1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Chất lượng nước sông Trường giang, Quảng nam

84 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, do sức ép gia tăng dân số và phát triển kinh tế đã ảnh hưởng quá mức đến sông Trường Giang. Hàng chục năm gần đây, người dân tự ý lấn chiếm lòng sônglàm nơi nuôi trồng thủy sản và xây dựng các công trình trên sông như cầu, đập, ... đã gây bồi lắng lòng sông, thu hẹp dòng chảy. Các hoạt động xả thải của cư dân hai bên bờ sông, hoạt động khai thác thác tài nguyên, hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang gây ô nhiễm môi trường, hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng tại sông Trường Giang và vùng phụ cận. Ô nhiễm nguồn nước sẽ làm suy giảm chất lượng nước, tích lũy trong trầm tích, ảnh hưởng đến các loài động, thực vật thủy sinh, theo chuỗi thức ăn và gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì vậy Luận văn ―Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước, trầm tích sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp cải thiện‖

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Bùi Thị Tươi

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC, TRẦM TÍCH SÔNG TRƯỜNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Bùi Thị Tươi

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC, TRẦM TÍCH SÔNG TRƯỜNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN

Chuyên ngành: Kĩ thuật môi trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải, Khoa môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Bùi Thị Tươi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ ―Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước, trầm tích sông

Trường Giang, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp cải thiện‖ đã được thực hiện

tại Bộ môn Công nghệ môi trường – Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn các cán bộ nghiên cứu của Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu phục vụ việc thực hiện luận văn

Đồng thời, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Môi trường – Đại học Khoa học Tự Nhiên đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Kĩ thuật môi trường

Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm đề tài độc lập cấp Nhà nước: ―Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam‖ đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được trực tiếp tham gia và sử dụng

số liệu của đề tài để thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ UBND huyện Duy Xuyên, UBND huyện Thăng Bình, UBND huyện Tam Kỳ, UBND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

đã nhiệt tình cung cấp thông tin giúp tôi trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa tại sông Trường Giang

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 201

Học viên cao học

Bùi Thị Tươi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích tại một số sông trên thế giới 3

1.1.1 Hiện trạng chất lượng nước 3

1.1.2 Hiện trạng chất lượng trầm tích 4

1.2 Tình hình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích tại một số sông ở Việt Nam 7

1.2.1 Hiện trạng chất lượng nước 7

1.2.2 Hiện trạng chất lượng trầm tích 9

1.3 Các phương pháp cải thiện chất lượng nước sông trên thế giới 12

1.4 Các phương pháp cải thiện chất lượng nước sông ở Việt Nam 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.1 Giới thiệu sông Trường Giang 18

2.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang 19

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực sông Trường Giang 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu 28

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 28

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

2.2.4 Phương pháp đánh giá 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Hiện trạng sử dụng nước trên sông Trường Giang 36

3.2 Đánh giá, phân tích các nguồn tác động có nguy cơ gây suy giảm chất lượng nước sông Trường Giang 37

3.2.1 Nguồn thải từ sản xuất công nghiệp 37

3.2.2 Nguồn thải từ sản xuất nông nghiệp 38

3.2.3 Nguồn thải từ nuôi trồng thủy sản 38

3.2.4 Nguồn thải từ sinh hoạt 45

3.2.5 Các nguồn thải từ các hoạt động khác 45

3.3 Kết quả đánh giá chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu 45

3.3.1 Đánh giá chất lượng nước theo chỉ tiêu riêng lẻ 45

3.3.2 Đánh giá chất lượng nước theo chỉ tiêu tổng hợp 56

Trang 6

3.4 Hiện trạng chất lượng trầm tích tại khu vực nghiên cứu 61

3.5 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước và trầm tích tại khu vực nghiên cứu 67

3.5.1 Giải pháp về quản lý 68

3.5.2 Giải pháp về kỹ thuật 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOD5 Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand)

COD Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand)

DO Nồng độ oxy hoà tan (Disssolved Oxygen)

MPC Tiêu chuẩn chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản của Nga QCCP Quy chuẩn cho phép

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

TCCP Tiêu chuẩn cho phép

ReWQI Chỉ số chất lượng nước tương đối

TSS Tổng chất rắn lơ lửng (Total Suspendid solids)

USEPA Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (United States Environmental

Protection Agency)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm tại khu vực nghiên cứu

20

Bảng 2.2 Điều kiện kinh tế tại khu vực nghiên cứu 25

Bảng 2.3 Dân số và mật độ các xã vùng phụ cận sông Trường Giang, giai đoạn 2011-2015 27

Bảng 2.4 Vị trí các điểm lấy mẫu nước mặt 29

Bảng 2.5 Vị trí các điểm lấy mẫu trầm tích 30

Bảng 2.6 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu nước mặt và trầm tích sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam 31

Bảng 2.7 Phân cấp đánh giá chất lượng nước (5 cấp) phụ thuộc n của ReWQI = I 35

Bảng 3.1 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven sông Trường Giang giai đoạn 2010-2016 39

Bảng 3.2 Diện tích nuôi trồng thủy sản ven sông Trường Giang phân theo phương thức nuôi và loại thủy sản năm 2016 42

Bảng 3.3 Bảng phân cấp đánh giá chất lượng nước phụ thuộc n của ReWQI 56

Bảng 3.4 Kết quả tính toán các giá trị Wi, qi tại vị trí MN1 56

Bảng 3.5 Kết quả tính toán chỉ tiêu ReWQI của nước mặt sông Trường Giang 59

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ phạm vi sông Trường Giang 18

Hình 2.2 Sơ đồ phân vùng địa hình theo độ cao tại đồng bằng tỉnh Quảng Nam 24

Hình 3.1 Ao nuôi tôm trên sông Trường Giang 36

Hình 3.2 Sử dụng các ngư cụ khai thác thủy sản làm lấn chiếm lòng sông 36

Hình 3.3 Bể lọc cát xử lý nước giếng khoan trước khi sử dụng của hộ dân ven sông Trường Giang 37

Hình 3.4 Chất thải ao nuôi xả trực tiếp ra sông Trường Giang 41

Hình 3.5 Lấy nước tầng đáy của lòng sông Trường Giang vào ao nuôi 41

Hình 3.6 Cơ cấu diện tích theo hình thức nuôi 43

Hình 3.7 Cơ cấu diện tích theo đối tượng nuôi 44

Hình 3.8 Bơm xả nước thải đầm nuôi tôm tại sông Trường Giang 44

Hình 3.9 Nước sông Trường Giang với sự phát triển của tảo 44

Hình 3.10 pH trong nước sông Trường Giang 46

Hình 3.11 Độ mặn trong nước sông Trường Giang 46

Hình 3.12 DO trong nước sông Trường Giang 47

Hình 3.13 Chỉ số BOD5 trong nước sông Trường Giang 48

Hình 3.14 Chỉ số COD trong nước sông Trường Giang 49

Hình 3.15 Hàm lượng TSS trong nước sông Trường Giang 49

Hình 3.16 Hàm lượng N-NH4+ trong nước sông Trường Giang 50

Hình 3.17 Hàm lượng N-NO3- trong nước sông Trường Giang 51

Hình 3.18 Hàm lượng Astrong nước sông Trường Giang 53

Hình 3.19 Hàm lượng Pb trong nước sông Trường Giang 54

Hình 3.20 Hàm lượng Hg trong nước sông Trường Giang 54

Hình 3.21 Hàm lượng Coliform trong nước sông Trường Giang 55

Hình 3.22 Hàm lượng As trong trầm tích sông Trường Giang 61

Hình 3.23 Hàm lượng Cd trong trầm tích sông Trường Giang 62

Hình 3.24 Hàm lượng Cu trong trầm tích sông Trường Giang 63

Hình 3.25 Hàm lượng Pb trong trầm tích sông Trường Giang 63

Hình 3.26 Hàm lượng Zn trong trầm tích sông Trường Giang 64

Hình 3.27 Hàm lượng Hg trong trầm tích sông Trường Giang 65

Hình 3.28 Biến thiên hàm lượng một số kim loại nặng trong trầm tích sông Trường Giang 66

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

Nguồn nước mặt trong các sông đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, nước mặt tại các thủy vực nói chung và nước mặt trong các dòng sông có sự thay đổi lớn theo chiều hướng suy giảm về chất lượng [20]

Sông Trường Giang với chiều dài 67 km, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam, ngăn cách với biển bởi cồn cát rộng lớn, phía Bắc nhập với hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn rồi đổ ra biển qua cửa Đại (Hội An), phía Nam nhập với hạ lưu sông Tam Kỳ rồi đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa Nguồn nước của Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống Vu Gia - Thu Bồn và hệ thống sông Tam Kỳ, nguồn nước nữa đó

là thủy triều lên xuống đổ vào và rút ra ở các cửa sông Sông Trường Giang có vai trò quan trọng trong giao thông thủy, cấp nước nuôi trồng thủy sản, điều tiết lũ cho vùng

hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn và sông Tam Kỳ, đây cũng là nơi di cư của nhiều loài thủy hải sản có giá trị, vì là nơi giao thoa giữa nước mặn và nước ngọt của các cửa sông; sông Trường Giang cũng là nơi sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sản quý hiếm như sá sùng, hàu, là nơi kết nối văn hóa Hội An với vùng phụ cận và cũng

là vùng đệm chuyển tiếp của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Sông Trường Giang còn

là dòng sông tinh thần của cư dân ven biển tỉnh Quảng Nam, mang nhiều giá trị lịch

sử, văn hóa

Hiện nay, do sức ép gia tăng dân số và phát triển kinh tế đã ảnh hưởng quá mức đến sông Trường Giang Hàng chục năm gần đây, người dân tự ý lấn chiếm lòng sông làm nơi nuôi trồng thủy sản và xây dựng các công trình trên sông như cầu, đập, đã gây bồi lắng lòng sông, thu hẹp dòng chảy Các hoạt động xả thải của cư dân hai bên

bờ sông, hoạt động khai thác thác tài nguyên, hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang gây ô nhiễm môi trường, hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng tại sông Trường Giang và vùng phụ cận Ô nhiễm nguồn nước sẽ làm suy giảm chất lượng nước, tích lũy trong trầm tích, ảnh hưởng đến các loài động, thực vật thủy sinh, theo

chuỗi thức ăn và gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người Vì vậy Luận văn ―Nghiên

cứu hiện trạng chất lượng nước, trầm tích sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam và

