết yếu của xã hội vào quá trình giáo dục Ông là người tuyên ngôn về học qua làm, học bắt đầu từ làm, trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội Dạy học phải giao việc cho HS làm, chứ không phải giao vấn đề cho HS học”[19;51]
Một trong những lý thuyết trực tiếp của hoạt động trải nghiệm sáng
tạo trong dạy học là “Lý thuyết học từ trải nghiệm của David A Kolb” Trong
đó, Kolb đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân” [19] Lý thuyết Học từ trải nghiệm là cách tiếp cận về
Trang 7phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức Nếu như mục đích của việc dạyhọc chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực vàhành động khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục cho mỗi cánhân thì mục đích hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phấmchất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, các giá trị sống, kĩ năng sống và những nănglực chung khác Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vàonhận thức của người học nhưng để hình thành và phát triển phẩm chất thì ngườihọc phải được trải nghiệm Trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả nếutrải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy.
Conrag và Hedin năm 1955 “đã phỏng vấn 4000 HS trong 33 chương trình học tập trải nghiệm khác nhau và rút ra được kết luận là sự học qua trải nghiệm
đã đem lại kết quả tích cực đối với sự phát triển của tâm lý người học, chẳng hạn như: làm tăng sự tự tin vào chính mình, đem lại nhiều lợi ích cho nhà trưởng, năng lực tự chủ và khả năng lý luận của người học cũng được phát triển và cho kết quả tích cực như phát triển cám xúc xã hội, có ý thức trách nhiệm với người khác, năng lực xã hội tiến triển nhanh, có ý thức và thái độ tích cực khi làm việc nhóm
và làm việc với người lớn, tăng ham muốn tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt
là năng lực xác nhận và giải quyết vấn đề cũng tăng lên đáng kể”[19; 55]
Tại Hàn Quốc, trong cuốn “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” của Bộ
khoa học – kĩ thuật và giáo dục Hàn Quốc năm 2009 đã đề cập đến một trongnhững chương trình đổi mới giáo dục Hàn Quốc HĐTNST HĐTNST là hoạtđộng nằm ngoài các hệ thống môn học trong nhà trường; đó là những hoạt động tựchủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động từ thiện và hoạt động định hướng HĐTNSTtại Hàn Quốc không tách rời hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan
hệ tương tác, bổ trợ nhau để hình thành và phát triển phẩm chất, tư tưởng, ýchí, kĩ năng sống và những năng lực cần có trong xã hội hiện đại Hoạt động
Trang 8này mang tính thực tiễn rất cao, gắn bó với đời sống cộng đồng, có tính tổng hợpnhiều lĩnh vực
Nhìn chung, DHTN là một lý thuyết học tập được thế giới rất coi trọng bởi
nó đề cao việc hình thành năng lực cho người học thông qua những trải nghiệmthực tiễn, là hoàn toàn phù hợp với các quy luật về tâm lí trong việc hình thành,phát triển nhân cách cho HS
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có nhiều nhà giáo dục, các tác giảnghiên cứu về HĐTN và tiến hành đưa vào vận dụng:
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam(khoá XI) đã đề cập đến việc tổ chức HĐTN sáng tạo cho HS như là một phươngpháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học Mục đích của việc tổ chức hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chấtcho người học; các giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực cần có của ngườihọc để đáp ứng những yêu cầu con người trong xã hội hiện đại Các HĐTNST sẽđược thiết kế theo chủ đề của từng môn học và theo hướng tích hợp liên môn Hìnhthức và phương pháp tổ chức các HĐTNST cũng phong phú linh hoạt hơn, mở hơn
về thời gian, không gian, quy mô, đối tượng tham gia, tạo điều kiện tối đa chongười học tham gia trải nghiệm và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo.Hơn hết, người học được chú trọng xác định là trung tâm của quá trình trải nghiệmsáng tạo
Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Việt Nam sau năm 2015cũng đề cập đến tám lĩnh vực học tập chủ chốt và HĐTNST Theo dự thảo,HĐTNST sẽ được thiết kế, tổ chức ở cả ba cấp học, được phát triển từ cáchoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa và được thiết kế theo các chuyên đề tựchọn HĐTNST có thể được tổ chức bằng các hình thức như: tham quan thực tế,
Trang 9diễn đàn, giao lưu, trò chơi, câu lạc bộ, Từ đó, HS được phát triển các kĩ năng,năng lực cũng như cảm xúc, phẩm chất đạo đức, nhờ việc vận dụng những kiếnthức, kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo Nhưvậy, có thể thấy HĐTN chính là một nội dung quan trọng trong định hướng đổimới giáo dục phổ thông ở Việt Nam giai đoạn sau 2015.
GS.VS.NGND.Phạm Minh Hạc, tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 173
(10/1986) có bài viết “Phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách và lý luận chung về PPDH” nhấn mạnh việc học tập và giáo dục, rèn luyện, lĩnh hội tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động chính của con người Conngười có tự lực hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy đượcthành tri thức của bản thân
Tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài viết “Một
số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới” có đề cập đến quan niệm về HĐTN sáng tạo Theo tác giả, hoạt động
trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp người học hình thành và phát triển được phẩm chất,năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính; nhận
ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân [17]
Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” đã kết luận rằng: “Lâu nay, chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức, chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tổ của một chương trình giáo dục Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một các phù hợp.”
Trang 10Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia HàNội đã trình bày đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và
học từ trải nghiệm trong bài viết“HĐTNST góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” Trong đó,“học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân” [9]
Trong “Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Giáo dục đạo đức - GDCD trong giáo dục phổ thông Việt Nam” do Bộ GD&ĐT tổ chức năm 2013 với hơn 200 bài tham
luận đã đánh giá bao quát nội dung chương trình GDCD, đề xuất định hướng đổimới trong đó hướng tới việc đổi mới PPDH, tiếp cận năng lực người học, đặc biệtrất chú trọng đến tăng cường HĐTN để phát huy tối đa sự sáng tạo của HS Tuynhiên tại thời điểm đó, bản chất, nội dung và phương pháp triển khai HĐTN cho
HS cẫn chưa được hệ thống lại một cách tường minh, đa số tài liệu còn ở dạngtiếng nước ngoài, khó tiếp cận
Bên cạnh đó, trong “Kỷ yếu hội thảo HĐTNST cho HS phổ thông” của Bộ
GD&ĐT cũng đã có nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến HĐTNST trongchương trình giáo dục phổ thông mới Chẳng hạn như: Tác giả Nguyễn Thị ThuHoài – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu lên sự cần thiết phải tổ chứcHĐTN sáng tạo để phát huy năng lực người học [18;50] Tác giả Dương Thị ThúyNga – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với bài viết: Học GDCD qua trải nghiệm,tác giả đã nêu lên vai trò của học GDCD qua trải nghiệm và quy trình thực hiện.[21;115]
Đến năm 2016 và 2017 và gần đây nhất là 2018, một loạt các sách nghiêncứu và hướng dẫn DHTNđược xuất bản, trình bày một cách chi tiết, khoa học về tổchức HĐTN, áp dụng vào các bài học cụ thể trong từng môn, từng khối lớp, tiêubiểu như:
Trang 11Năm 2016 có “Tổ chức HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông” soNguyễn Thị Liên chủ biên; “Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục trảinghiệm sáng tạo cho HS tiểu học – Tài liệu dùng cho GV” do Nguyễn Thị Chi chủbiên; “Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho HStrung học cơ sở - Tài liệu dùng cho GV” do Trương Xuân Cảnh chủ biên.
