1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn quận hoàn kiếm thành phố hà nội

77 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quy định về BHXH đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH, pháp luật về BHXH bước đầu đã tạo lập được hành lang pháp lý với vai trò đi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NGUYỄN QUANG THẮNG

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

- Các tài liệu đƣợc trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

- Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nguồn gốc, số liệu, thông tin đƣợc sử dụng trong luận văn./

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Mở Hà Nội bạn

bè đồng nghiệp, gia đình đã giúp đỡ em trong qua trình làm luận văn

Đặc biệt em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Đào Thị Hằng đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song do khả năng và kinh nghiệm của bản thân có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế và thiếu sót Vì vậy em rất mong được nhận được sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp nhằm bổ sung hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu tiếp theo

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 7

1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội và các yếu tố cấu thành 7 1.1.2 Phân loại vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 13 1.1.3 Khái niệm và sự cần thiết phải xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 13 1.1.4 Các nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 15

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 16

1.2.1 Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội và hậu quả pháp lý 16 1.2.2 Quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 25

2.2 Kết quả xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội tại quận Hoàn Kiếm 32

2.2.1 Thực tiễn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội 32 2.2.2 Hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội 42

2.3 Nhận xét, đánh giá thực tiễn xử lý phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 44

2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 45

Trang 6

2.3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

Chương 3:MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ HẠN CHẾ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 54

3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 54

3.2 Một số kiến nghị nhằm hạn chế vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế ASXH An sinh xã hội VPPL Vi phạm pháp luật NLĐ Người lao động NSDLĐ Người sử dụng lao động

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1.: Tổng hợp số liệu lao động tại các đơn vị sử dụng lao động từ năm 2014 – 2018 33 Bảng 2.2 Thống kê số tiền nợ đọng BHXH trong giai đoạn 2014-2018 36 2.2.2 Hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội 42 Bảng 2.3: Số liệu tổng hợp các đơn vị vi phạm và số tiền thu hồi các năm từ 2016 –

2018 42

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển ASXH nhằm đảm bảo cho đời sống NLĐ, trong đó BHXH là chính sách quan trọng hàng đầu trong hệ thống ASXH ở nước ta, đóng góp to lớn vào sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế bền vững của quốc gia Khi đánh giá tốc độ phát triển của một quốc gia, một trong những tiêu chí đánh giá chính là hệ thống ASXH mà trong đó BHXH giữ vai trò nòng cốt Nhận thức được vai trò của BHXH, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến việc xây dựng, từng bước hoàn thiện hệ thống, cơ sở pháp lý về chế độ BHXH Nhà nước đã ban hành

Bộ Luật lao động, Luật BHXH…và các văn bản hướng dẫn thi hành Các quy định

về BHXH đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH, pháp luật về BHXH bước đầu đã tạo lập được hành lang pháp

lý với vai trò điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực BHXH, góp phần xây dựng hệ thống ASXH của Nhà nước, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NLĐ tham gia BHXH góp phần thúc đẩy chính sách ASXH của Nhà nước ta ngày càng phát triển

Cùng với sự hình thành phát triển của nền kinh tế thị trường thì đồng thời hình thành các quan hệ mà pháp luật BHXH cần điều chỉnh Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm pháp luật BHXH có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của NLĐ Một vấn đề nổi cộm vi phạm pháp luật về BHXH là trình trạng chậm đóng, nợ đọng BHXH cho NLĐ ngày càng gia tăng với số tiền lớn xảy ra ở hầu hết địa phương trên cả nước Nghiêm trọng hơn có nhiều đơn vị nợ đóng BHXH cho NLĐ trong thời gian dài, nhiều trường hợp doanh nghiệp chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ, làm ảnh hưởng đến các chế độ BHXH kịp thời Việc gian lận, trục lợi trong lĩnh vực BHXH có tính chất tương đối phổ biến, không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ, người tham gia mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự ổn định và phát triển của chính sách ASXH, ảnh hưởng đến chính sách thu hút đầu tư để phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công

Trang 10

nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thị trường và hội nhập thì việc bảo đảm sự ổn định

và phát triển của chính sách ASXH, bảo vệ lực lượng lao động trong xã hội là một yêu cầu tất yếu Vì vậy, ngày 20/6/2017, Quốc hội thông qua Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và có hiệu lực thi hành kể

từ ngày 01/01/2018 Một trong số những nội dung quan trọng được bổ sung là nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH đã bổ sung thêm 4 tội danh liên quan đến lĩnh vực này, đó là tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận BHXH, BHTN (Điều 214); tội gian lận bảo hiểm y tế (BHYT) (Điều 215) và tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ (Điều 216)

Dù vậy, việc gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật BHXH của các chủ thể

trên cả nước vẫn không tránh khỏi, trong đó, Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

cũng không là ngoại lệ Những hành vi vi phạm pháp luật BHXH đã và đang diễn ra

và trở thành điểm nóng tại quận Hoàn Kiếm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của NLĐ tham gia BHXH Điều này đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu cụ thể để

có biện pháp xử lý phù hợp nhằm hạn chế các hành vi vi phạm Từ cơ sở đó, tác giả

lựa chọn đề tài: “Xử lý vi phạm pháp luật về BHXH từ thực tiễn quận Hoàn

Kiếm, thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sĩ luật học nhằm nghiên cứu và góp

phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật BHXH cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo hiểm xã hội là vấn đề được Đảng, Nhà nước luôn quan tâm nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi tham gia BHXH Với mục đích chính là sự bù đắp thu nhập cho NLĐ khi họ bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nghỉ hưu…do vậy BHXH đã và đang là vấn đề được nghiên cứu rộng rãi với nhiều cách thức tiếp cận khác nhau nhằm đánh giá được những ưu điểm mà BHXH mang lại cho NLĐ, đồng thời qua phân tích những quy định BHXH để thấy được những mặt còn tồn tại, những bất cập trong thực tiễn thực hiện Luật BHXH

