1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý về khu công nghiệp liên hệ thực tiễn tại tỉnh hà nam

92 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp bao gồm: Hoàn thiện quy hoạch KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban Quản lý các KCN và KCX Hà Nội;

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung, các nhận xét, đánh giá trong luận văn này

là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các tài liệu được sử dụng vào mục đích trình bày kết quả tập sự trước Hội đồng bảo vệ Luận văn thạc sỹ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

HỌC VIÊN

Đặng Tuấn Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình tôi theo học chương trình cao học Luật tại trường Đại học Mở Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Bùi Ngọc Cường đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi thực hiện luận văn và những bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, trao đổi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

HỌC VIÊN

Đặng Tuấn Nam

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG THUỘC QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 7

1.1 Khái niệm, vai trò, lợi thế của khu công nghiệp so với loại hình đầu tư khác và nhân tố ảnh hưởng tới khu công nghiệp 7

1.2 Những vấn đề pháp lý cơ bản về khu công nghiệp 18

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển khu công nghiệp 25

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH HÀ NAM 37

2.1 Khái quát chung về sự phát triển các khu công nghiệp tại tỉnh Hà Nam 37

2.2 Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý về KCN tại tỉnh Hà Nam 45

2.3 Những vấn đề bất cập về quy chế pháp lý khu công nghiệp 67

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHU CÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 74

3.1 Nhu cầu và định hướng hoàn thiện quy chế pháp lý về khu công nghiệp 74

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý khu công nghiệp từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hà Nam 78

3.3 Một số Kiến nghị 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trên thế giới hiện nay, nhiều mô hình KCN, đặc biệt là các đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở, khu kinh tế tự do, hoặc chuyển đổi những KCN, KCX truyền thống thành những KCN đa năng, gắn kết giữa khu vực sản xuất công nghiệp tập trung với phát triển khu đô thị đang dần hình thành và phát triển Đi kèm với đó là hành lang pháp lý thông thoáng, các chính sách ưu đãi, hạ tầng cơ sở kỹ thuật - xã hội hoàn thiện

và nhiều loại hình dịch vụ - phong phú, đa dạng nhằm tạo sức hấp dẫn thu hút các nguồn vốn FDI và công nghệ kỹ thuật tiên tiến phục vụ cho chiến lược CNH, HĐH nền kinh tế xã hội của các quốc gia

Tại Hà Nam, từ khi thành lập đến nay, các khu công nghiệp (KCN) đã đạt được những thành tựu nhất định Theo dự thảo báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 20 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nam (khóa 13), đến nay tỉnh đã hình thành nên một hệ thống quy hoạch tổng thể các KCN với diện tích gần 12.000 ha Đã có 8 KCN/17KCN theo quy hoạch được triển khai đầu tư với tổng diện tích đất tự nhiên là 4.180ha, gấp 7 lần so với trước năm 2008 Các KCN đã thu hút được một lượng vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt thu hút được một số dự án FDI có số vốn đầu tư lớn, công nghệ sản xuất hiện đại như: GE, Bridgestone, Nipo Pharma, Fuji Xerox Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh

tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua phát triển số lượng doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng, sản phẩm mới tăng kim ngạch xuất khẩu Đặc biệt đã góp phần giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập, nâng cao trình độ chuyên môn, trình

độ quản lý, kỹ thuật, ngoại ngữ, tay nghề cho đội ngũ người lao động tại tỉnh Hà Nam đã góp phần đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư vào các KCN Hà Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế Tính đến nay, đa số các dự án đầu tư có quy mô nhỏ; thâm dụng lao động; trình độ

Trang 7

công nghệ thấp; hiệu quả sử dụng đất công nghiệp chưa cao; nguồn lao động giản đơn thiếu nghiêm trọng, phải tuyển lao động từ các tỉnh khác, tạo nhiều áp lực cho tỉnh Nhưng hiện nay, hầu hết ở các tỉnh đều thành lập các KCN và thu hút lao động tại địa phương đó, nên các doanh nghiệp trong KCN Hà Nam không còn tuyển được nhiều lao động từ các tỉnh Hơn nữa, các doanh nghiệp đầu tư vào KCN không còn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp đầu tư vào các dự

án công nghệ cao) Từ đó cho thấy, các doanh nghiệp trong KCN đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn

Cùng với việc thi hành Luật Đầu tư năm 1996 việc nghiên cứu để đưa ra mô hình khu kinh tế mới nhằm thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Năm 1989, mô hình khu công nghiệp (KCN) đã được các cơ quan chức năng trình Chính phủ sau khi đã nghiên cứu các tài liệu và khảo sát thực tế tại một số nước trong khu vực có KCN phát triển như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia

Trong quá trình hình thành và hoạt động của KCN, KCX còn nảy sinh một số bất cập về pháp lý, làm hạn chế sự phát triển và hiệu quả hoạt động của các KCN, KCX Đây cũng là một nguyên nhân tạo nên sự thiếu hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào hoạt động tại các KCN, KCX

Tìm hiểu kỹ, chỉ rõ những vấn đề pháp lý cần giải quyết trong việc hình thành

và hoạt động của các KCN, KCX, đặc biệt là những vướng mắc của các nhà đầu tư khi hoạt động trong các KCN, KCX là một việc làm cần thiết Điều đó một mặt giải quyết các vướng mắc về mặt pháp lý cho các chủ đầu tư Mặt khác giúp các nhà lãnh dạo, những nhà làm luật điều chỉnh chính sách, pháp luật tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong các KCN, KCX hoạt động thuận lợi và hiệu quả hơn Sự thành công của các nhà đầu tư đang hoạt động trong các KCN, KCX là sự kêu gọi đầu tư hiệu quả nhất Hoàn thiện các vấn đề pháp lý cho việc hình thành, hoạt động và phát triển của các KCN, KCX là một đòi hỏi bức xúc cần giải quyết Đây là cơ sở để tạo những bước phát triển vượt bậc của các KCN, KCX trong thời gian tới trên toàn lãnh thổ Việt

Nam nói chung và tại địa bàn tỉnh Hà Nam nói riêng Do đó, tôi đã chọn vấn đề “Quy

Trang 8

chế pháp lý về khu công nghiệp liên hệ thực tiễn tại tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp cao học Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Quy chế pháp lý về khu công nghiệp là một vấn đề mang tính chiến lược đã được Đảng và nhà nước quan tâm thể hiện qua đường lối, chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu khá đầy đủ và có hệ thống ở nhiều cấp độ khác nhau về quy chế pháp lý về khu công nghiệp tại Việt Nam của các chuyên gia, các nhà khoa học… có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Trương Thị Minh Sâm (2004), “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu

quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở các KCN, KCX”, NXB Khoa học xã hội

Trong cuốn sách này, tác giả đã đánh giá khá chi tiết và toàn diện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, những thách thức đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với vấn đề này ở các KCN, KCX thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Vũ Huy Hoàng (2007) “Tổng quan về hoạt động của các khu công nghiệp”,

Kỷ yếu khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh Tài liệu đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về khái niệm, đặc điểm và tình hình hoạt động của các KCN trên cả nước

Lê Hồng Yến (2008), “Hoàn thiện chính sách, quy chế quản lý nhà nước đối

với các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay (qua thực tiễn khu công nghiệp các tỉnh phía Bắc)”, Luận án tiến sĩ trường Đại học Thương Mại Luận án đã nghiên cứu thực

trạng phát triển các KCN ở các tỉnh phía Bắc, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, quy chế quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam hiện nay

Hà Thị Thúy (2010), “Các khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội ở

Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 9

tiêu cực của các KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng, tác giả đưa ra các giải pháp để các KCN phát huy tốt vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

Cao Thị Lan (2013), “Quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp trên địa

bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sĩ hành chính công trường Học viện Hành chính

Quốc gia Luận văn này được tác giả nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Phạm Kim Thư (2016), “Quản lý nhà nước đối với các Khu công nghiệp trên

địa bàn thành phố Hà Nội”, luận án tiến sĩ kinh tế trường Đại học mỏ địa chất Hà

Nội Luận án đưa ra dự báo về bối cảnh quốc tế, trong nước và Thủ đô tác động đến hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ

sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp bao gồm: Hoàn thiện quy hoạch KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban Quản lý các KCN và KCX Hà Nội; đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư…

