Việcdạy và họcmôn Lịch sửchưa bao giờlà dễnếu cảthầy và trò đều không cóphương phápdạy họchay,không có những chuyên đềcụthểđểcùng nhauôn luyện,chinh phục, lĩnh hội kiến thức. Kỳthi THPT QGnăm2019 đã qua, một mùa ôn thi mớilại chuẩn bịbắt đầu,tôithấy mình cũng phảinhanh chóngtạo lập những chuyên đềôn thiTHPT QGmớisao cho phù hợp vớitrình độHS, kích thích tinh thần học tập của các emvà cũng phù hợp vớihình thức thi hiện nay của BGD ĐTtrong kỳthi THPT QGnăm2020.
Trang 1
Chuyên đề NHỮNG THẮNG LỢI QUÂN SỰ TIÊU BIỂU TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM
LƯỢC (1946-1954)
Phần 1 Lý do chọn chuyên đề
Trong những năm gần đây, sau mỗi kì thi tốt THPT QG, vấn đề luôn được dư luận nhắc đến nhiều là điểm thi môn Lịch sử rất thấp Gần đây môn Lịch sử lại được chú ý khi xếp vị trí thấp nhất trong số các môn tự chọn của kì thi THPT QG
Việc dạy và học môn Lịch sử chưa bao giờ là dễ nếu cả thầy và trò đều không có phương pháp dạy học hay, không có những chuyên đề cụ thể để cùng nhau ôn luyện, chinh phục, lĩnh hội kiến thức Kỳ thi THPT QG năm 2019 đã qua, một mùa ôn thi mới lại chuẩn bị bắt đầu, tôi thấy mình cũng phải nhanh chóng tạo lập những chuyên đề ôn thi THPT QG mới sao cho phù hợp với trình độ HS, kích thích tinh thần học tập của các em
và cũng phù hợp với hình thức thi hiện nay của BGD & ĐT trong kỳ thi THPT QG năm
2020
Trong chương trình lịch sử lớp 12 hiện nay ( trọng tâm kiến thức thi THPT QG) gồm 2 nội dung lịch sử rõ ràng: Lịch sử thế giới hiện đại (1945- 2000) và lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 được trình bày theo bố cục thời gian Bên cạnh việc tiếp thu kiến thức theo lát cắt thời gian, cá nhân tôi thấy có những vấn đề lịch sử nếu được
Trang 2người học tiếp thu theo hướng “bổ dọc” - một vấn đề xuyên suốt nhiều giai đoạn lịch sử sẽ giúp các em nắm được bản chất vấn đề một cách dễ dàng, sâu sắc và trọn vẹn hơn Vì thế
tôi đã mạnh dạn lựa chọn chuyên đề : Những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) cùng hệ thống bài tập trắc nghiệm chi
tiết để chia sẻ đến thầy cô và các em HS khối 12
PHẦN 2 NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA CHUYÊN ĐỂ
1 Về kiến thức
Chuyên đề yêu cầu học sinh nắm được những nội dung cơ bản sau:
- Trình bày được hoàn cảnh chung của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp( 1946- 1954)
- Trình bày được hoàn cảnh, diễn biến, kết quả của những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp xâm lược (1946-1954): cuộc chiến đấu trong các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16, Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947; Chiến dịch Biên giới thu – đông(1950) và đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ( 1954)
- Phân tích được âm mưu và thủ đoạn mới của thực dân Pháp và can thiệp Mĩ
Trang 3- Phân tích được ý nghĩa của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954
và chiến dịch Điện Biên Phủ
- Phân tích bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Pháp, nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Pháp
2 Về kỹ năng
- Rèn luyện các kĩ năng ôn tập môn Lịch sử: tổng hợp, khái quát, phân tích, so sánh, đối chiếu các sự kiên, hiện tượng lịch sử…
- rèn luyện khả năng tư duy, suy luận trong môn Lịch sử
- Rèn luyện kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm, luyện đề thi
II NHỮNG THẮNG LỢI QUÂN SỰ TIÊU BIỂU TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946-1954)
Trang 4+ Ở Hà Nội Pháp chiếm đóng Bộ Tài chính, gây ra vụ tàn sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh… đến 18/12/1946 Pháp gửi tối hậu thư đòi chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ, cho chúng kiểm soát Hà Nội
2 Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện:
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch(19/12/1946)
+ Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Đảng(12/12/1946)
+ Tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh(9/1947)
- Nội dung đường lối kháng chiến: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế
II Các chiến thắng quân sự tiêu biểu
1 Cuộc chiến đấu trong các đô thị phía bắc vĩ tuyến 16
a Hoàn cảnh lịch sử:
- Mặc dù đã kí bản Hiệp ước 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 nhưng thực dân Pháp
Trang 5tấn công ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ; 11/1946 Pháp khiêu khích, tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn; 12/1946 ở Hà Nội chúng chiếm đóng Bộ Tài chính, gây ra vụ tàn sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh… đến 18/12/1946 Pháp gửi tối hậu thư yêu cầu ta giải tán lực lượng tự vệ, cho chúng kiểm soát Hà Nội
- Trước tình hình đó, ngày 12/12/1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp, ra chỉ thị
“Toàn dân kháng chiến” Sau đó Đảng và chính phủ họp hội nghị mở rộng (ngày 18 –
19//12/1946) quyết định phát động cả nước kháng chiến vào 19/12/1946
- Cuộc kháng chiến đầu tiên diễn ra trong các đô thị với mục tiêu giam chân địch trong các thành phố, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho cả nước tiếp tục chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài
b Diễn biến:
- Tại Hà Nội: 20h ngày 19/12/1946 cuộc chiến đấu bắt đầu Lực lượng vũ trang đồng loạt tấn công các vị trí của Pháp Nhân dân dựng chiến lũy khắp nơi Trung đoàn thủ đô được thành lập, đánh những trận quyết liệt ở Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân…Sau hai tháng chiến đấu kiên cường, ngày 17/2/1947 quân ta rút khỏi vòng vây của địch, ra căn cứ an toàn
- Ở các thành phố, thị xã Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng… quân dân ta anh dũng tiến công, tiêu hao sinh lực địch
- Phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân phía bắc vĩ tuyến 16, nhân dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích
c Kết quả, ý nghĩa:
- Cuộc chiến đấu trong các đô thị góp phần đánh bại âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở Hà Nội, góp phần tiêu hao sinh lực địch
- Ta hoàn thành mục tiêu giam chân địch trong các thành phố, bước đầu làm thất bại âm
mưu “đánh nhanh thắng nhanh ”của thực dân Pháp, tạo điều kiện cả nước chuyển sang
đánh lâu dài
2 Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947
a Âm mưu - hành động của Pháp, chủ trương của ta
* Âm mưu và hành động của Pháp:
Trang 6- Sau khi chiếm được hầu hết các đô thị lớn trong cả nước thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc nhằm: Tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, phá tan căn cứ Việt Bắc; Tiêu diệt quân chủ lực của ta hòng nhanh chóng kết thúc chiến tranh
- 7/10/1947 Pháp huy động 12 000 quân tấn công lên Việt Bắc theo ba hướng: một binh đoàn nhảy dù xuống Bắc Cạn (Chợ Đồn, Chợ Mới ); một binh đoàn bộ binh từ từ Lạng Sơn theo đường quốc lộ số 4 lên Cao Bằng, xuống Bắc Cạn bao vây Việt Bắc ở phía Đông
và phía Bắc; Ngày 9/10/1947 một binh đoàn hỗn hợp thủy, bộ binh theo sông Hồng, ngược sông Lô lên Tuyên Quang bao vây phía Tây Việt Bắc
* Chủ trương của ta: Khi Pháp tiến công Việt Bắc, Đảng ta có chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của Pháp”, nhằm giữ vững căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não kháng
chiến, giữ gìn chủ lực, tiêu hao sinh lực địch
c Kết quả, ý nghĩa:
- Kết quả: 19/12/1947 sau hơn hai tháng chiến đấu quyết liệt của quân ta, thực dân Pháp buộc phải rút chạy khỏi Việt Bắc.Ta tiêu diệt được hơn 6 000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 ca nô và tàu chiến
- ý nghĩa:
+ Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn, giữ vững căn cứ Việt Bắc, bộ đội chủ lực
Trang 7+ Sau thất bại Việt Bắc buộc Pháp phải thay đổi chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bước sang giai đoạn mới