Trang 11

Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến BHXH đã có nhiều bài viết, công trình khoa học nhằm đóng góp ý kiến xây dựng hệ thống BHXH ở nước ta, trong đó trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về BHXH:

Thứ nhất, các bài báo, sách, công trình, đề tài nghiên cứu những vấn đề liên

quan đến BHXH nói chung như:

“Những vấn đề lớn của BHXH” (Bài viết năm 2010), tác giả Phạm Nhẫn,

Tạp chí Công sản; Bài viết nêu lên các nội dung cơ bản của BHXH và những giải pháp đẩy mạnh hoạt động BHXH;

“Đánh giá thực trạng tham gia BHXH - Kiến nghị và đề xuất” (Đề tài cấp

Bộ, năm 2014), Trần Đình Liệu, Phó TGĐ BHXH Việt Nam; Đề tài tập trung phân tích thực trạng tham gia BHXH gồm BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH, đảm bảo lộ trình bao phủ BHXH theo chỉ tiêu được giao, trong đó

đánh giá một số vấn đề về thực trạng trốn đóng BHXH của NSDLĐ trên địa bàn cả nước, thông qua đó tác giả có đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những vi phạm này;

Đề tài khoa học cấp Bộ (2013): Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý

thu bảo hiểm xã hội, Chủ nhiệm Tiến sĩ Dương Xuân Triệu, cấp Bộ LĐ-TBXH,

trong đề tài này nhóm tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội, trong đó có đề cập đến hoạt động quản lý nhà nước về xử lý vi phạm pháp luật trong đóng bảo hiểm xã hội

Bài viết Lê Quang Thắng (2018), Bình luận tội trốn đóng bảo hiểm xã hội,

bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo BLHS năm 2015, Tạp

chí Kiểm sát số 9/2018 Trong bài viết này tác giả tập trung phân tích về tội vi phạm quy định về trốn đóng bảo hiểm xã hội, đây là nội dung quan trọng trong việc xử lý

vi phạm về đóng bảo hiểm ở mức độ hình sự;

- Bài viết của tác giả Phan Tiến Anh (2016), Nhận diện một số thủ đoạn thực

hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội và biện pháp phòng

Trang 12

ngừa, Tạp chí kiểm sát số 6, đây là bài viết phân tích về những thủ đoạn, phương

thức vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng bảo hiểm xã hội

Thứ hai, các luận văn, luận án nghiên cứu về hoạt động xử lý VPPL trong

lĩnh vực BHXH có thể kể đến như:

Phạm Đức Cường (2012), “Tăng cường các giải pháp xử lý nợ đọng, trốn đóng BHXH”, Tạp chí BHXH, (9A), tr16-18; Vũ Ngọc Lân (2012), “Nợ BHXH dưới góc nhìn từ “cái gốc””, Tạp chí BHXH, (9B), tr 30-31; Nguyễn Văn Dụng (2013), “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra vi phạm pháp luật về BHXH”, Tạp chí BHXH, (1A), tr 24-26

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã đề cập về các nội dung cụ thể của Luật BHXH như:

Một là, nghiên cứu những quy định pháp luật về BHXH, thực trạng pháp luật

về BHXH nói chung

Hai là, nghiên cứu về phần các chế độ chính sách các chế độ ngắn hạn như:

ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe…

Ba là, nghiên cứu về chế độ, chính sách các chế độ dài hạn: chế độ hưu trí,

chế độ tử tuất

Bốn là, nghiên cứu về phần thu BHXH ví dụ như: tình trạng nợ đọng BHXH

đã và đang gây nhiều bức xúc trong dư luận, làm giảm sự tin tưởng của NLĐ đối với BHXH, chính sách ASXH của Nhà nước

Như vậy, các công trình nghiên cứu về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH mới chỉ dừng lại ở mức độ khá khiêm tốn so với các lĩnh vực khác Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá những vi phạm pháp luật về BHXH qua đó làm rõ những

ưu điểm, nhược điểm và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trong xử lý vi phạm pháp luật về BHXH là thực sự cần thiết

Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật BHXH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm và thành phố Hà Nội cho thấy, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH có xu hướng tăng về

số lượng và mức độ vi phạm Dựa trên những cơ sở đó, người viết lựa chọn đề tài “Xử lý

vi phạm pháp luật về BHXH từ thực tiễn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” làm

Trang 13

luận văn với suy nghĩ có thể tìm hiểu rõ hơn về vi phạm pháp luật về BHXH, các vấn đề pháp lý hiện hành để xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, những vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật, đồng thời đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, đưa ra các kiến nghị có liên quan nhằm giúp cho việc xử lý vi phạm pháp luật về BHXH trên địa bàn đạt hiệu quả

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài luận văn, học viên hướng tới mong muốn làm sáng tỏ lý luận về xử lý vi phạm pháp luật BHXH và quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này Qua đó, nhận xét, phân tích việc áp dụng trên thực tiễn xử lý vi phạm quy định pháp luật về BHXH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về BHXH và hạn chế vi phạm pháp luật BHXH ở

quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật BHXH Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật BHXH

- Đánh giá thực trạng thực hiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật BHXH tại quận Hoàn Kiếm, làm rõ những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục để đảm bảo BHXH là công cụ hữu hiệu nhất của ASXH ở nước ta trong thời gian tới