Các tác giả đã hệ thống hóa các lý luận về KCN, KCX, tình hình phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam nói chung, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt được và những hạn chế trong quá trình phát triển các KCN, KCX nói riêng Ngoài ra còn có một số bài báo phân tích trên tạp chí chuyên ngành khác, nhưng do mục đích khác nhau nên các công trình mới chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nhất định của quy chế pháp lý đối với các KCN

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, các quy định pháp luật

về khu công nghiệp, thực tiễn áp dụng,

Về không gian luận văn nghiên cứu việc áp dụng quy chế pháp lý của khu công nghiệp tại tỉnh Hà Nam, về thời gian luận văn nghiên cứu giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 6 năm 2019

Trang 10

4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu về thực trạng của việc thành lập và hoạt động của các khu công nghiệp, với việc phân tích đặc điểm, vai trò, tác dụng của khu công nghiệp trong việc phát triển kinh tế, xã hội đất nước

Để có căn cứ khoa học xem xét và đánh giá thực tế hoạt động của các khu công nghiệp, luận văn đi sâu tìm hiểu những căn cứ để xây dựng khu công nghiệp, những quy định pháp lý hiện hành cho việc hình thành và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam nói chung và địa bàn Hà Nam nói riêng, trên cơ sở đó chỉ rõ những bất cập về pháp lý liên quan đến việc hình thành và phát triển khu công nghiệp và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp lý về khu công nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh; phương pháp phân tích

6 Những điểm mới của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn được thể hiện ở một số điểm mới như sau:

a Khu công nghiệp là một mô hình kinh tế được ra đời với chính sách đổi mới kinh tế đất nước Khu công nghiệp từng bước đã khẳng định là một thực thể kinh tế xã hội và ngày càng thể hiện sự ưu việt của nó trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

b Việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phát triển khu công nghiệp đã giải quyết vấn đề xã hội bức xúc hiện nay là tạo ra được nhiều chỗ làm mới cho nhiều lao động chưa có việc làm Việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp đồng thời cũng tạo điều kiện tập trung giải quyết các vấn đề nóng bỏng về bảo vệ môi trường đặc biệt góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, làm tăng đáng kể GDP, tạo được

Trang 11

bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp

c Hoạt động của các khu công nghiệp gặp không ít những bất cập về mặt pháp

lý hiện hành, đó là hành lang pháp lý chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, một số quy định còn cứng nhắc, thiếu thực tế, về mô hình quản lý các khu công nghiệp chưa hợp lý

d Để các khu công nghiệp có cơ sở pháp lý, đầy đủ hơn quy định về việc hình thành và hoạt động của các khu công nghiệp trong thời gian tới, luận văn xin đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy chế pháp lý của khu công nghiệp

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn có lời nói đầu, phần kết luận và ba chương là:

- Chương 1: Những vấn đề chung thuộc quy chế pháp lý về khu công nghiệp

- Chương 2: Thực trạng tổ chức quản lý và hoạt động của khu công nghiệp tại tỉnh Hà Nam

- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện khu công nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trang 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG THUỘC QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm, vai trò, lợi thế của khu công nghiệp so với loại hình đầu tư khác

và nhân tố ảnh hưởng tới khu công nghiệp

1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp

Trước đây, vào những năm 60 của thập kỷ này, Đảng và Nhà nước ta đã sớm thấy lợi thế của các khu công nghiệp tập trung đối với việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và xã hội, cho nên đã cho xây dựng được một số khu công nghiệp như khu công nghiệp Thượng Đình (Hà Nội), khu công nghiệp hoá chất Việt Trì (Vĩnh Phúc), khu gang thép Thái Nguyên (Thái Nguyên), Tuy nhiên, việc thành lập các khu công nghiệp chưa có tính chiến lược và chưa được hoạch định thành chính sách, kế hoạch dài hạn, rõ ràng

Đại hội VI diễn ra, đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, nhất là đổi mới về kinh tế, nhu cầu phát triển khu công nghiệp được mở ra Khái niệm khu công nghiệp trên văn bản pháp luật lần đầu tiên được đưa ra đầy đủ cùng với việc ban hành quy chế khu công nghiệp kèm theo Nghị định số 36/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ

quy định: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng

công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất”

Theo quy chế khu công nghiệp thì: “Khu công nghiệp phải là khu tập trung

các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, hàng công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” Khái

niệm về khu công nghiệp đã thể hiện một cách đầy đủ những đặc trưng cũng như yêu cầu đối với khu công nghiệp Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phân biệt khu công

Trang 13

nghiệp và mô hình sản xuất, kinh doanh tập trung khác Tiêu chí là sản xuất hàng hoá với số lượng và quy mô lớn phục vụ cho thị trường, phương thức sản xuất khác hẳn với phương thức sản xuất thủ công - tự cung tự cấp của một số vùng, một số ngành trước đây ở nước ta

KCN phải có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập Điều này cho phép các doanh nghiệp trong KCN có điều kiện phát triển thuận lợi nhất, có điều kiện tốt nhất trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường

Quy định “trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất” là một quy định “mở” tạo thêm sự năng động cho KCN, tạo điều kiện cho KCN đa dạng thêm về loại hình doanh nghiệp, trên thực tế, quy định này đã phát huy được tích cực của nó, tạo sự hấp dẫn đặc biệt đối với một số doanh nghiệp chế xuất đây cũng là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài

Trên thế giới hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về KCN, do vậy khái niệm KCN trong thực tế cũng rất khác nhau

Theo cơ quan nghiên cứu phát triển công nghiệp thuộc Liên hiệp quốc (UNIDO, 1970) khái niệm về KCN được hiểu như sau:

“KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hoá và/hoặc tiêu thụ nội địa miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề Một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho KCX”

“KCX là khu có một hoặc nhiều doanh nghiệp đăng ký cơ chế chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và các dịch vụ cho hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được rào ngăn cách với khu vực nội địa”

Các khái niệm kể trên được UNIDO đưa ra vào thời điểm các KCN và KCX trên thế giới chưa phát triển mạnh mẽ, do vậy khái niệm có tính giản đơn và chưa hàm chứa nội dung hoạt động phong phú sinh động theo yêu cầu phát triển của các KCN, KCX

Trang 14

Năm 1971, trong diễn đàn quốc tế UNIDO, các chuyên gia của UNIDO đã đưa

ra khái niệm về KCN tổng hợp như sau: “KCN tổng hợp là khu chuyên sản xuất hàng

hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng nhà ở có ranh giới địa lý xác định gồm những khu vực dành cho công nghiệp, các dịch vụ liên quan, thương mại và dân cư Khu vực công nghiệp có thể là KCN, KCX, KCNC”

Khái niệm này phù hợp với yêu cầu phát triển của KCN, bên cạnh khu vực sản xuất có khu vực dịch vụ, thương mại và khu vực dân cư, nếu đứng trên quan điểm quy hoạch Tuy nhiên, để phù hợp với xu hướng phát triển thì nội dung hoạt động của KCN phải bao hàm các hoạt động sản xuất - thương mại - dịch vụ và xuất nhập khẩu

được Chính phủ cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu miễn thuế quan, KCN tự do, khu ngoại thương tự do hoặc bất kỳ các loại khu xuất khẩu tự do nào”

Đây là khái niệm phù hợp với yêu cầu phát triển của các KCX trên thế giới hiện nay, nó làm cho các KCX trở nên năng động hơn, hoạt động phong phú đa dạng hơn, đáp ứng hữu hiệu nhu cầu giao lưu kinh tế của doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu hoá

Theo khoản 11 điều 3 Luật Đầu tư 2014, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác

định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp

Theo quy định của Nghị định 82/2018/NĐ-CP, KCN bao gồm hai nhóm chính

là các KCN mang tính truyền thống được thành lập phổ biến ở Việt Nam (hiện có khoản trên 200 KCN) và các KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (KCX), khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái

Theo đó, khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp

Trang 15

Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 10 điều 3 Luật Đầu tư 2014, KCX là KCN chuyên sản

xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu

Theo quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP, khu chế xuất được ngăn cách

với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong luận văn này, tác giả thống nhất từ dùng chung là “Khu công nghiệp”

nhằm đề cập đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và khu chế xuất

Tại Việt Nam, các KCN, KCX, KCNC mặc dù được hình thành sau nhiều nước trên thế giới, nhưng nước ta đã không rút được bài học kinh nghiệm từ các nước

đi trước, lại áp dụng cơ chế chính sách chưa nhất quán và thường xuyên thay đổi do điều kiện của một nền kinh tế chuyển đổi mang nhiều tính chất đặc thù Điều này được thể hiện qua các khái niệm đề cập trên