đề xuất các giải pháp cải thiện‖ được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng

nước và trầm tích sông, từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Trường Giang

Trang 11

2

Nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Đánh giá nguồn thải, phân tích nguyên nhân gây ô nhiễm do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội khu vực sông Trường Giang;

- Đánh giá hiện trạng chất lượng trong nước sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam theo chỉ tiêu riêng lẻ và chỉ tiêu tổng hợp (WQI);

- Đánh giá hiện trạng chất lượng trầm tích sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam theo chỉ tiêu riêng lẻ;

- Đề xuất một số giải pháp quản lý, kỹ thuật để cải thiện chất lượng nước sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 12

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích tại một số sông trên thế giới

1.1.1 Hiện trạng chất lượng nước

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích sông có thể kể đến như công trình nghiên cứu của Jayanta Basu (2013) đã chỉ

ra rằng sông Hằng thuộc 4 quốc gia: Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc và Bangladesh, là một trong những con sông ô nhiễm nhất trên thế giới, sông Hằng chảy qua 29 thành phố với dân số trên 100.000 người, 23 thành phố với dân số từ 50.000 – 100.000 người và khoảng 48 thị trấn với dân số dưới 50.000 người Nước thải sinh hoạt tại các thành phố, thị trấn này thường không được xử lý mà đổ thẳng xuống sông Hằng Nước thải

từ sản xuất công nghiệp, bênh viện, lò giết mổ, chưa được xử lý triệt để cũng đổ thẳng ra sông gây ô nhiễm nguồn nước Kết quả quan trắc nguồn nước năm 2013 chỉ

ra rằng các chỉ tiêu COD vượt giới hạn cho phép tại 24 trên tổng số 54 điểm lấy mẫu, một số nơi nồng độ Coliform vượt tiêu chuẩn đến 500 lần Trước tình trạng đó, các giải pháp đưa ra để cải thiện chất lượng nước bao gồm các giải pháp về pháp luật, xã hội, tôn giáo với yêu cầu phải có giải pháp xử lý nước, xử phạt các cơ sở xả thải mà không xử lý nước thải, tuyên truyền, phản đổi việc xây dựng đập tại Uttarkhand nhằm đảm bảo vệ mặt tâm linh và hạn chế tác động đến đa dạng sinh học, [29]

Nghiên cứu của Moiseenko và cs., (2011) về hiện trạng chất lượng nước sông Volga nằm ở phía Tây nước Nga Sông Volga được chia thành 3 vùng để đánh giá chất lượng nước mặt bao gồm: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu Kết quả phân tích các chỉ tiêu pH, Ca, một số kim loại nặng và so sánh với tiêu chuẩn thủy sản năm 1999 (MPC) cho thấy, hàm lượng nhiều kim loại nặng vượt mức cho phép của MPC (hàm lượng Al phía hạ lưu vượt TCCP 2,74 lần; Mn vượt TCCP 2,77 lần (hạ lưu), 6,24 lần (trung lưu), 10,16 lần (thượng lưu); Cu vượt TCCP 1,7 lần (hạ lưu), 2,21 lần (trung lưu), 2,14 lần (thượng lưu), các chất hữu cơ độc hại cũng có mặt với nồng độ cao, nguyên nhân là do nước thải của các nhà máy, công nghiệp tại lưu vực sông không được xử lý và đổ thẳng xuống sông Volga Kết quả nghiên cứu đã đưa ra bức tranh hiện trạng chất

Trang 13

1.1.2 Hiện trạng chất lượng trầm tích

Trầm tích sông không chỉ là nguồn gây ô nhiễm nước do chính khối lượng của

nó, trầm tích sông còn đóng vài trò là chất xúc tác vận chuyển và lưu giữ các dạng ô nhiễm khác, mật độ trầm tích càng cao thì chất lượng nước càng suy giảm, nhất là ô nhiễm môi trường do tính độc hại của kim loại nặng gây mất cân bằng sinh thái làm suy giảm nhiều quần thể sinh vật đã được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì vậy đã có rất nhiều các nghiên cứu về môi trường trầm tích sông The Severn Estuary là một trong những con sông lớn nhất ở Anh là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài cá Nhiều thập kỉ qua, sông này đã phải hứng chịu nhiều ô nhiễm kim loại nặng như chì, cadimi và nhiều nguyên tố khác từ nhiều nguồn khác nhau [43] Những ảnh hưởng của ô nhiễm này có thể là một trong những nguyên nhân gây suy giảm quần thể cá Quần thể cá ở sông Severn Estuary đã gia tăng trở lại khi mức độ ô nhiễm môi trường nước giảm [38] Khi sinh vật sống trong môi trường bị ô nhiễm, khả năng tích

tụ các chất ô nhiễm trong cơ thể chúng là cao nhất là ô nhiễm kim loại, gây nguy cơ cho sức khỏe của con người thông qua chuỗi thức ăn Quá trình thủy phân kết hợp với hợp chất hữu cơ bị biến đổi bởi các vi khuẩn, vi sinh vật trong nước kể cả trong trầm tích để hình thành các hợp chất độc nhất là metyl thủy ngân - rất độc, bền và tích tụ trong chuỗi thức ăn [37] Các hợp chất này dễ dàng phóng thích từ trầm tích vào nước,

có thể tích tụ cao trong các sinh vật sống

Trang 14

5

Ô nhiễm Pb và Zn là một trong những điều đáng quan tâm do ảnh hưởng độc hại của chúng lên hệ sinh thái tại các cửa sông ở Úc, với hàm lượng rất cao 1000μg/g

Pb, 2000 μg/g Zn có thể tìm thấy trong các trầm tích bị ô nhiễm [33]

Theo Bryan và cs., (1992) đã xác định hàm lượng chì vô cơ trong trầm tích cửa sông ở Anh biến động từ 25 μg/g - 2700 μg/g trong cửa sông Gannel nơi nhận chất thải

từ việc khai thác mỏ chì Hàm lượng của các hợp chất chì này có nguồn gốc do sử dụng xăng dầu pha chì Tương tự như Pb, hàm lượng As cũng đã được xác định ở nhiều vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới Hàm lượng As trong trầm tích cửa sông đã được xác định từ 5 μg/g ở cửa sông Axe đến lớn hơn 1000 μg/g trong các cửa sông Restronguet Creek, Cornwall do các vùng này nhận nước thải từ các khu vực khai thác quặng mỏ kim loại Hàm lượng Cd cũng được xác định ở Anh tại các cửa sông không bị ô nhiễm với hàm lượng 0,2 μg/kg, tại các cửa sông bị ô nhiễm nặng hàm lượng này có thể lên đến 10 μg/g [24]

Horsfaal và Spiff (2001) đã nghiên cứu sự phân bố hàm lượng tổng và các dạng tồn tại của các kim loại: Pb, Zn, Cd, Co, Cu, Ni trong mẫu trầm tích sông New Calabar, nghiên cứu đã sử dụng quy trình chiết và xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp AAS Kết quả thu được hàm lượng tổng của các kim loại như sau: Pb là 41,6 mg/kg; Zn là 31,6 mg/kg; Cd là12,8 mg/kg; Cu là 25,5 mg/kg Ở dạng trao đổi các kim loại có hàm lượng lớn là Co (19,42 %), Ni (12,67 %) và Cd (5 %); ở dạng F2

có hàm lượng lớn là Cd (53 %), Zn (31,08 %), Pb (17,08 %) Ở dạng trao đổi các kim loại nặng dễ dạng di chuyển từ trầm tích vào nước sông và có thể dẫn đến sự tích lũy sinh học cho các động vật thủy sinh và con người [31]

Li-Siok Ngiam và cs., (2001) đã tiến hành nghiên cứu các dạng tồn tại của các kim loại nặng trong mẫu trầm tích ở vùng nhiệt đới cửa sông Kết quả của nghiên cứu

đã cho thấy các kim loại phân bố ở các dạng khác nhau trầm tích, chủ yếu ở các dạng: dạng trao đổi, dạng liên kết với cacbonat, dạng liên kết trong cấu trúc oxit sắt-mangan, dạng liên kết với các hợp chất hữu cơ và dạng bền nằm trong cấu trúc tinh thể của trầm tích [33]

Trang 15

6

Một số nghiên cứu khác tại các con sông như: sông Deule ở Pháp là một trong những con sông bị ô nhiễm rất nặng do hứng chịu chất thải từ nhà máy luyện kim Hàm lượng kim loại trong trầm tích sông này rất cao (480 mg/kg) [36]

Hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích tại vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới nơi có rừng ngập mặn cũng đã được xác định từ ít bị ô nhiễm cho đến ô nhiễm nặng Tam và cs., (1995) đã xác định hàm Pb trong trầm tích rừng ngập mặn Sai Keng, Hong Kong với hàm lượng 58,2 mg/kg Zheng và cs., (1996) đã xác định hàm lượng

Pb và Cd trong trầm tích rừng ngập mặn Avicennia marina, vịnh Shenzhen với hàm lượng tương ứng 28,7mg/kg và 0,136 mg/kg tương ứng Theo Breemen (1993); Astrom và cs., (1995) đã chỉ ra rằng đất phèn là nguồn phóng thích kim loại nặng gây

ô nhiễm nguồn nước Khi đất phèn tiềm tàng tiếp xúc với ôxy do hiện tượng tự nhiên hoặc do thoát nước nhân tạo, pyrite bị ôxy hóa tạo ra acid sulfuric làm hạ thấp pH Khi

pH <4 các proton được phóng thích tấn công các khoáng sét, hòa tan một số kim loại

mà nồng độ của chúng có thể vượt xa nồng độ trong các loại đất không phèn [40, 42,

23, 22]