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật BHXH; đóng góp những ý kiến nhằm hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH tại quận Hoàn Kiếm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH và thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về BHXH trên quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, trên cơ sở các số liệu thực tiễn trên địa bàn quận Hoàn Kiếm

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật BHXH như nghiên cứu các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH và hậu quả pháp lý đồng thời làm rõ thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, cũng như vấn đề khiếu nại, tố cáo trong xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội…

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật BHXH ở Việt Nam Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài như: phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích, đối chiếu…Các phương pháp này được sử dụng để xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về BHXH, đặc biệt là các cơ quan BHXH, các đơn vị tham gia BHXH Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật, cũng như bất cứ ai quan tâm đến vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về BHXH

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật BHXH và quy

định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật BHXH

Chương 2: Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật BHXH tại quận Hoàn Kiếm,

thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và hạn chế vi phạm

pháp luật về BHXH tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Một số vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội và các yếu tố cấu thành

* Khái niệm

Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho NLĐ trong một số trường hợp họ gặp rủi ro Chế độ BHXH này bao gồm: Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già, tàn tật (1889) Sau đó, trước tác dụng tích cực của BHXH trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống BHXH Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài BHXH và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (an sinh, an toàn xã hội) Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) có Công ước số 102 năm 1952 về ASXH Hiện nay, trên thế giới nói chung người ta coi BHXH là một bộ phận cấu thành của ASXH

Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Nhà nước ban hành nên được đại đa số nhân dân nghiêm chỉnh thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên vi phạm pháp luật vẫn phát sinh, tồn tại, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, xã hội, đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Vi phạm pháp luật khá đa dạng, bao gồm nhiều loại khác nhau dựa theo các tiêu chí phân chia nhất định Mặc dù mỗi loại vi phạm có những đặc điểm riêng tuy

Trang 16

nhiên chúng vẫn có những đặc điểm chung Những điểm chung này đã được thống nhất cả trong lý luận và thực tiễn

Vi phạm pháp luật có những dấu hiệu cơ bản sau:

Thứ nhất: Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi xác định của con người Chỉ có thông qua hành vi của mình con người có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho xã hội Những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa thể tác động tới xã hội Vì vậy, để xác định được ý nghĩ hoặc tư tưởng của con người thì cũng phải thông qua cách sử xự bên ngoài, tức

là qua hành vi của họ Vi phạm pháp luật biểu hiện bằng hành vi cụ thể và đó chính

là cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm

Rõ ràng vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể, được thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động

Thứ hai: Vi phạm pháp luật không những là hành vi xác định của con người

mà hành vi đó phải trái với các quy định pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo hộ Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp với những quy định pháp luật, không thực hiện những gì mà pháp luật yêu cầu hoặc

sử dụng quyền hạn quá giới hạn của pháp luật

Thứ ba: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật chứa đựng lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi đó Có thể nói tất cả mọi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật đều chứa đựng yếu tố lỗi Chỉ những hành vi trái pháp luật nào được chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mới có thể bị coi là hành vi vi phạm pháp luật Để xác định hành vi vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt khách quan và chủ quan của hành vi, nghĩa là phải xác định trạng thái tâm lý của người thực hiện hành

vi trái pháp luật đó (xác định lỗi của họ)

Thứ tư: Về năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa sự độc lập gánh chịu nghĩa vụ pháp lý chỉ quy định đối với những người có khả năng tự lựa chọn được cách xử sự và có tự

do ý chí Nói cách khác, người đó có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và chịu trách nhiệm về hành vi đó Vì vậy, những hành vi mặc dù trái

Trang 17

pháp luật nhưng do những người mất trí hoặc trẻ em (chưa đến độ tuổi theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý) thực hiện thì vẫn không thể coi là

vi phạm pháp luật

Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu cơ bản nêu trên của hành vi vi phạm pháp

luật, có thể đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật như sau: Vi phạm pháp luật là hành

vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ 1

Trên cơ sở khái niệm BHXH và khái niệm vi phạm pháp luật nêu trên ta có

thể rút ra khái niệm vi phạm pháp luật BHXH như sau: Vi phạm pháp luật về BHXH

là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng các quy định pháp luật về BHXH, do chủ thể quan hệ pháp luật BHXH thực hiện một cách có lỗi, xâm hại quyền và lợi ích của các chủ thể, nhà nước và xã hội

Có thể xác định các yếu tố cấu thành VPPL về BHXH như sau

Theo lý luận về pháp luật đã được nghiên cứu, thì vi phạm pháp luật có 4 yếu

tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan Như vậy, vi phạm pháp luật BHXH cũng được cấu thành bởi các yếu tố tương tự

- Người sử dụng lao động

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 thì "NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,

Trang 18

dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ"2

NSDLĐ là cá nhân cụ thể phải có năng lực hành vi đầy đủ hoặc NSDLĐ là

tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, là một bên trong quan hệ pháp luật BHXH; ký kết hợp đồng lao động với NLĐ, quản lý lao động, thực hiện các quy định pháp luật về BHXH

NSDLĐ vi phạm pháp luật BHXH khi thực hiện một hoặc nhiều hành vi sau đây: + Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền BHXH hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của NLĐ để cùng đóng một lúc vào quỹ BHXH

+ Không bảo quản hoặc sử dụng đúng mục đích số tiền BHXH của NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc;

Như vậy, trong quan hệ lao động các cá nhân có đủ độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể tự nguyện tham gia vào quan hệ lao động Khi tham gia vào quan hệ này thì các cá nhân được hưởng các quyền lợi về lương, về điều kiện lao động…đồng thời cũng chịu sự quản lý và điều hành của chủ