Năm 2017, một loạt sách hướng dẫn tổ chức HĐTN đã được ra đời Xinđiểm qua một số đầu sách như: “Hướng dẫn tổ chức HĐTN cho HS tiểu học –Dành cho GV và cán bộ quản lý giáo dục theo bộ tài liệu “HĐTN” từ lớp 1 đến lớp
5 do Nguyễn Quốc Vương và Lê Xuân Quang đồng tác giả; “HĐTN sáng tạo trongcác môn học lớp 6” do Tưởng Duy Hải tổng chủ biên, Đây đều là những tài liệu
vô cùng bổ ích, hỗ trợ GV trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH của bản thân
Đồng thời trong năm 2017 và 2018, đã có thêm nhiều công trình nghiên cứu,luận văn, luận án, bài báo khoa học đề cập đến HĐTN ở các lĩnh vực, các bộ môn
cụ thể như Vật lý, tâm lý, Lịch sử, Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội có luận
văn “Tổ chức HĐTN sáng tạo trong dạy học chương Dòng điện trong môi trường Vật lí 11” của tác gải Phan Tuấn Anh; “Hứng thú học môn GDCD của HS trung học cơ sở” của tác giả Phạm Thị Hiền; “Tổ chức HĐTN trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 7 ở trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành” của tác giả Vũ
Thị Anh, Tất cả đều khẳng định dạy học theo trải nghiệm là một phương phápdạy học phát triển toàn diện nhân cách cho HS cần được triển khai trong nhàtrường phổ thông
Có thể nói, đã có rất nhiều tác giả quan tâm và bàn luận đến DHTN vàDHTN trong môn GDCD Tuy nhiên chưa có một tài liệu cụ thể nào đề cập tới
DHTN trong phần “Công dân đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại trường THPT Yên
Hòa, Hà Nội
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng DHTN trong
phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa.
3.2 Nhiện vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc DHTN trong phần “Công dân với đạođức” trong môn GDCD lớp10 ở trường THPT
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” trong môn GDCD lớp 10 tại trường THPT Yên Hòa, Hà Nội.
- Đề xuất một số biện pháp nhầm nâng cao hiệu quả DHTN trong phần
“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Hòa, Hà Nội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” trong
môn GDCD lớp 10 ở trường THPT
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu DHTN phần “Công dân với đạo đức” trong môn GDCD lớp10 tại trường THPT Yên Hòa, Hà Nội
trong thời gian tháng 3 năm học 2018 - 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trang 13+ Phương pháp phân tích – tổng hợp: sử dụng trong chương 1, 2 để nghiêncứu cơ sở lí luận, thực trạng, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả DHTN phần
“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng ở chương 1 để xuây dựng cơ sở
lí luận của việc DHTN phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát – điều tra: sử dụng ở chương 2 để đánh giá thực
trạng sử dụng DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở
trường THPT Yên Hòa
+ Phương pháp thống kế và xử lý số liệu: sử dụng ở chương 2 để đánh giá
thực trạng sử dụng DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10
ở trường THPT Yên Hòa
6 Ý nghĩa của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT.
Tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
vận dụng DHTN trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại
trường THPT Yên Hòa, Hà Nội
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa đề tài gồm 2 chương 4 tiết:
Chương 1 Cơ sở lí luận của việc dạy học trải nghiện trong phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT (2 tiết)
Chương 2 Cơ sở thực tiễn và một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
trải nghiệm trong phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM TRONG PHẦN CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1.Một số vấn đề lí luận về dạy học trải nghiệm
1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm và dạy học trải nghiệm
Trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm, đồng thời tâm lý, ý thức,nhân cách cũng được bộc lộ và hình thành
1.1.1.2 Trải nghiệm
Theo Từ điển Tiếng Việt “trải nghiệm” là sự trải nghiệm qua, kinh qua vàchiêm nghiệm một quá trình Trải nghiệm là hành động, kết quả của hành động làngười tham gia có được kinh nghiệm [22]
Sự trải nghiệm sẽ mang lại cho con người những kinh nghiệm phong phú.Quá trình trải nghiệm là quá trình tích lũy kinh nghiệm, giúp con người hình thànhvốn kinh nghiệm, vốn sống, hình thành phẩm chất và năng lực con người
Trang 16Theo các nhà khoa học giáo dục, trải nghiệm chính là những tồn tại kháchquan tác động vào giác quan cuả con người, tạo ra cảm giác, tri giác, biểu tượng,con người có cảm thấy có tác động đó và cảm nhận nó một cách rõ nét, để lại ấntượng sâu đậm, rút ra bài học, vận dụng vào thực tiễn đời sống, hình thành nên cácthái độ giá trị.
Có rất nhiều dạng trải nghiệm phong phú và đa dạng: [15;29]
Căn cứ vào phạm vi diễn ra hoạt động của HS sẽ có các dạng: trải nghiệmtrên lớp học, trải nghiệm ngoài đời …
Căn cứ vào các cơ quan tham gia hoạt động sẽ có các dạng: trải nghiệmtrong đầu; trải nghiệm bằng các thao tác chân tay, trải nghiệm các giác quan
Căn cứ vào quá trình tâm lý: trải nghiệm các cảm giác bên ngoài, trảinghiệm các cảm giác bên trong
Căn cứ vào các nội dung giáo dục sẽ có các dạng: trải nghiệm cảm xúc, trảinghiệm đạo đức, trải nghiệm giá trị, trải nghiệm sáng tạo,…
1.1.1.3 Hoạt động trải nghiệm
Đến nay đã có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm HĐTN Có thểnêu một số quan niệm về HĐTN của các nhà nghiên cứu sau:
Theo Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, HĐTN là
hoạt động mà trong đó “HS dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội; tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục; qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực điịnh hướng
Trang 17nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và những kĩ năng sống khác.” [4;28]
Theo tác giả Bùi Ngọc Diệp – Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam:
“HĐTNST là các hoạt động dạy và học trong nhà trường phổ thông Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của HS, HĐTNST sẽ hai thác kinh nghiệm của mỗi cá nhân, tạo cơ hội cho các em vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tiễn và đưa ra những sáng kiến của mình, từ đó phát huy và nuôi dưỡng tính sáng tạo của mỗi cá nhân”.
[11]
Theo tác giả Lê Huy Hoàng: “HĐTNST là hoạt động xã hội, thực tiễn giúp
HS tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận
ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục Hoạt động này nhẫn mạnh sự trải nghiệm thức đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo [17]
Nhìn chung, dù được diễn đạt bằng những cách khác nhau nhưng các tác giảđều thống nhất ở một điểm: HĐTN là hoạt động giáo dục, được tổ chức theophương thức trải nghiệm nhằm phát triển toàn diện nhân cách HS
Từ sự tiếp cận những quan điểm của các tác giả, kết hợp với thực tiễn tổ
chức HĐTN trong dạy học bộ môn ở trường THPT, theo tác giả “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó HS chủ động, tự giác, tích cực và được trực tiếp tham gia các hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của GV, qua đó phát triển tình cảm,
Trang 18đạo đức, phẩm chất, năng lực từ đó hình thành, phát triển nhân cách cá nhân đồng thời tích lũy kinh nghiệm cũng như phát triển tiềm năng của bản thân”
1.1.1.4 Dạy học trải nghiệm
DHTN là hoạt động giáo dục, trong đó nội dung và cách thức tổ chức tạođiều kiện cho từng HS được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên
kế hoạch, chủ động xây dựng kế hoạch, mục tiêu của hoạt động học tập cho bảnthân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí,tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hộihiện đại, qua hoạt động HS phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cáimới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng
Nhiều quan điểm cho rằng “DHTN” là một hình thức dạy học, cũng có quanđiểm cho rằng đây là một PPDH Những quan điểm này đều chưa đầy đủ và chính
xác Vì “dạy học trải nghiệm là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp, hình thức trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau
đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội” Do đó, xem xét “DHTN” với tư cách là một quá trình dạy học với
sự tổng hoà, kết hợp của các phương pháp và hình thức dạy học là hợp lí hơn cả
1.1.2 Nội dung dạy học trải nghiệm
Nội dung HĐTN rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩnăng của nhiều môn, nhiều lĩnh vực, thiết thực và gần gũi với cuộc sống; đáp ứngnhu cầu hoạt động của HS; qua đó giúp các em vận dụng hiểu biết của mình vàotrong thực tiễn một cách dễ dàng, thuận lợi Có thể phân chia nội dung HĐTNthành các nội dung chính sau:
Chính trị - xã hội:
Trang 19Hoạt động thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội là những hoạt động giúp HS tiếpcận với các vấn đề chính trị, xã hội của cộng đồng, dân tộc, đất nước Hoạt độngthuộc lĩnh vực này sẽ giúp các em HS có điều kiện để chia sẻ những suy nghĩ, tìnhcảm, quan điểm, sự quan tâm của mình với các vấn đề thời sự, chính trị của đấtnước, đồng thời vận dụng những kiến thức đã học của các môn học vào cuộc sốngthực tiễn, đồng thời giúp các em quan tâm hơn đến những sự kiện xung quanh, từ
đó giáo dục các giá trị cho HS như: tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương,trách nhiệm, hạnh phúc, giúp các em sống có ý thức cộng đồng
Khoa học – kĩ thuật:
Hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học - kỹ thuật giúp HS bước đầu tiếp cận vớicác ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và cao hơn nữa HS có thểthiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức của các môn khoa họcvào thực tiễn cuộc sống Thông qua các hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học – kỹthuật HS có thể tìm hiểu về khoa học theo các chuyên đề học tập phù hợp với lứatuổi Lĩnh vực này đồng thời cũng giúp HS tìm hiểu về các danh nhân, nhà báchọc, những tấm gương ham học, say mê phát minh, sáng chế, hoặc tìm hiểu về cácngành nghề trong xã hội hay đưa ra những sáng kiến, ý tưởng hay về khoa họcđược áp dụng trong thực tiễn cuộc sống
Văn hóa – nghệ thuật:
Đây là lĩnh vực nội dung khá rộng của HĐTN trong nhà trường phổ thông.Lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật ở trường phổ thông giúp HS tìm hiểu và khám phá
về văn hóa, nghệ thuật từ đó bước đầu giúp các em phát hiện ra năng lực, tố chất
và sở thích, khả năng, năng khiếu thật sự của bản thân để có thể tham gia vào cáchoạt động một cách tích cực, hứng thú
Trang 20Vui chơi – giải trí:
Vui chơi – giải trí là một trong các yếu tố để duy trì và phát triển các phongtrào và đoàn thể thanh thiếu niên Vui chơi – giải trí giúp các em được thư giãn saunhững giờ học mệt mỏi với những bài vở, lý thuyết ở trong nhà trường
Vui chơi – giải trí mang tính chất tự do hơn các lĩnh vực nội dung khácHĐTN, đó là các hoạt động như thường thức nghệ thuật, chơi các trò chơi hay cahát và ca múa tập thể… Nó đáp ứng nhu cầu về việc nghỉ ngơi, thư giãn của HSđồng thời phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi HS phổ thông Bên cạnh chức năng thưgiãn vui chơi - giải trí còn chuyền tải những bài học về đạo đức, nhân bản, luân lý,giá trị, đến với HS một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn Vui chơi – giải trí đồng thờicũng giúp cho các em tiếp thu bài học một cách hiệu quả hơn
Lao động công ích:
Lao động công ích là việc cá nhân đóng góp một phần sức lao động củamình để tham gia xây dựng, tu bổ các công trình công cộng vì lợi ích chung củacộng đồng nhằm duy trì, bảo tồn các công trình công cộng cũng như kịp thời phòngchống và khắc phục hậu quả của thiên tại, hỏa hoạn, bệnh dịch Lao động công íchgiúp HS hiểu được giá trị của lao động, từ đó trân trọng sức lao động và có ý thứcbảo vệ, giữ gìn những công trình công cộng Thông qua lao động công ích HSđược rèn luyện các kỹ năng sống như: kỹ năng hợp tác, kỹ năng tìm kiếm và xử lýthong tin, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng xác định giá trị, kỹ nănđặt lục tiêu, kỹ năng lập kế hoạch
Trang 21ra, các môn thể thao đồng đội cũng rèn luyện cho HS tinh thần đoàn kết, kỹ nănghợp tác Trong bất kỳ môn thể thao đồng đội nào, yếu tố đoàn kết là quan trọngnhất để giành chiến thắng.
1.1.3 Hình thức dạy học trải nghiệm
HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc
bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi,hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộngđồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối,tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hìnhthức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hìnhthức tổ chức của HĐTN trong nhà trường phổ thông:
CLB là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm HS cùng sở thích,
nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môitrường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các HS với nhau và giữa HS với thầy côgiáo, với những người lớn khác Thông qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dụchiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em.CLB có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau
Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức
khoa học, nhằm lôi cuốn HS tham gia vào hoạt động giáo dục và tiếp thu tri thức
Trang 22nhập vào nội dung bài học như: giải ô chữ, đuổi hình bắt chữ, để tìm ra từ khóadẫn vào nội dung bài Trò chơi có thể được sử dụng để cung cấp và tiếp nhận trithức, đánh giá kết quả, rèn luyện kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếpnhận, như: Trò chơi tiếp sức giúp HS tìm và liệt kê kiến thức; từ đó đối chiếu vớikiến thức bài học để đưa ra kết luận cho bản thân; trò chơi sắm vai giúp HS đặtmình vào tình huống có vấn đề, trải nghiệm cảm xúc, suy nghĩ và quyết định hànhđộng; từ đó củng cố kiến thức đã học [20; 254]
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự
tham gia của HS thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mìnhvới đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác cóliên quan Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho HSđược bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vaitrò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng địnhvai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳngđịnh mình
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật
tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa
ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Mục đích củahoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để HS đưa ra quan điểm,suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào củacuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của HS được tăng cường vàthúc đẩy, tạo cơ hội cho HS rèn luyện những kĩ năng
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối
với HS Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em HS được đi thăm, tìm hiểu
và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà
Trang 23máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinhnghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em.
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi
cuốn HS và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướnggiá trị cho tuổi trẻ Thông qua việc thi đua, HS phải chủ động tìm kiếm thông tintheo chủ đề và hoạt động đã được giáo viên định hướng, tiến hành phân tích, tổnghợp để tạo ra sản phẩm đáp ứng với các tiêu chí của cuộc thi Với hình thức tổchức cuộc thi, GV có thể tổ chức ngay tại giờ học nhưng cũng có thể cho HS chuẩn
bị trước ở nhà Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nàocũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi [20; 254]
Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho
HS được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổchức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động Thông qua hoạt động tổchức sự kiện HS được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động,nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việctheo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê
- Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần
thiết để cho HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vậtđiển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó Qua đó, giúp các em có tình cảm vàthái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập,rèn luyện và hoàn thiện nhân cách
Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến HS mà tới
cả các thành viên cộng đồng Nhờ các hoạt động này, HS có cơ hội khẳng địnhmình trong cộng đồng Việc HS tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăngcường sự hiểu biết và sự quan tâm của HS đối với các vấn đề xã hội như vấn đề
Trang 24môi trường, an toàn giao thông, an toàn xã hội,… giúp HS có ý thức hành động vìcộng đồng; tập dượt cho HS tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở
HS một số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩnăng đánh giá và kĩ năng ra quyết định
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng
cảm của HS trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Hoạt độngnhân đạo giúp các em HS được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chấtcủa mình với những thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơnđến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho HS như: tiết kiệm, tôntrọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,…Hoạt động nhânđạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
1.1.4 Phương pháp dạy học trải nghiệm
HĐTN coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, về cơ bản
là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dụcgiúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể Đây lànhững hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để
HS trải nghiệm và sáng tạo Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chứcHĐTN phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính.Có 4 phươngpháp chính, đó là:
Phương pháp GQVĐ
“Phương pháp GQVĐ là PPDH, trong đó GV tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá từ đó hướng dẫn,khuyến khích HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ vàthái độ học tập” [13;152]
Trang 25Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạocủa HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảysinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày Để phương pháp này thành công thìvấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cáchgiải quyết Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ GV phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng,bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS.
Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Nhận biết vấn đề
Bước 2: Tìm phương án giải quyết
Bước 3: Quyết định phương án giải quyết
Phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành “làm thử” một số cáchứng xử nào đó trong một tình huống giả định Trong đó HS lựa chọn cách giảiquyết tối ưu nhất, nhằm tập duyệt cho HS có thể kịp thời ứng phó khi bắt gặp vấn
đề xảy ra trong cuộc sống
Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏthái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩsáng tạo của các em Việc "diễn" không phải là phần quan trọng nhất của phươngpháp này mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó
Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các kĩ nănggiao tiếp cho HS Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năngứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thựctiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ vàhành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó
Trang 26Điều này trở thành phương tiện để thể hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quantâm, băn khoăn, mong muốn được chia sẻ, sự do dự, ngập ngừng, của chính các
em Thông qua các vai được sắm, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tínhcách như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai
đó và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệtquan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS
Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:Bước 1: Nêu tình huống sắm vai
Bước 2: Các nhóm thảo luận chuẩn bị cho vai diễn
Bước 3: HS tiến hành đóng vai
Bước 4: HS thảo luận, nhận xét
Bước 5: GV nhận xét, đánh giá kết luận
Phương pháp làm việc nhóm
Trong DHTN, GV sử dụng làm việc theo nhóm để HS thực hiện một nhiệm
vụ nhất định trong khoảng thời gian nhất định tùy theo yêu cầu của GV đưa ra.Trong hoạt động nhóm, với sự hướng dẫn và tổ chức của GV và sự chỉ đạo, phânchia công việc của nhóm trưởng HS kết hợp làm việc của cá nhân với việc hợp tácvới các thanh viên khác để hoàn thanh nhiệm vụ được giao
Sở dĩ phương pháp làm việc nhóm được lựa chọn khi vận dụng DHTN làbởi:
Làm việc nhóm giúp phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực,sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thểhiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao
Trang 27Giúp HS hình thành các kĩ năng xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiếtnhư: kĩ năng tổ chức, quản lí, GQVĐ, hợp tác, có trách nhiệm cao, tinh thần đồngđội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng hộ cá nhân và khuyến khíchtinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa dạng và tính gắn kết.
Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình đẳngcho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển Nhóm làm việc sẽkhuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em nhút nhát,thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học,
Các bước thực hiện:
- Bước 1 Chuẩn bị cho hoạt động: GV hướng dẫn HS trao đổi, đề xuất vấn
đề, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách thực hiện và lập kế hoạch; tự lựa chọn nhómtheo từng nội dung; phân công nhóm trưởng và các vai trò khác cho từng thànhviên; hướng dẫn từng nhóm phân công công việc hợp lí, có liên quan, phụ thuộcnhau;
- Bước 2 Thực hiện: GV quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ HS xem cácnhóm có hiểu rõ nhiệm vụ không? có thể hiện kĩ năng làm việc nhóm đúng không?các vai trò thể hiện như thế nào? giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng vàduy trì mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; khuyến khích, độngviên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt; can thiệp, điều chỉnh hoạt động củanhóm khi thấy cần thiết,
- Bước 3 Đánh giá hoạt động: Gợi mở cho HS phân tích sự phối hợp hoạtđộng giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện cáckỹ năng làm việc nhóm; điềuchỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm
Phương pháp dạy học dự án
Trang 28“Dạy học dự án được hiểu là một phương pháp hay một hình thức dạy học,trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự liên kết giữa líluận và thực tiễn, thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hoạtđộng có thể giới thiệu được” [13;17-18]
Trong quá trình thực hiện dự án, HS sẽ là người giữ vai trò chủ động thựchiện kế hoạch đã xây dựng, đồng thời tự lực tham gia vào các giai đoạn của quátrình dạy học: đề xuất hoặc đóng góp ý kiến cho sáng kiến dự án; xây dựng kếhoạch; thực hiện dự án và trình bày kết quả Do vậy, các công việc này thật sự đòihỏi và khuyến khích tinh thần trách nhiệm, thái độ tích cực và sự sáng tạo củangười học
Với những đặc điểm như trên có thể thấy dạy học dự án là một phương phápdạy học tích cực đối với việc dạy học nói chung và môn GDCD nói riêng Phươngpháp này không chỉ phát huy tính tích cực học tập mà còn hình thành cho HS kĩnăng sống, kĩ năng giải quyết vấn đề của cuộc sống Việc vân dụng phương phápdạy học theo dự án giúp GV dạy GDCD khẳng định được vị trí quan trọng củamôn học, thay đổi được cách nhìn nhận chưa đúng về môn học này
Các bước tiến hành:
Bước 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Bước 2: Xây dựng đè cương, thực hiện kế hoạch
Bước 3: Thực hiện dự án
Bước 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Bước 5: Đánh giá dự án
Trang 291.2 Tầm quan trọng của dạy học trải nghiệm trong học phần công dân với đạo đức môn Giáo dục công dân lóp 10.
1.2.1 Mục tiêu và cấu trúc của học phần “Công dân với đạo đức” trong môn GDCD lớp 10 ở trường THPT.
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho HS THPT là trách nhiệm của nhàtrường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò định hướng và then
chốt Đồng chí Lê Duẩn đã từng nói: “Đào tạo thế hệ trẻ là sự nghiệp của Đảng, trách nhiệm của toàn dân, của xã hội nhưng vai trò chủ yếu nhất là nhà trường”.
Để thực hiện tốt sự nghiệp trồng người, nhà trường phải có chương trình, nội dunggiáo dục, giáo dưỡng phù hợp với thực tiễn đất nước, với con người Việt Nam, vớithời đại và yêu cầu khách quan đó được thể hiện trong tất cả các chương trình vànội dung học tập của toàn bộ các môn học trong nhà trường nói chung và THPTnói riêng Từ năm học 1991-1992, HS THCS và THPT ở nước ta đã được học mônGDCD đồng thời GDCD cũng được xác định là môn khoa học xã hội trong trườngphổ thông, điều này nói lên vị trí của môn GDCD nói chung và vị trí của phần
“Công dân với đạo đức” nói riêng trong trường học là hêt sức quan trọng.
Cấu trúc của phần “Công dân với đạo đức” gồm 7 bài:
Bảng 1.1 Cấu trúc phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
ST
T
3 Bài 12 Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình 2
5 Bài 14 Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 2
6 Bài 15 Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại 1
Trang 30Nội dung “Công dân với đạo đức” là một trong hai phần của chương trình
GDCD ở lớp 10, có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS những hiểu biết
về các phạm trù cơ bản của đạo đức học và trách nhiệm đạo đức của người côngdân trong giai đoạn hiện nay, giúp các em có sự hiểu biết sâu sắc và chính xác hơn
về các giá trị đạo đức trong xã hội và từ đó có cách điều chỉnh, uốn nắn bản thân,
có sự điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã
hội hiện đại Nội dung phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD
lớp 10 được sắp xếp thành 7 bài với thời lượng phân phối là 13 tiết với các đơn vịkiến thức rất gần gũi với đời sống HS như: công dân với các giá trị đạo đức, côngdân với tình yêu, hôn nhân, gia đình, cộng đồng, Tổ quốc, công dân với các vấn đề
cấp thiết của nhân loại, tự hoàn thiện bản thân… Phần “Công dân với đạo đức”
gồm hai chủ đề chính: chủ đề thứ nhất bàn về những lý luận cơ bản của đạo đức,các chuẩn mực đạo đức gồm các bài 10, bài 11 Còn chủ đề thứ hai đề cấp đến cácgiá trị đạo đức, thể hiện trong ba mối quan hệ cơ bản của con người là quan hệnhân thân bài 10; quan hệ với người khác bài 12; quan hệ với cộng đồng, đất nước,nhân loại gồm bài 13,14,15 Hơn nữa, toàn bộ nội dung chương trình của học phầnnày tập trung đi sâu phân tích những lý luận cơ bản của đạo đức, các chuẩn mựcđạo đức cơ bản, mối quan hệ của cá nhân đối với bản thân, gia đình, cộng đồng xãhội Đây là nội dung được xây dựng trên nguyên tắc đồng tâm và phát triển, có sựliên quan đến các phần khác nhau trong chương trình, có những nội dung tương tựnhau, tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau về cách tiếp cận, về đặc trưng mônhọc Ví dụ như ở lớp 6 HS được học tự chăm sóc, rèn luyện thân thể; ở lớp 7 HS đãđược đạo đức và kỉ luật Tuy nhiên nhận thức HS lúc này mới chỉ ở dạng cảm tính
chỉ đến lớp 10 với học phần “Công dân với đạo đức” các em lại một lần nữa được
tiếp xúc với những kiến thức này nhưng ở mức độ cao hơn có tính khái quát nânglên thành lý luận, chuẩn mực đạo đức với những yêu cầu nhận thức lý tính như:
Trang 31Quan niệm về đạo đức Bài 10; Một số phạm trù đạo đức học Bài 11; Tự hoàn thiệnbản thân Bài 16
Mục tiêu của học phần này như sau:
- Tin tưởng vào các giá trị đạo đức xã hội
- Có tình cảm, niềm tin đối với các quan điểm, thái độ hành vi đúng đắn và
có thái độ phê phán đối với các quan điểm, thái độ hành vi lệch chuẩn
- Quan tâm học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để trở thành công dântốt
Như vậy, phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình môn học GDCD
lớp 10 có vai trò quan trọng, có ý nghĩa, thiết thực, quyết định chất lượng giáo dụcđạo đức cho HS ở trường THPT nước ta hiện nay
Trang 321.2.2 Đặc điểm tri thức và vai trò của dạy học trải nghiệm trong học phần công dân với đạo đức môn Giáo dục công dân lớp 10.
“Công dân với đạo đức” là nội dung quan trọng trong môn GDCD, điều này
có được từ chính đặc thù tri thức của học phần, đồng thời đặc thù tri thức của họcphần cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận dụng DHTN
Thứ nhất, nội dung tri thức phần “Công dân với đạo đức” mang tính thời sự
được khái quát từ những vấn đề rất gần gũi, thiết thức trong đời sống thường nhậtcủa cá nhân công dân, gia đình và xã hội đến những vấn đề lớn hơn của quốcgia,dân tộc, nhân loại Đây là những tri thức thể hiện tên gọi của môn học, dạy vàhọc để làm người công dân Với đặc thù như vậy, khi sử dụng DHTN sẽ giúp chotạo ra một môi trường học tập, tương tác, trong đó có sự gắn kết giữa nhận thức vớicảm xúc xã hội và hành vi của người học trong những tình huống học tập sốngđộng Quá trình học tập được diễn ra sôi động và có ý nghĩa trong môi trường họctập, có sự tương tác, người học có thể học tập lẫn nhau, người này có thể học tậpkinh nghiệm của người khác, giá trị của mỗi cá nhân đều được thể hiện và đượcđiều chỉnh để thích ứng và điều phối với nhau, với môi trường học tập Thông qua
đó HS có kiến thức, kinh nghiệm của mình để giải quyết các vấn đề đặt ra, thôngqua trải nghiệm về nhiều mặt trong đó đặc biệt là trải nghiệm về mặt cảm xúc sẽgiúp HS tự giác tiếp nhận và thay đổi theo chiều hướng tích cực, phù hợp vớichuẩn mực đạo đức Đồng thời giúp cho HS có thái độ đúng đắn trước những vấn
đề đạo đức trong cuộc sống, chịu trách nhiệmvvề hành động của bản thân
Thứ hai, các tri thức của học phần này là những kiến thức về đạo đức, thể
hiện đúng tên gọi “Công dân với đạo đức” Khi sử dụng DHTN sẽ giúp những
kiến thức đó không còn tính giáo điều mà HS sẽ tự trải nghiệm, tự khám phá và rút
ra được bài học đối với bản thân, trong quá trình trải nghiệm thể hiện được nhữnggiá trị đạo đức của bản thân mình, thiết lập được các mối quan hệ giữa các nhân và
Trang 33tập thể, với các cá nhân khác, với môi trường học và môi trường sống Sự trảinghiệm có ý nghĩa sẽ huy động tổng thể các giá trị đạo đức của cá nhân từ cảm xúcđến ý thức và hành động Sự trải nghiệm huy động toàn bộ năng lực hành động, sựliên kết trách nhiệm của bản thân với xã hội
Thứ ba, các tri thức của học phần gắn liền với việc hình thành kĩ năng sốngnhư kỹ năng hợp tác, trách nhiệm bản thân đối với cộng đồng, hoàn thiện bảnthân, Khi sử dụng DHTN HS sẽ được tham gia trực tiếp vào các loại hình hoạtđộng và giao lưu, nhờ đó HS không chỉ được thực hành trực tiếp, rèn luyện , vậndụng những kĩ năng sống một cách thường xuyên Việc hình thành kĩ năng sốngcho HS sẽ thuận lợi, đồng thời kĩ năng sẽ luôn luôn được trau dồi chứ không chỉmang tính nhất thời Hơn thế nữa qua việc tham gia HĐTN giúp HS phát hiện khảnăng, thế mạnh của bản thân để phát triển và khắc phục những thiếu sót, góp phầnhoàn thiện nhân cách người học
Chính từ những đặc thù tri thức như vậy mà phần “Công dân với đạo đức”
môn GDCD lớp 10 sẽ tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các kế hoạch DHTN.Đồng thời những tri thức này cũng rất phù hợp và có ưu thế để sử dụng các phươngpháp và hình thức DHTN hơn so với các phần khác
Nhờ HĐTN giúp GV có thể quan sát trực tiếp hành vi của người học và sảnphẩm của quá trình học Hành vi mong đợi của người học có thể được quan sáttrực tiếp qua quá trình học, qua sự tiến triển thường xuyên và qua hành vi cụ thể ởcuối các quá trình học Qua đó đánh giá mức độ đạt được mục tiêu bài học để cóthể đưa ra những điều chỉnh hợp lý trong quá trình thiết kế và tổ chức hoạt độngdạy học
Chính vì thế mà DHTN có vai trò quan trọng trong dạy và học môn GDCD
nói chung và phần “Công dân với đạo đức” nói riêng ở trường THPT hiện nay.
Trang 341.2.3 Một số hình thức và phương pháp dạy học trải nghiệm có ưu thế trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
1.2.3.1 Hình thức DHTN có ưu thế trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
HĐTN trong nhà trường phổ thông có nhiều hình thức tổ chức đa dạng vàphong phú Cùng một chủ đề, nội dung dạy học, giáo dục nhưng HĐTN có thểđược tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, nhu cầu vàđiều kiện cụ thể của từng trường, lớp
Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức nào cũng có thể sử dụng trong
DHTN phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 Có thể thấy có một số hình thức dạy học có ưu thế trong DHTN phần “Công dân với đạo đức” môn
GDCD lớp 10 như: trò chơi, tham quan dã ngoại, hội thi/cuộc thi, hoạt động nhânđạo Cụ thể các hình thức này đã được nêu rất cụ thể trong phần 1.1.3, chính vì vậytrong phần này em xin khái quát lại và ví dụ minh họa cụ thể gắn liền với các bài
của học phần “Công dân với đạo đức”.
Thứ nhất, trò chơi
Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thứckhoa học, nhằm lôi cuốn HS tham gia vào hoạt động giáo dục và tiếp thu tri thứcmột cách tự nhiên, nhẹ nhàng Trò chơi có thể được sử dụng để khởi động, dẫnnhập vào nội dung bài học như: giải ô chữ, đuổi hình bắt chữ, để tìm ra từ khóadẫn vào nội dung bài Trò chơi có thể được sử dụng để cung cấp và tiếp nhận trithức, đánh giá kết quả, rèn luyện kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếpnhận, như: Trò chơi tiếp sức giúp HS tìm và liệt kê kiến thức; từ đó đối chiếu vớikiến thức bài học để đưa ra kết luận cho bản thân; trò chơisắm vai giúp HS đặt
Trang 35mình vào tình huống có vấn đề, trải nghiệm cảm xúc, suy nghĩ và quyết định hànhđộng; từ đó củng cố kiến thức đã học
Ví dụ, trong Bài 13 “Công dân với cộng đồng”, GV có thể tổ chức trò chơi
tiếp sức để HS tìm ra các biểu hiện của hợp tác trong đời sống hàng ngày, hoặcbiểu hiện của mộtngười có kỹ năng hợp tác Qua đó, HS đưa ra nhiều ý kiến khácnhau theo cách hiểu của mình và GV kết luận lại những kiến thức đó cho phù hợp.Với hoạt động này, HS có thể đưa ý kiến phản biện lẫn nhau để bày tỏ quan điểmgiúp khắc sâu kiến thức hoặc điều chỉnh nhận thức của mỗi cá nhân
Trong Bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, GV
có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ, đưa tình huống về “A có giấy gọi nhập ngũ,nhưng vì là con trai một trong nhà nên bố mẹ A bàn cách cho A ở lại”, đề nghị cácnhóm tự xây dựng tiểu phẩm, phân vai, đặt lời thoại để giải quyết tình huống đó vàtrình diễn ngay tại lớp Như vậy, trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tìnhhuống, nhiều bài học khác nhau, giúp tạo hứng thú, xua tan căng thẳng, mệt mỏi;đồng thời, hình thành tác phong nhanh nhẹn, tư duy sáng tạo, tăng cường sự tươngtác, tạo sự hòa đồng giữa các HS
Thứ hai, tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là hình thức tổ chức hoạt động giúp thúc đẩy sự tham gia của HSqua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè,thầy cô, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn giúp GV nắm bắtđược tâm lí, quan điểm, thái độ của các em về những vấn đề liên quan đến nộidung bài học
Đối với Bài 12 “Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình”, GV có thể tổchức diễn đàn với chủ đề “Tình yêu thời @” để các em chia sẻ về quan điểm tìnhyêu của HS hiện nay, những điều nên và không nên làm
Trang 36Hay với Bài 16 “Tự hoàn thiện bản thân ”, GV tổ chức diễn đàn với chủ đề
“Tôi là ai?” nhằm chia sẻ về tự nhận thức bản thân - Thông qua diễn đàn, HSđược bày tỏ quan điểm, đề xuất ý kiến, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau; nâng cao sự
tự tin, xây dựng, phát triển các năng lực cần thiết, như: năng lực giao tiếp, tư duyphản biện, phát hiện và giải quyết vấn đề, dưới sự hướng dẫn của GV
Thứ ba, tham quan dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn với HS.Mục đích của tham quan, dã ngoại là để HS được đi tham quan tìm hiểu và học hỏikiến thức, tiếp xúc với các thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhàmáyhoặc địa danh nổi tiếng của đất nước, giúp các em có được những kinh nghiệm từthực tế, từ các mô hình, cách làm hay và hiệu quả trong lĩnh vực nào đó; từ đó cóthể áp dụng vào cuộc sống của chính các em
Khi dạy Bài 15 “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại”, GV tổchức cho HS đi tham quan một khu sinh thái, một danh lam thắng cảnh, khu khaithác, nhà máy, để tìm hiểu về thiên nhiên, hoạt động môi trường; từ đó hìnhthành ý thức yêu mến thiên nhiên, quý trọng và bảo vệ môi trường, tài nguyên Khi dạy học Bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng Tổ quốc”, GV có thể đưa
HS đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam
Thứ tư, cuộc thi
Tổ chức cuộc thi là một trong những hoạt động rất hấp dẫn HS, thông quaviệc thi đua, HS phải chủ động tìm kiếm thông tin theo chủ đề và hoạt động đãđược giáo viên định hướng, tiến hành phân tích, tổng hợp để tạo ra sản phẩm đápứng với các tiêu chí của cuộc thi Với hình thức tổ chức cuộc thi, GV có thể tổchức ngay tại giờ học nhưng cũng có thể cho HS chuẩn bị trước ở nhà
Trang 37Chẳng hạn, với Bài 15 “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhânloại”, thay vì dạy theo tiến trình bài học với thực trạng – trách nhiệm của công dântrong việc bảo vệ môi trường, GV có thể chuyển một cuộc thi: Chia lớp thành 4đội, cung cấp kiến thức cơ bản thông qua tài liệu, thành lập Ban tổ chức, Ban giámkhảo, hướng dẫn các em tự tổ chức và điều khiển chương trình Tiến trình cuộc thi
có thể chia làm ba phần:
- Phần 1: “Em học sống xanh” với một bộ 10 câu hỏi trắc nghiệm về thựctrạng ô nhiễm môi trường học sinh để các em hình thành tri thức về thực trạng oonhiễm môi trường;
- Phần 2: “Ai sống xanh?” yêu cầu các đội bốc thăm tình huống và thảo luậngiải quyết tình huống trong khoảng thời gian ngắn; các đội khác phản biện và Bangiám khảo kết luận, cho điểm, giúp HS “tập” bảo vệ môi trường trước khi thựchành ngoài cuộc sống ;
- Phần 3: “Chúng em lên tiếng” các đội thi vẽ tranh cổ động về bảo vệ môitrường khắc sâu kiến thức và giúp HS hiểu rõ trách nhiệm bản thân
Hoặc, đối với Bài 12 “Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình” mục giađình và hôn nhân, thay vì dạy về những nội dung lí thuyết rất khô khan, GV có thểchia lớp thành các nhóm nhỏ, phát động cuộc thi “Tìm hiểu về Luật Hôn nhân &Gia đình” để HS chủ động tham gia tìm hiểu về chức năng, mối quan hệ nhân thân
và trách nhiệm của bản thân giúp việc tiếp thu kiến thức trở lên nhẹ nhàng, hấp dẫnhơn Ngoài ra, việc tổ chức cuộc thi sẽ thu hút nhữngtài năng, phát huy được khảnăng sáng tạo, tạo động cơ tích cực và kích thích hứng thú trong quá trình nhậnthức của HS
Thứ năm, hoạt động nhân đạo
Trang 38Hoạt động nhân đạo là nội dung tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồngcảm của HS trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cuộcsống, kịp thời giúp đỡ họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định và vươn lêntrong cuộc sống Hoạt động nhân đạo giúp các em được chia sẻ suy nghĩ, tình cảm,giá trị vật chất của mình với những thành viên khác trong cộng đồng
Chẳng hạn, khi học Bài 13 “Công dân với cộng đồng” mục nhân nghĩa, GV
tổ chức cho HS xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc hộ nghèo, các bạn có hoàncảnh khó khăn trong cuộc sống; quyên góp đồ dùng học tập, quần áo ấm cho cácbạn nhỏ vùng cao; quyên góp ủng hộ người tàn tật, khuyết tật, ủng hộ nhân dânvùng bão lũ ; GV cũng có thể đưa HS đến thăm các trại trẻ mồ côi, tặng quà chocác em nhỏ; đến thăm và giúp đỡ các trạm điều dưỡng thương binh, nạn nhân chấtđộc màu da cam Qua các hoạt động nhân đạo, HS biết quan tâm hơn đến nhữngngười xung quanh, có ý thức tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, hạnh phúc
1.2.3.2 Phương pháp DHTN có ưu thế trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
HĐTN trong nhà trường phổ thông có nhiều PPDH Cùng một chủ đề, nộidung dạy học, giáo dục nhưng HĐTN có thể được tổ chức theo nhiều PPDH khácnhau tùy thuộc vào lứa tuổi, nhu cầu và điều kiện cụ thể của từng trường, lớp
Tuy nhiên, không phải tất cả phương pháp nào cũng có thể sử dụng trong
DHTN phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 Có thể thấy có một số phương pháp dạy học có ưu thế trong DHTN phần “Công dân với đạo đức” môn
GDCD lớp 10 như: giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, dự án, sắm vai Cụ thể cáchình thức này đã được nêu rất cụ thể trong phần 1.1.4, chính vì vậy trong phần này
em xin khái quát lại và ví dụ minh họa cụ thể gắn liền với các bài của học phần
“Công dân với đạo đức”.
Trang 39Thứ nhất, phương pháp giải quyết vấn đề
“Phương pháp GQVĐ là PPDH, trong đó GV tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá từ đó hướng dẫn,khuyến khích HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ vàthái độ học tập” [13;152]
Hay khi dạy bài 13 “Công dân với cộng đồng” mục 2b Hòa nhập, GV có thể đưa ra tình huống sau: Có hai anh em, người em thì rất thân thiện, cởi mở, luôn gần gũi quan tâm đến mọi người xung quanh, còn người anh thì sống lạnh lùng, xa lánh mọi người chỉ biết bản thân mình, không quan tâm đến bất cứ ai, không giao tiếp với mọi người Trong một lần xóm của hai anh em ở xảy ra một vụ hoả hoạn.
Cả làng ai cũng tham gia giúp đỡ người em, còn người anh chẳng ai thèm để ý đến Chỉ có người em là quan tâm đến người anh của mình, người anh thấy vậy trong lòng buồn lắm, hỏi người em: “Vì sao mọi người không ai giúp đỡ anh nhỉ?” Nếu là người em trong tình huống này thì em sẽ trả lời như thế nào?
Sau khi HS đưa ra các phương án của mình, GV nhận xét, bổ sung: Người anhtrong câu chuyện này đã không sống chan hòa, hòa nhập với mọi người, không vui
vẻ, hòa hợp với mọi người xung quanh nên không được mọi người yêu mến giúp
đỡ khi cần Con người cần phải sống chan hòa, hòa nhập với mọi người xungquanh mình Vậy sồng hòa nhập với mọi người là gì? Sống chan hòa, hòa nhập vớimọi người có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay
Thứ hai, phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành “làm thử” một số cáchứng xử nào đó trong một tình huống giả định Trong đó HS lựa chọn cách giảiquyết tối ưu nhất, nhằm tập duyệt cho HS có thể kịp thời ứng phó khi bắt gặp vấn
đề xảy ra trong cuộc sống
Trang 40Chẳng hạn, khi dạy bài 12 “Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình”,
GV có thể đưa ra một tình huống như sau: “Hùng và Hoa yêu nhau cũng đã được
1 năm Trong thời gian này, Mai – người bạn cùng làng với Hùng luôn tìm cách gần gũi, tấn công Hùng Một lần, trong buổi sinh hoạt của thanh niên trong xóm, Mai đã chủ động nói với Hùng hãy cho Mai một cơ hội và Mai chấp nhận làm người yêu của Hùng cùng lúc với Hoa Nếu là Hùng, em sẽ xử lý tình huống này như thế nào?” Gv tiến hành cho HS thảo luận, chuẩn bị và xử lý tình huống.
Thứ ba, phương pháp làm việc nhóm
Trong DHTN, GV sử dụng làm việc theo nhóm để HS thực hiện một nhiệm
vụ nhất định trong khoảng thời gian nhất định tùy theo yêu cầu của GV đưa ra.Trong hoạt động nhóm, với sự hướng dẫn và tổ chức của GV và sự chỉ đạo, phânchia công việc của nhóm trưởng HS kết hợp làm việc của cá nhân với việc hợp tácvới các thanh viên khác để hoàn thanh nhiệm vụ được giao Thực hiện theo 3 bước
Chẳng hạn, khi dạy bài 15 “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhânloại” GV chia lớp thành các nhóm nhỏ từ 5-7 HS/nhóm tổ chức hoạt động “Em họcsống xanh” tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và báocáo bằng các sản phẩm poster, tập san,
Bước 1: GV hướng dẫn HS thực hiện lập kế hoạch làm việc nhóm, lựa chọnnhóm trưởng, phân công nhiệm vụ cho các thanh viên của nhóm
Bước 2: HS trình bày sản phẩm GV định hướng buổi báo cáo đi theo đúnghướng mà mục tiêu đề ra
Bước 3: GV đánh giá hoạt động: sự phối hợp giữa các thành viên trongnhóm, sự cố gắng tiến bộ của từng HS
Thứ tư, phương pháp dạy học dự án