1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở việt nam

123 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Trên cơ sở các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, tác giả tập trung đánh giá việc áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, quá trình thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM

CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

DOÃN HẢI LONG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM

CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

DOÃN HẢI LONG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ NHUNG

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn là TS Vũ Thị Nhung

Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Doãn Hải Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với TS Vũ Thị Nhung - người hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo trong khoa Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Mở Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho em trong những năm tháng qua

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Doãn Hải Long

Trang 5

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

An toàn vệ sinh thực phẩm : ATVSTP

Văn hóa, Thể thao và Du lịch : VHTT & DL

Người tiêu dùng : NTD

Quảng cáo thực phẩm chức năng : QCTPCN

Thông tin và Truyền thông : TT&TT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Hình 1 Phân biệt các loại thực phẩm và thuốc 12 Biểu đồ 1: Tỷ lệ số người xem quảng cáo thực phẩm chức năng nghe được khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh” 56 Bảng : Số liệu vi phạm trong hoạt động QCTPCN từ quý 1/2015 đến quý 1/2016 63 Hình 2: Bảng quảng cáo ở vòng xoay Nguyễn Văn Cừ, thành phố Hồ Chí Mình 66 Hình 3: Dưới dạng bài tư vấn chăm sóc sức khỏe, nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng đã ngang nhiên lách luật để quảng cáo 69 Biểu đồ 2: Thái độ của người tiêu dùng khi mua phải thực phẩm chức năng không giống với quảng cáo 74

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

7 Kết cấu luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 8

1.1.Khái quát về thực phẩm chức năng và quảng cáo thực phẩm chức năng 8 1.1.1.Khái niệm thực phẩm chức năng và các loại thực phẩm chức năng 8

1.1.2.Khái niệm và đặc trưng của quảng cáo thực phẩm chức năng 14

1.1.3.Tác động của quảng cáo thực phẩm chực năng đối với xã hội 15

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam 17

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam 17

1.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng 20

Tiểu kết chương 1: 27

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 28

2.1.Nội dung pháp luật hiện hành về quảng cáo thực phẩm chức năng 28

2.1.1.Chủ thể quảng cáo thực phẩm chức năng 28

Trang 8

2.1.2 Nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng 34 2.1.3.Điều kiện quảng cáo và đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng 37 2.1.4.Phương tiện quảng cáo thực phẩm chức năng 39 2.1.5.Thẩm quyền quản lý Nhà nước về quảng cáo thực phẩm chức năng 43 2.1.6 Xử lý vi phạm pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng 48 2.2.Thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam 52 2.2.1.Pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng đã dần được hoàn thiện 52 2.2.2.Nhận thức của chủ thể quảng cáo và người tiêu dùng về bản chất, tác dụng của thực phẩm chức năng qua quảng cáo đã thay đổi theo chiều hướng tích cực 53 2.2.3.Cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo thực phẩm chức năng đã ngày càng nâng cao trách nhiệm 58 Tiểu kết chương 2: 62

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 63

3.1.Những hạn chế trong việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng và nguyên nhân của những hạn chế 63 3.1.1 Chủ thể quảng cáo chưa tuân thủ pháp luật về QCTPCN 63 3.1.2.Người tiêu dùng hiểu và tiếp thu pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng còn hạn chế 72 3.1.3.Sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan quản lý 74 3.1.4.Một số quy định của pháp luật chưa phù hợp, đặc biệt quy định về hình thức xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế 76 3.2.Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam 81

Trang 9

3.2.1.Mốt số kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quảng cáo thực

phẩm chức năng 81

3.2.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng 83

Tiểu kết chương 3: 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quảng cáo ra đời là một tất yếu của quá trình vận động, phát triển của thị trường Theo các tài liệu ghi lại, cha đẻ của hình thức quảng cáo là một người Ai Cập cổ với tờ thông báo đầu tiên trên tường thành Thebes vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên, sau đó hình thức này dần trở nên phổ biến1 Qua nhiều năm, quảng cáo ngày càng phát triển và trở thành công cụ quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm của các công ty, doanh nghiệp

Với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu về các sản phẩm có tác dụng bồi bổ chất dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe của công chúng ngày càng tăng lên Do đó công chúng rất quan tâm tới thực phẩm chức năng, đặc biệt là những tác dụng và công dụng của chúng Đây là nguyên nhân khiến thị trường sản xuất và kinh doanh TPCN bùng nổ, phát triển mạnh Bằng việc sử dụng công cụ quan trọng là quảng cáo, các công ty và doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm chức năng đã đưa sản phẩm của mình ra thị trường và tiếp cận người tiêu dùng thuận lợi, nâng cao vị thế cạnh tranh, xây dựng chỗ đứng cho chính doanh nghiệp của mình Tuy nhiên, nắm bắt được tâm lý của người tiêu dùng và thấy được những lợi thế của quảng cáo, nhiều chủ thể kinh doanh

đã lợi dụng quảng cáo để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nhằm cạnh tranh không lành mạnh, thu lợi bất chính

Trước tình trạng trên, quản lí hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng cần đặc biệt chú trọng và pháp luật chính là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước sử dụng Trong quá trình thực thi, mặc dù pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng phát huy hiệu quả nhưng đã bộc lộ những hạn chế Để pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng phát huy vai trò bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thực phẩm chức năng và Nhà nước,

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E 1 %BA%A3ng_c%C3%A 1o ngày truy cập 15/6/2017

Trang 11

cần phát huy những ưu điểm đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật Với sự cấp thiết này, tác giả đã mạnh dạn

chọn đề tài: “Pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam” để

thực hiện luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật quảng cáo có ý nghĩa với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật như:

“Pháp luật về hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp” do Tiến sĩ

Phạm Duy Nghĩa viết trong sách tham khảo “Pháp luật về cạnh tranh và kiểm

soát độc quyền ở Việt Nam” của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm

1999 Đây là công trình nghiên cứu lớn đối với các doanh nghiệp muốn thực hiện hoạt động quảng cáo nhằm quảng bá thương hiệu, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Đào Tuyết Vân “Pháp luật

quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” được thực hiện tại

Đại học Luật Hà Nội năm 2017 Công trình nghiên cứu về quảng cáo nhưng

đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tập trung nghiên cứu pháp luật quảng cáo có đối tượng người tiêu dùng Luận văn nêu được quy định của pháp luật về quảng cáo trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,

đề xuất phương hướng, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật quảng cáo, bảo vệ tối đa quyền lợi người tiêu dùng

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về dịch vụ quảng cáo trên

truyền hình ở Việt Nam ” do tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung thực hiện tại Đại

học Quốc gia Hà Nội năm 2016 Luận văn nghiên cứu về một phương tiện quảng cáo cụ thể - truyền hình Là phương tiện phổ biến nhất hiện nay và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn, quảng cáo trên truyền hình khẳng định được lợi thế của mình Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng pháp luật về

Trang 12

quảng cáo dịch vụ trên truyền hình, các quy định về hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình

- Luận văn thạc sĩ “Các yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm

chức năng của khách hàng: Nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hồ Chỉ Mình” do Nguyễn Nhật Hùng thực hiện tại trường Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh năm 2016 đã chỉ ra những yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng và khẳng định quảng cáo thực phẩm chức năng là một trong những yếu tố đó Luận văn cũng đưa ra những sai phạm trong quảng cáo thực phẩm chức năng của các doanh nghiệp và một số giải pháp khắc phục

- Kỉ yếu của Hội thảo “Bảo vệ người dùng sử dụng Thực phẩm chức

năng” diễn ra ngày 29/12/2015 được tổ chức tại Hà Nội nêu ra thực trạng

công tác quản lý các vấn đề liên quan đến thực phẩm chức năng như sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ và quảng cáo