1.1.2 Vai trò của khu công nghiệp

1.1.2.1 Thu hút vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế

Mô hình phát triển các KCN và KCX có đặc điểm là các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh của nguồn vốn trong và ngoài nước Việc kết hợp này được thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các nhà đầu tư, giữa các doanh nghiệp trong nước

và ngoài nước, giữa người lao động và người sử dụng lao động Sự kết hợp này còn thể hiện qua việc kết hợp giữa KCN và KCX với nền kinh tế nội địa Nếu các mối quan hệ này được thực hiện tốt sẽ góp phần thúc đầy nền kinh tế phát triển

Trang 16

Tính đến tháng 12/2018, cả nước đã có 326 KCN được thành lập, trong 326 khu công nghiệp được thành lập, có 250 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên gần 68 nghìn ha và 76 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên

25 nghìn ha Các KCN phân bố ở 61 tỉnh, thành phố trên cả nước; tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65% [11].1

Tuy nhiên, do chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn nội bộ nên những năm đầu xây dựng KCN chúng ta đã xem nhẹ việc thu hút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN Điều này thể hiện rõ ở số dự án

và tổng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước vào KCN trong thời gian này còn rất hạn chế Trong thời gian gần đây, vai trò của khu vực trong nước mới được chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước vào các KCN tăng lên, số dự án trong nước trong các KCN đã lớn hơn so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Việc thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện nền kinh tế tích luỹ nội bộ còn thấp là rất quan trọng KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trên thực tế, từ khi xây dụng KCN đến nay, số dự án và tổng vốn đầu tư nước ngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong trong tổng vốn FDI đầu tư trên cả nước Đến tháng 12/2018, tổng số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN là hơn 4.100 dự án với tổng vốn đăng ký gần 59 tỷ USD Tổng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các KCN trên cả nước đạt trên 9,5 tỷ USD Có thể nói, các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy yên tâm hơn khi đầu tư vào KCN Bởi lẽ, trong KCN có một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn có, một môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất, là nơi cơ chế

“một cửa, tại chỗ” được thực thi rõ ràng nhất Việc phát triển các KCN sẽ là lợi thế giúp cho nước ta thu hút được một nguồn vốn đầu tư của nước ngoài để phát triển kinh tế quốc gia

Trang 17

1.1.2.2 Góp phần đào tạo và giải quyết việc làm cho xã hội

Con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội cuả Đảng và Nhà nước ta Người lao động Việt Nam rất tháo vát, nhạy bén, thích ứng mau lẹ với mọi hoàn cảnh biến động của nền kinh tế thị trường và có khả năng nắm bắt những kỹ thuật mới để sử dụng vào sản xuất kinh doanh Nhưng với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH thì chất lượng của người lao động Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu

Việc thu hút doanh nghiệp có công nghệ cao đầu tư vào KCN để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động là một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta Thời gian qua, việc thu hút nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp FDI trong KCN chưa phải là lớn, hiện có hơn 1,76 triệu người làm việc, nhưng điều quan trọng là số lao động này được trực tiếp làm việc trong một môi trường làm việc có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, được tiếp cận với công nghệ hiện đại, đã rèn luyện được những

kỹ năng và bản lĩnh làm việc thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại Doanh nghiệp trong các KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI đã đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp tiên tiến, có tác dụng lan tỏa và nâng cao nền tảng lao động của đội ngũ lao động Việt Nam

Bên cạnh đó, lao động Việt Nam trong các KCN còn được tiếp cận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng quản lý tài chính, marketing, Đội ngũ lao động này, khi chuyển đi làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam, hoặc tự mình khởi sự doanh nghiệp sẽ có thể

áp dụng phương thức quản lý tiên tiến đã tiếp thu được vào hoạt động của doanh nghiệp mình Từ đó sẽ vừa nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp, vừa truyền đạt những kiến thức quản lý cho người lao động Việt Nam khác Như vậy, xét trên các góc độ, vai trò của doanh nghiệp trong KCN không chỉ dừng lại ở việc đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao mà quan trọng hơn là tác động lan truyền của nó tới các doanh nghiệp Việt Nam khác Các doanh nghiệp trong KCN đã thực sự góp phần vào việc nâng cao trình độ chung của lao động nước ta

Trang 18

Tạo việc làm đồng nghĩa với tạo thu nhập cho người lao động, vì phần lớn lao động được thu hút vào làm việc trong các doanh nghiệp KCN là lao động chưa qua đào tạo và một bộ phận không nhỏ từ khu vực nông nghiệp, nông thôn Do đó, vấn đề tạo việc làm đã tác động tích cực đến việc giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên

1.1.2.3 Góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế quốc dân

Các doanh nghiệp trong các KCN đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, nhất là thể chế tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các địa phương nói riêng và của cả nước nói chung Các doanh nghiệp này cũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới hàng hoá và dịch vụ xã hội

Các KCN đã và đang tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của địa phương mình Đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng, miền và cả nước

Các KCN góp phần tạo ra những ngành nghề mới, công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyến hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế công nghiệp hoàn toàn mới

có hàm lượng vốn lớn, cộng nghệ cao như thiết bị văn phòng (Canon), điện tử (Intel ) phụ tùng ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng, sản xuất thép Theo đánh giá những công nghệ đang sử dụng ở các dự án FDI trong các KCN đều thuộc công nghệ hiện đại hơn công nghệ vốn có của nước ta, đa số đều là những dây chuyền tự động hoá, tương đối hiện đại, một số sản phẩm điện tử vi mạch được sản xuất bằng những công nghệ tiên tiến

Trang 19

1.1.3 Các lợi thế của khu công nghiệp so với các loại hình đầu tư khác

Quản lý, quy hoạch

- Quy hoạch, quản lý hoàn chỉnh, có BQL cung cấp dịch vụ một cửa, giảm việc xin Giấy phép đầu tư phiền phức Đối với các công việc

về thủ tục đầu tư, thành lập DN, xây dựng nhà xưởng, đưa DN vào sản xuất và các hoạt động khác của DN thì nhà đầu tư chỉ cần gặp BQL

- Việc xin Giấy phép đầu tư phức tạp, đi lại nhiều nơi cho từng công việc, ở các

Sở, Ban, Ngành khác nhau

Thủ tục cấp phép Thủ tục cấp phép giữa trong và ngoài khu giống nhau

Sự an toàn - Có đội ngũ bảo vệ riêng canh gác

Tiện ích công cộng

- Đã được quy hoạch, xây dựng trong mỗi khu về các tiện ích công cộng như Trạm y tế…

- Nhà đầu tư phải tự lo

- Đất có sẵn

- Hệ thống đường xá chưa hoàn chỉnh

- Điện nước không ổn định

- Đất không có sẵn, phải tự thực hiện đền

bù, giải phóng mặt bằng rất khó khăn

Thuế NK:

- Máy móc thiết bị,

phương tiện vận tải

chuyên dùng để tạo Tài

sản cố định

- Nguyên, nhiên liệu,

Theo quy định hiện hành, phụ thuộc

Phụ thuộc lĩnh vực đầu tư

Thuế GTGT (VAT) Miễn

Thuế TNDN Tương đồng, xét theo địa bàn đầu tư và lĩnh vực đầu tư

Bảng 1.1: Bảng so sánh những điểm khác nhau giữa trong và ngoài KCN

Trang 20

Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp KCN tại tỉnh Hà Nam ngoài những “đối thủ cạnh tranh” là các doanh nghiệp KCN thuộc các tỉnh, thành phố khác thì cần phải

so sánh, tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp ở bên ngoài KCN thuộc tỉnh Hà Nam Những điểm khác nhau, những ưu thế khi đầu tư vào các KCN so với đầu tư ở bên ngoài KCN theo các tiêu chí:

- Quản lý, quy hoạch liên quan tới dự án

- Hạ tầng cơ sở (điện, đường, xử lý nước thải…)

- Chính sách ưu đãi đầu tư

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thì giữa trong và ngoài KCN không

có sự phân biệt nhiều về ưu đãi đầu tư mà chỉ xét theo địa bàn hoặc lĩnh vực đầu tư được hưởng ưu đãi Điều này cũng góp phần tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong việc hướng đến vận động các doanh nghiệp thâm dụng lao động hoặc ô nhiễm môi trường di dời sang các địa bàn khác để được hưởng ưu đãi đầu tư góp phần tạo sự phát triển ổn định cho doanh nghiệp

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các KCN

1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên:

Địa điểm của KCN phải gần các trung tâm kinh tế, các đầu mối giao thông và nguồn cung ứng điện, nước, phải được bố trí tại vị trí có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi và hiệu quả, có khả năng mở rộng diện tích phát triển và có thể liên kết thành các cụm công nghiệp

1.1.4.2 Kết cấu hạ tầng

Các KCN hầu như đều hình thành trên các khu đất mới, do đó cần đảm bảo các điều kiện kết cấu hạ tầng cả trong và ngoài hàng rào KCN thì mới có thể thu hút các nhà đầu tư vào Nhằm đảm bảo xử lý ô nhiễm môi trường, ngoài cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện nước, thông tin liên lạc phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải tốt Nếu không thực hiện tốt điều này, có thể sẽ lại hình thành những khu vực ô nhiễm như trong nội thành trước đây Thực tế, ngoài ưu điểm tập trung sản xuất, các KCN là

Trang 21

nơi có điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh Đây cũng là một trong các yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư chọn KCN để sản xuất thay vì chọn một nơi khác Việc đầu tư cơ

sở hạ tầng phải phù hợp với đối tượng nhà đầu tư nhằm xác định giá cho thuê đất phù hợp Đây là một mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng tài chính của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.4.3 Các điều kiện cung cấp nguyên liệu và lao động

Để hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh, các yếu tố đầu vào như nguyên liệu sản xuất, lao động đã được các nhà đầu tư cân nhắc khi quyết định đầu tư vào một KCN Vì vậy, các KCN phải bảo đảm gần nguồn cung cấp nguyên liệu và lao động với giá cả thích hợp thì mới thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp Việc các KCN được bố trí gần các nguồn cung ứng lao động sẽ giúp doanh nghiệp và chính quyền địa phương không bị áp lực

về việc giải quyết nơi ăn, ở và các dịch vụ phúc lợi khác Tuy nhiên, bên cạnh số lượng lao động, chúng ta cần chú ý đến chất lượng của lao động

1.1.4.4 Môi trường đầu tư

Ngoài việc quan tâm đến giá thuê đất, tận dụng lợi thế về giá nhân công rẻ, các nhà đầu tư vào KCN còn đặc biệt quan tâm đến môi trường đầu tư Vì vậy, để tạo điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư vào KCN, Nhà nước phải cải thiện môi trường đầu tư đảm bảo thông thoáng, giải quyết các thủ tục hành chính đơn giản từ khâu cấp giấy phép đầu tư, cấp phép xây dựng đến các chính sách về thuế, hải quan, tín dụng, Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, môi trường đầu tư đang trở thành yếu tố hàng đầu trong việc thu hút đầu tư vào các KCN, ở khía cạnh nào đó, nó còn quan trọng hơn cả yếu tố về giá thuê đất và giá nhân công Cho nên hiện nay trên thế giới hầu hết các quốc gia đều áp dụng cơ chế “một cửa” để giảm thiểu tối đa các thủ tục tạo môi trường tốt cho các nhà đầu tư

1.1.4.5 Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

Doanh nghiệp chỉ bỏ vốn đầu tư vào KCN khi đã có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh

Do đó, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng được xem như nguồn vốn “mở đường” mà các doanh

Trang 22

nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN phải bỏ ra ngay từ ban đầu Có thể nói vốn đầu

tư cơ sở hạ tầng được xem như tiền đề để thu hút các nguồn vốn đầu tư khác Giải quyết được mâu thuẫn khi chưa thu được tiền thuê đất mà đã phải bỏ vốn đầu tư được xem như nguồn vốn “mở đường” mà các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN phải bỏ ra ngay từ ban đầu Giải quyết được mâu thuẫn khi chưa thu được tiền thuê đất mà đã phải bỏ vốn đầu tư sẽ khắc phục được tồn tại về tiến độ lấp đầy các KCN còn chậm Các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN phải có tiềm lực tài chính tốt nhằm đảm bảo tiến độ đền bù giải toả, xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi vào thuê đất có thể tiến hành xây dựng nhà máy nhanh chóng Do nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng rất lớn, vì vậy nguồn vốn đầu

tư không những phải đảm bảo đầy đủ mà còn phải được đầu tư đúng lúc đúng chỗ nhằm có thể phát huy tác dụng ngay được

1.1.4.6 Phát triển khu dân cư đồng bộ:

Quá trình phát triển các KCN phải gắn liền với việc xây dựng các khu dân cư

và các công trình phúc lợi để giải quyết đời sống cho các công nhân sản xuất trong các KCN Bởi vì, việc ổn định nơi ăn, chỗ ở cho lực lượng công nhân sẽ góp phần giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được ổn định và phát triển Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, việc phát triển khu dân cư xung quanh các KCN còn nhằm ổn định về mặt xã hội và an ninh trật tự Vì vậy, đây cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các KCN Việc phát triển khu dân cư không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của các Công ty Phát triển hạ tầng và các doanh nghiệp trong KCN

1.1.4.7 Điều kiện về đất đai

Khi xây dựng KCN đòi hỏi phải sử dụng một diện tích đất tương đối lớn tại khu vực không quá cách xa các trung tâm đô thị lớn Các khu vực này đồng thời cũng

là địa điểm giãn dân trong nội thành với nhu cầu đất để xây dụng khu dân cư cũng tương đối lớn, do đó chi phí đền bù giải toả ngày càng tăng Trong khi chi phí đền bù lại chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu giá thành cho thuê đất Vì vậy, đây

Trang 23

là một thách thức rất lớn đối với các KCN trong quá trình cạnh tranh thu hút đầu tư nếu không tính toán giá cho thuê đất một cách hợp lý Vị trí khu đất, công năng hiện hữu của khu đất sẽ ảnh hưởng lớn đến chi phí đền bù giải toả Do đó, các vùng đất nông nghiệp kém màu mỡ, hiệu quả canh tác không cao sẽ có thuận lợi hơn trong việc xây dựng các KCN

Tuy nhiên, chi phí đầu tư còn cao Theo đánh giá của tổ chức JETRO (Nhật Bản), Việt Nam có chi phí cao hơn nhiều nước trong khu vực trong việc cho thuê văn phòng, thuê nhà, cước viễn thông, vận chuyển container, tiền điện Điều đó đã làm cho chi phí đầu tư tăng cao, làm giảm lợi nhuận thu được của nhà đầu tư vào KCN

1.2 Những vấn đề pháp lý cơ bản về khu công nghiệp

1.2.1 Các văn bản pháp luật về khu công nghiệp

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật Đầu tư năm 2014; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Thương mại năm 2005; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu… chính là cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động của KCN

Các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Trung Quốc đều đã có Luật Khu Công nghiệp Tuy nhiên ở Việt Nam Quy chế KCN là toàn bộ nội dung của Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ Vì là Nghị định của Chính phủ nên phạm vi điều chỉnh của Nghị định và hiệu lực pháp lý của Nghị định 82/2018/NĐ-CP cũng giống như các Nghị định khác của Chính phủ ban hành thấp hơn hiệu lực pháp lý của một đạo luật

Ngoài ra còn có một số Nghị định của Chính phủ như:

tiết thi hành Luật Đầu tư

chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp

Ngoài ra còn rất nhiều văn bản thông tư, hướng dẫn khác của các Bộ, ngành

Trang 24

điều chỉnh việc hình thành và hoạt động của các KCN Nội dung của các văn bản này phù hợp với các quy định trong quy chế KCN Các quy định trong Nghị định 82/2018/NĐ-CP 2008 của Chính phủ về Quy chế KCN có tính pháp lý cao hơn các văn bản pháp luật khác do các Bộ, ngành ban hành nhằm điều chỉnh các lĩnh vực của mình quản lý liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của các KCN

Cơ sở pháp lý cho việc hình thành và hoạt động của các KCN là khá đầy đủ, tuy nhiên trong các quy định pháp lý cho KCN còn có nhiều vấn đề bất cập, chồng chéo cần được giải quyết, có như vậy mới tạo được phát triển mới của các KCN

Ngoài những văn bản pháp luật cơ bản, chủ yếu nêu trên, trong quá trình hình thành và phát triển các KCN các Bộ, ngành liên quan đến các hoạt động của KCN cũng có các thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật trên cũng như có các quyết định phân cấp uỷ quyền cho các cơ quan quản lý KCN và các công văn hướng dẫn mang tính chuyên ngành của Bộ, ban ngành liên quan đến việc hình thành và hoạt động của KCN