2 Quốc hội (2012), Bộ luật lao động, Hà Nội

3 Quốc hội (2012), Bộ luật lao động, Hà Nội

Trang 19

sử dụng lao động và đồng thời tham gia quan hệ pháp luật BHXH nếu họ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

NLĐ có thể có một hoặc nhiều hành vi vi phạm pháp luật BHXH sau:

+ Người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện

+ Không đóng hoặc đóng BHXH không đầy đủ

Như vậy, nếu NLĐ vi phạm các quy định về pháp luật BHXH bằng hình thức thực hiện hoặc không hiện đều cấu thành vi phạm pháp luật BHXH

- Cơ quan BHXH

Cơ quan BHXH là hệ thống cơ quan được thiết lập theo hệ thống ngành dọc nhằm thực hiện các chính sách BHXH từ trung ương đến địa phương như: thu, quản

lý và chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia BHXH

Cơ quan BHXH cũng có thể có các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH khi thực hiện một số hành vi như:

+ Thực hiện thu BHXH chưa đúng quy định;

+ Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH chưa đúng quy định;

+ Quản lý và sử dụng quỹ BHXH chưa đúng quy định;

+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa kịp thời, không đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi tham gia BHXH

- Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động

Trong quan hệ này, chủ sử dụng lao động và NLĐ ký kết hợp đồng lao động

và việc tham gia BHXH bắt buộc hay tự nguyện tùy theo từng loại hợp đồng lao

Trang 20

động Hành vi vi phạm quan hệ này từ chủ sử dụng lao động và NLĐ có thể là: NLĐ và chủ sử dụng lao động ký kết hợp đồng để trốn tránh nghĩa vụ nộp BHXH bằng việc ký kết hợp đồng ngắn hạn dưới 1 tháng…

- Quan hệ giữa NSDLĐ và cơ quan BHXH là quan hệ trong quá trình thực hiện các quy định về trích nộp BHXH chẳng hạn:

+ NSDLĐ không thực hiện việc trích nộp tiền BHXH hàng tháng theo đúng quy định

+ NSDLĐ trốn đóng BHXH, nợ đọng tiền BHXH

+ NSDLĐ lập hồ sơ khống đề nghị giải quyết chế độ BXHH như: ốm đau, dưỡng sức phục hồi sức khỏe

- Quan hệ giữa NLĐ và cơ quan BHXH:

Quan hệ này phát sinh khi NLĐ tham gia BHXH và đề nghị được cơ quan BHXH giải quyết chế độ chính sách Trong mối quan hệ này, vi phạm pháp luật BHXH nảy sinh từ NLĐ, khi họ thực hiện các hành vi gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, chẳng hạn:

+ Mua giấy chứng nhận nghỉ hưởng BHXH để được cơ quan BHXH chi trả các chế độ ngắn hạn hoặc giả mạo, tẩy xóa hồ sơ, giấy tờ để hưởng chế độ BHXH

* Về mặt chủ quan của vi phạm pháp luật BHXH

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật BHXH là thái độ tâm lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật BHXH với các yếu tố như: lỗi, động cơ, mục đích của chủ thể với hành vi và hậu quả của sự vi phạm pháp luật BHXH đối với NLĐ, cơ quan BHXH là đại diện của Nhà nước khi thực hiện các chế độ, chính sách

* Về mặt khách quan của vi phạm pháp luật BHXH

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật BHXH là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật BHXH bao gồm các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, hậu quả xảy ra do hành vi vi phạm pháp luật BHXH, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện thực hiện

Hành vi vi phạm pháp luật BHXH có thể là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định của pháp luật hoặc vi phạm điều cấm của pháp

Trang 21

luật Đây sẽ là bằng chứng xác định có sự vi phạm pháp về bảo hiểm xã hội Ngoài

ra còn là hậu quả xảy ra của các vi phạm

1.1.2 Phân loại vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

Việc phân loại vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội dựa trên các tiêu chí

- Căn cứ vào chủ thể thục hiện hành vi vi phạm gồm

+ Nhóm các hành vi vi phạm do NSDLĐ thực hiện ví dụ như trốn đóng bảo hiểm cho người lao động; không chi trả chế độ bảo hiểm cho NLĐ thuộc diện được hưởng mà NSDLĐ có nghĩa vụ trả thay cho cơ quan BHXH ví dụ như chế độ ốm đau, thai sản…

+ Nhóm các hành vi vi phạm của NLĐ như hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

+ Nhóm hành vi vi phạm do cơ quan BHXH thực hiện như sử dụng quỹ sai mục đích, gây phiền hà, cản trở trong việc đóng và hưởng bảo hiểm

- Căn cứ vào loại hình BHXH có hai loại vi phạm pháp luật về BHXH, đó là: + Hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc

+ Hành vi vi phạm pháp luật BHXH bị xử lý bồi thường thiệt hại

1.1.3 Khái niệm và sự cần thiết phải xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

Về khái niệm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về BHXH

Trang 22

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng sử dụng cưỡng chế Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự

và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội4 Pháp luật có ba chức năng chính: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục Sở dĩ pháp luật có chức năng bảo vệ vì trong

xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” – là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi5 Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý – hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước (người có chức vụ) có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (chế tài xử lý)6

Vậy, xử lý vi phạm trong lĩnh vực về BHXH là việc tổ chức cơ quan, cá nhân

có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH theo quy định của pháp luật

Việc xử lý vi phạm pháp luật về BHXH là cần thiết bởi các lý do sau đây

Một là BHXH là một chế độ góp phần bảo vệ quyền lợi và tương lai cuộc sống của người lao động, việc đóng BHXH sẽ góp phần quan trọng vào đảm bảo hệ thống

an sinh xã hội của Nhà nước được vận hành hiệu quả Do đó, việc xử lý đối với hành vi

vi phạm pháp luật về BHXH là một yêu cầu cần thiết để bảo vệ quyền lợi của NLĐ, những người tham gia bảo hiểm xã hội khác Quyền lợi của NLĐ sẽ bị xâm hại nghiêm trọng nếu như NSDLĐ không tham gia, hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội khác