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Chế tài đối với các vi phạm pháp luật

trong quảng cáo thương mại ở Việt Nam” do Dương Văn Thực thực hiện năm

2016 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong quảng cáo thương mại ở nước ta, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong quảng cáo thương mại ở Việt Nam

- Luận văn thạc sĩ “Quảng cáo mỹ phẩm dưới góc độ pháp luật thương

mại ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Vân Anh thực hiện năm 2017 tại

trường Đại học Luật Hà Nội là công trình nghiên cứu đầu tiên về quảng cáo một sản phẩm đặc thù chịu sự quản lý của Bộ Y tế Luận văn nêu được chi tiết pháp luật về quảng cáo mỹ phẩm nhìn nhận dưới góc độ pháp luật thương mại, pháp luật cạnh tranh, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đồng

Trang 13

thời nêu ra thực trạng thi hành pháp luật về quảng cáo mỹ phẩm qua đó đánh giá được những ưu điểm, hạn chế để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Như vậy, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quảng cáo, cũng có những công trình nghiên cứu pháp luật quảng cáo về một sản phẩm, dịch vụ đặc thù nhưng chưa có công trình riêng biệt nghiên cứu quá trình thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam - công trình nghiên cứu có tính ứng dụng với ý nghĩa nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

về quảng cáo thực phẩm chức năng và thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên thực tế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, tác giả tập trung đánh giá việc áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, quá trình thực hiện các quy định pháp luật của các doanh nghiệp, thái độ người tiêu dùng đối với việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn trên phạm vi một vài địa phương cụ thể, một số vấn đề đối chiếu trong phạm vi cả nước trong khoảng thời gian từ 2011 đến hết tháng 6 năm 2019 tùy vào từng số liệu

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ nội dung pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, qua đó có cơ sở để đánh giá thực tiễn thi hành và đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng

Trang 14

cáo thực phẩm chức năng trên thực tế, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập

và phát triển, đặc biệt là sức mạnh của ngành thực phẩm chức năng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Làm sáng tỏ ở mức cơ bản những vấn đề lý luận về thực phẩm chức năng, sự khác nhau giữa thực phẩm chức năng và thuốc chữa bệnh cũng như những vấn đề cơ bản về quảng cáo thực phẩm chức năng;

Đánh giá được tác động của quảng cáo thực phẩm chức năng tới xã hội; Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam, các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng

Tổng hợp, phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam, qua đó đánh giá quá trình thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trong đời sống

Nghiên cứu và đề xuất các phương hướng hoàn thiện pháp luật làm nền tảng để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn

sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kết hợp các phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp biện luận, phương pháp chứng minh, logic và phương pháp phân tích số liệu sơ cấp thu thập từ phương pháp điều tra sử

Trang 15

dụng bảng hỏi Riêng phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê, phương pháp biện luận và phương pháp chứng minh được sử dụng trong suốt quá trình đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng Phương pháp phân tích số liệu thu được từ cuộc điều tra được sử dụng để làm rõ thêm về nhận thức của người dân về pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn dựa trên các vấn đề lý luận của thực phẩm chức năng và quảng cáo để xây dựng được khái niệm thế nào là quảng cáo thực phẩm chức năng, hệ thống được những vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng

Quảng cáo thực phẩm chức năng là hoạt động có đóng góp lớn tới sự phát triển ngành dịch vụ quảng cáo Hoạt động này diễn ra rất phức tạp, có xu hướng biển tướng với những hành vi mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh, dẫn tới sự lúng túng của các cơ quan nhà nước lúng túng trong việc áp dụng pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên thực tế Vì vậy, việc hiểu rõ những vấn đề cơ bản về quảng cáo thực phẩm chức năng cũng như các quy phạm pháp luật điều chỉnh sẽ có tác động lớn tới người áp dụng cũng như những thực hiện pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những nhận định, đánh giá của luận văn về quá trình thực thi pháp luật

về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam hiện nay có đóng góp không nhỏ cho sự thay đổi cách nhìn nhận trong phương thức quản lý và xây dựng, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng Các phương hướng, giải pháp sẽ là cơ sở cho những ý kiến đóng góp cho quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật và cách thức áp dụng, thực hiện pháp

Trang 16

luật quảng cáo thực phẩm chức năng trong đời sống, bảo đảm quyền lợi của tất cả mọi người, từ người tiêu dùng, đến các doanh nghiệp và Nhà nước

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia làm ba chương Cụ thể:

Chương 1: Những lý luận về quảng cáo thực phẩm chức năng và nội dung cơ bản của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

Chương 2: Tổng quan pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

Chương 3: Một số bất cập, nguyên nhân và kiến nghị nâng cao hiệu quả pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

Trang 17

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 1.1.Khái quát về thực phẩm chức năng và quảng cáo thực phẩm chức năng

1.1.1.Khái niệm thực phẩm chức năng và các loại thực phẩm chức năng

1.1.1.1 Khái niệm thực phẩm chức năng

TPCN là kết quả nghiên cứu, tổng hợp từ các nguồn thực phẩm trong tự nhiên nhằm mang lại các công dụng cải thiện sức khỏe cho con người Khái niệm và tên gọi về TPCN bắt nguồn từ Nhật Bản Năm 1980, BYT và sức khỏe Nhật Bản bắt đầu xây dựng hệ thống tổ chức trong Bộ, có nhiệm vụ điều chỉnh và công nhận những loại thực phẩm có hiệu quả cải thiện sức khỏe của cộng đồng dân cư Tổ chức này cho phép ghi trên nhãn hiệu hàng hóa thực phẩm sử dụng cho sức khỏe con người, chữ viết tắt từ cụm từ tiếng Anh là FOSHU (Food for Specified Health Use)

Hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực này, tới tháng 9 năm 2001, đã có hơn 271 sản phẩm thực phẩm mang nhãn hiệu FOSHU Sau khi xuất hiện ở Nhật Bản, TPCN đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới2 Hiệp hội thực phẩm sức khỏe và dinh dưỡng Nhật Bản định nghĩa: TPCN là thực phẩm bổ sung một số thành phần có lợi hoặc loại bỏ một số thành phần bất lợi Việc bổ sung hay loại bỏ phải được chứng minh và cân nhắc một cách khoa học và được BYT cho phép xác định hiệu quả của thực phẩm đối với sức khỏe3

Ở Mỹ quan niệm TPCN ADA (The American Dietetic Association) là thực phẩm bao gồm tất cả các thành phần có trong nó và cũng là thực phẩm được làm mạnh thêm, làm giàu thêm hoặc nâng cao thêm yếu tố nào đó, có hiệu quả tiềm năng đến sức khỏe khi tiêu thụ một phần nó trong khẩu phần một cách thường xuyên, với mức độ có tác dụng Còn Hiệp hội nghiên cứu

2 http://vads.org.vn/vi-vn/sachtpcn/58/61/Default.aspx, ngày truy cập 30/5/2017

3 Dương Thanh Liêm (chủ biên, 2010), Thực phẩm chức năng - Sức khỏe bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật

Trang 18

thực phẩm Leatherhead (châu Âu) lại cho rằng khó có thể định nghĩa TPCN

vì sự đa dạng phong phú của nó Tổ chức này cho rằng: “TPCN là thực phẩm

được chế biến từ thức ăn thiên nhiên, được sử dụng như một phần của chế độ

ăn hàng ngày và có khả năng cho một tác dụng sinh lý nào đó khi được sử dụng”

Theo Hiệp Hội thông tin thực phẩm quốc tế - IFIC (The International Food Information Council), TPCN là thực phẩm mang đến những lợi ích cho sức khỏe vượt xa hơn dinh dưỡng cơ bản Viện Khoa học và đời sống quốc tế