3 Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
+ Đến 1950 lực lượng kháng chiến của ta lớn mạnh về mọi mặt: hậu phương được củng
cố, phát triển đủ khả năng chi viện cho tiền tuyến
- Khó khăn: Mĩ can thiệp vào chiến tranh Đông Dương, từ 5/1950 Mĩ viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp Nhận viện trợ của Mĩ, Pháp đề ra kế hoạch Rơve (6/1949): Tăng cường
hệ thống phòng ngự trên đường quốc lộ số 4, thiết lập “Hành lang Đông - Tây”(Hải Phòng – Sơn La) Pháp chuẩn bị cuộc tấn công Việt Bắc với quy mô lớn, mong giành thắng lợi, nhanh chóng kết thúc chiến tranh
b Chủ trương của ta:
Pháp thực hiện kế hoạch Rơve làm cho vùng tự do của ta bị thu hẹp, căn cứ Việt Bắc bị bao vây…trước tình hình đó, tháng 6/1950 Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm: Tiêu hao sinh lực địch; Khai thông đường biên giới sang Trung Quốc và thế giới; Mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc, thúc đẩy kháng chiến lên cao
c Diễn biến:
- Ngày 16/9/1950 ta nổ súng tấn công cứ điểm Đông Khê, sau hai ngày ta chiếm được Đông Khê Mất Đông Khê, Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập, Pháp thực hiện cuộc
Trang 8“hành quân kép” (một cánh quân đánh lên Thái Nguyên thu hút chủ lực của ta; một cánh quân từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê và đón cánh quân từ Cao Bằng xuống)
- Từ 1/10 đến 8/10/1950 quân ta liên tục bao vây chặn đánh địch trên đường quốc lộ số 4 khiến cho hai cánh quân từ Thất Khê và Cao Bằng không gặp được nhau Thất Khê bị uy hiếp Pháp phải rút khỏi Thất Khê, Na Sầm về Lạng Sơn Cánh quân ở Thái Nguyên bị quân ta chặn đánh Quân Pháp hoảng loạn phải rút chạy, đường quốc lộ số 4 được giải phóng(22/10/1950)
- Phối hợp với mặt trận Biên Giới, quân ta hoạt động mạnh ở tả ngạn sông Hồng, Tây Bắc buộc địch rút khỏi Hòa Bình(11/1950); chiến tranh du kích phát triển mạnh ở Bình – Trị - Thiên, Liên Khu V, Nam Bộ
4 Kế hoạch Đờ Lát đơ Tát xi nhi và những thắng lợi quân sự của ta nhằm giữ vững quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ( 1951-1953)
a Kế hoạch ĐờLlát đơ tát xi nhi
Gấp rút tập trung quân Âu- Phi nhằm xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và ra sức phát triển ngụy quân…
Trang 9Xây dựng phòng tuyến quân sự bằng xi măng, cốt thép, thành lập vành đai trắng bao vây trung du và đồng bằng Bắc Bộ…
Tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta…
Đánh phá hậu phương của ta bằng biệt kích, thổ phỉ gián điệp…
Như vây, Kế hoạch Đờ Lát đơ Tátxinhi gồm đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp
ở Đông Dương lên quy mô lớn, làm cho cuộc kháng chiến của ta gặp nhiều khó khăn
+ Pháp càng sa lầy trong chiến tranh càng lệ thuộc Mĩ, ngày 7/5/1953 được sự thỏa thuận của Mĩ, Pháp cử tướng Nava làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương Nava
vạch ra kế hoạch quân sự hòng giành thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”
- Nội dung kế hoạch Nava: Kế hoạch Nava được thực hiện trong vòng 18 tháng với 2 bước:
+ Bước thứ nhất: Trong thu – đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược ở
Bắc Bộ, tiến công chiến lược bình định Trung Bộ và Nam Đông Dương; xây dựng quân
cơ động chiến lược mạnh
Trang 10+ Bước thứ hai: Từ thu – đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện
tiến công chiến lược, giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho chúng nhằm kết thúc chiến tranh
Thực hiện kế hoạch trên, Pháp tập trung 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ, tiến hành càn quét nhằm bình định vùng chiếm đóng, mở rộng hoạt động thổ phỉ, tấn công vùng tự do của ta
b Chủ trương của ta:
Tháng 9/1953, Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Việt Bắc,
vạch ra kế hoạch quân sự trong đông - xuân 1953-1954 với phương châm: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng mà tạo cho ta những điều kiện thuận lợi mới
để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của địch
c Các thắng lợi quân sự trong chiến cuộc đông – xuân 1953 – 1954
Thực hiện nghị quyết của Bộ chính trị, trong đông – xuân 1953 – 1954, quân ta mở một loạt cuộc tiến công địch ở hầu khắp các chiến trường Đông Dương
* Ngày 10/12/1953 ta tấn công thị xã Lai Châu, loại khỏi vòng chiến đấu 24 đại đội địch, giải phóng tỉnh Lai Châu (trừ Điện Biên Phủ) Nava buộc phải đưa 6 tiểu đoàn từ đồng bằng Bắc Bộ tăng cường cho Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực thứ hai của Pháp
* Đầu 12/1953 liên quân Lào – Việt mở cuộc tấn công địch ở Trung Lào, tiêu diệt 3 tiểu đoàn Âu – Phi, giải phóng thị xã Thà Khẹt, uy hiếp Xavanakhet và căn cứ Xênô Nava phải tăng cường lực lượng cho Xênô và Xênô trở thành nơi tập trung binh lực thứ ba của Pháp
* Tháng 1/1954 liên quân Lào – Việt tiến công địch ở Thượng Lào, giải phòng lưu vực sông Nậm Hu, toàn tỉnh Phongxalì, căn cứ kháng chiến mở rộng 1 vạn km2 Nava phải đưa quân từ đồng bằng Bắc Bộ tăng cường cho Luông Phabang và Mường Sài, đây trở thành nơi tập trung binh lực thứ tư của Pháp
Trang 11* Tháng 2/1954 quân ta tiến công Tây Nguyên, loại khỏi vòng chiến đấu 2 000 tên địch, giải phóng Kon Tum, một vùng rộng lớn với 20 vạn dân, bao vây uy hiếp Plâycu Pháp buộc phải tăng cường binh lực cho Plâycu là nơi tập trung binh lực thứ năm của Pháp
* Ta còn đẩy mạnh chiến tranh du kích khắp các chiến trường, phá giao thông, sân bay, kho tang của địch, buộc Pháp phải phân tán lực lượng đối phó với ta
- Ý nghĩa: Các cuộc tiến công của ta trên các hướng chiến lược khác nhau đã góp phần tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng đất đai, phân tán cao độ lực lượng quân sự của địch, làm phá sản kế hoạch tập trung quân cơ động của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản
6 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954
a Âm mưu của Pháp:
Khi kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản, Pháp – Mĩ đã tập trung xây dựng Điện Biên
Phủ thành pháo đài bất khả xâm phạm nhằm thu hút lực lượng của ta để tiêu diệt Điện
Biên Phủ được xây dựng kiên cố gồm 3 phân khu (phân khu Bắc, phân khu Trung tâm, phân khu Nam) với 49 cứ điểm Tổng số binh lực ở đây lên tới 16 200 quân, trang bị hiện đại
b Chủ trương của ta:
Tháng 12/1953 bộ chính trị và trung ương Đảng họp, quyết định mở chiến dịch Điện
Biên Phủ Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào
Ta huy động một lực lượng lớn cho Điện Biên Phủ bao gồm 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo, nhiều tiểu đoàn công binh… với tổng số 55 000 quân Đầu tháng 3/1954 công tác chuẩn bị đã hoàn tất
c Diễn biến: Ngày 13/3/1954 ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chia
Trang 12Mĩ tăng cường viện trợ cho Pháp, đe dọa ném bom xuống Điện Biên Phủ gây cho ta nhiều khó khăn Ta kịp thời khắc phục, nâng cao quyết tâm giành thắng lợi
+ Đợt 3 (1/5 đến 7/5/1954): Quân ta đồng loạt tấn công phân khu Trung tâm và phân khu Nam, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm còn lại Chiều 7/5/1954 ta đánh sở chỉ huy của địch, 17h 30 phút chiều 7/5 Bộ tham mưu của địch đầu hàng và bị bắt sống, chiến dịch kết thúc thắng lợi
d Kết quả, ý nghĩa:
+ Kết quả: Ta tiêu diệt và bắt sống 16 200 tên địch, hạ 62 máy bay, thu nhiều phương tiện chiến tranh; ta giải phóng được vùng đất đai rộng lớn
+ Ý nghĩa: Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của chiến cuộc đông – xuân 1953 –
1954, là thắng lợi to lớn nhất trong 9 năm chống Pháp, đã đập tan kế hoạch Nava, buộc Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương
B Kiến thức nâng cao
1 Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp từ 1946 đến 1954?
a Cuộc chiến đấu trong các đô thị phía bắc vĩ tuyến 16
- Cuộc chiến đấu trong các đô thị góp phần đánh bại âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở Hà Nội, góp phần tiêu hao sinh lực địch
- Ta hoàn thành mục tiêu giam chân địch trong các thành phố, bước đầu làm thất bại âm
mưu “đánh nhanh thắng nhanh ” của thực dân Pháp, tạo điều kiện cả nước chuyển sang
đánh lâu dài
b Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947
- Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn, giữ vững căn cứ Việt Bắc, bộ đội chủ lực trưởng thành
- Sau thất bại Việt Bắc buộc Pháp phải thay đổi chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bước sang giai đoạn mới
c Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
- Kết quả: Ta tiêu diệt hơn 8 000 tên địch, giải phóng vùng biên giới Việt – Trung với 35
Trang 13- Ý nghĩa: Khai thông đường liên lạc của ta với các nước XHCN; Quân đội ta giành được thế chủ động trên chiến trường chính (Bắc Bộ), mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến
d Chiến dịch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ (cuối 1950 đến giữa 1951) nhằm giữ vững thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ
e Các thắng lợi quân sự trong chiến cuộc đông – xuân 1953 – 1954 đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ
- Các cuộc tiến công của ta trên các hướng chiến lược khác nhau đã góp phần tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng đất đai, phân tán cao độ lực lượng quân sự của địch, làm phá sản kế hoạch tập trung quân cơ động của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ
- Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của chiến cuộc đông – xuân 1953 – 1954, là thắng lợi to lớn nhất trong 9 năm chống Pháp, đã đập tan kế hoạch Nava, buộc Pháp phải
kí hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương
ng Bắc Bộ Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản
2 Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống pháp 1946- 1954
Nghệ thuật quân sự là hệ thống các quan điểm về quân sự và các vấn đề liên quan đến chiến thuật, chiến lược, chiến dịch trong hoạt động quân sự của một tổ chức, tập đoàn quân Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), kế thừa và phát huy
truyền thống quân sự của dân tộc, tiếp thu tinh hoa quân sự của thế giới, nghệ thuật quân
sự Việt Nam đã phát triển lên tầm cao mới
- Chiến tranh nhân dân( du kích và chính qui)
Chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Pháp là nội dung cơ bản của nghệ
thuật phát động toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt Chiến tranh nhân dân phát triển mạnh
mẽ làm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, gây cho địch những tổn thất và ngày càng nghiêm trọng, làm cho tinh thần quân địch luôn căng thẳng, hoang mang, dao động
Biểu hiện: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1946- 1954), chiến tranh nhân dân được áp dụng phổ biến trong đó thắng lợi ở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là
Trang 14đội địa phương và dân quân du kích Ta đã huy động sức mạnh của toàn dân tộc cho thắng lợi của chiến dịch
- Xác định đúng hướng tiến công, chọn đúng hình thức tác chiến
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ta đã chọn mục tiêu và hướng tiến công chính xác cũng như chọn đúng hình thức tác chiến
Biểu hiện:
Đúng hướng tiến công: sau đòn giam chân địch trong các đô thị phía bắc vĩ tuyến
16, ta tiếp tục xác định hướng tiến công ở trận phản công Việt Bắc trong thu- đông 1947, đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp Đến thu- đông năm
1950, trên cơ sở lực lượng bộ đội chủ lực phát triển, ta mở chiến dịch tiến công quy mô cấp đại đoàn ở biên giới Việt - Trung, trên địa bàn các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn giành
thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá tan thế bị địch bao vây, tạo bước ngoặt lớn của cuộc
kháng chiến Trong Đông Xuân 1953 - 1954, bằng nhiều đòn tiến công chiến lược trên hầu khắp các chiến trường vùng rừng núi ở cả ba nước Đông Dương, đặc biệt là ở hướng Tây Bắc Bắc bộ, mà Điện Biên Phủ là trung tâm, ta đã tiêu diệt, làm tan rã gần 1/4 lực lượng cơ động chiến lược của địch
Đúng hình thức tác chiến (đánh du kích, đánh vận động, đánh công kiên) Nhờ đó,
ta đã lần lượt đánh bại các phương thức tác chiến hiện đại bằng hệ thống đồn bốt dày đặc, các đội quân ứng chiến, đến các cứ điểm, cụm cứ điểm của địch Ví dụ, trong chiến dịch Biên Giới thu- đông( 1950), quân ta chọn Đông Khê là trận mở màn cho chiến dịch, vì nhận thấy đây là một vị trí có tầm quan trọng về chiến lược nhưng địch bố phòng còn sơ
hở nên ta đã tập trung quân vừa đánh vận động, vừa đánh công kiên Hay như các chiến
dịch trong Đông- Xuân 1953-1954 ta cũng tận dụng tốt thời cơ và hình thức tác chiến để làm hao mòn từng bước kế hoạch Nava tạo điều kiện cho thắng lợi cuối cùng ở điểm Điện
Biên Phủ với lực lượng địch lúc cao nhất lên tới hơn 16.200 binh sỹ
- Chủ động, kiên quyết, sáng tạo, bí mật, bất ngờ
Chủ động tìm địch mà đánh, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch là nét nổi bật trong
nghệ thuật quân sự của Việt nam trong cuộc kháng chiến chống Phá( 1946-1954)