Hai là, việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội là một yêu cầu nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng nhà nước pháp quyền

Trang 23

Như chúng ta đã biết, trong nhà nước pháp quyền, bất cứ vi phạm pháp luật nào cũng

bị xử lý điều này mới đảm bảo tính nghiêm minh Hệ thống an sinh xã hội là một yêu cầu cấp thiết mà nhà nước ta đã dày công xây dựng nhằm đảm bảo tốt nhất đến đời sống an sinh của hàng chục triệu con người Hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội sẽ trực tiếp làm bào mòn, suy thoái hệ thống an sinh xã hội này, làm lung lay đến tận gốc rễ tính ổn định và bền vững của hệ thống Chính vì vậy, tất cả các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH đều phải bị xử lý nghiêm minh

Ba là, việc xử lý đối với những vi vi phạm pháp luật về BHXH cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc phòng ngừa đối với các hành vi vi phạm tiếp theo Bởi lẽ, nếu có một hành vi vi phạm pháp luật bất kỳ bị xử lý nghiêm minh thì điều này sẽ có tác động giáo dục rất tốt, khiến cho những chủ thể có ý định thực hiện hành vi này sẽ phải suy xét lại, tính toán lại hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật

1.1.4 Các nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

Mọi hành vi VPPL đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật và VPPL

về BHXH cũng không phải là một ngoại lệ Tuy nhiên, việc xử lý VPPL đó không bao giờ là tùy tiện mà cần phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật, đó chính là các nguyên tắc khi xử lý vi phạm VPPL về BHXH cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, mọi hành vi VPPL về BHXH phải được phát hiện kịp thời và phải

bị đình chỉ ngay Việc xử lý vi phạm phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do VPPL gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật Chảng hạn hành vi không đóng, chậm đóng, đóng không đúng mức quy định, của NSDLĐ cần phải được phát hiện sớm và có biện pháp xử lý thích đáng, nếu không sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của NLĐ

Thứ hai, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử lý về vi phạm pháp luật BHXH khi có vi

phạm do pháp luật quy định trong lĩnh vực đóng, hưởng BHXH Không có lí do gì

để bao biện rằng một người hoặc một tổ chức ngang nhiên bị bắt và bị xử lý một khi

họ không làm bất cứ điều gì vi phạm trật tự xã hội mà pháp luật quy định Pháp luật

đã có sự quy định rất rõ ràng rằng trong trường hợp, hoàn cảnh nhất định cá nhân,

Trang 24

tổ chức được làm và không được làm gì, chủ thể ấy chỉ có thể bị xử lý khi họ làm trái với những gì mà pháp luật đã nêu Khi đó việc bị xử lý là hoàn toàn xác đáng nhằm mục đích trừng trị, răn đe, phòng ngừa vi phạm

Thứ ba, việc xử lý VPPL về BHXH phải do người có thẩm quyền tiến hành

theo đúng quy định của pháp luật

Thứ tư, một hành vi VPPL về BHXH chỉ bị xử lý một lần cho một hình thức

xử lý nhất định; một người thực hiện nhiều hành vi VPPL về BHXH thì bị xử lý về từng hành vi vi phạm; nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều bị xử lý Ví dụ như tổ chức BHXH có hành vi không cấp sổ BHXH hoặc không chốt sổ BHXH đúng hạn; hành vi không giải quyết đúng chế độ BHXH; hành vi chi trả không đúng mức hoặc không đúng thời hạn chế độ BHXH thì tổ chức BHXH đó sẽ bị xử lý một lần đối với từng hành vi với từng hình thức xử

lý, mỗi người trong tổ chức BHXH có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý

Thứ năm, việc xử lý VPPL về BHXH phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi

phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp Mục đích của việc xem xét này là nhằm đảm bảo việc xử lý người thực hiện hành vi phạm tội một cách công bằng, khách quan, đúng người đúng tội và thể hiện quan điểm nhân văn trong xử lý và ngăn ngừa người VPPL trong đóng, hưởng BHXH

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

1.2.1 Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội và hậu quả pháp lý

1.2.1.1 Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và hậu quả pháp lý

* NLĐ thỏa thuận với NSDLĐ không tham gia BHXH bắt buộc hoặc tham gia không đúng mức quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP

BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà những NLĐ nhất định và NSDLĐ phải tham gia (khoản 2 điều 3 Luật BHXH) Theo quy định của Bộ luật Lao động

và Luật BHXH thì việc tham gia loại hình BHXH bắt buộc không phụ thuộc vào số lượng NLĐ trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động mà căn cứ

Trang 25

vào loại hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với NLĐ NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ (khoản 2, điều 2 Luật BHXH 2014) Ở những doanh nghiệp, cơ quan,

tổ chức này, NSDLĐ và NLĐ phải đóng BHXH theo quy định tại luật luật này và NLĐ được hưởng các chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất Như vậy, việc bắt buộc tham gia BHXH áp dụng với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động thông qua việc ký kết hợp đồng lao động không phụ thuộc vào việc những NLĐ đó làm việc theo HĐLĐ nào hoặc

số lượng NLĐ là bao nhiêu

Tương tự, NLĐ cũng bắt buộc phải tham gia BHXH nếu thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1, 2 Luật BHXH Tuy nhiên nếu như NLĐ có hành vi thỏa thuận với NSDLĐ không tham gia BHXH bắt buộc như quy định, hoặc không tham gia đúng mức quy định thì đã là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH và sẽ bị xử lý