- ILSI (The International Life Sciences Institute of North America) chỉ ra rằng TPCN là loại thực phẩm có chứa hoạt chất sinh học có ích cho sức khỏe trên

cơ sở các chất dinh dưỡng cơ bản

Nhìn chung, trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau về TPCN Tại Việt Nam, từ năm 1990 - 1991, Viện dinh dưỡng đã xác định: TPCN là thực phẩm có chứa các chất có hoạt tính sinh học cần thiết cho sức khỏe, bao gồm cả thực phẩm chế biến cải tiến, thức ăn cổ truyền dân tộc và các thành phần không dinh dưỡng khác, có tác động đặc biệt và cần thiết cho sức khỏe (theo Bùi Minh Đức, 2004) Tổng hợp những phân tích trên có thể định nghĩa

TPCN (Functional Foods) là các sản phẩm thực phẩm có tác dụng hỗ trợ cấu trúc chức năng của các bộ phận trong cơ thể, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mải, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại của bệnh tật 4

Về mặt pháp lý, lần đầu tiên khái niệm TPCN được quy định trong Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23 tháng 8 năm 2004 của Bộ Y tế hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng Theo đó, TPCN là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh Đến năm 2010, khái niệm TPCN được quy định

tại khoản 23 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010: “Thực phẩm chức năng là

thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể

4 Trần Đáng (chủ biên, 2013), Thực phẩm chức năng - Functional Food, Nxb Y học

Trang 19

tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học”

Từ định nghĩa trên có thể rút ra các đặc điểm của TPCN như sau:

Thứ nhất, TPCN là thực phẩm dùng để ăn hoặc uống nhằm hỗ trợ chức

năng của cơ thể con người Tức là TPCN có thể loại bỏ các chất bất lợi và bổ sung các chất có lợi, có tác dụng tăng cường sức khỏe, dự phòng, giảm thiểu nguy cơ gây bệnh tới một hay nhiều chức năng của cơ thể

Thứ hai, TPCN là giao thoa giữa thực phẩm và thuốc, giống thực phẩm

về bản chất nhưng khác về hình thức, giống thuốc về hình thức nhưng khác về bản chất Đây là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của TPCN, để phân biệt sự khác nhau giữa TPCN với các loại hàng hóa khác, đặc biệt là thuốc

Thứ ba, TPCN có nguồn gốc tự nhiên (thực vật, động vật, khoáng vật)

và được đánh giá đầy đủ về tính chất lượng, tính an toàn, tính hiệu quả

Thứ tư, TPCN có lợi ích với sức khỏe nhiều hơn lợi ích dinh dưỡng cơ

bản5

1.1.1.2 Các loại thực phẩm chức năng

Dựa trên khái niệm và những cách hiểu khác nhau của các quốc gia, TPCN bao gồm nhiều loại Tùy từng cách phân loại, TPCN được chia ra làm nhiều loại Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đáng - Chủ tịch Hiệp hội TPCN Việt Nam cho rằng, ở Việt Nam, dựa vào bản chất của TPCN có 5 cách phân loại: Theo phương thức chế biến; theo dạng sản phẩm; theo phương thức quản lý; theo tác dụng và phương pháp phân loại tương đối đặc biệt áp dụng theo cách của người Nhật Bản Cụ thể:

Thứ nhất, theo phương thức chế biến, TPCN được chia thành bốn loại

nhỏ: Nhóm sản phẩm bổ sung vitamin; nhóm sản phẩm bổ sung khoáng chất; nhóm sản phẩm bổ sung hoạt chất sinh học và các loại sản phẩm bào chế từ thảo dược

5 Trần Đáng, tlđd chú thích 4, tr.54

Trang 20

Thứ hai, theo dạng sản phẩm: TPCN được chia làm 2 dạng: Thực phẩm

- thuốc và thức ăn - thuốc Dạng thực phẩm - thuốc có nhiều loại: Dạng viên, dạng nước, dạng bột, dạng trà, dạng rượu, dạng cao, dạng kẹo, dạng thực phẩm cho mục đích đặc biệt Dạng thức ăn - thuốc bao gồm: Cháo thuốc, món

ăn thuốc, món ăn bổ dưỡng, canh thuốc, nước uống thuốc

Thứ ba, theo chức năng tác dụng: TPCN gồm 26 dạng khác nhau Cụ

thể: các nhóm sản phẩm hỗ trợ chống lão hóa; hỗ trợ tiêu hóa; hỗ trợ giảm huyết áp; hỗ trợ giảm đái tháo đường; tăng cường sinh lực; bổ sung chất xơ; phòng ngừa rối loạn tuần hoàn não; hỗ trợ thần kinh; bổ dưỡng; tăng cường miễn dịch; giảm béo; bổ sung calci, ngăn ngừa loãng xương; phòng ngừa thoái hóa khớp; hỗ trợ làm đẹp; bổ mắt; giảm cholesterol; hỗ trợ điều trị ung thư; phòng chống bệnh Gout; giảm mệt mỏi, stress; hỗ trợ phòng và giải độc;

hỗ trợ an thần, ngăn ngừa mất ngủ; hỗ trợ phòng ngừa bệnh răng miệng; hỗ trợ phòng ngừa bệnh nội tiết; hỗ trợ tăng cường trí nhớ và khả năng tư duy;

hỗ trợ phòng chống bệnh tai, mũi, họng và hỗ trợ phòng chống bệnh về da

Thứ tư, theo phương thức quản lý: TPCN được phân ra thành 3 loại:

TPCN phải đăng ký, TPCN không phải đăng ký chứng nhận và TPCN được

sử dụng cho mục đích đặc biệt TPCN phải đăng ký là loại TPCN phải đăng

ký và được chứng nhận, cấp phép lưu hành của Cục ATTP

Theo cách phân loại phổ biến tại Nhật Bản, TPCN được chia thành hai nhóm là nhóm các thực phẩm công bố về sức khỏe (gồm 2 loại: thực phẩm dùng cho mục đích đặc biệt và thực phẩm có khuyến cáo chức năng dinh dưỡng) và nhóm thực phẩm đặc biệt (gồm thực phẩm cho người ốm, sữa bột trẻ em, sữa bột cho phụ nữ có thai và cho con bú, thực phẩm cho người già nhai nuốt khó)

Dựa vào tác dụng, pháp luật Việt Nam quy định TPCN có 4 loại sau6: Thực phẩm bổ sung; thực phẩm bảo vệ sức khỏe; thực phẩm dinh dưỡng y

6 Điều 2 Thông tư số 43/2014/TT-BYT ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế quy định về quản lý thực phẩm chức năng

Trang 21

học; thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt

1.1.1.3 Sự khác nhau giữa thực phẩm chức năng và thuốc chữa bệnh

Là sản phẩm dễ bị nhầm lẫn với thuốc chữa bệnh về tác dụng nên người bệnh hoặc NTD rất khó có được sự lựa chọn đúng đắn để cải thiện cho sức khỏe của mình Hình vẽ dưới đây cho thấy sự khác nhau cơ bản giữa TPCN và thuốc chữa bệnh:

Hình 1 Phân biệt các loại thực phẩm và thuốc

TPCN được hiểu là các sản phẩm thực phẩm có tác dụng hỗ trợ cấu trúc chức năng của các bộ phận trong cơ thể, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại của bệnh tật Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm7 Như vậy, TPCN và thuốc có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Tiêu chí đầu tiên: Công bố trên nhãn của nhà sản xuất và công nghệ

sản xuất Công bố trên nhãn của nhà sản xuất đối với TPCN là “Thực phẩm chức năng” - tức là được sản xuất theo Luật ATTP 2010 Theo đó, các nhà sản xuất TPCN được yêu cầu thực hiện 4 loại công bố trên nhãn của sản phẩm của họ (công bố về dinh dưỡng, công bố về lợi ích, công bố về sức khỏe, công

bố về cấu trúc hoặc chức năng8) và TPCN được sản xuất với công nghệ chiết,

7 Khoản 2 Điều 2 Luật Dược 2016

8 Lê Thị Thanh Long (2016), “Hiểu về những công bố trên nhãn chế phẩm bổ sung dinh dưõng”, Thực phẩm cộng

Trang 22

nghiền nên tiêu chuẩn ít nghiêm ngặt hơn Ngược lại, công bố trên nhãn của thuốc là ‘Thuốc” và được sản xuất theo Luật Dược Công bố trên nhãn phải thể hiện được tên thuốc, thành phần cấu tạo của thuốc, dạng bào chế, quy cách đóng gói, chỉ định, cách dùng, chống chỉ định, số lô sản xuất, ngày sản xuất, các dấu hiệu lưu ý, xuất xứ của thuốc9 Thuốc được sản xuất với công nghệ sản xuất phức tạp hơn so với TPCN, bao gồm chiết, tách, tổng hợp cùng với những tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt

Tiêu chí thứ hai: Thành phần, hàm lượng và hiệu quả Thuốc thường là

hóa chất tổng hợp tạo thành các phân tử với hàm lượng cao, hiệu quả với cơ thể mạnh mẽ và nhanh chóng nhưng TPCN là hỗn hợp của nhiều chất, hoạt chất tự nhiên có trong chuỗi cung cấp thực phẩm, hàm lượng của nó xấp xỉ nhu cầu sinh lý hàng ngày của cơ thể nên hiệu quả sinh lý đến chậm hơn so với thuốc, tuy nhiên lại có tác dụng rất bền vững

Tiêu chí thứ ba: Điều kiện sử dụng TPCN được NTD tự mua ở siêu thị,

hiệu thuốc, các cửa hàng chuyên bán TPCN và sử dụng theo hướng dẫn từ phía nhà sản xuất Ngược lại, thông thường muốn sử dụng thuốc, người bệnh phải đến khám bệnh tại các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ khám và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với từng loại bệnh

Tiêu chí thứ tư: Điều kiện phân phối Để phân phối ra thị trường thuốc

phải đáp ứng điều kiện hết sức nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật là chỉ được bán tại các hiệu thuốc đã đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

và có dược sĩ là người trực tiếp bán Khác thuốc, TPCN được bán dưới nhiều hình thức như bán lẻ, bán tại các siêu thị, đại lý, công ty, bán hàng trực tiếp, bán hàng đa cấp Như vậy, ai cũng có thể phân phối TPCN, chỉ cần tuân thủ các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng, đăng ký kinh doanh

Tiêu chí thứ năm: Về cách dùng Nếu như thuốc chỉ uống theo từng đợt

vì nếu uống nhiều thuốc sẽ có nguy cơ biến chứng, tai biến hoặc có tác dụng

ngày truỵ cập 30/5/2017

9 Điều 7 Thông tư số 06/2016/TT-BYT ngày 08 tháng 3 năm 2016 của Bộ Y tế quy định ghi nhãn thuốc

Trang 23

phụ thì TPCN có thể dùng thường xuyên, liên tục bổ sung thêm vào khẩu phần ăn hàng ngày bởi TPCN được sử dụng một cách an toàn sẽ ít tai biến và tác dụng phụ

1.1.2.Khái niệm và đặc trưng của quảng cáo thực phẩm chức năng

1.1.2.1.Khái niệm về quảng cáo và quảng cáo thực phẩm chức năng

Dưới góc độ ngôn ngữ, quảng cáo được định nghĩa là một loại thông tin phải trả tiền, có tính đơn phương, không dành riêng cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và phương tiện thông tin đại chúng để hỗ trợ một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó được nêu danh trong quảng cáo10

Dưới góc độ pháp lý, quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân11 Riêng QCTPCN, tới thời điểm hiện tại pháp luật chưa quy định cụ thể nhưng từ định nghĩa quảng cáo và TPCN có thể định nghĩa:

Quảng cáo thực phẩm chức năng là hoạt động do thương nhân thực hiện để giới thiệu, quảng bá thông qua việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng những loại thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất, bán, tiêu thụ, sử dụng thực phẩm chức năng

1.1.2.2 Đặc trưng của quảng cáo thực phẩm chức năng

TPCN là một loại hàng hóa các thương nhân, nhà sản xuất muốn kinh doanh để kiếm lời nên QCTPCN là hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm Do đó QCTPCN mang những đặc điểm pháp lí cơ bản của

10 National texbook company (NTC) 1992, Hoa Kỳ, trích trong tài liệu “Nguyễn Thị Dung (2005), Khái niệm

“Quảng cáo” trong pháp luật Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo, Tạp chí

Nhà nước và Pháp luật (12), tr 33”

11 Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012

Trang 24

quảng cáo thương mại: Chủ thể hoạt động QCTPCN là thương nhân; QCTPCN có thể được thương nhân tự mình thực hiện hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác; Cách thức xúc tiến thương mại của hoạt động QCTPCN đó là sử dụng TPCN và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa dịch vụ đến khách hàng, NTD; Mục đích của QCTPCN

là giới thiệu TPCN nhằm xúc tiến kinh doanh, buôn bán của nhà sản xuất, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân

Vì đối tượng của quảng cáo là TPCN - một sản phẩm đặc biệt nên ngoài những đặc điểm trên QCTPCN còn có những đặc điểm riêng biệt Cụ thể:

- QCTPCN là hoạt động giới thiệu hàng hóa đặc biệt - TPCN Chịu sự điều chỉnh của rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau bởi tính chất và tác dụng của TPCN ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của NTD, do đó hướng dẫn cách thức sử dụng, truyền tải thông tin về TPCN tới khách hàng, NTD hiệu quả phải bằng nhiều cách thức và thông qua nhiều phương tiện quảng cáo

- TPCN có công dụng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, vì vậy pháp luật quy định nội dung QCTPCN phải tuân thủ theo quy định của LQC nói chung và Luật ATTP nói riêng Tức là ngoài việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, thu lợi nhuận cho chính mình, thương nhân tiến hành quảng cáo phải đặt mục đích sử dụng TPCN an toàn và hiệu quả lên hàng đầu TPCN hướng tới nhiều NTD, ở mọi thành phần, mọi lứa tuổi nên QCTPCN tiếp cận đến đại bộ phận đối tượng khách hàng tiềm năng, từ trẻ

em, tới thanh niên, người trưởng thành hay người già

1.1.3.Tác động của quảng cáo thực phẩm chực năng đối với xã hội

Là một trong những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay, QCTPCN được Nhà nước và tất cả mọi người quan tâm Không chỉ về mặt lí luận, mặt pháp lí mà còn cả tác động của QCTPCN đối với xã hội Nhìn nhận về vấn đề này, phải thấy được những tác động tích cực, những tác động tiêu cực mà QCTPCN đã tác động tới xã hội

Trang 25

1.1.3.1 Tác động tích cực

Không thể phủ nhận vai trò tích cực của QCTPCN đối với xã hội Có thể thấy quảng cáo tạo công ăn việc làm cho nhiều người, thúc đẩy sự tiếp xúc giữa cung và cầu hàng hóa, qua đó kích thích nhu cầu tiêu dùng của mọi người trong nền kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiêu dùng Việt Nam Doanh thu từ hoạt động QCTPCN đã đóng góp vào cho ngân sách Nhà nước một phần không nhỏ, làm kinh tế tăng trưởng không ngừng

TPCN là một loại sản phẩm được sản xuất rộng rãi trên thị trường, đặc biệt ở Việt Nam - nơi có nền tảng về nguồn nguyên liệu và nhân công phù hợp Nhận thức được điều này, rất nhiều các doanh nghiệp đã đầu tư vào sản xuất TPCN, kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc sản xuất nhiều loại TPCN đặt ra thách thức tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp Để giải quyết vấn đề này, QCTPCN là phương thức đẩy mạnh kinh doanh, góp phần hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và NTD, giúp công chúng biết đến thương hiệu của doanh nghiệp và góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa của các doanh nghiệp

Với con người, QCTPCN là phương tiện không thể thiếu trong quá trình các loại TPCN tiêu thụ trên thị trường, giúp NTD nắm bất đầy đủ thông tin về sản phẩm, qua đó có được sự lựa chọn chính xác, phù hợp với sức khỏe của mình Ngoài việc giúp người dân tiếp cận với xu hướng tiêu dùng lành mạnh, tiếp cận được với những sản phẩm có uy tín, chất lượng trên thị trường, QCTPCN còn là những căn cứ để NTD so sánh thông tin, giá cả, dịch vụ giữa những sản phẩm của những doanh nghiệp khác nhau Sự am hiểu của NTD về sản phẩm và thị trường TPCN như hiện nay một phần là nhờ quảng cáo

1.1.3.2 Tác động tiêu cực

Mặc dù QCTPCN có những tác động tích cực nhưng không tránh khỏi

có những tác động tiêu cực đến xã hội Với xã hội, không quản lý tốt

Trang 26

QCTPCN sẽ tác động tiêu cực vào văn hóa tinh thần, xâm phạm thuần phong

mỹ tục, văn hóa truyền thống, cổ vũ lối sống vật chất thực dụng, kích động bạo lực Điều này ảnh hưởng xấu tới sự phát triển nền văn hóa và duy trì lối sống tinh thần của đại bộ phận người dân

Với NTD, QCTPCN cung cấp nhiều thông tin về chủng loại, mẫu mã

đã khiến NTD khó khăn trong việc xác định, phân biệt, lựa chọn sản phẩm phù hợp với mục đích của mình Có những QCTPCN đưa ra thông tin “thổi phồng”, gian dối, không chính xác, gây hiểu nhầm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe NTD Hậu quả làm cho nhận thức của NTD về TPCN bị sai lệch, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng tới sức khỏe do NTD sử dụng TPCN thay bữa

ăn hàng ngày hoặc thay thế thuốc chữa bệnh

Với các doanh nghiệp, QCTPCN là hoạt động phức tạp bởi đối tượng của quảng cáo là sản phẩm đặc biệt, phải có sự tác động lâu dài Vì vậy, muốn QCTPCN thực sự có hiệu quả cần có sự đầu tư lớn, lâu dài khiến cho chi phí quảng cáo tăng đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật về QCTPCN Ngoài ra, trong nhiều trường hợp QCTPCN còn có tác động tiêu cực vào đời sống xã hội của cộng đồng cư dân

Sự xuất hiện tràn lan của QCTPCN ở mọi lúc, mọi nơi với nhiều thông tin đã gây bối rối, khó phân biệt, khó lựa chọn, làm ức chế, quảng cáo khiếm nhã không họp văn hóa gây bức xúc trong dư luận và tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCN, thay đổi cách suy nghĩ và hành động, cách sống của nhiều người trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ dẫn tới những thay đổi trong quan hệ gia đình

và xã hội khác lạ với tập quán và đạo đức vốn có

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

Trang 27

Truớc năm 1989, hầu hết các quy định về quảng cáo chưa xuất hiện nên quy định về QCTPCN hoàn toàn chưa có Từ năm 1989 đến trước tháng 12/1994, những vấn đề pháp lí liên quan đến quảng cáo dần được đề cập Lần đầu tiên, pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực quảng cáo ở Luật báo chí

1989 nhưng chỉ quy định quảng cáo trên báo chí, nêu sơ lược về quảng cáo và không quy định chi tiết, cụ thể các vấn đề liên quan đến QCTPCN Năm

1991, Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và

Du lịch ban hành Thông tư liên bộ số 1191- TT/LB quy định về Quản lý nhãn

và quảng cáo sản phẩm hàng hóa Văn bản này mới manh nha đến vấn đề in nhãn và quảng cáo một số loại hàng hóa12

Nhận thấy sự cần thiết và quá trình phát triển mạnh mẽ của quảng cáo, Chính phủ ban hành Nghị định số 194/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam và Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Thông tư số 37/VHTT-TT ngày 01 tháng 3 năm 1995 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 194/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Đây là hai văn bản bổ sung quy định điều chỉnh các quan hệ pháp luật và những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực quảng cáo Với QCTPCN vẫn chỉ dừng lại ở mức độ chung về hình thức, nội dung

Dù LTM 1997 có quy định về quảng cáo hàng hóa nhưng vẫn không có quy định cụ thể về QCTPCN

Trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2001, BYT ban hành liên tiếp hai Thông tư quản lý các sản phẩm thuốc - thực phẩm, cụ thể: Thông tư số 17/2000/TT- BYT ngày 27 tháng 9 năm 2000 của Bộ Y tế hướng dẫn đăng ký các sản phẩm dưới dạng thuốc - thực phẩm và Thông tư số 20/2001/TT-BYT ngày 11 tháng 9 năm 2001 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý các sản phẩm thuốc - thực phẩm Hai văn bản tuy không quy định về QCTPCN nhưng là cơ

sở cho việc thực hiện các hoạt động quảng cáo liên quan đến TPCN theo

12 Phạm Thị Vân Anh (2014), Quảng cáo mỹ phẩm dưới góc độ pháp luật thương mại, Luận văn thạc sĩ luật

học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 24

Trang 28

LTM 1997 Ngày 16/11/2001, Pháp lệnh Quảng cáo được ban hành và ngày 13/3/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành pháp luật quảng cáo nhằm triển khai thực hiện cụ thể Pháp lệnh Quảng cáo 2001 Như vậy, hoạt động QCTPCN phải đáp ứng những quy định nêu trên về nội dung, hình thức, phương tiện quảng cáo

Năm 2004, thấy được sự phát triển của TPCN và để thống nhất, phù hợp với thuật ngữ quốc tế, ngày 23/8/2004 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23 tháng 8 năm 2004 của Bộ Y tế hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm TPCN Đây là văn bản đầu tiên đề cập đến QCTPCN, yêu cầu QCTPCN phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thông tin, quảng cáo, ghi nhãn và phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, NTD Luật Cạnh tranh 2004 cũng đã quy định về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Điều 45 điều chỉnh vấn đề liên quan đến QCTPCN do TPCN rất gần với thuốc, dễ gây nhầm lẫn cho NTD

Năm 2005, Quốc Hội thông qua LTM 2005 thay thế LTM 1997 Theo quy định của LTM 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động QCTPCN phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về y tế tuy nhiên vẫn chưa được quan tâm làm rõ, cụ thể Luật ATTP 2010 ra đời quy định về TPCN và những nội dung liên quan tới quảng cáo, ghi nhãn như: Đăng ký quảng cáo, nội dung quảng cáo, thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo Đánh dấu bước ngoặt là sự ra đời của Luật Quảng cáo năm 2012, quy định cụ thể chi tiết hơn so với Pháp lệnh Quảng cáo 2001 LQC là văn bản chuyên ngành thể hiện khá đầy đủ những nội dung cơ bản về quảng cáo nói chung và QCTPCN nói riêng

Do sự phát triển mạnh mẽ của TPCN, QCTPCN không chỉ được điều chỉnh bằng LQC mà còn được quy định trong Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số

Trang 29

điều của Luật An toàn thực phẩm, Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LQC, Thông tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Bộ Y tế hướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế (đã hết hiệu lực), Thông tư số 43/2014/TT-BYT và Thông tư số 09/2015/TT-BYT ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Bộ Y tế về xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế cùng hàng loạt các văn bản khác liên quan

Tóm lại, hệ thống văn bản pháp luật nước ta khá đầy đủ, phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng, cung cấp thông tin của NTD về TPCN, qua đó thiết lập một hành lang pháp lý điều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực này

1.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

1.2.2.1.Nhận thức, ý thức pháp luật của người tiếp nhận quảng cáo và chủ

quảng cáo

- Nhận thức, ý thức pháp luật của người tiếp nhận quảng cáo

Không thể phủ nhận trình độ nhận thức, ý thức pháp luật của người tiếp nhận quảng cáo là một trong những yêu tố ảnh hưởng rất lớn tới việc thực thi pháp luật về QCTPCN Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong

bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn18 Vậy có thể hiểu nhận thức pháp luật một cách khái quát đó là sự hiểu biết, nhận biết, tiếp thu pháp luật của con người Còn ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các hành vi pháp lí thực tiễn19 Do đó, trong quản

18 https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%El%BA%ADn_th%El%BB%A9c ngày truy cập 30/5/2017

19 Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 163

Trang 30

lý Nhà nước, việc thực thi pháp luật phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, ý thức pháp luật của các chủ thể

Những phân tích trên cho thấy, với pháp luật QCTPCN, nhận thức và ý thức pháp luật của người tiếp nhận quảng cáo có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện pháp luật Nhận thức, ý thức pháp luật cao là điều kiện tiên quyết,

cơ bản để các chủ thể có những hành vi xử sự hợp pháp Người tiếp nhận quảng cáo khi đã được trang bị đầy đủ những kiến thức pháp luật, có nhận thức và ý thức pháp luật cao sẽ giúp họ bảo vệ lợi ích của mình trước những hành vi gian dối, quảng cáo không đúng sự thật ảnh hưởng tới sức khoẻ của chính bản thân Ngược lại, nếu không có nhận thức pháp luật đầy đủ, ý thức pháp luật còn thấp sẽ gây khó khăn cho người tiếp nhận quảng cáo trong việc hiểu biết cũng như thực hiện pháp luật, quyền lợi của họ sẽ bị xâm phạm Đây

là cơ sở, là nhân tố thúc đẩy hoạt động thực hiện pháp luật QCTPCN trên thực tế Thông qua hoạt động nhận thức các yêu cầu của pháp luật QCTPCN, trên cơ sở những hiểu biết về pháp luật QCTPCN, người tiếp nhận quảng cáo tiến hành xác lập, hình thành nên mục đích và lựa chọn phương án xử sự trước khi họ thực hiện hành vi pháp luật Như vậy, nhận thức tốt và ý thức pháp luật càng cao tức là người tiếp nhận quảng cáo đã có nhiều lựa chọn đúng đắn, chính xác và phù hợp hơn khi thực hiện pháp luật về QCTPCN

Trước sự bùng nổ các bệnh của xã hội công nghiệp và ô nhiễm môi trường, NTD dần hướng tới lối sống lành mạnh, quan tâm hơn đến sức khỏe của mình bằng các sản phẩm thiên nhiên và thông qua các biện pháp phòng chống bệnh Đặc biệt, nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc tự bảo vệ sức khỏe, phòng chống bệnh tật liên quan đến dinh dưỡng cũng như lối sống làm cho nhu cầu mua TPCN của NTD tăng cao Yếu tố này đã tác động tới các nhà sản xuất, nhà kinh doanh TPCN và QCTPCN được coi là chính sách, chiến lược hàng đầu trong việc thúc đẩy, tiêu thụ sản phẩm Người tiếp nhận quảng cáo có nhận thức pháp luật tốt sẽ ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trước quảng cáo vi phạm Tóm lại, chính

Trang 31

nhận thức của người tiếp nhận quảng cáo là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về QCTPCN, hiệu quả của việc thực thi pháp luật về QCTPCN tốt hay không, có nhiều ưu điểm hay nhiều hạn chế phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, ý thức pháp luật cũng như nhu cầu của người tiếp nhận quảng cáo

- Nhận thức, ý thức của chủ quảng cáo

Pháp luật về QCTPCN chỉ có thể phát huy vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động QCTPCN, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển khi pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh Nếu các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN gặp phải tình huống thực tế pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình sẽ thực hiện những hành vi thực tế phù hợp hoặc không phù hợp với các quy định của pháp luật Đây là quá trình hoạt động có lý trí và có ý chí nên nhận thức của các doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh thực phẩm chức năng

có ảnh hưởng không nhỏ

Khi có nhận thức đầy đủ pháp luật về QCTPCN, thấy được hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn tuân thủ và chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh Đồng thời sử dụng pháp luật một cách linh hoạt

để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, giúp pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra trật tự cần thiết để hoạt động QCTPCN phát triển Nếu các doanh nghiệp không nhận thức hoặc nhận thức đầy đủ nhưng lại lựa chọn thực hiện hành vi vi phạm quy định pháp luật sẽ làm quá trình thực thi không có hiệu quả, tạo gánh nặng cho các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý

Dù vậy, nhận thức, thái độ, trách nhiệm của những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN đã giúp cơ quan lập pháp thấy rõ hạn chế, bất cập của pháp luật thực định, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi,

bổ sung và hoàn thiện pháp luật về QCTPCN hiện hành, đưa pháp luật đi sâu vào cuộc sống

Thực tế cho thấy, riêng người phát hành QCTPCN - chủ thể trực tiếp phát hành sản phẩm quảng cáo về TPCN, nhận thức và thái độ của họ sẽ tác

Trang 32

động tới quyết định mua TPCN của NTD Khác với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN, mục đích chính của người phát hành QCTPCN là thu lợi nhuận từ việc phát hành một sản phẩm quảng cáo, nên trách nhiệm của họ có thể cao hoặc không cao khi phát hành một sản phẩm QCTPCN, tùy thuộc vào cách nhìn và lợi nhuận mà họ thu được Họ có thể không quan tâm đến tác dụng của TPCN được quảng cáo, sản phẩm đó có đúng và đảm bảo giống sản phẩm quảng cáo đã phát hay không Đây là lí do vì sao tác giả đánh giá trách nhiệm và trình độ của người phát hành QCTPCN là một trong những yếu tố ảnh hướng đến việc thực thi pháp luật về QCTPCN

1.2.2.2.Năng lực của các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước về quảng cáo

thực phẩm chức năng và cơ quan có liên quan

Thực thi pháp luật QCTPCN có hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào vai trò của Nhà nước Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý có thẩm quyền để thể chế hóa đường lối, Nghị quyết của Đảng thành pháp luật; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về QCTPCN; tạo sự thống nhất về tổ chức và phối hợp hoạt động của các cơ quan quản lí về QCTPCN nhằm đạt được những mục tiêu đề ra, phát triển bền vững; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về QCTPCN, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về QCTPCN; tổ chức đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của mọi người về QCTPCN, thực hiện hỗ trợ ứng dụng QCTPCN trong đời sống; tổ chức, quản lý hợp tác quốc

tế QCTPCN

Bằng việc sử dụng quyền lực mà Nhà nước trao cho, cơ quan quản lý

có thể truy cứu trách nhiệm pháp lí với những chủ thể vi phạm pháp luật QCTPCN, áp dụng các biện pháp tác động nhưng không liên quan đến trách nhiệm pháp lý và những cơ quan quản lý tham gia giải quyết khi xảy ra tranh chấp về quyền - nghĩa vụ pháp lí pháp sinh trong quá trình thực hiện hoạt động QCTPCN giữa các chủ thể

Để thực hiện tất cả các vấn đề này, Nhà nước phải thông qua các cơ

Trang 33

quan quản lý nhà nước, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực quảng cáo, TPCN Theo quy định pháp luật hiện hành, có rất nhiều các cơ quan quản lý hoạt dộng QCTPCN Nhiều cơ quan chức năng quản lý về cùng một vấn đề

có ưu điểm nhưng không tránh khỏi có những hạn chế nhất định trong quá trình thực thi pháp luật, có thể sẽ bao quát và quản lý hết được tất cả các hành

vi hoặc có thể gây nên sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm khi thực hiện chức năng của mình Các cơ quan quản lý muốn thực hiện tốt chức năng của mình phải có đầy đủ đội ngũ cán bộ có kiến thức, kinh nghiệm và trách nhiệm cao Tình trạng thiếu nhân lực, thiếu cán bộ hay cán bộ trình độ thấp vẫn tồn tại, ảnh hưởng lớn tới việc thực thi pháp luật Chỉ khi hoàn thiện về mặt nhân lực, trình độ, kiến thức, trách nhiệm thì việc thực thi pháp luật về QCTPCN mới có thể đạt được hiệu quả cao Nếu không, vẫn không thể khắc phục được những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thi hành pháp luật về QCTPCN

1.2.2.3.Hệ thống pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng

Pháp luật sinh ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội và là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật Song các mặt, các khía cạnh khác nhau của pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực thi Hiện nay hệ thống pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện đế phù hợp với tình hình thực tế đất nước trong quá trình hội nhập, pháp luật về QCTPCN không nằm ngoài xu thế đó Chính bởi vậy mà hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực thi pháp luật về QCTPCN

Sự thống nhất và đồng bộ giữa các quy phạm pháp luật trong các văn bản là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng pháp luật về QCTPCN thuận lợi,

có tính thống nhất Thấy được tầm quan trọng đó, nhiều năm qua Nhà nước ta không ngừng đổi mới tư duy, nhận thức trong lập pháp để hoàn thiện hơn nữa

hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về QCTPCN nói riêng Khi hệ thống pháp luật QCTPCN phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế đất nước, nhu cầu của NTD thì pháp luật QCTPCN sẽ được bảo đảm thực thi trên thực tế Ngược lại, nếu pháp luật có nhiều “lỗ hổng” lớn sẽ tạo điều kiện hành vi vi phạm phát sinh (quảng cáo sai sự thật, quảng cáo gian dối, gây hiểu nhầm ),

Trang 34

ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi NTD

Một hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ khiến cho NTD, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN, người QCTPCN, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN, cơ quan chức năng thực thi pháp luật một cách hiệu quả Nếu hệ thống pháp luật vẫn còn có những thiếu sót, kẽ hở, không có khả năng thực thi trên thực tế, không có sự đồng bộ và thiếu sự minh bạch sẽ làm cho việc thực thi pháp luật về QCTPCN trên thực tế khó khăn, đặc biệt là đối với các

cơ quan chức năng - những người trực tiếp áp dụng pháp luật để quản lý vấn

đề quảng cáo TPCN

1.2.2.4.Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng

Xử lý hành vi vi phạm cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về QCTPCN Các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực QCTPCN chủ yếu được xử lý bằng các chế tài hành chính, ngoài ra còn có thể bị xử lí bởi các chế tài dân sự hoặc chế tài hình sự

Hiện nay, xử lý hành vi vi phạm pháp luật QCTPCN bằng hình thức phạt tiền là hình thức phù hợp nhất do linh hoạt và mềm dẻo, ngoài ra các hình thức phạt bổ sung chính là công cụ hỗ trợ cho hình thức phạt tiền để việc

xử phạt vi phạm đạt được hiệu quả cao Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức xử phạt bằng tiền chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, không có tác dụng lâu dài

do không đủ sức răn đe các hành vi vi phạm khi mà các phương thức quảng cáo đang ngày càng trở nên tinh vi, nguy hại hơn Trong khi những hình thức phạt bổ sung - công cụ hỗ trợ hình thức phạt tiền vẫn còn vướng mắc, cứng nhắc, không linh hoạt khiến việc thực thi trên thực tế khó khăn

Nhìn chung, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật QCTPCN ngoài việc làm chấm dứt hành vi vi phạm đang xảy ra, còn có ý nghĩa răn đe các chủ thể có ý định thực hiện hành vi vi phạm tương tự, tiên liệu trước một vài hành vi vi phạm có thể xảy ra, tác động trực tiếp vào nhận thức chủ thể thực hiện hành vi mà còn ảnh hưởng xấu tới việc thúc đẩy quá trình xuất hiện nhiều hơn nữa hành vi vi phạm mới mà pháp luật không thể điều chỉnh được, tác động tới thái độ coi thường của nhiều chủ thể

Trang 35

1.2.2.5.Sự phát triển của kinh tế - xã hội và khoa học - công nghệ

Sự phát triển kinh tế - xã hội tác động mạnh mẽ tới quá trình thực thi pháp nói chung, pháp luật về QCTPCN nói riêng Việt Nam là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế - xã hội ở mỗi vùng miền khác nhau, điều này có ảnh hưởng nhất định đến việc thực thi pháp luật hiện nay Hoạt động QCTPCN được coi như là một phần của hoạt động kinh doanh bằng việc thực hiện hoạt động quảng cáo, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN tiến hành phân phối, buôn bán và kiếm lợi từ hoạt động đó Mỗi một môi trường kinh tế - xã hội khác nhau thì chiến lược QCTPCN được đề ra và thực hiện khác nhau cho từng loại sản phẩm Biểu hiện cụ thể của sự phát triển kinh tế -

xã hội trước tiên là mức thu nhập bình quân của từng cá nhân hay hộ gia đình Tùy vào thu nhập của từng cá nhân, từng gia đình, sau khi xem QCTPCN họ

sẽ lựa chọn TPCN có giá phù hợp Với các hộ gia đình, việc phân bổ chi phí tiêu dùng vào việc mua TPCN sao cho phù hợp cũng sẽ ảnh hưởng tới người QCTPCN, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN thực hiện những công việc quảng cáo của mình

Đặc điểm địa lí Việt Nam với 3/4 diện tích là đồi núi là một nguyên nhân dẫn đến sự phân bố dân cư chênh lệch, khiến việc lựa chọn phạm vi QCTPCN của người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có sự khác nhau Ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn và chậm phát triển, nhu cầu sử dụng TPCN còn thấp là sự khác biệt so với vùng đồng bằng, trung du - nơi tập trung nhiều dân cư, kinh tế phát triển nên mức thu nhập của người dân cao hơn, kéo theo đó là nhu cầu sử dụng TPCN tăng mạnh Do trình độ nhận thức của NTD ở những vùng đồng bằng, trung du về vai trò của TPCN là tăng cường, cải thiện sức khỏe vì vậy QCTPCN được doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN sử dụng nhằm hướng tới những đối tượng này cao hơn so với NTD ở những vùng núi, kinh tế khó khăn

Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng góp phần quan trọng trong việc thực thi pháp luật về QCTPCN Khoa học phát triển là nền tảng cho sự ra đời của TPCN và khoa học càng phát triển, TPCN xuất hiện ngày càng nhiều với công dụng mới đa dạng hơn Điều này làm mục đích QCTPCN thay đổi

Trang 36

tùy theo từng sản phẩm Để thu hút sự quan tâm, chú ý của NTD vào những sản phẩm của mình, khi làm QCTPCN, người QCTPCN, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN đã sáng tạo và có những ý tưởng độc đáo, tuy nhiên vẫn phải trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật

Tại sao tác giả lại cho rằng công nghệ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về QCTPCN? Hiện nay, NTD biết đến những QCTPCN là nhờ có sự phát triển của công nghệ Thông qua những sản phẩm công nghệ cao như laptop, máy tính bảng, điện thoại thông minh, tivi thông minh, truyền hình kỹ thuật số mà NTD đã tiếp cận được với QCTPCN Thông qua các phương tiện quảng cáo hiện đại, nhà sản xuất, kinh doanh TPCN, người QCTPCN, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN sẽ tác động tới suy nghĩ, thu hút sự chú ý của NTD để họ cân nhắc, lựa chọn có hay không mua TPCN được quảng cáo Như vậy, sự phát triển của khoa học - công nghệ góp phần quan trọng trong việc xác lập chiến lược QCTPCN, qua

đó ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật của các chủ thể QCTPCN

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật về QCTPCN được các chủ thể QCTPCN, cơ quan quản lí QCTPCN nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng để làm cơ sở cho việc đảm bảo tối đa quyền, lợi ích của mình trong lĩnh vực này

Tiểu kết chương 1:

Cùng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng TPCN

nâng cao để bảo vệ sức khỏe của người dân, QCTPCN là một trong những mục tiêu hướng tới của các tổ chức, cá nhân kinh doanh TPCN và tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo Điều này đặt ra cho Nhà nước mục tiêu cần có những quy đinh pháp luật phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của người dân nói chung, NTD nói riêng Được nhìn nhận dưới nhiều góc độ pháp luật khác nhau, các quy định pháp luật hiện hành về QCTPCN khi được áp dụng trên thực tế cho thấy những đổi thay về kinh tế đất nước, ý thức, nhận thức của toàn thể người dân về TPCN và QCTPCN

Trang 37

Chương 2:

TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT

VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

2.1.Nội dung pháp luật hiện hành về quảng cáo thực phẩm chức năng

Luật ATTP 2010 quy định “việc quảng cáo thực phẩm do tổ chức, cá

nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về quảng cáo ” (khoản 1 Điều 43)

và khoản 1 Điều 7 Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định: “Việc quảng cáo

thực phẩm chức năng phải được thực hiện theo quy định pháp luật về quảng cáo” Đây là quy định chung nhất về QCTPCN, theo đó tất cả những vấn đề

pháp lí liên quan đến hoạt động QCTPCN đều được thực hiện theo quy định của pháp luật quảng cáo, từ chủ thể, nội dung, phương tiện, điều kiện đến thẩm quyền quản lý nhà nước và xử lý vi phạm pháp luật hoạt động QCTPCN

sẽ do pháp luật quảng cáo điều chỉnh Trong đó, vấn đề đặc thù và là sự khác biệt lớn nhất của QCTPCN là nội dung QCTPCN

2.1.1.Chủ thể quảng cáo thực phẩm chức năng

Khi nói về chủ thể của QCTPCN, điều đầu tiên có thể nhận thấy rõ nhất

là các chủ thể phải tuân thủ theo các quy định về chủ thể của quảng cáo thương mại nói riêng và pháp luật quảng cáo nói chung Theo quy định tại Mục 2 Chương IV LTM 2005 và Điều 2 và Chương II LQC 2012, chủ thể QCTPCN bao gồm: người QCTPCN; người kinh doanh dịch vụ QCTPCN; người phát hành QCTPCN; người cho thuê địa điểm, phương tiện QCTPCN

và người tiếp nhận QCTPCN Những chủ thể QCTPCN này tham gia hoạt động quảng cáo ở những công đoạn hoặc những giai đoạn khác nhau và vì vậy mà quyền, nghĩa vụ của họ cũng khác nhau

2.1.1.1.Người quảng cáo thực phẩm chức năng

Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm,

Trang 38

hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó (khoản 5 Điều

2 LQC 2012) Vì TPCN là một dạng thực phẩm và được điều chỉnh theo Luật ATTP 2010 nên QCTPCN được thực hiện theo quy định của LQC 2012 và Luật ATTP 2010 Như vậy, người QCTPCN là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TPCN thỏa mãn các điều kiện quy định về thương nhân tại Điều 6 LTM 2005 và phải có đăng ký kinh doanh phù hợp ngành nghề theo quy định tại Điều 7 LTM 2005 - tức là phải đăng ký kinh doanh TPCN theo đúng quy định của pháp luật

Người QCTPCN ở Việt Nam có yếu tố nước ngoài tuân thủ quy định tại Điều 39 LQC 2012, tức là các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của mình tại Việt Nam theo quy định của LQC Với tổ chức, cá nhân nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam có nhu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của mình tại Việt Nam phải thuê người kinh doanh dịch

vụ quảng cáo của Việt Nam thực hiện

Muốn quảng cáo sản phẩm, người QCTPCN phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về chủ thể Điều 20 LQC 2012 quy định người QCTPCN phải có các loại giấy tờ như: giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy chứng nhận tiêu chuẩn (đối với sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ); giấy chứng nhận

vệ sinh ATTP (đối với sản phẩm dinh dưỡng trong nước); giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm của cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất (đối với sản phẩm dinh dưỡng nhập khẩu) hoặc giấy phép lưu hành Theo khoản 3 Điều 43 Luật ATTP 2010, tổ chức, cá nhân có thực phẩm quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo khi nội dung đã được thẩm định và chỉ được quảng cáo đúng nội dung đã xác nhận Ngoài ra, Điều 7 Thông tư số 09/2015/TT-BYT của Bộ Y tế quy định người QCTPCN còn phải có giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP (đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia)

Trang 39

hoặc giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Như vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ về người QCTPCN Chỉ người sản xuất, kinh doanh đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP (đối với sản phẩm chưa

có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia) mới được quảng cáo TPCN do chính mình sản xuất; chỉ đơn vị đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy (hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP) mới được phép đề nghị xác nhận nội dung QCTPCN Trong trường hợp không tự mình thực hiện thì ủy quyền cho đơn vị khác nhưng phải có văn bản ủy quyền Đơn vị được ủy quyền phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về người quảng cáo theo LQC 2012 và chỉ được quảng cáo những nội dung đã được thẩm định, đăng ký

QCTPCN là giải pháp hữu hiệu của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN - người quảng cáo Với tư cách là chủ thể, người QCTPCN có thể tự mình thực hiện các hoạt động QCTPCN hoặc có thể thuê thương nhân khác thực hiện quảng cáo cho mình thông qua hợp đồng dịch vụ quảng cáo Do đó pháp luật quy định cho họ - người QCTPCN quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định tại Điều 108, 111, Điều 112 LTM 2005, Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và Điều 12LQC 2012

2.1.1.2.Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực phẩm chức năng

Thay vì tự mình thực hiện tất cả các công đoạn (lên ý tưởng, thuê diễn viên, chọn địa điểm quảng cáo ), việc thuê các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo có trình độ chuyên môn cao sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN có chiến lược quảng cáo sáng tạo và những sản phẩm quảng cáo tốt nhất, chuyên nghiệp nhất, giúp tiết kiệm tối đa thời gian, bảo đảm hiệu quả quảng cáo đạt được mức độ cao

Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một,

Trang 40

một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo (Khoản 6 Điều 2 LQC 2012) Chưa có Điều luật nào quy định điều kiện cụ thể người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải đáp ứng, nhưng qua các quy định pháp luật, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải đáp ứng những điều kiện nghiêm ngặt Điều 15 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện và trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo khi thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam phải là Doanh nghiệp

có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo được thành lập và hoạt động theo

pháp luật Việt Nam (điểm a) Điều 104 LTM 2005 cũng quy định: “Kinh

doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân thực hiện việc quảng cáo thương mại cho thương nhân khác”

Như vậy, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải là thương nhân và

có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có thể trở thành người kinh doanh dịch vụ quảng cáo bởi theo quy định tại khoản 3 Điều 41 LQC 2012, văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài đã được thành lập và hoạt động khi có giấy phép của UBND cấp tỉnh nơi văn phòng hoạt động chỉ được xúc tiến quảng cáo, không được trực tiếp kinh doanh quảng cáo

Người kinh doanh dịch vụ QCTPCN chỉ được tiến hành QCTPCN nếu

có hợp đồng với tổ chức, cá nhân sản xuất, đưa sản phẩm TPCN ra thị trường

về việc họ ủy quyền cho người kinh doanh dịch vụ QCTPCN tiến hành hoạt động QCTPCN hoặc phải có giấy ủy quyền theo quy định tại Khoản 4 Điều 7

Thông tư số 09/2015/TT-BYT của Bộ Y tế có nêu: “Đơn vị đề nghị xác nhận

nội dung quảng cáo là đơn vị đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (đối với

Ngày đăng: 13/04/2020, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w