Cơ sở pháp lý cho việc hình thành và hoạt động của KCN là rất rộng lớn, có liên quan đến nhiều bộ luật quan trọng, phạm vi điều chỉnh cũng rất rộng, cho nên trong phạm vi của luận văn tác giả xin trình bày làm rõ một số vấn đề như sau:

Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc

tế, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các

tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá, bởi nhận thức sâu sắc rằng muốn phát triển đất nước, không có con đường nào khác là phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, muốn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phải tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, phải tập trung thu hút đầu tư nước ngoài Đây là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam Với một quốc gia đông dân, với nền chính trị ổn định và với việc Nhà nước cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư vào Việt Nam chính là sự hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư

Trang 25

Để có cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư năm 2014 Nhằm điều chỉnh một số quy định còn bất cập trong hoạt động đầu tư và để các quy định phù hợp hơn với thông lệ quốc tế

Như vậy, Luật Đầu tư, Nghị định 118/2015/NĐ/CP, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao là vô cùng quan trọng, tạo nên khung pháp lý cho việc hình thành và hoạt động của các KCN

Luật Đầu tư có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc tổ chức và hoạt động của các KCN Một mặt, luật quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, mặt khác, Luật quy định rõ các hình thức đầu tư sau đây:

- Các hình thức đầu tư trực tiếp;

- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế;

- Đầu tư theo hợp đồng;

- Đầu tư gián tiếp

Hình thức đầu tư, các biện pháp bảo đảm đầu tư quy định rất chi tiết trong Luật Đầu tư là những căn cứ pháp lý quan trọng cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào

KCN Có thể nêu một số biện pháp bảo đảm đầu tư như Điều 9 Bảo đảm quyền sở

hữu tài sản: Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu

bằng biện pháp hành chính Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý

do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về

trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan; Điều 11

Bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài: Sau khi thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản sau đây: Vốn đầu

Trang 26

tư, các khoản thanh lý đầu tư, Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh, Tiền và tài

sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư; Điều 13 Bảo đảm đầu tư kinh

doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật: Trường hợp văn bản pháp luật mới

được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án, trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án

Có thể nói đây là những quy định hết sức cụ thể và chặt chẽ, đảm bảo cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào Việt Nam

Để mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước Trong Luật Đầu tư (năm 2014) theo hướng tạo thêm các điều kiện cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam như quy định lĩnh vực, địa bàn đầu tư được ưu đãi hỗ trợ đầu tư: Đối tượng được hưởng ưu đãi về thuế; được chuyển lỗ; được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định; mức khấu hao tối đa

là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cố định; được ưu đãi về sử dụng đất; ưu đãi đối với nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Đồng thời quy định về hỗ trợ đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Để khuyến khích các doanh nghiệp trong khu chế xuất tăng khả năng xuất khẩu, tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư đầu tư vào khu chế xuất doanh nghiệp chế xuất được miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hoá từ KCX ra nước ngoài và

từ nước ngoài nhập khẩu vào KCN Doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài trong KCN được hưởng các ưu đãi về thuế

Như vậy những chính sách cụ thể của Nhà nước Việt Nam đã được luật hoá, là

cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và hoạt động của các KCN Luật Đầu tư

Trang 27

năm 2014, Nghị định 82/2018/NĐ-CP là những văn bản pháp lý quan trọng nhất cho hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mà hoạt động đầu tư nước ngoài lại tập trung chủ yếu trong các KCN

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của khu công nghiệp

1.2.2.1 Các quy định về cơ cấu tổ chức của Ban quản lý KCN

Chính phủ ban hành Nghị định 82/2018/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, quy định Ban quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất BQL các KCN cấp tỉnh/thành được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập, trên cơ sở đề nghị của UBND tỉnh, thành phố

1.2.2.2 Các loại hình KCN

Căn cứ vào mục tiêu và tính chất hoạt động của các KCN, các loại hình KCN

có những đặc điểm cơ bản sau:

- KCN (IP-Industrial Parks)

KCN được cấp phép hoạt động bởi cơ quan quản lý nhà nước trung ương hoặc địa phương Cơ sở hạ tầng được đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân hoặc nhà nước Được quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào hoạt động sản xuất chế biến sản phẩm công nghiệp Hàng hoá vừa có thể tiêu thụ nội địa vừa có thể xuất khẩu

Quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp trong KCN với nhau hoặc giữa doanh nghiệp trong và ngoài KCN được điều chỉnh bằng hợp đồng nội thương Quan

hệ thương mại giữa doanh nghiệp trong KCN với nước ngoài được điều chỉnh bằng hợp đồng ngoại thương

Hầu hết các KCN áp dụng cơ chế quản lý “một cửa - tại chỗ” nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư

Việc cấp phép hoạt động và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tương tự như KCN

Trang 28

Được quy hoạch tách khỏi phần nội địa bởi tường rào, không có dân cư sinh sống Việc ra vào KCX phải qua các cổng quy định được sự kiểm soát của hải quan và đơn

vị chức năng

Quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp trong KCX và nội địa được điều chỉnh bằng hợp đồng ngoại thương, phải làm thủ tục xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp trong KCX chỉ được xuất khẩu tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào nội địa

Doanh nghiệp trong KCX được hưởng những ưu đãi đặc biệt: Được miễn thuế nhập khẩu, xuất khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt Được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp có mức thấp hơn các doanh nghiệp nội địa và không phải chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước

KCX được áp dụng cơ chế quản lý “một cửa tại chỗ” trong việc cấp Giấy phép đầu tư, Giấy phép xây dựng, Giấy phép xuất nhập khẩu, Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá

- KCNC (Hi-tech Parks)

Là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất hoặc tạo ra các dịch vụ mang hàm lượng công nghệ cao, đầu tư lớn cho nghiên cứu, phát triển, được điều hành quản lý bởi những nhà khoa học và công nhân có trình độ cao Sản phẩm được tạo ra thường

sử dụng ít năng lượng và nguyên liệu Công nghệ sử dụng mang tính tiên tiến, hiện đại Có các hoạt động dịch vụ nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo nguồn nhân lực trình

độ cao và chuyển giao công nghệ

Nhiều nước không hạn chế chuyên gia, lao động giỏi nước ngoài làm việc, Nhà nước sở tại có những chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế, tín dụng, bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ

- Khu công nghệ sinh học (Bio-technology Parks)

Khu công nghệ sinh học tập trung những doanh nghiệp nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học, có thể trở thành nơi tham quan du lịch nghỉ mát

Trang 29

Các lĩnh vực thường được nghiên cứu phát triển bao gồm: Kỹ thuật sinh học hiện đại, kỹ thuật vi sinh, kỹ thuật chọn và nhân giống, kỹ thuật chế biến nông sản, kỹ thuật bảo quản, kỹ thuật đóng gói

Khu công nghệ sinh học tập trung những nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong

và ngoài nước, được nhà nước sở tại áp dụng chính sách ưu đãi

- Khu thương mại tự do (Free trade Zone)

Khu thương mại tự do thường được chọn ở vị trí đặc biệt thuận lợi cho hoạt động giao thông thương mại: Gần cảng, sân bay, có vị trí tương đối tách biệt với phần nội địa để dễ kiểm soát việc buôn lậu Các hoạt động trong khu thương mại tự do phong phú đa dạng trên nhiều lĩnh vực: Thương mại, xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ,

Các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong khu với nước ngoài không phải chịu thuế xuất nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan

Giữa doanh nghiệp trong khu với thị trường trong nước được điều tiết bởi hợp đồng ngoại thương

Thường các nhà nước sở tại áp dụng chính sách ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong khu hoạt động về thủ tục hành chính, hải quan, thuế,

- Đặc khu kinh tế (SEZ- special Economic Zone)

Đặc khu kinh tế quản lý nhà nước trong việc cấp giấy phép hoạt động tài chính, ngân hàng, dịch vụ bưu chính viễn thông, cấp thị thực xuất nhập cảnh được

áp dụng chính sách đặc biệt ưu đãi về thủ tục hành chính, thuê đất hạn chế đến mức tối thiếu việc can thiệp của nhà nước trừ trường hợp ảnh hưởng quá bất lợi cho nền kinh tế trong nước Đặc khu kinh tế có dân cư sinh sống và có nhiều ngành nghề hoạt động đa dạng phong phú: Công nghiệp, dịch vụ, thương mại, xây dựng, vận tải, công nghệ cao, kinh doanh kho, bảo hiểm, ngân hàng,

Đặc khu kinh tế được hình thành nhiều thị trường trong khu: Thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường tài chính

Trang 30

- Khu kinh tế mở (Open- economic zone)

Khu kinh tế mở là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia nhưng có không gian kinh tế riêng biệt, có môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi nhất phù hợp với cơ chế thị trường, nhằm khuyến khích đầu tư và khuyến khích xuất khẩu

Khu kinh tế mở được áp dụng cơ chế quản lý “mở cửa và mở” và hưởng chính sách ưu đãi tối đa, được chia thành 2 khu vực: Khu vực phi thuế quan và khu vực thuế quan Khu phi thuế quan không có dân cư sinh sống, có tường rào ngăn cách với khu vực xung quanh, khu thuế quan có các KCN, KCX, khu giải trí du lịch, khu dân cư và hành chính

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển khu công nghiệp

1.3.1 Các đặc khu kinh tế Trung Quốc

- Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn nằm sát Việt Nam, giữa Trung Quốc

và Việt Nam có 1 số điểm chung:

+ Cùng phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Cả 2 quốc gia đều chú trọng vào việc thu hút đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu nhằm gia tăng sự phát triển kinh tế mỗi nước

- Những năm gần đây, nước Trung Quốc phát triển nhanh và khá vững chắc (tốc độ tăng GDP hàng năm vào khoảng hơn 10%), trong đó có phần đóng góp to lớn

từ những thành quả đạt được của mô hình kinh tế được thành lập từ những năm 80 mô hình đặc khu kinh tế Vì thế nghiên cứu những kinh nghiệm thành công của các đặc khu kinh tế Trung Quốc sẽ phần nào giúp cho Việt Nam có những bài học trong việc xây dựng các KCN tại Việt Nam, đặc biệt về kế hoạch xây dựng đặc khu kinh tế tại Việt Nam trong tương lai

- Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc nằm ở vùng ven biển thuộc tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và đảo Hải Nam, các đặc khu kinh tế là cửa sổ của Trung Quốc mở

ra bên ngoài, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nơi tiếp nhận kinh nghiệm quản lý hiện

Trang 31

đại tiên tiến của các nước phát triển và cũng là nơi thực nghiệm những chính sách cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc Nếu thành công sẽ áp dụng thực hiện tiếp cho các khu vực khác, nếu không sẽ chỉ đóng khung trong đặc khu

- Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến và Chu Hải thành lập năm 1980, Sán Đầu và

Hạ Môn thành lập năm 1981, Hải Nam ra đời năm 1988 Năm 1980 xuất phát điểm của 5 đặc khu rất kém Nhưng đến cuối năm 1996, năm đặc khu kinh tế có diện tích 35.000km2 và dân số 10,2 triệu người, chiếm 0,36% diện tích cả nước và 0,78% dân

số cả nước Ngoài ra 5 đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã đạt được giá trị xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài xấp xỉ 1/3 cả nước

- Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã khai thác các lợi thế vị trí địa lý và các chính sách ưu đãi dành cho đặc khu kinh tế nhằm thu hút FDI và cầu nối hợp tác kinh tế với các khu vực khác trong nội địa Đây là những khu vực phát triển rất nhanh

cả về kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế thị trường và công nghiệp hướng theo xuất khẩu hoạt động một cách tốt nhất Hiện nay 5 đặc khu kinh tế là khu vực phát triển nhất của đất nước

Từ sự thành công của đặc khu kinh tế Trung Quốc, có thể rút ra được một số bài học như sau:

+ Thứ nhất: Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đánh giá đúng tình

hình và kiên trì thực hiện một chính sách lớn

Những năm đầu, do đặc khu còn trong thời kỳ khó khăn, thu hút đầu tư nước ngoài còn tự phát, chưa có quy hoạch, lối sống thực dụng phát triển, nên có không ít ý kiến đòi xóa bỏ Nhưng với quyết tâm cao, kiên trì theo đuổi, từ năm 1992 thì đặc khu kinh tế mới thực sự bước vào thời kỳ phát triển hướng ngoại, hội nhập quốc tế và sự thống nhất nhận thức được nâng lên từ đây

+ Thứ hai: Trong điều kiện khung pháp lý chưa hoàn thiện trong thời gian đầu,

Trung ương vẫn mạnh dạn giao quyền cho chính quyền các cấp tỉnh, thành phố Trung ương chỉ quy định một số nguyên tắc cho hoạt động của đặc khu kinh tế đó là Nghị quyết của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc kỳ họp thứ 15 khoá IX tháng

Trang 32

8/1980 thông qua quy định thành lập và tổ chức hoạt động đặc khu kinh tế ở tỉnh Quảng Đông với 26 điều, các điều ngắn gọn, rõ ràng và dễ thực hiện Nhưng để tổ chức thực hiện được các nguyên tắc của Trung ương đề ra và để đáp ứng nhu cầu thực

tế của từng đặc khu trong quá trình phát triển Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc kỳ họp thứ 21 đã có Nghị quyết ủy quyền cho đại hội đại biểu nhân dân hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến được “lập quy” áp dụng cho đặc khu theo phương châm “một nơi

và một hạn chế” “Một nơi” là tỉnh được lập những quy định có nội dung khác với quy định hiện hành hoặc chưa có quy định; “một hạn chế” là chỉ áp dụng cho đặc khu Năm 1992, trung ương có quyết định cho chính quyền thành phố Thẩm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông có quyền lập quy và báo cáo trực tiếp lên trung ương Khi ban hành các văn bản pháp quy đều phải trao đổi với cơ quan trung ương hiện hành

+ Chính quyền đặc khu kinh tế có quyền hạn quản lý kinh tế rất lớn: Được phép phê chuẩn các dự án nhỏ hơn 30 triệu USD nếu các dự án này không nằm trong danh mục kiểm soát của Nhà nước; đối với những dự án trên 30 triệu USD và nằm trong danh mục kiểm soát của Nhà nước thì chính quyền đặc khu phải xin ý kiến của

cơ quan Trung ương và địa phương liên quan

- Thứ ba: Trung Quốc thực hiện nhất quán chính sách đầu tư nước ngoài

Trong thu hút FDI, lấy lợi ích cơ bản và lâu dài làm trọng Chính vì vậy, các chính sách ưu đãi về thuế và tài chính rất rộng cho đặc khu

- Thứ tư: Trung Quốc đa dạng hoá các hình thức đầu tư nước ngoài Ngoài các

hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam: Hợp doanh, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, Trung Quốc còn có thêm các hình thức liên doanh cùng khai thác, thương mại bù trừ, gia công lắp ráp, thuê mua, chuyển giao kỹ thuật, mua bán trái phiếu - cổ phiếu, Qua các tài liệu chính thức của Trung Quốc cho thấy đầu tư nước ngoài tại các đặc khu chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư của toàn bộ doanh nghiệp hoạt động tại đặc khu Trung Quốc tiến hành cơ chế quản lý “một cửa, một đầu mối”, đơn giản hoá thủ tục hành chính, bộ máy quản lý gọn nhẹ, đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong đặc khu trên tất cả các mặt: Thuế, thương mại, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh,

Trang 33

ngoại hối Sau hơn 18 năm phát triển, hầu hết các yếu tố thị trường đã hình thành và phát triển như: Thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường đất đai Doanh nghiệp trong đặc khu hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, các cơ quan không nhận bất cứ mệnh lệnh hành chính nào can thiệp đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nhân nước ngoài và khách du lịch nước ngoài được hưởng quy chế xuất nhập cảnh đơn giản và thuận tiện Người đầu tư và du lịch nước ngoài vào Thẩm Quyến, Chu Hải và Hải Nam được cấp Visa tạm thời trong thời gian 3, 5 hay 15 ngày Nhà đầu tư nước ngoài, nhân viên nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gia đình họ được hưởng cấp Visa nhiều lần

- Thứ năm: Trung Quốc đa dạng hoá các mô hình phát triển kinh tế: Ngoài mô

hình đặc khu kinh tế, Trung Quốc có 14 thành phố kinh tế mở vùng duyên ra đời năm

1984, 32 khu phát triển kinh tế và kỹ thuật hay còn gọi là khu khai phát (1988), 13 khu mở vùng biên giới, 3 khu mậu dịch tự do Các mô hình phát triển kinh tế nêu trên được hình thành căn cứ vào điều kiện cụ thể vị trí địa lý tạo điều kiện khơi dậy và khai thác một cách tốt nhất lợi thế của từng khu vực Tới những năm 90, chính sách cải cách của nền kinh tế đã vươn tới 365 đô thị với diện tích 55 vạn km2 với hơn 300 triệu dân sinh sống

- Thứ sáu: Hình thức huy động vốn xây dựng hạ tầng rất phong phú Riêng đặc

khu Thẩm Quyến có các hạ tầng cấp điện 2.000MW, có 8 cảng trong đó có 26 cầu cảng có thể tiếp nhận tàu 10.000 tấn, có sân bay riêng, 44 nhà máy với tổng công suất cấp nước hàng năm là 800 triệu m3 nước thô và hàng ngày cấp 2,68 triệu tấn nước Ngoài hình thức huy động vốn như ở nước ta như vay ngân hàng, hợp tác với nước ngoài, phát hành trái phiếu, họ còn có chính sách cho đặc khu giữ lại tiền bán quyền

sử dụng đất trong 10 năm đầu và đến năm 1989 được giữ lại tiền thu ngân sách vượt chỉ tiêu Trung ương giao để phát triển hạ tầng Ngoài ra người nông dân được góp vốn bằng giá trị hoa lợi và tài sản trên mảnh đất của họ để hưởng cổ tức thay vì cách làm cổ điển là nhận đền bù

Tóm lại, việc lựa chọn đúng địa điểm, sau đó là công tác quy hoạch và xác

Trang 34

định bước đi ban đầu phù hợp, từ đơn giản đến phức tạp (ban đầu Thẩm Quyến là gia công lắp ráp, tới năm 1992 mới phát triển công nghiệp chế tạo hoặc sản phẩm có hàm lượng quốc gia cao), có những chính sách đúng đắn và kiên trì tổ chức thực hiện là những nội dung then chốt cần quan tâm để phát triển đặc khu

ta có được những bài học kinh nghiệm bổ ích đối với mô hình kinh tế KCX

Hiện nay, Thái Lan có hơn 40 KCN hoạt động, trong đó 7 KCN do Cục Quản

lý các KCN Thái Lan (gọi tắt IEAT) đầu tư, 1 KCN IEAT liên doanh với tư nhân để xây dựng cơ sở hạ tầng, 32 KCN do các tập đoàn lớn và tư nhân đầu tư Tất cả các KCN này hoạt động theo Luật KCN IEAT trực tiếp quản lý 29 KCN, trong đó 7 KCN đã được lấp đầy Trong đó 29 KCN thì có 9 KCX và 20 KCN tổng hợp - KCN tổng hợp là nơi sản xuất hàng công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Các KCN ở Thái Lan được chia làm 3 vùng, mỗi vùng được hưởng chế độ ưu đãi riêng về tài chính

- Vùng 3: 60 tỉnh còn lại của Thái Lan, gồm 11 KCN

Những bài học kinh nhiệm về sự thành công tại các KCN của Thái Lan:

+ Bài học 1: Tổ chức bộ máy quản lý một cách hợp lý và hiệu quả

Trước đây, các nhà đầu tư vào Thái Lan tự mua đất để xây dựng nhà máy nên Nhà nước không quản lý được, nhất là về mặt bảo vệ môi trường Từ năm 1972, IEAT được thành lập Việc xác định chức năng và quyền hạn của IEAT là một cuộc đấu

Trang 35

tranh và phải qua rất nhiều cuộc họp và tách một phần nhiệm vụ mà các bộ, ngành đang thực hiện giao cho IEAT Cuối cùng, nhằm mục tiêu phát triển cân bằng ở Thái Lan, Chính phủ đã chính thức giao chức năng cho IEAT như ngày nay IEAT được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước thống nhất về phát triển KCN ở Thái Lan Ngoài ra, cục còn có chức năng kinh doanh Trong trường hợp này, IEAT như là một doanh nghiệp nhà nước Từ hai chức năng trên, IEAT có quyền tiến hành các hoạt động sau:

+ Điều tra, xây dựng kế hoạch, thiết kế, xây dựng KCN

+ Cấp giấy phép đầu tư

+ Quản lý các nhà đầu tư trong KCN (bao gồm hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, ) quản lý việc sử dụng đất, các công việc liên quan đến ảnh hưởng môi trường

+ Quy định ngành nghề và quy mô của cơ sở công nghiệp sẽ được cấp giấy phép đầu tư vào KCN

+ Phát hành ngân phiếu hoặc các loại tín phiếu khác nhằm mục đích đầu tư

- Bài học 2: Các chính sách ưu đãi về tài chính

Đối với xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng Nhà nước không ưu đãi cho vay vốn, tuy nhiên nhà nước đứng ra bảo lãnh cho các công ty nhà nước vay mà không phải thế chấp Mọi ưu tiên được dành cho các doanh nghiệp trong KCN Với mục tiêu

là lấp đầy các KCN về phát triển công nghiệp cân bằng trong cả nước, Thái Lan phân thành 3 vùng phát triển KCN như kể trên với những ưu đãi khác nhau để khuyến khích đầu tư vào vùng khó khăn, xa Bangkok, cụ thể như sau:

Thuế thu nhập công ty: Vùng 1 được miễn trong 3 năm, vùng 2 được miễn trong

7 năm, vùng 3 được miễn trong 8 năm và được giảm 50% trong 5 năm tiếp theo

Thuế nhập khẩu thiết bị - máy móc: Vùng 1, vùng 2 được giảm 50%, vùng 3 được miễn hoàn toàn

Thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất: Trường hợp cả 3 vùng xuất khẩu ít nhất

Trang 36

30%, vùng 1, vùng 2 được miễn trong 1 năm, vùng 3 được miễn trong 5 năm

- Ngoài các ưu đãi chung kể trên, các KCN còn được hưởng các ưu đãi khác như miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu sản xuất, miễn hoàn toàn các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ thuế phụ thu

+ Bài học 3: Về dịch vụ “một cửa”

Nhà đầu tư muốn đầu tư vào KCN chỉ cần đến IEAT là có đủ thông tin cần thiết Họ sẽ được giới thiệu mạng lưới KCN, ngành nghề khuyến khích đầu tư, vị trí các KCN, các ưu đãi, các thủ tục giấy tờ cần thực hiện Sau một ngày được hướng dẫn chu đáo và làm xong mọi thủ tục, một tuần sau họ sẽ nhận được giấy phép để bắt tay vào xây dựng nhà xưởng Trường hợp ở xa, nhà đầu tư có thể thông qua mạng Internet tìm hiểu KCN mà mình quan tâm, lô đất mình lựa chọn Sau đó fax cho IEAT, khi được IEAT chấp thuận họ sẽ đến Bangkok để ký hợp đồng Mặc dù có quy định chế độ dịch vụ một cửa nhưng IEAT luôn đặt nhiệm vụ tự hoàn thiện để giải quyết nhanh yêu cầu của khách hàng Bởi vì một cửa nhưng nhà đầu tư phải chờ đợi lâu cũng như nhiều cửa Từ đó IEAT tự khẳng định vị trí và vai trò của mình trong việc thu hút các nhà đầu tư và hoàn thành nhiệm vụ phát triển công nghiệp cân bằng ở Thái Lan

+ Bài học 4: Tạo môi trường trong sạch tại các KCN

Một trong 5 mục tiêu xây dựng KCN ở Thái Lan là đảm bảo môi trường trong sạch, thông qua luật KCN và các quy chế bắt buộc để bảo vệ môi trường Thái Lan đưa ra nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải đền bù thiệt hại Do vậy khi thành lập KCN phải có dự án thiết kế xây dựng hệ thống xử lý nước thải và được cơ quan có thẩm quyền về môi trường xem xét và phê duyệt Nhà đầu tư phải chi trả chi phí xử lý chất thải và chất thải phải được xử lý và giải phóng triệt để IEAT là cơ quan được uỷ quyền đặt đại diện tại các KCN để giám sát, kiểm tra môi trường Theo định

kỳ, lấy mẫu chất thải để phân tích và có các quyết định kịp thời khi phát hiện các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường bị vi phạm Vì thế các KCN ở Thái Lan được mệnh danh là KCN xanh, sạch đẹp

Trang 37

Tóm lại, nhờ các chính sách đúng đắn của Chính phủ về phát triển các KCN Thái Lan đã tạo được cho mình những nét đặc trưng riêng, nổi tiếng với các đặc điểm: Xanh, sạch đẹp nên dễ dàng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên sự thành công cho các KCN ở Thái Lan

1.3.3 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển các KCN của các nước Châu Á cho Việt Nam

Từ những thành công tại các KCN của một số nước như Trung Quốc, Thái Lan

đã nêu trên, Việt Nam có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau:

- Cần phải có sự thống nhất quan điểm ưu tiên phát triển KCN trong hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương

- Thực hiện tốt và hiệu quả cơ chế quản lý một cửa, tại chỗ, phối hợp tốt giữa các sở ban ngành, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh

- Hỗ trợ và tạo điều kiện phát huy vai trò của Ban quản lý các KCN Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang bắt đầu tham gia hội nhập kinh tế thế giới, việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là điều hết sức quan trọng Chính vì thế các Ban Quản lý các KCN ở các tỉnh, thành phố đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về hành lang pháp lý đầu tư kinh doanh, sản xuất, về cơ sở hạ tầng, về các chính sách thuế nhằm thu hút càng nhiều nhà đầu tư với những dự án lớn và mang tính hiện đại phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế Việt Nam ở hiện tại và tương lai

- Lựa chọn chủ đầu tư về hạ tầng cơ sở thật sự có đủ kinh nghiệm - tài lực - vật lực - nhân lực, với quyết tâm đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN

- Quy hoạch mạng lưới các KCN, với những vị trí KCN phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành, lĩnh vực cụ thể, nhất là đối với những KCN dành cho việc sản xuất các ngành nghề ô nhiễm - những KCN dành cho những đối tượng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Mô hình Trường đào tạo nghề và quản trị doanh nghiệp trực thuộc Ban quan

lý các KCN là mô hình mới cần quan tâm chăm sóc và không ngừng nâng cao chất

Trang 38

lượng đạo tạo nguồn nhân lực

- Xác định giải phóng mặt bằng là điểm mấu chốt, quan trọng Vì giải phóng mặt bằng càng nhanh thì chi phí phục vụ trong vấn đề đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo tiến độ nhanh, với chi chi phí đầu tư thấp, chất lượng đảm bảo Đồng thời sẽ giúp việc giao mặt bằng cho các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng càng sớm, thì việc xây dựng sẽ nhanh chóng được thực hiện và hoàn thành đúng như tiến độ thời gian đặt ra Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng cần có sự hỗ trợ tích cực đối với các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng trong KCN về công tác đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng, giữ gìn trật tự, an ninh trong và ngoài khu vực KCN, hỗ trợ cho người dân ổn định đời sống sau khi nhận tiền bồi thường và giao mặt bằng cho chủ đầu tư

- Phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN theo phương thức cuốn chiếu phù hợp với tốc độ thu hút đầu tư Phát triển KCN gắn liền với đô thị hoá, Nhà nước cần xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN, tương xứng với hạ tầng trong KCN để hình thành các trung tâm đô thị, bố trí lại dân cư

- Cần đa dạng hoá các thành phần kinh tế trong việc hình thành các công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng dưới nhiều hình thức theo điều kiện riêng từng KCN như hình thức doanh nghiệp Nhà nước liên doanh, cổ phần, tư nhân trong nước hoặc 100% vốn nước ngoài Chính việc đa dạng hoá các hình thức tổ chức công ty đầu tư

cơ sở hạ tầng thật sự đã tạo được sự linh hoạt năng động trong hoạt động từ đó giúp cho các KCN hoạt động có hiệu quả

- Phát huy nội lực, đa dạng hoá trong quan hệ kinh tế đối ngoại Thực tế hoạt động của các KCN trong thời gian khủng hoảng tài chính - tiền tệ từ cuối năm 1997 tác động đến nước ta thì KCN nào đa dạng hoá thu hút đối tác đầu tư thì tiếp tục phát triển như ở Hà Nam, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, dựa chủ yếu vào các đối tác của Nhật Bản và Hàn Quốc nên gặp nhiều khó khăn từ cuối năm 1997 đến nay vẫn chưa chuyển biến tích cực

- Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thông qua phương thức xây dựng KCN phải gắn liền với việc đô thị hoá nông thôn ngoại thành Vì vậy, quy hoạch phát

Trang 39

triển KCN phải gắn bó với việc quy hoạch khu đô thị mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thành phố Từ đó mà hình thành các thành phố công nghiệp hiện đại văn minh

Trong thời gian qua, quy hoạch KCN thiếu các yếu tố vừa nêu mà chỉ chú trọng thu hút đầu tư sản xuất Điều này cần kiên quyết khắc phục mới đảm bảo ý đồ chiến lược phát triển KCN một cách toàn diện và đồng bộ

- Quyết tâm triển khai đồng bộ các hạ tầng quan trọng như nhà máy xử lý nước thải, xử lý chất thải nguy hại, hạ tầng liên thông ngoài hàng rào KCN và các dịch vụ phục vụ KCN, phục vụ người lao động sẽ là yếu tố quyết định sự thành công của KCN trong mối tương quan quanh khu vực

- Cần thiết phải có sự liên thông giữa các ngân hàng với các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng trong KCN và sự liên thông của ngân hàng với các doanh nghiệp đầu tư trong KCN

Sự hỗ trợ của phía ngân hàng đối với các chủ đầu tư trong thời gian qua sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thêm sức mạnh về tài chính, góp phần thực hiện nhanh chóng đảm bảo tiến độ đầu tư phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong các KCN

- Quá trình phát triển KCN là quá trình đưa nền kinh tế cũ thoát dần cơ chế hành chính bao cấp, tiếp cận nhanh chóng với nền kinh tế thị trường mà vẫn đảm bảo

an ninh kinh tế Vì vậy, chủ trương liên kết giữa các KCX và nội địa, cơ chế tự đảm bảo tài chính của Ban Quản lý; quy chế phối hợp giữa Ban quản lý và Ngân hàng Nhà nước

hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp KCN, quy chế phối hợp giữa Ban quản lý với Sở , ban ngành nhằm đảm bảo an ninh trật tự cho các KCN

- Muốn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước với tốc độ cao và hiệu quả, nước ta nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các KCN không nên giới hạn số lượng KCN Mỗi tỉnh, mỗi địa phương nên có ít nhất một KCN để phát triển thế mạnh công nghiệp của từng vùng Tuy nhiên, việc quy hoạch phát triển công nghiệp cần được nghiên cứu và cân nhắc kỹ, bảo đảm tính thống nhất trong phát triển giữa các khu công nghiệp với hoạt động sản xuất và quá trình đô thị hoá ở vùng hình

Trang 40

thành KCN Để thu hút nhiều doanh nghiệp sử dụng công nghệ kỹ thuật cao, phù hợp với trình độ phát triển của từng vùng, các KCN cần có đủ các điều kiện sau:

+ Có hành lang pháp lý đầy đủ an toàn, hấp dẫn

+ Cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi (cầu cảng, sân bay, đường cao tốc, điện, nước, thông tin liên lạc)

+ Giá cả và thời gian thuê đất hợp lý

+ Có các dịch vụ cơ bản phục vụ cho kinh doanh: Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, nhà ở, khách sạn, trường học quốc tế, hệ thống chợ và cửa hàng

Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành cần mạnh dạn trao quyền quản lý cho địa phương (Ban quản lý các KCN tỉnh, thành phố) và thực hiện theo cơ chế “một cửa”

để việc quản lý dễ dàng, hiệu quả mà không gây phiền hà, ách tắc đối với các nhà đầu

tư Ngoài ra, nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ vốn cho địa phương để đầu tư xây dựng KCN Có thể học tập kinh nghiệm ở Trung Quốc: Cho phép địa phương giữ lại một phần tiền thuê đất trong thời gian đầu để bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản

So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam ưu đãi về tài chính (thuế suất

và cách thu thuế lợi tức) là tương đối hấp dẫn Tuy nhiên, sau khi tham khảo kinh nghiệm tại Thái Lan nên chăng có những mức ưu đãi hơn về tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư tại các KCN ở các tỉnh xa, các vùng sâu

+ Không nên chỉ tiến hành xây dựng các KCN tập trung khổng lồ ở các đô thị lớn, tạo ra nan giải đô thị, tạo ta sự cách biệt quá lớn giữa thành thị và nông thôn và làm mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường

+ Phải đảm bảo giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng Nhà nước có những khuyến khích đáng kể về mặt tài chính, thuế, các điều lệ

và thủ tục đơn giản, rõ ràng có như vậy mới thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước

+ Phải có sự kết hợp hài hoà mục tiêu của nước chủ nhà và các đối tác là các

Ngày đăng: 13/04/2020, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w