Theo Điều 26 khoản 1 của Nghị định 95/2013/NĐ-CP và Nghị định 88/2015/NĐ-CP, NLĐ có hành vi nêu trên sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng Ngoài ra còn phải buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng hoặc không đóng

* NSDLĐ đóng BHXH không đúng thời gian quy định

Mọi mối quan hệ trong xã hội đều có khởi nguồn và kết thúc theo một quy trình vốn có của riêng nó với thời gian được ấn định đặc trưng, và quan hệ pháp lý cũng không phải là một ngoại lệ Nắm bắt được quy luật ấy, Luật BHXH đã có quy định cụ thể để điều chỉnh quan hệ đóng góp BHXH, theo đó trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, NSDLĐ nộp hồ sơ tham gia BHXH cho tổ chức BHXH Hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: Tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động kèm theo danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội; Hồ sơ cấp lại sổ bảo hiểm

xã hội trong trường hợp hỏng hoặc mất bao gồm: Đơn đề nghị cấp lại sổ bảo hiểm

xã hội của người lao động; Sổ bảo hiểm xã hội trong trường hợp bị hỏng

Trang 26

Như vậy, không phải NSDLĐ hay NLĐ có thể tùy ý tham gia đóng BHXH vào bất kể lúc nào từ khi ký kết với nhau hợp đồng lao động Mà việc đóng BHXH cho NLĐ được thực hiện trong vòng 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động đã được

ký kết và NSDLĐ có trách nhiệm phải chuẩn bị hồ sơ để nộp lên cơ quan bảo hiểm Việc quy định này nhằm tạo điều kiện cho NLĐ sớm được tham gia BHXH để được thực hiện nghĩa vụ và hưởng quyền lợi từ BHXH Nó cũng ràng buộc NSDLĐ trong khoảng thòi gian nhất định phải có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ xung quanh việc ký kết hợp đồng lao động để đảm bảo đầy đủ quyền lợi của NLĐ NSDLĐ có thể vi phạm quy định nêu trên bằng việc không đóng đúng theo quy định này

Hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm này là NSDLĐ có thể bị phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng theo khoản 2 Điều

26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP

* NSDLĐ đóng BHXH không đúng mức quy định

Pháp luật BHXH đã quy định cụ thể mức đóng BHXH của NSDLĐ và của từng đối tượng NLĐ Theo đó, NSDLĐ đóng hàng tháng trên quỹ tiền lương đóng BHXH của NLĐS bằng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 0,5% vào quỹ TNLĐ, bệnh nghề nghiệp và 14% vào quy hưu trí và tử tuất Đối với NLĐ là sỹ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ quan, chiến ĩ công an nhân dân, phục vụ co thòi hạn, học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được sinh hoạt phí, NSDLĐ đóng hàng tháng trên mức lương cơ sở bằng 0,5% vào quỹ TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất Đối với người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, NSDLĐ đong hàng thang bằng 14% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất

Tương tự, đối với NLĐ, Luật BHXH cũng quy định cụ thể mức đóng đối với từng đối tượng Theo đó, tùy từng NLĐ mà họ có nghĩa vụ đóng hàng tháng bằng 8% mức tiền lương hàng tháng hoặc 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất Tuy nhiên theo quy định của pháp luật NSDLĐ có trách nhiệm khấu trừ tiền lương

Trang 27

của NLĐ và đóng cùng với mức đóng của mình vào quỹ BHXH Như vậy, NLĐ không tự đóng phần đóng của mình vào quy mà do NSDLĐ thực hiện trách nhiệm này đồng thời phải đóng đầy đủ mức của bản thân mình và mức của NLĐ

Nếu không thực hiện đóng đúng mức như quy định nêu trên, NSDLĐ sẽ bị phạt tiền với mức từ 12% đến 15% trên tổng số tiền phải đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng Đây là hậu quả pháp

lý của hành vi đóng BHXH bắt buộc không đúng mức quy định theo Điều 26 khoản

1 điểm b Nghị định 95/2013/NĐ-CP Ngoài ra, NSDLĐ còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, đó là buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng và buộc đóng số tiền lãi của số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm (Điều 26 khoản 4 Nghị định 95/2013/NĐ-CP)

* NSDLĐ đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trong đơn vị

BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia (khoản 2 điều 3 Luật BHXH) Theo quy định của pháp luật thì việc tham gia loại hình BHXH bắt buộc căn cứ vào loại Hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với NLĐ mà không phụ thuộc vào số lượng NLĐ trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động NSDLĐ có trách nhiệm: đóng BHXH theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của NLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật BHXH để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH Bởi vậy, doanh nghiệp có thuê mướn, sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì phải tham gia đóng BHXH cho toàn bộ NLĐ đó

Tuy nhiên không phải tất cả mọi NLĐ làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp,

tổ chức đều phải tham gia BHXH bắt buộc và NSDLĐ phải đóng BHXH cho tất cả những NLĐ đó, mà chỉ NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của khoản 1 Điều 2 cụ thể là Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12

Trang 28

tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới

03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công

an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

Về hậu quả pháp lý thì NSDLĐ sẽ bị phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đồng thời người vi phạm còn phải bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

là buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm; và buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm

xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm

* NSDLĐ không đóng BHXH bắt buộc cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định NSDLĐ phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho các đối tượng được quy tại Điều 2 của Luật BHXH Do đó, có trường hợp NSDLĐ đã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho NLĐ có đủ điều kiện bắt buộc phải đóng theo Điều 2 nêu trên Hành vi này được quy định tại Điều 26 khoản 3 Nghị định