Nghiên cứu của Sikder và cs., (2016) cho thấy trầm tích sông Buriganga ở Bangladesh đang bị ô nhiễm kim loại nặng Nghiên cứu đã tiến hành lấy 5 mẫu trầm tích tại 5 điểm dọc bờ sông Buriganga để phân tích các chỉ tiêu Pb, Cr, Cu, Zn và Ni

và sử dụng tài liệu hướng dẫn đánh giá của USEPA Tài liệu này đã đưa ra bảng phân cấp ô nhiễm (không ô nhiễm, ô nhiễm vừa và ô nhiễm cao đối với một số thông số môi trường) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trầm tích sông bị ô nhiễm Cu và Zn cao, không ô nhiễm đến ô nhiễm vừa đối với Pb và ô nhiễm vừa đến ô nhiễm cao đối với

Cr [39]

Như vậy, những nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích tại một số sông trên thế giới cho thấy: nhiều con sông bị ô nhiễm nước mặt do chất thải từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất trên lưu vực sông chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt

để và đổ xuống sông Hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, chúng có thể di chuyển vào môi trường nước, gây ô nhiễm nguồn nước, sự tích tụ kim loại nặng trong trầm tích tập trung chủ yếu ở khu vực cửa sông, ven biển Để đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông và trầm tích sông, một số nước

Trang 16

7

sử dụng giá trị phân tích để so sánh với giá trị cho phép trong tiêu chuẩn hiện hành đối với nước mặt, hoặc so sánh với tiêu chuẩn của các nước khác như tiêu chuẩn môi trường của Hoa Kỳ

1.2 Tình hình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích tại một số sông ở Việt Nam

1.2.1 Hiện trạng chất lượng nước

Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích sông, có thể kể đến như nghiên cứu của Lê Mạnh Tân và cs., (2011) chỉ ra rằng, hiện tại hệ thống sông Đồng Nai tiếp nhận nước thải sinh hoạt và công nghiệp một phần chất thải rắn đô thị, nước từ sản xuất nông nghiệp với hàm lượng phân bón

và thuốc trừ sâu đe dọa nghiêm trọng về khả năng ô nhiễm nguồn nước của sông Mỗi ngày sông Đồng Nai đoạn chảy qua tỉnh Bình Dương tiếp nhận khoảng 12.978

m3/ngày.đêm nước thải công nghiệp, 9.460 m3/ngày.đêm nước thải sinh hoạt, 36.729

m3/ngày.đêm nước thải chăn nuôi Ngoài ra, hàng năm, hoạt động nông nghiệp còn thải khoảng 6.291 – 7.864 tấn nitơ và 4.431,6 – 5.539,7 tấn photpho vào sông Đồng Nai Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng từ năm 2005 – 2009 hàm lượng NH3 -N trong nước sông vượt quá giới hạn cho phép từ 2 – 13 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT (A1), các thông số còn lại vẫn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT (A1) [17]

Báo cáo Quy hoạch khu bảo tồn vùng nước nội địa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa (2015) cho thấy, dọc theo sông Mã từ thượng lưu xuống hạ lưu có trên 100 nhà máy, cơ sở sản xuất bột giấy, vàng mã, tinh bột sắn, đũa dùng 1 lần, Trong quá trình sản xuất, hầu hết những nhà máy, cơ sở sản xuất nói trên đều dùng hóa chất nhưng nước thải chỉ được xử lý sơ sài, thậm chí thải thẳng ra sông mà không qua xử lý Chất thải nông nghiệp như chất thải chăn nuôi, hóa chất bảo vệ thực vật ở hai bờ sông Mã đổ trực tiếp

ra sông Mã, gần khu vực rừng ngập mặn, cửa Lạch Sung có 8 trại chăn nuôi lợn xả thải trực tiếp vào cửa sông; khu vực gò Phền, gò Chơ, ngã ba suối Lương Trung chảy

ra sông Mã có phát hiện bao bì, chai thuốc trừ sâu rải rác tại khu vực gò Kết quả phân tích chất lượng nước sông Mã đoạn chảy qua tỉnh Thanh Hóa cho thấy nguồn nước

Trang 17

8

mặt bị ô nhiễm, nhiều thông số vượt QCCP khi so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT mức A2, giá trị BOD5 trung bình khoảng 3,5 - 13,2 mg/l, giá trị COD khoảng 6,1 - 24,9 mg/l, hàm lượng nitrat trung bình vượt QCCP 1,17 lần, PO43- khoảng 0,06 – 0,33mg/l [15]

Kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Thúy Hường và cs., (2016) tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy cho thấy, nguồn nước đang bị ô nhiễm khá nặng nề Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá sự biến động của các kim loại nặng (Cd, Pb, Zn, Cu) trong trầm tích sông Nhuệ - Đáy và các ao nuôi thuỷ sản trong lưu vực sông cũng như những ảnh hưởng của các yếu tố lý hóa (pH, Eh, nhiệt độ, DO, v.v) trong môi trường đến sự biến động đó Mẫu được thu 2 đợt vào tháng 10/2012 và tháng 3/2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu lý - hóa môi trường nước như pH, Eh, nhiệt độ vẫn nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho đời sống thủy sinh vật và động vật thủy sản, ngoại trừ DO; hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích sông cao hơn nhiều so với ao nuôi trồng thủy sản và hầu hết đều vượt tiêu chuẩn cho phép, ngoại trừ Cu Hàm lượng kim loại nặng trong bùn ao vào mùa xuân cao hơn mùa thu và có Pb và Zn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Mức độ ô nhiễm cả trong trầm tích ao và sông đều tuân theo thứ tự Pb>Zn>Cd>Cu Nhìn chung, mức độ ô nhiễm cũng như sự biến động hàm lượng của các kim loại nặng trong trầm tích sông và ao phụ thuộc vào các yếu tố lý - hóa của môi trường nước và trầm tích, đặc biệt đối với các kim loại nặng trong trầm tích sông (Cd,

Pb, Cu, Zn) và với Cu trong bùn đáy ao Ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích lưu vực sông Nhuệ - Đáy đã tác động trực tiếp lên đời sống các sinh vật sống đáy và các loài động vật thủy sản, gián tiếp ảnh hưởng lên sức khỏe con người Vì vậy, nghiên cứu đã đề xuất những biện pháp quan trắc và quản lý nhằm giải quyết vấn đề này [12]

Nghiên cứu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình (2015) khi đánh giá chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Thái Bình cho thấy, các thông số

pH, DO, NO2-, NO3-, NH4+, PO43-,Cr6+, Fe, Cu, As, Pb, Cd, Hg, chất hoạt động bề mặt, chlordane, coliform tại các thời điểm được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép khi so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt), riêng thông số TSS vượt 1,17 lần so với quy chuẩn cho phép [16]

Trang 18

9

1.2.2 Hiện trạng chất lượng trầm tích

Vấn đề ô nhiễm môi trường trầm tích trong sông ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được quan tâm bởi những tác động của các chất ô nhiễm trong trầm tích tới sức khỏe con người ngày càng rõ nét và nguy hiểm hơn nhiều

Theo tác giả Vũ Đức Lợi và cs., (2010) đã phân tích dạng vết của một số kim loại nặng trong trầm tích lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tổng của các kim loại là: Zn: 88,2 – 559,2 mg/kg; Cu: 25 – 95 mg/kg; Pb: 25,7 – 91,7 mg/kg; Ni: 34,69 – 81 mg/kg; Cd: 0,406 – 9,071 mg/kg Các nguyên tố Cu,

Ni, Pb chủ yếu tồn tại ở các dạng liên kết bền F4, F5 Riêng Cd và Zn chủ yếu tồn tại ở các pha F1, F2 thể hiện nguy cơ lan truyền ô nhiễm và khả năng tích lũy sinh học của hai nguyên tố này [13]

Trần Thiện Cường (2016) đã đánh giá chất lượng môi trường trầm tích và đề xuất các giải pháp kiểm soát vùng hạ lưu sông Phan thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng Cd ở các mẫu đều rất thấp so với QCVN 43:2012/BTNMT về giới hạn hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích nước ngọt (QCVN đối với Cd là 3,5 mg/kg) và giao động từ 0,02 mg/kg đến 0,20 mg/kg Theo kết quả khảo sát cho thấy, vị trí có hàm lượng Cadimi cao nhất được lấy tại khu vực cầu Sơn Lôi thuộc xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên Xung quanh khu vực này hiện nay cũng đang có sự hoạt động của khu công nghiệp Bình Xuyên và nước thải từ khu công nghiệp này sau khi qua xử lý được xả thải trực tiếp vào sông Phan cách vị trí lấy mẫu khoảng 200m về thượng lưu Điều này chứng tỏ hoạt động xả nước thải từ khu công nghiệp Bình Xuyên ngoài gây ra sự tích tụ hàm lượng Cd trong trầm tích sông

Hàm lượng Pb ở các mẫu cũng thấp và có sự chênh lệch khá lớn tại các vị trí lấy mẫu Hàm lượng Pb giao động từ 0,08 mg/kg đến 27,57 mg/kg, thấp hơn nhiều so với quy chuẩn cho phép (QCVN 43:2012/BTNMT đối với Pb là 91,3 mg/kg) Kết quả phân tích hàm lượng Zn cho thấy trong trầm tích sông Phan đoạn chảy qua huyện Bình Xuyên có hàm lượng thấp và giao động từ 22,02 mg/kg đến 57,15 mg/kg (QCVN 43:2012/BTNMT đối với Zn là 315 mg/kg) Càng về thượng nguồn sông thì hàm lượng Zn càng giảm Điều này hoàn toàn phù hợp với các điều kiện thực tế khu vực

Trang 19

10

Kết quả khảo sát cho thấy, đoạn sông phía hạ nguồn dòng chảy bị uốn khúc nhiều và hiện tượng bồi lắng diễn ra mạnh dẫn đến làm gia tăng sự tích lũy các chất ô nhiễm trong trầm tích [8]

Nguyễn Văn Tho và cs., (2009) đã chỉ ra rằng hàm lượng As trong trầm tích có khuynh hướng tăng dần từ sông rạch đến cửa sông ven biển, trung bình giao động từ 3,23 -14,97 mg/kg Hàm lượng As trong đất rừng mắm và rừng đước vào mùa mưa không khác biệt so với trong trầm tích thuộc sông rạch nội ô thành phố Cà Mau nhưng lại khác biệt với hàm lượng As tại cửa sông Bảy Háp và bãi bồi, do As thường đi vào vùng cửa sông ở các dạng vô cơ bởi sự phân hủy của đá và quặng mỏ có chứa As trong quá trình phong hoá Qua khảo sát cho thấy đất rừng đước và rừng mắm tại vùng nghiên cứu đều có nguồn gốc từ sự bồi đắp phù sa từ sông và biển và là nơi ngập triều không thường xuyên Cũng theo nghiên cứu của Lê Huy Bá và cs., (2000) khu vực bãi bồi và cửa sông là nơi lắng tụ vật chất từ đất liền và trầm tích từ các dòng chảy nên gây nên sự lắng tụ As cao, đây chính là nguyên nhân gây hàm lượng As trong đất rừng thấp hơn hàm lượng trong trầm tích cửa sông ven biển Hàm lượng trung bình của As

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mùa mưa và mùa nắng Tại hầu hết các điểm thu như kênh Tắc Vân, sông Gành Hào, cửa Gành Hào, trong đất rừng mắm và rừng đước hàm lượng As trong mùa mưa cao hơn gấp hai lần hàm lượng của chúng trong mùa nắng Điều này có thể là do vào mùa mưa pH có khuynh hướng giảm nên lúc này hàm lượng As cao hơn so với mùa nắng Do vậy, sự ô nhiễm As ở vùng bãi bồi cần được quan tâm nghiên cứu trong chuỗi thức ăn do bãi bồi là nơi sinh sống của nhiều loài hai mãnh vỏ và động vật thân mềm như: sò, nghêu, tôm, [20, 3]

Còn hàm lượng Cd trong trầm tích hiện diện với hàm lượng giao động trong khoảng 0,023 – 0,06 mg/kg vào mùa khô, và từ 0,027 – 0,093 mg/kg vào mùa mưa Hàm lượng Cd cao trong sông rạch và giảm dần ra cửa sông Vùng bãi bồi và vùng ven biển nơi có rừng mắm, rừng đước thì hàm lượng Cd khá cao, điều này có thể là do

Cd trong nước được hấp thu một cách nhanh chóng bởi các hạt vật chất, cặn rắn lơ lửng và các vật chất này có thể phức hợp với Cd vì thế nồng độ Cd thường cao Nhìn chung nồng độ Cd trong nước tại bãi bồi, rừng đước và rừng mắm cao hơn so với sông rạch trong thành phố, trong khi đó nồng độ Cd trong trầm tích tại các điểm sông rạch

Trang 20

11

lại không có sự khác biệt so với các đất rừng mắm và rừng đước Điều này cho thấy

Cd có thể phụ thuộc vào điều kiện môi trường đất và nước tại từng khu vực Theo nghiên cứu của WHO (2001) chỉ ra rằng sự gia tăng nhiệt độ sẽ làm tăng quá trình hấp thu và tác động của Cd, nhưng ngược lại sự gia tăng độ mặn hoặc độ cứng sẽ làm giảm

đi sự hấp thu và tác động gây độc của Cd Từ đó cho thấy độ mặn trong nước có ảnh hưởng đến nồng đô Cd trong nước, đây có thể là nguyên nhân của sự hiện diện của Cd trong nước vào mùa mưa lại cao hơn mùa khô [20, 44]

Tác giả Phùng Thái Dương (2015) đã nghiên cứu và đánh giá hàm lượng một số kim loại nặng trong trầm tích đáy vùng cửa sông Mê Kông As trong trầm tích đáy có nguồn gốc tự nhiên (các khoáng chứa As) hoặc nguồn nhân tạo (luyện kim, khai khoáng) As có nhiều do xói mòn và hoạt động khai thác các vùng đá giàu As nằm dọc biên giới Việt Nam và Campuchia Hg có nhiều trong các hoạt động của núi lửa xưa kia Cùng với đó là quá trình sản xuất công nghiệp, khai thác mỏ, luyện kim Trong

tự nhiên, Cd có nhiều trong các đá có nguồn gốc núi lửa phân bố phía thượng nguồn

Mê Kông Pb là nguyên tố tạo hợp chất lưu huỳnh, có nhiều trong đá mắc ma Bên cạnh đó Cd, Pb còn được phát hiện với hàm lượng cao trong các đá trầm tích và biến chất tại vùng Bắc Lào Hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long, các khu công nghiệp cũng tương đối phát triển, làng nghề, nhà máy phân bố dọc hai bên bờ sông: thuốc nhuộm, sơn men đồ gốm, tranh sơn mài, sản xuất xi măng… Các đô thị mọc lên, cùng với đó các nhà máy và việc sử dụng phân bón, thuốc hóa học cho các loại cây trồng, vật nuôi… là những nguyên nhân quan trọng góp phần làm cho hàm lượng Cd, Pb tại vùng nghiên cứu cao và vượt mức so với chuẩn quy định của Việt Nam [10]

Hàm lượng các chất trong trầm tích tại vùng cửa sông Mê Công bao gồm Cu: 28,4-38,5 mg/kg; Pb 0,9-6,6mg/kg; Cd 0,1-2,4mg/kg; Zn 75,1-123 mg/kg; As 3,9-8,2 mg/kg; Hg 0,07-0,14 mg/kg Theo kết quả phân tích 20 mẫu trầm tích đáy được thực hiện trong năm 2013 có thể nhận thấy: Hàm lượng kim loại nặng của hầu hết các chỉ tiêu có xu hướng tăng dần theo hướng về phía biển Điều này chứng tỏ càng về phía hạ lưu, vùng cửa sông thì sự tương tác qua lại giữa sông và biển diễn ra càng mạnh mẽ, dẫn đến sự tích tụ phù sa và kèm theo đó là các kim loại nặng có nguồn gốc từ nội địa Trong môi trường thủy sinh, trầm tích có vai trò quan trọng trong sự hấp thụ các chất

Trang 21

12

gây ô nhiễm do sự lắng đọng của các hạt lơ lửng và các quá trình có liên quan đến bề mặt các vật chất vô cơ và hữu cơ Riêng đối với các mẫu thu tại các nhánh sông nhỏ chảy vào sông Hàm Luông có hàm lượng tương đối lớn hơn sông chính Điều này chứng tỏ bên cạnh được mang ra từ phía thượng nguồn, thì hoạt động sản xuất của người dân địa phương cũng góp phần không nhỏ đến việc tích tụ và ô nhiễm hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích đáy nơi đây [10]

Ngoại trừ Pb, hàm lượng các kim loại còn lại nhìn chung đã xấp xỉ bằng với quy chuẩn quốc gia Việt Nam và một số chỉ tiêu đã vượt quá so với một số nước trên thế giới, tức là bắt đầu gây ra những ảnh hưởng đến đời sống sinh vật thủy sinh, hệ sinh thái ven sông, trong đó đặc biệt là Cu và Cd là những kim loại có hàm lượng tương đối cao so với chuẩn quy định, do đó đã và đang ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái

và môi trường sống tại vùng nghiên cứu [10]

Các nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước và trầm tích một số sông tại Việt Nam cho thấy, nước sông tại nhiều sông bị ô nhiễm, đặc biệt là những đoạn sông chảy qua khu vực thành phố, khu vực có mật độ cao các cơ sở sản xuất, các trang trại, canh tác nông nghiệp Nguồn nước thải từ sản xuất, sinh hoạt đổ vào sông hầu như chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để gây ô nhiễm nước mặt Các kim loại nặng trong trầm tích sông có nguồn gốc do lắng đọng từ nước mặt, từ nội địa theo dòng chảy đổ vào sông, hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích tăng dần khi càng ra cửa sông Các kim loại nặng trong trầm tích tồn tại nhiều dạng khác nhau, khi chúng tồn tại ở dạng F1, F2 sẽ dễ giải phóng vào môi trường nước gây ô nhiễm nước Để đánh giá hiện trạng chất lượng nước và trầm tích sông, ở Việt Nam sử dụng QCVN 08:2008/BTNMT (hiện nay là QCVN 08-MT:2015/BTNMT), đối với trầm tích sử dụng QCVN 43:2012/BTNMT để so sánh và đánh giá

1.3 Các phương pháp cải thiện chất lượng nước sông trên thế giới

Tại lưu vực sông Hằng, Ấn Độ việc phát triển thủy điện, đập, hồ chứa trên sông, xâm lấn bờ sông, khai thác cát, thủy sản không kiếm soát đã gây ra những vấn đề

về ô nhiễm môi trường, sạt lở bờ sông Khai thác thủy sản trên sông Hằng có thể coi là nghề chính và lâu đời của nhiều cư dân ven sông, tranh chấp tài nguyên giữa các vùng

và khai thác tận diệt làm suy giảm trữ lượng khai thác Để đảm bảo khai thác bền vững

Trang 22

13

tài nguyên, Chính phủ đã đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, thông qua tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân, cùng với biển pháp quản lý, hạn chế đánh bắt tận diệt Đặc biêt, tại sông Hằng có một số loài động vật hoang dã đang bị đe cần bảo tồn như cá heo, cá sấu, rùa, do đó, việc khai thác thủy sản tại sông Hằng phải tuân thủ những điều sau: (1) Sử dụng các ngư cụ cho phép; (2) Đánh bắt cá ở các khu vực cho phép; (3) Cấm sử dụng cách đánh bắt hủy diệt như sử dụng chất nổ, chất độc, lưới mắt quá nhỏ; (4) Tuyên truyền về tác động của những loài ngoại lai xâm hại, (5) Không đánh bắt các loài hoang dã trong danh sách động vật hoang dã cần bảo vệ, (6) Mật độ dân đánh bắt cá trong khu vực khác nhau và đặt ra điều khoản riêng đối với các khu vực khác nhau Trên hết là việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của những ngư dân sống ven sông [35]

Giải pháp nữa tại sông Hằng đó là thay thế sinh kế cho ngư dân, thay bằng khai thác, đánh bắt từ tự nhiên chuyển sang nuôi trồng thủy sản có kiểm soát, đồng thời khôi phục hệ sinh thái sông, khôi phục lại dòng chảy sông Từ tháng 6 năm 2014 hạn chế nghiêm ngặt việc khai thác cát trên sông, lấy lại phần diện tích lấn chiếm để khơi thông dòng chảy [35]

Đối với vấn để xả thải nước thải công nghiệp không qua xử lý tại khu vực sông Hằng, đặc biệt là trong vành đai đô thị Kanpur, thủ đô Quốc gia Delhi, Allahabad, Varanasi, Mathura-Agra, Lucknow, Uttar Pradesh; Patna, Barauni ở Bihar và Durgapur và Kolkata ở vùng Tây Bengal được yêu cầu trước khi xả thải ra sông phải được xử lý đạt yêu cầu xả thải [35]

Tại sông Tarim, Trung Quốc, đây là sông có chiều dài 1.060 km, diện tích lưu vực 557.000 km2 Theo kết quả nghiên cứu của Feng và cs., (2001), chỉ trong vòng 30 năm, sự suy giảm chất lượng nước sông đã dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học nơi đây Các loài cây thân thảo giảm từ 200 xuống chỉ còn 20 loài, động vật hoang dã giảm từ 24 xuống 5 loài, trong đó 9 loài đã tuyệt chủng còn 10 loài phải di cư đến khu vực khác do mất nơi cư trú; lượng carbon trong không khí tăng cao, các nhánh sông vùng hạ lưu bị cạn; chất lượng nước suy giảm, lượng cát và các chất thải, xâm nhập mặn tăng Trước những nguy cơ về suy thoái nguồn nước, đa dạng sinh học, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện và trên cơ sở đó đã tiến hành một số giải

Trang 23

14

pháp để cải thiện sự phát triển kinh tế - xã hội từ sông Tarim Các giải pháp triển khai mang lại hiệu quả cho việc khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

(1) Ở vùng thượng lưu, phát triển trồng rừng, phục hồi rừng đầu nguồn, điều đó

đã bảo vệ và làm ổn định nguồn nước, giảm thiểu thiên tai cho toàn bộ lưu vực;

(2) Ở vùng trung lưu, các dự án phát triển nông nghiệp bền vững, chương trình phục hồi các thảm thực vật ven bờ đã được thực hiện Kết quả của các chương trình này đã giảm thiểu tối đa sự hoang mạc hóa Đồng thời, chính sách tiết kiệm nước đã được áp dụng nhằm điều hòa việc cung cấp nước hợp lý cho vùng hạ lưu;

(3) Ở vùng hạ lưu, đa phần những vùng đất bị suy thoái đã được phục hồi, kéo theo sự phục hồi đa dạng sinh học, hỗ trợ việc tăng cường tái sử dụng nước, tuần hoàn nước trong vùng;

(4) Hệ thống quản lí tài nguyên nước của toàn bộ lưu vực sông Tarim đã được thống nhất và các thông tin về thủy văn đã được chia sẻ giữa các cấp quản lí, từ địa phương cho đến trung ương Thông tin cần được cập nhật ngay khi có các nghiên cứu mới, tránh làm lãng phí thời gian và chi phí nghiên cứu [28]

Các giải pháp cải thiện nước sông trên thế giới được thực hiện đồng thời giữa tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân, quy hoạch rõ ràng và có các giải pháp cụ thể Trong đó, quan tâm khôi phục hệ sinh thái sông; Quản lý nghiêm ngặt việc xả thải

và khai thác thủy sản; hỗ trợ người dân chuyển đổi sinh kế bền vững; Khơi thông dòng chảy; Thu hồi vùng đất bị lấn chiếm; Có hệ thống quản lý tài nguyên nước Những giải pháp đó đã mang lại hiệu quả tích cực như cải thiện chất lượng nước sông, nâng cao đời sống người dân trong lưu vực

1.4 Các phương pháp cải thiện chất lượng nước sông ở Việt Nam

Ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về cải thiện chất lượng nước sông, một số nghiên cứu như: Nghiên cứu của Vũ Thị Phương Thảo (2017) đã đánh giá vai trò làm sạch nguồn nước của một số loài thực vật thủy sinh tại sông Nhuệ Nghiên cứu được thực hiện trên sông Nhuệ đoạn từ Cầu Tó tới Cống Thần (chiều dài 32km, chảy qua 5 quận, huyện của Hà Nội gồm quận Hà Đông, các huyện Thanh Oai, Ứng Hoà, Thường Tín, Phú Xuyên) Kết quả nghiên cứu đã xác định được 18 loài trong tổng số 33 các

Trang 24

bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng thì sử dụng cây ngổ trâu, thuỷ trúc [19]

Trước tình trạng suy giảm chất lượng nước sông Mã, tỉnh Thanh Hóa Sở nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa (2015) đã đưa ra các giải pháp nhằm

giải quyết các vấn đề môi trường như sau:

Giải pháp quản lý môi trường nước:

- Đối với các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong khu vực, cần kiểm soát được các nguồn thải không xả thải vượt mức cho phép ra lưu vực sông Mã Thống kê các nguồn thải tĩnh, thu phí và cấp giấy phép thải cho mỗi nguồn, định kỳ kiểm tra, có thể xử phạt hoặc thu hồi giấy phép nếu chủ các nguồn thải không thực hiện đúng giấy phép

- Khuyến khích, thúc đẩy các cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn ISO 14.000 - tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi trường Đây là một phương cách quản lý môi trường

có tính toàn diện và hiện đại

- Gắn liền việc quản lý tài nguyên nước với quản lý các tài nguyên thiên nhiên khác như: Đất, rừng, năng lượng trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững

- Yêu cầu bắt buộc đối với các cơ sở kinh doanh, dịch vụ phải xử lý nước thải trước khi đổ ra môi trường Tổ chức, phân cấp giám sát định kỳ chất lượng nước thải theo các tiêu chuẩn Nhà nước tại các điểm đổ thải Xử lý nghiêm ngặt các cơ sở sản xuất vi phạm các tiêu chuẩn Nhà nước về nước thải khi đổ ra môi trường

- Kiểm tra định kỳ để theo dõi chất lượng nước trong toàn khu vực

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động thăm dò khai thác và hành nghề khoan giếng khai thác nước dưới đất

Trang 25

16

- Cần đặc biệt quan tâm đến các hoạt động có tác động trực tiếp đến nước dưới đất, đặc biệt là hoạt động khoan giếng của người dân quanh khu vực (nơi có các công trình ngầm, khoan đào vv…)

Giải pháp kỹ thuật:

- Xây dựng chương trình giám sát môi trường nước mặt trên lưu vực sông Mã

- Thay đổi công nghệ sản xuất, áp dụng sản xuất sạch hơn

Với đặc thù các nhà máy, cơ sở sản xuất dọc theo lưu vực sông Mã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực có sử dụng nước và hóa chất nhiều như chế biến lâm sản, thủy sản, bột giấy,… thì việc áp dụng sản xuất sạch hơn sẽ mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế, xã hội và đặc biệt là môi trường Khi mức thải thấp, môi trường được cải thiện, ít ô nhiễm hơn, lượng chất thải được tận thu, việc xử lý môi trường dễ dàng hơn

- Xử lý nước thải đầu ra:

+ Đối với các cơ sở chế biến lâm sản, sản xuất giấy và bột giấy phải có hệ thống

xử lý đạt chuẩn trước khi đổ ra môi trường

+ Đối với nước thải sinh hoạt và chất thải từ các trang trại chăn nuôi lợn, khuyến khích xây dựng hầm biogas tạo khí đốt và thắp sáng

Các giải pháp khác:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các

tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến có tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tuân thủ thực hiện cam kết và các thủ tục cần thiết do Luật Bảo vệ môi trường quy định

- Xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội

và của mỗi người dân

- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ để di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa gây ô nhiễm môi trường đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề sao cho phù hợp với điều kiện sản xuất

- Tạo điều kiện cho các cơ sở được vay thêm vốn để xây dựng, thay đổi trang thiết bị và phát triển cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, áp dụng phương pháp sản xuất sạch để hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 27

18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Giới thiệu sông Trường Giang

Sông Trường Giang với chiều dài 67 km, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam, ngăn cách với biển bởi cồn cát rộng lớn, phía Bắc nhập với hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn rồi đổ ra biển qua cửa Đại (Hội An), phía Nam nhập với hạ lưu sông Tam Kỳ rồi đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa

Sông Trường Giang có điểm đầu là ngã ba An Lạc và điểm cuối là Kỳ Hà Trong đó có 16 km thuộc sông cấp V, 51 km là sông cấp VI Tuyến sông chạy dọc theo bờ biển phía Đông tỉnh Quảng Nam, nối liền với thị xã Hội An, Tam Kỳ và các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành

Hình 2.1 Sơ đồ phạm vi sông Trường Giang

Trang 28

19

Nguồn nước của Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống Vu Gia - Thu Bồn và hệ thống sông Tam Kỳ Nguồn nước nữa, đó là thủy triều lên xuống đổ vào và rút ra ở các cửa sông Ở hai đầu bắc và nam sông đều thông với biển Phía bắc, Trường Giang gặp Thu Bồn rồi cùng ra biển qua Cửa Đại Phía nam, Trường Giang hòa với sông Tam Kỳ, An Tân rồi đổ ra biển thông qua Cửa Lở và cửa An Hòa Vào mùa cạn, dòng chảy sông Trường Giang phụ thuộc thủy triều lên xuống Khi thủy triều lên, nước

đổ vào các cửa và chảy theo hai chiều đối nghịch Nửa sông phía bắc nước chảy theo hướng nam, nửa sông phía nam chảy theo hướng bắc Khi thủy triều xuống thì quãng sông phía nam chảy theo hướng nam ra Cửa Lở và An Hòa; quãng sông phía bắc chảy theo hướng bắc ra Cửa Đại, riêng quãng Trường Giang thuộc huyện Thăng Bình nằm chính giữa chiều dài dòng sông thì nước dùng dằng cả hai hướng Vào mùa nước lũ, nhất là lúc lụt lớn thì dòng chảy chủ yếu phụ thuộc vào mức nước dâng của hai hệ thống Vu Gia - Thu Bồn, Tam Kỳ - An Tân Đoạn sông có dòng chảy dùng dằng lại giao động về phía nam hay phía bắc là tùy thuộc sức tranh giành của dòng chảy giữa hai hệ thống sông ấy [21]

2.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang

2.1.2.1 Vị trí địa lý

Sông Trường Giang có tổng chiều dài 67 km, có tọa độ từ 15°29'45.76" đến 15°50'22.28" vĩ độ Bắc, từ 108°21'5.15" đến 108°39'34.97" kinh độ Đông Sông chạy dài từ Bắc xuống Nam, lần lượt đi qua các huyện Duy Xuyên, huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, song song với đường bờ biển Đoạn phía Nam chạy cạnh bờ biển cách bờ biển khoảng 2km, đoạn phía Bắc khoảng cách rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km

2.1.2.2 Điều kiện khí hậu

a) Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình có xu hướng tăng dần qua các năm Năm 2011 nhiệt độ trung bình năm là 25,1oC, năm 2015 nhiệt độ trung bình là 26,3oC

Trang 29

20

Bảng 2.1 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm

tại khu vực nghiên cứu

Tổng số giờ nắng trung bình từ năm 2011 đến năm 2015 từ 143 đến 188 giờ/năm

Trang 30

21

d) Bão, áp thấp nhiệt đới

Miền trung là nơi chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất Việt Nam (hơn 65% số cơn bão vào Việt Nam)

Theo số liệu thống kê, trung bình hằng năm trên biển Đông có khoảng 10 cơn bão, 3 đến 4 áp thấp nhiệt đới hoạt động Bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông tập trung nhiều nhất trong các tháng 8, 9, 10 Khu vực tỉnh Quảng Nam chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới trong các tháng 4,5,6 và từ tháng 8 đến tháng 12 (trừ tháng 1,2,3 chưa quan sát thấy)

Khi bão hay áp thấp nhiệt đới đi vào vùng biển hoặc đổ bộ vào đất liền Quảng Nam, Đà Nẵng gây nên mưa lớn kèm theo gió mạnh, hiện tượng nước dâng trong bão,

lũ lụt và sạt lở đất

2.1.2.3 Chế độ dòng chảy và bồi lắng

Khu vực sông Trường Giang nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, là một trong 9 hệ thống sông lớn của cả nước và là hệ thống sông lớn của khu vực miền Trung, với diện tích lưu vực là 10.350 km2, chiều dài sông chính 205 km

Dòng chảy trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt

- Mùa lũ thường bắt đầu từ trung tuần tháng 9 và kết thúc vào thượng tuần tháng 1 năm sau So với thời kỳ mùa mưa thì mùa lũ xuất hiện chậm hơn 1/2 tháng đến

1 tháng Lượng nước mùa lũ đạt 62,5 ÷ 69,2% lượng nước cả năm và tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 11 đạt 26,5 ÷ 30,9% lượng nước cả năm

- Mùa kiệt bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 9, lượng nước mùa kiệt đạt 21,8 ÷ 38,5% lượng nước cả năm và tháng có lượng nước nhỏ nhất là tháng 4 chỉ đạt 2,1 ÷ 2,6% lượng nước cả năm

Vào mùa lũ, lượng mưa lớn và tập trung làm cho lưu vực bị bào mòn mạnh, lượng dòng chảy lớn, do đó tổng lượng bùn cát mùa này rất lớn chiếm khoảng 75 ÷ 90% tổng lượng bùn cát cả năm Mùa cạn lượng mưa ít, dòng chảy nhỏ nên chỉ có 10

÷ 25% lượng bùn cát được mang theo trong mùa này

Đối với hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn - Trường Giang - Tam Kỳ, lũ trên sông chủ yếu đổ ra biển qua 3 cửa sông chính là: Cửa Đại, cửa Lở và cửa An Hòa Tuy nhiên với đặc điểm các cửa sông miền Trung dưới tác động chủ yếu của bùn cát biển,

Trang 31

22

vào mùa khô hầu hết các cửa sông đều bị cạn kiệt, hiện tượng bồi lấp lòng sông do quá trình bồi lấp tự nhiên cũng như do các công trình, ruộng nuôi trồng thủy sản đã góp phần thu hẹp mặt cắt ngang sông, làm giảm đáng kể khả năng thoát lũ, gây ùn ứ nước, kéo dài thời gian ngập lụt vùng hạ lưu [2]

2.1.2.4 Chế độ thủy triều

Về mực nước: Sông Trường Giang chịu ảnh hưởng thủy triều từ 2 cửa sông là cửa Đại và cửa An Hòa Ở hai đầu sông mực nước thấp, dưới tác dụng đẩy của thủy triều từ 2 phía cửa nên càng vào giữa sông mực nước càng tăng dần Như vậy mực nước trên sông Trường Giang vào mùa kiệt biến đổi tăng dần từ đầu sông và đạt lớn nhất ở khoảng giữa, sau đó mực nước lại giảm dần ra tới cửa An Hòa [2]

- Về lưu lượng: Do ảnh hưởng của thủy triều từ hai cửa nên lưu lượng trong sông thay đổi, lúc âm (chảy ngược - dòng chảy chảy từ cửa An Hòa về phía cửa Đại), lúc dương (chảy xuôi - dòng chảy chảy từ cửa Đại về phía cửa An Hòa), ở khoảng 30

km đầu sông dòng chảy chảy ngược, còn sau đó dòng chảy chảy xuôi Lưu lượng dòng chảy trong sông rất nhỏ, chỉ vài chục m3/s

- Về vận tốc dòng chảy: Dòng chảy mùa kiệt vào sông Trường Giang là dòng chảy từ 2 phía, nên sẽ xuất hiện điểm ―0‖ lưu tốc dòng chảy ở giữa đoạn sông Điểm này thay đổi tùy theo biến trình triều tại Hội An và An Hòa Hiện tượng dòng chảy tuần hoàn ngày và điểm dừng triều ở phía giữa đoạn sẽ tạo điều kiện bồi lắng trầm tích

ở giữa đoạn rất đáng kể khi tốc độ dòng chảy rất nhỏ

2.1.2.5 Điều kiện địa hình, địa mạo

- Theo Hoàng Ngô Tự Do (2016), khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng, vùng Thăng Bình – Núi Thành nằm ở phía Nam sông Thu Bồn có địa hình cao hơn khu vực Hội An Từ phía Bắc huyện Thăng Bình đến phía Bắc huyện Núi Thành là 2 dải cồn cát cao trung bình 10m bị chia cắt bởi sông Trường Giang và

hệ thống sông Tam Kỳ chạy gần song song với bờ biển Trung tâm huyện Núi Thành

là vũng An Hòa cao 0-0,5m, thông ra biển Đông tại cửa An Hòa và cửa Lở Phía Nam huyện Núi Thành, có địa hình cao trung bình 5-10m với 2 mỏm núi đâm ra biển tại xã Tam Hải và Tam Quang (Bắc khu công nghiệp Chu Lai)

Trang 32

23

- Đặc điểm địa hình của đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam có sự phân bậc khá rõ nét Căn cứ vào dữ liệu cao độ bề mặt địa hình khu vực sông Trường Giang được chia thành 4 vùng có cao độ khác nhau như sau:

- Vùng có độ cao từ 0m đến 2m: phân bố chủ yếu ở phía Nam thành phố Hội

An (phía Bắc cửa Đại), chạy dọc bờ biển và phía Bắc cho đến trung tâm huyện Núi Thành, trùng với khu vực hạ lưu sông Tam Kỳ - Trường Giang Tổng diện tích khoảng 114,7km2

- Vùng có độ cao từ 2m đến 5m: tập trung nhiều nhất ở khu vực phía Đông huyện Điện Bàn, một phần nhỏ ở phía Bắc huyện Thăng Bình, phía Tây Bắc thành phố Tam Kỳ và rìa phía Tây khu vực Núi Thành Tổng diện tích khoảng 219,6km2

- Vùng có độ cao từ 5m đến 10m: phân bố kéo dài dọc bờ biển từ phía Bắc đến Nam vùng nghiên cứu ở dạng các bãi cát thấp Trong lục địa tập trung chủ yếu ở phía Đông huyện Đại Lộc và vùng phía Tây huyện Điện Bàn, huyện Duy Xuyên Tổng diện tích khoảng 545,9km2

- Vùng có độ cao từ 10m đến 20m: phân bố dọc bờ biển phía Nam sông Thu Bồn, kéo dài từ Thăng Bình đến Tam Kỳ Trong lục địa tập trung chủ yếu ở rìa phía Tây vùng nghiên cứu, là địa hình trung gian chuyển tiếp từ đồng bằng lên vùng núi thấp ở Tây đồng bằng Quảng Nam, tổng diện tích khoảng 418,5km2 [9]

Trang 33

ít bị ngập

Trang 34

25

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực sông Trường Giang

2.1.3.1 Điều kiện kinh tế

Hoạt động phát triển kinh tế tại các huyện Duy Xuyên, Núi Thành và thành phố Tam Kỳ chủ yếu là ngành công nghiệp – xây dựng, huyện Thăng Bình chủ yếu là thương mại – dịch vụ Tỷ lệ hộ nghèo và thu nhập trung bình/người/năm tại khu vực nghiên cứu thấp hợp so với tỷ lệ chung của cả nước (Tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước là 9,88%, thu nhập trung bình/người/năm là 2.200 USD (tương đương 48,4 triệu đồng)

Bảng 2.2 Điều kiện kinh tế tại khu vực nghiên cứu

Huyện,

thành phố

Tổng giá trị sản xuất (Tỷ đồng)

Tốc độ tăng trưởng (giá so sánh 2010 -%) Tỷ lệ

hộ nghèo (%)

Thu nhập

TB (Tr đồng /người/năm)

Nông lâm – thủy

sản

Công nghiệp

và xây

dựng

Thương mại-

dịch vụ

Nông lâm – thủy

sản

Công nghiệp

và xây

dựng

Thương mại-

dịch vụ

Duy Xuyên 1.915 4.087 3.591 103,96 117,45 117,64 8,37 30,44 Thăng Bình 2.239 2.649 6.261 99,14 109,7 115,84 8,75 28,9

Tại khu vực nghiên cứu, các loại cây trồng phụ cận cận sông Trường Giang gồm

có lúa nước, ngô, dưa, lạc, mè, khoai lang, sắn, điều, thuốc lá,… và một số hoa màu khác Trong khi đó, chăn nuôi chủ yếu là các loại gia súc, gia cầm ở quy mô hộ gia đình như lợn, trâu, bò, gà, vịt, ngan, ngỗng,

- Lâm nghiệp:

Rừng ngập mặn ở khu vực này chưa thực sự phát triển, tập trung chủ yếu ở khu vực gần Cửa Đại là rừng dừa và khu vực gần cửa Kỳ Hà là rừng ngập mặn với các loài

Trang 35

ở quy mô hộ gia đình Do vậy việc lấn chiếm mặt nước, lấn dòng sông Trường Giang

để nuôi tôm gây ách tắc giao thông thuỷ, ô nhiễm môi trường những năm gần đây trở nên đáng báo động Ngoài ra, dịch bệnh, thiên tai cũng ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản Năm 2009, lũ cuốn trôi hàng ngàn tấn tôm nuôi đang đến mùa thu hoạch, đầu năm

2010, dịch bệnh xuất hiện trên tôm nuôi ở hầu hết các xã, phổ biến là đốm trắng, phân trắng, hồng thân, bệnh gan, đen mang, gây thiệt hại không nhỏ cho người dân

- Đánh bắt thuỷ sản: Khai thác thuỷ sản trên sông tại các xã hiện nay đều có năng suất thấp và sản lượng giảm dần hằng năm do bồi lắng lòng sông, do bờ sông bị lấn chiếm để nuôi trồng thuỷ sản, do khai thác tận diệt như kích điện, lưới quét, dùng thuốc nổ,… Vì vậy xu hướng hiện nay tại các xã là chuyển dịch từ khai thác thuỷ sản sông sang nuôi trồng thuỷ sản

2.3.1.2 Điều kiện xã hội

a) Đặc điểm dân số

Dân cư vùng phụ cận sông Trường Giang chảy tiếp giáp với 18 xã thuộc 3 huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành và thành phố Tam Kỳ đều là người dân tộc Kinh với tổng số 151.277 người trong năm 2015, chiếm 10,22% so với tổng dân số toàn tỉnh Quảng Nam

Trang 36

27

Bảng 2.3 Dân số và mật độ các xã vùng phụ cận sông Trường Giang,

giai đoạn 2011-2015 Địa điểm Dân số trung bình qua các năm (người)

Mật độ dân

số năm 2015 (người/km 2 )

2011 2012 2013 2014 2015 Huyện Duy Xuyên 15.859 16.027 16.320 16.310 16.405

Duy Thành 6.716 6.736 6.781 6.873 6.941 734 Duy Nghĩa 9.143 9.291 9.539 9.437 9.464 646

Huyện Thăng Bình 54.645 54.961 55.326 55.601 55.605

Bình Giang 7.404 7.450 7.507 7.545 7.542 337 Bình Dương 9.281 9.338 9.397 9.440 9.442 469 Bình Triều 9.530 9.592 9.660 9.706 9.699 684 Bình Đào 7.333 7.371 7.417 7.453 7.454 613 Bình Sa 6.650 6.679 6.720 6.756 6.761 279 Bình Hải 5.893 5.932 5.977 6.014 6.021 439 Bình Nam 8.554 8.599 8.648 8.687 8.686 337

Thành phố Tam Kỳ 19.579 19.734 20.377 20.280 20.141

Tam Thăng 6.611 6.698 6.880 6.843 6.813 967 Tam Phú 7.882 7.913 8.181 8.138 8.057 460 Tam Thanh 5.086 5.123 5.316 5.299 5.271 310

Huyện Núi Thành 57.343 57.737 58.146 58.646 59.123

Tam Tiến 11.039 11.085 11.133 11.202 11.263 538 Tam Hòa 8.510 8.571 8.639 8.721 8.801 389 Tam Hải 7.563 7.642 7.725 7.815 7.905 504 Tam Hiệp 11.100 11.210 11.321 11.448 11.573 307 Tam Giang 6.165 6.204 6.241 6.292 6.340 549 Tam Quang 12.966 13.025 13.087 13.168 13.241 1.161

Trang 37

28

Theo số liệu điều tra của đề tài ĐTĐL.CN-15/16, phần lớn các hộ dân vùng phụ cận sông Trường Giang đều hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm 69,46%, hộ buôn bán chiếm 10,71%, số hộ hoạt động trong các ngành nghề khác như xây dựng, công nhân viên chức chiếm 19,83%

b) Y tế

Hiện nay, hầu hết 18 xã thuộc vùng phụ cận sông Trường Giang đã có trạm y tế, tuy nhiên do trang thiết bị y tế còn thiếu và thô sơ, đội ngũ y, bác sỹ chuyên khoa chưa nhiều nên trạm y tế chủ yếu dùng để sơ cứu, chữa trị một số bệnh nhẹ, các bệnh nặng được đưa lên tuyến trên

c) Văn hóa

Các thôn, xã trong vùng phụ cận sông Trường Giang đều có nhà văn hóa, đây là nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ, hội họp của nhân dân Hằng năm tại các làng, xã thường tổ chức các lễ hội dân gian đặc sắc như lễ cầu ngư, lễ kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá, gắn liền với việc bảo tồn và phát huy các loại hình văn hoá truyền thống như hát tuồng, hò mái nhì, …

d) Giáo dục

Tất cả các xã đều có trường mầm non, cấp I và cấp II Các trường được xây dựng khá khang trang, kiên cố, thiết bị học tập dần được trang bị đầy đủ, hiện đại đáp ứng được nhu cầu học tập của con em địa phương Gần khu vực thực hiện dự án không

có các trường dạy nghề hoặc trường đào tạo có quy mô lớn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu

Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng nước

và các nguồn thải chính tại khu vực nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

- Điều tra, khảo sát các nguồn thải từ các hoạt động kinh tế - xã hội chủ yếu diễn

ra tại khu vực nghiên cứu

- Thu mẫu nước mặt mẫu trầm tích sông Trường Giang mùa mưa và mùa khô: 20 mẫu nước mặt/đợt x 04 đợt; 20 mẫu trầm tích/đợt x 04 đợt (Tháng 12/2016, tháng 4/2017, tháng 6/2017, tháng 9/2017)

Trang 38

29

Các vị trí lấy mẫu nước mặt được thể hiện tại bảng 2.4

Sơ đồ lấy mẫu (phụ lục)

Bảng 2.4 Vị trí các điểm lấy mẫu nước mặt

Ngã ba sông Trường Giang và sông Vu Gia-Thu Bồn, xã Duy Vinh,

Điểm trên sông, gần cầu Trường Giang, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên NM2 564028 1750531 Điểm tiếp nhận nước thải sinh hoạt thuộc xã Bình Giang, huyện Thăng Bình NM3 564879 1749665 Điểm trên sông gần cầu Sắt, xã Bình Giang, huyện Thăng Bình NM4 566556 1747250 Điểm trên sông thuộc xã Bình Triều, huyện Thăng Bình NM5 569544 1744446 Điểm trên sông gần cầu Bình Đào, xã Bình Đào, huyện Thăng Bình NM6 569285 1742631 Điểm trên sông, gần cầu Bến Đá, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình NM7 574098 1737363 Điểm trên sông, gần cầu Bình Hải mới, xã Bình Hải, huyện Thăng Bình NM8 574473 1736848 Điểm trên sông giáp ao nuôi thủy sản, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình NM9 577517 1733839 Điểm trên sông gần đập Cổ Linh, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình NM10 577671 1733857 Điểm tiếp nhận nước thải đầm nuôi tôm gần cầu Bình Nam, xã Bình Nam,

Điểm trên sông giáp ao nuôi thủy sản, xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ NM12 582488 1727531 Điểm trên sông, gần cầu Tam Thanh, xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ NM13 585395 1724004 Điểm trên sông, gần cầu Kỳ Trung, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ NM14 586368 1722173 Cống lấy nước vào đầm nuôi tôm, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành NM15 588962 1719344 Điểm trên sông thuộc khu neo đậu tàu thuyền, xã Tam Tiến, huyện

Mẫu nước mặt lấy ở độ sâu khoảng 20 cm so với mặt nước: sử dụng chai PE, tráng bằng nước tại vị trí lấy mẫu ít nhất 2 lần, mẫu lấy đầy chai và axit hóa bằng HNO3 đặc (khi phân tích kim loại), H2SO4 đặc (khi phân tích COD, N-NH4+, N-NO3-),

Trang 39

30

sau khi lấy mẫu sẽ dán nhãn, bảo quản lạnh và vận chuyển về phòng thí nghiệm phân tích (TCVN 6663-6:2008; TCVN 6663-3:2003)

Các vị trí lấy mẫu trầm tích được thể hiện tại bảng 2.5

Sơ đồ lấy mẫu (phụ lục)

Bảng 2.5 Vị trí các điểm lấy mẫu trầm tích

Ngã ba sông Trường Giang và sông Vu Gia-Thu Bồn, xã Duy Vinh,

Điểm gần cầu Trường Giang, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên TT2 564034 1750529 Điểm tiếp nhận nước thải sinh hoạt thuộc xã Bình Giang, huyện Thăng

Điểm gần cầu Sắt, xã Bình Giang, huyện Thăng Bình TT4 566542 1747272

Điểm gần cầu Bình Đào, xã Bình Đào, huyện Thăng Bình TT6 569251 1742691 Điểm gần cầu Bến Đá, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình TT7 574035 1737318 Điểm gần cầu Bình Hải mới, xã Bình Hải, huyện Thăng Bình TT8 577576 1733856 Điểm giáp ao nuôi thủy sản, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình TT9 577685 1733373 Điểm gần đập Cổ Linh, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình TT10 577671 1733857 Điểm tiếp nhận nước thải đầm nuôi tôm gần cầu Bình Nam, xã Bình

Điểm giáp ao nuôi thủy sản, xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ TT12 585358 1724037 Điểm gần cầu Tam Thanh, xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ TT13 570431 1742056 Điểm gần cầu Kỳ Trung, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ TT14 586335 1722131 Cống lấy nước vào đầm nuôi tôm, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành TT15 588973 1719365 Điểm thuộc khu neo đậu tàu thuyền, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành TT16 589345 1718878 Ngã ba sông Trường Giang và sông Tam Kỳ, xã Tam Tiến, huyện Núi

Bến phà Tam Hòa, xã Tam Hòa, huyện Núi Thành TT18 592464 1714850 Điểm gần bãi nuôi ngao, xã Tam Hải, huyện Núi Thành TT19 595366 1712596

Mẫu trầm tích lấy mẫu tầng mặt cho đến độ sâu khoảng 20 cm so với đáy: Sử dụng gầu lấy mẫu trầm tích để lấy, mẫu sau khi lấy đựng trong túi PE, dán nhãn, bảo quản lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích (TCVN 6663 - 3:2000; TCVN

6663 -15: 2004)

Trang 40

31

+ Phân tích chất lượng nước mặt trên các chỉ tiêu: pH, độ mặn, DO, BOD5, COD, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), N-NH4+, N-NO3-, asen (As), chì (Pb), thủy ngân (Hg), coliform

+ Phân tích các chỉ tiêu trầm tích: asen (As), cadimi (Cd), đồng (Cu), chì (Pb), kẽm (Zn), thủy ngân (Hg)

Bảng 2.6 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu nước mặt và trầm tích

sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Phương pháp phân tích

Nước mặt

1 pH - Máy đo đa chỉ tiêu nước cầm tay của Hana

2 Độ mặn ‰ Máy đo độ mặn cầm tay

3 DO mg/l Máy đo đa chỉ tiêu nước cầm tay của Hana

Các chỉ số chất lượng nước (WQI) hiện nay với những cách tiếp cận khác nhau

sẽ có những ưu nhược điểm khác nhau:

Ngày đăng: 14/04/2020, 13:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Ái, Mai trọng Nhuận và nnk (2001), Một số đặc điểm phân bố arsen trong tự nhiên và vấn đề ô nhiễm arsen trong môi trường ở Việt Nam. “Hiện trạng ô nhiễm arsen ở Việt Nam”, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm phân bố arsen trong tự nhiên và vấn đề ô nhiễm arsen trong môi trường ở Việt Nam. “Hiện trạng ô nhiễm arsen ở Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Văn Ái, Mai trọng Nhuận và nnk
Năm: 2001
2. Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng – Ban quản lý khu kinh tế mở Chu Lai (2010), Báo các tính toán thủy văn – thủy lực, Dự án đầu tư xây dựng công trình nạo vét thoát lũ khẩn cấp sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam. Giai đoạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo các tính toán thủy văn – thủy lực
Tác giả: Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng – Ban quản lý khu kinh tế mở Chu Lai
Năm: 2010
3. Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (2000), Sinh thái môi trường ứng dụng, Nxb khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái môi trường ứng dụng
Tác giả: Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 2000
4. Chi cục Thống kê huyện Duy Xuyên (2016), Niên giám thống kê huyện Duy Xuyên, Huyện Duy Xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Duy Xuyên
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Duy Xuyên
Năm: 2016
5. Chi cục Thống kê huyện Thăng Bình (2016), Niên giám thống kê huyện Thăng Bình, Huyện Thăng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Thăng Bình
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Thăng Bình
Năm: 2016
6. Chi cục Thống kê thành phố Tam Kỳ (2016), Niên giám thống kê thành phố Tam Kỳ, thành phố Tam Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê thành phố Tam Kỳ
Tác giả: Chi cục Thống kê thành phố Tam Kỳ
Năm: 2016
7. Chi cục Thống kê huyện Núi Thành (2016), Niên giám thống kê huyện Núi Thành, Huyện Núi Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Núi Thành
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Núi Thành
Năm: 2016
8. Trần Thiện Cường (2016), "Đánh giá chất lượng môi trường trầm tích và đề xuất các giải pháp kiểm soát vùng hạ lưu sông Phan thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 1S (2016), trang 77-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng môi trường trầm tích và đề xuất các giải pháp kiểm soát vùng hạ lưu sông Phan thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Trần Thiện Cường (2016), "Đánh giá chất lượng môi trường trầm tích và đề xuất các giải pháp kiểm soát vùng hạ lưu sông Phan thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 1S
Năm: 2016
9. Hoàng Ngô Tự Do (2016), Đặc điểm địa chất đệ tứ và tài nguyên nước dưới đất khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Luận án tiến sĩ địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa chất đệ tứ và tài nguyên nước dưới đất khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Hoàng Ngô Tự Do
Năm: 2016
10. Phùng Thái Dương, Huỳnh Thị Kiều Trâm (2015), "Nghiên cứu và đánh giá hàm lượng một số kim loại nặng trong trầm tích đáy vùng cửa sông Mê Kông", Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Số 9 (75), trang 119 – 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá hàm lượng một số kim loại nặng trong trầm tích đáy vùng cửa sông Mê Kông
Tác giả: Phùng Thái Dương, Huỳnh Thị Kiều Trâm
Năm: 2015
11. Phạm Ngọc Hồ, Đồng Kim Loan, Phạm Thị Việt Anh, Phạm Thị Thu Hà, Dương Ngọc Bách (2015), Hướng dẫn đánh giá chất lượng môi trường không khí, nước và đất bằng chỉ số riêng lẻ và chỉ số tổng hợp, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đánh giá chất lượng môi trường không khí, nước và đất bằng chỉ số riêng lẻ và chỉ số tổng hợp
Tác giả: Phạm Ngọc Hồ, Đồng Kim Loan, Phạm Thị Việt Anh, Phạm Thị Thu Hà, Dương Ngọc Bách
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
12. Ngô Thị Thúy Hường, Lê Thu Hà, Bùi Trọng Tấn, Nguyễn Trần Hưng (2016), "Đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố lý hóa của môi trường nước và bùn đáy với sự tích tụ và biến động hàm lượng kim loại nặng trong bùn đáy lưu vực sông Nhuệ-Đáy", Tạp chí Khoa học, Tập 32, số 2, ISSN 2588-1140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố lý hóa của môi trường nước và bùn đáy với sự tích tụ và biến động hàm lượng kim loại nặng trong bùn đáy lưu vực sông Nhuệ-Đáy
Tác giả: Ngô Thị Thúy Hường, Lê Thu Hà, Bùi Trọng Tấn, Nguyễn Trần Hưng
Năm: 2016
13. Vũ Đức Lợi, Nguyễn Thanh Nga, Trịnh Anh Đức, Phạm Gia Môn, Trịnh Hồng Quân, Dương Tuấn Hưng, Trần Thị Lệ Chi và Dương Thị Tú Anh (2010),"Phân tích dạng một số kim loại nặng trong trầm tích thuộc lưu vực sông Nhuệ và Đáy", Tạp trí phân tích Hóa, Lý và Sinh học, Tập 15, trang 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dạng một số kim loại nặng trong trầm tích thuộc lưu vực sông Nhuệ và Đáy
Tác giả: Vũ Đức Lợi, Nguyễn Thanh Nga, Trịnh Anh Đức, Phạm Gia Môn, Trịnh Hồng Quân, Dương Tuấn Hưng, Trần Thị Lệ Chi và Dương Thị Tú Anh
Năm: 2010
14. Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga (2002), Giáo trình công nghệ xử lý nước thải, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ xử lý nước thải
Tác giả: Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
17. Lê Mạnh Tân, Đinh Quang Toàn (2011), "Đánh giá tổng quan nguồn thải gây ô nhiễm trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đoạn qua địa bàn tỉnh Bình Dương", Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 1 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng quan nguồn thải gây ô nhiễm trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đoạn qua địa bàn tỉnh Bình Dương
Tác giả: Lê Mạnh Tân, Đinh Quang Toàn
Năm: 2011
18. Trịnh Thị Thanh (2007), Độc học môi trường và sức khỏe con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học môi trường và sức khỏe con người
Tác giả: Trịnh Thị Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
19. Vũ Thị Phương Thảo (2017), Nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá vai trò của một số loài thực vật thủy sinh và đề xuất giải pháp sinh học nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước sông Nhuệ, Luận án Tiến sĩ Kiểm soát và Bảo vệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá vai trò của một số loài thực vật thủy sinh và đề xuất giải pháp sinh học nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước sông Nhuệ
Tác giả: Vũ Thị Phương Thảo
Năm: 2017
20. Nguyễn Văn Tho, Bùi Thị Nga (2009), "Sự ô nhiễm as, cd trong trầm tích, đất và nước tại vùng ven biển tỉnh Cà Mau", Tạp chí Khoa học, Số 12 - 2009, trang 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự ô nhiễm as, cd trong trầm tích, đất và nước tại vùng ven biển tỉnh Cà Mau
Tác giả: Nguyễn Văn Tho, Bùi Thị Nga
Năm: 2009
21. Ủy ban nhân dân thành phố Tam Kỳ (2012), Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Tam Kỳ
Năm: 2012
22. Astrom, M., Bjorklund. A (1995), "Impact of acid sulfate soils on stream water geochemistry in western Finland", Journal of Geochemical Exploration, Vol.55, pp, 163-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of acid sulfate soils on stream water geochemistry in western Finland
Tác giả: Astrom, M., Bjorklund. A
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w