Trang 29

95/2013/NĐ-CP cụ thể là người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Về hậu quả pháp lý, NSDLĐ có hành vi nêu trên sẽ bị xử phạt tiền với mức

từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc; Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư

từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm

1.2.1.2 Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và hậu quả pháp lý

Để được hưởng lợi từ quỹ BHXH khi không có, chưa có hoặc chưa đầy đủ các điều kiện được thụ hưởng, không ít các tổ chức, cá nhân đã có những hành vi sai trái nhằm trục lợi cho lợi ích riêng Điển hình như các hành vi: làm giả hồ sơ để hưởng chế độ BHXH; hành vi không cung cấp hoặc cung cấp thông tin, số liệu sai lệch; đã làm thất thoát quỹ BHXH, gây ra bất công trong quyền lợi về hưởng chế

độ BHXH Theo thống kê của BHXH Việt Nam, không chỉ có tình trạng trốn đóng BHXH mà ở hầu hết các địa phương còn xuất hiện tình trạng làm sai lệch một số nội dung trong hồ sơ BHXH

Theo quy định tại Điều 27 khoản 2 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 95 nêu trên thì phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hồ sơ bảo hiểm xã hội để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Nghị định 88 không quy định việc khắc phục hậu quả đối với hành vi này

Trang 30

Các hình thức làm giả, gian lận để hưởng chế độ BHXH hiện nay rất đa dạng với nhiều hình thức, nhưng phổ biến nhất là các trường hợp: Làm giả hoàn toàn từ phôi mẫu giấy đến con dấu hoặc tẩy xóa nội dung sau đó photocopy màu các loại giấy trên; hoặc tẩy xóa chữa tăng thời gian nghỉ trong giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH đã được cơ sở y tế cấp Những giấy tờ trên được thực hiện và

tổ chức mua bán chủ yếu tại các hiệu thuốc tây của tư nhân Một hiện tượng gian lận để hưởng bảo hiểm mới xuất hiện là cả 3 bên gồm chủ sử dụng lao động, NLĐ

và cơ sở y tế thống nhất cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH để thanh toán tiền trợ cấp ốm đau nhằm tăng thêm thu nhập Ngoài ra, một số đơn vị sử dụng lao động gặp khó khăn, làm ăn kém hiệu quả, không có đủ việc làm… NSDLĐ, NLĐ,

cơ sở y tế thống nhất cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH để thanh toán tiền trợ cấp ốm đau nhằm tăng thêm thu nhập cho NLĐ

* NLĐ có hành vi kê khai không đúng sự thật, hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định của Điều 27 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ thì NLĐ có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội sẽ bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng Đây là nhóm hành vi cũng khá phổ biến hay xảy

ra trong thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, hành vi này có tính chất trục lợi bảo hiểm đến từ những chủ thể là người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Hiện nay trên thực tế hoạt động quản lý về hồ sơ bảo hiểm xã hội đang có những hạn chế nhất định, đặc biệt là khâu kiểm tra, giám sát việc cấp, theo dõi hồ

sơ bảo hiểm Do đó, lợi dụng tình trạng này vẫn có đối tượng đã giả mạo, kê khai không đúng hoặc tẩy xóa để trục lợi

Ngoài ra, NLĐ vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Điều 27 Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 95/2013/NĐ-CP gồm buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội

1.2.1.3 Vi phạm các quy định khác về bảo hiểm xã hội và hậu quả pháp lý

Trang 31

Theo quy định của Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 95 nêu trên thì ngoài các hành vi đã phân tích còn có những hành vi vi phạm khác của NSDLĐ về BHXH có thể xảy ra như

- Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ tài liệu, thông tin về bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng bảo hiểm

xã hội bắt buộc của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

- Làm mất, hư hỏng hoặc sửa chữa, tẩy xóa sổ bảo hiểm xã hội

Nhóm hành vi vi phạm của người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

- Không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của người lao động;

Không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày nhận được quyết định chi trả của cơ quan bảo hiểm xã hội

- Không lập hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng;

- Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội: Giải quyết chế

độ hưu, giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo đúng quy định;

- Không giới thiệu người lao động đi giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động

- Người sử dụng lao động có hành vi sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội sai mục đích Như vậy, đây là những hành vi mà NLĐ, hoặc NSDLĐ có thể vi phạm và bị

xử lý theo quy định của pháp luật

Trang 32

Hậu quả pháp lý của hành vi này được quy định tại Điều 28 Nghị định 88/2015/NĐ-CP gồm

Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy

đủ tài liệu, thông tin về bảo hiểm xã hội bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; Làm mất, hư hỏng hoặc sửa chữa, tẩy xóa sổ bảo hiểm xã hội

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của người lao động; Không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định chi trả của cơ quan bảo hiểm xã hội

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Không lập hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng; Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội: Giải quyết chế độ hưu, giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo đúng quy định; Không giới thiệu người lao động đi giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội sai mục đích

Ngoài ra Nghị định 88 còn quy định về các biện pháp khắc phục hậu quả như Buộc trả đủ chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động; Buộc các cơ sở dạy nghề thực hiện dạy nghề đủ thời gian khóa học mà người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đăng ký; Buộc các cơ sở dạy nghề nộp lại số tiền đã trục lợi vào

Trang 33

ngân sách nhà nước; Buộc nộp lại lợi nhuận thu được từ việc sử dụng Quỹ bảo hiểm

xã hội sai mục đích

1.2.1.4 Quy định về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm quy định về bảo hiểm xã hội

Theo quy định của Điều 214, 216 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm

Các hành vi này phải chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Hành vi của người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây

- Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

- Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động

Các hành vi này bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

1.2.2 Quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

Đối với mỗi hình thức xử lý VPPL BHXH thì pháp luật đã có các quy định

rõ ràng về thẩm quyền và thủ tục xử lý nhằm đảm bảo mọi VPPL đóng, hưởng BHXH đều được nghiêm trị Nếu hành vi VPPL BHXH có mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và quy định về thẩm quyền, thủ tục xử lý được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Còn nếu hành vi VPPL

Trang 34

đóng, hưởng BHXH chỉ bị xử lý dưới hình thức xử phạt vi phạm hành chinh thì pháp luật cũng quy định cụ thể

Chủ yếu các VPPL trong lĩnh vực BHXH bị xử lý dưới hình thức xử phạt vi phạm hành chính Chính phủ đã ban hành rất cụ thể quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH tại Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 95 nói trên Theo đó, tại chương 5 của Nghị định này thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đóng, hưởng BHXH được giao cho Chủ tịch UBND các cấp, thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội với mức phạt tiền cao nhất là đến 100.000.000 đồng Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính này từ khi lập biên bản vi phạm; ra quyết định xử phạt; phạt tiền; thu nộp tiền phạt; tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; chấp hành quyết định xử phạt hành chính, hoãn chấp hành quyết định phạt tiền; cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển quyết định xử phạt

vi phạm hành chính để thi hành đều được cụ thể hóa một cách rõ ràng Những quy định chi tiết, chặt chẽ đó của pháp luật góp phần minh bạch hóa và nhanh chóng thực hiện các thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đóng, hưởng BHXH nói riêng và BHXH nói chung

Như vậy thẩm quyền xử lý VPPL về BHXH bao gồm các chủ thể sau đây

Trang 35

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền: xử phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 75.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này

* Thẩm quyền của thanh tra lao động

- Thanh tra viên lao động, người được giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 500.000 đồng

- Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 37.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này

- Chánh thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 75.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này

- Trưởng đoàn thanh tra lao động cấp Bộ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 52.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Áp

Trang 36

dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này

* Thẩm quyền xử lý đối với các vi phạm về hình sự

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thẩm quyền khởi tố và điều tra, truy tố xét xử đối với các tội phạm quy định tại Điều 213, 214, 215, 216 BLHS năm

2015 là Cơ quan điều tra công an cấp huyện nơi xảy ra vụ việc trốn đóng bảo hiểm

xã hội hoặc gian lận bảo hiểm xã hội sẽ điều tra

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chính sách BHXH là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội, cùng với chính sách tiền lương, phúc lợi xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội, có tác động rất lớn vào quá trình phân phối lại thu nhập để ổn định đời sống cho cán

bộ, công chức, viên chức nhà nước, người lao động và thân nhân gia đình họ Vì vậy, BHXH cần cho tất cả mọi người trong xã hội, bất luận giàu hay nghèo, địa vị

xã hội cao hay thấp Thực tế ốm đau, tai nạn, rủi ro, già yếu không trừ một ai và những người lâm vào hoàn cảnh ốm đau, tai nạn, rủi ro, già yếu được quỹ BHXH đảm bảo thay thế, bù đắp một phần thu nhập để ổn định cuộc sống Bởi vậy, bất kỳ hành vi nào vi phạm các quy định của Luật BHXH của chủ sử dụng lao động, của người lao động hay của cơ quan BHXH cũng cần phải được xử lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước, của người lao động khi tham gia BHXH

Ở chương này, luận văn đã phân tích các nội dung cơ bản của vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật BHXH nói riêng, qua đó là cơ sở để nghiên cứu, xây dựng những giải pháp sao cho phù hợp nhằm xử lý triệt để các hành vi vi phạm pháp luật BHXH nói chung và trên địa bàn quận Hoàn Kiếm nói riêng

Trang 38

Chương 2 THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH

PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

2.1.1 Vị trí địa lý, dân cư

Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, phía tây giáp quận Đống Đa, phía tây bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa, phía nam giáp quận Hai Bà Trưng Dọc từ phía bắc xuống phía nam là sông Hồng, bên kia sông (phía đông) là huyện Gia Lâm Quận tập trung nhiều đầu mối giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ Yếu tố này đã gắn kết Hoàn Kiếm với các quận, các tỉnh, thành khác tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá và

du lịch Đó là một ưu thế đặc biệt của quận mà không phải quận nào cũng có thể có được

Tổng diện tích tự nhiên quận Hoàn Kiếm là 5,28 km2 (trong đó 4,53 km2 đất dân cư còn lại là diện tích mặt nước và sông Hồng) Dân số hiện khoảng 200.000 nhân khẩu Mật độ dân cư khoảng 41.468 người/ km2

Quận Hoàn Kiếm chia thành thành 04 khu vực, gồm: khu phố cổ, khu vực

Hồ Gươm và vùng phụ cận, khu phố cũ, khu vực ngoài đê sông Hồng

2.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội

Quận Hoàn Kiếm là nơi tập trung nhiều bộ, sở, ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước (10 bộ trong tổng số 17 bộ của trung ương đóng trên địa bàn toàn thành phố Hà Nội) và cũng là nơi tập trung của nhiều đại sứ quán và nhà riêng đại

sứ (17 đại sứ trong tổng số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), các văn phòng đại diện nước ngoài, nơi tập trung của các cơ quan chính trị - xã hội - tôn giáo, Hoàn Kiếm xứng đáng là trung tâm hành chính, chính trị của thành phố

Bề dày lịch sử hình thành và phát triển với sự tập trung của các khu phố cổ là một đặc thù riêng có của quận Hoàn Kiếm, tạo cho quận một thế mạnh trong phát

Ngày đăng: 13/04/2020, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm