Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: - Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê Ni
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Luật kinh tế
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HƯNG YÊN
HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HƯNG YÊN
HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thủy
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ cong trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Học viên
Hoàng Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa sau đại học, Trường đại học Mở Hà Nội
và được sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thủy về đề tài
luận văn: “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hƣng Yên” Để hoàn thành được luận văn
này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các khoa và quý thầy, cô Trường đại học Mở Hà Nội, những người đã tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô
TS Nguyễn Thị Thủy, người đã trực tiếp hưỡng dẫn luận văn cho tôi với tất
cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, công chức, viên chức Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Hoàng Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 11 1.1 Lý luận về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 11
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 11 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.2 Lý luận về chế định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 16
1.2.1 Cơ sở xây dựng chế định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 16 1.2.2 Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 20 1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 22
Kết luận Chương 1 29 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HƯNG YÊN 30 2.1 Nội dung của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất 30
Trang 62.1.1 Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 30 2.1.2 Chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 51 2.1.3 Hình thức xử phạt và xác định tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 51 2.1.4 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 54
2.2 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai tại tỉnh Hưng Yên 59
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hưng Yên và tác động đến việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất tại tỉnh Hưng Yên 59 2.2.2 Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất tại tỉnh Hưng Yên 63
Kết luận Chương 2 72 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HƯNG YÊN 73 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đát đai tại tỉnh Hưng Yên 73
3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên 73 3.1.2 Định hướng năng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Hưng Yên 75
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên 77
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất 77 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin đất đai, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý đất đai 78
Trang 73.2.3 Sửa đổi, bổ sung các quy định về thị trường bất động sản nói chung
và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng 79
3.2.4 Sửa đổi, bổ sung các quy định tài chính về đất đai 79
3.2.5 Bổ sung các quy định về tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đất đai, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm của người sử dụng đất 80
3.2.6 Hoàn thiện pháp luật về tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai trong nhân dân 81
Kết luận Chương 3 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 – Tính cấp thiết của đề tài
Vi phạm quy định trong lĩnh vực đất đai là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai Chế định này ra đời góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai; bởi lẽ, không phải bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào khi sử dụng đất (gọi chung là người sử dụng đất) cũng đều sử dụng đất đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật khách quan của thị trường thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị; nên một bộ phận đáng kể người sử dụng đất sẵn sàng vi phạm pháp luật đất đai miễn sao có được lợi nhuận do đất đai mang lại Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đất đai nói chung và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của giới khoa học pháp lý nước ta Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề này được công bố với một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất Những giải pháp này đã được tham khao trong quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm hành chính về đất đai Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật về đất đai cho thấy hiệu quả của việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất chưa đáp ứng sự kỳ vọng, mong muốn của xã hội Nhiều vụ vi phạm pháp luật đất đai được phát hiện nhưng việc xử lý cần thiết dứt điểm, kiên quyết với những chế tài chưa đủ sức răn đe, giáo dục người vi phạm Điều này không chỉ khiến dư luận xã hội bức xúc mà còn gây ra ý thức khinh nhờn, coi thường pháp luật và tạo sự rối ren trong quản lý đất đai Đây là lý do cần phải tiếp tục có sự nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhằm nhận diện những tồn tại, bất cập và nguyên nhân của tồn tại, bất cập, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành chế định xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai Mặt khác, Luật đất đai năm 2013 ra đời với những sửa đổi,
bổ sung về xử lý vi phạm pháp luật đất đai nói chung và xử lý vi phạm hành chính
Trang 92
trong lĩnh vực đất đai nói riêng đang được các Bộ, Ngành, địa phương tích cực triển khai thi hành Đặt trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu các quy định mới về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của Luật đất đai năm 2013 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành Đạo luật này ở nước ta
Hưng Yên là một tỉnh nhỏ ở đồng bằng Bắc bộ, nhưng thời gian qua Đảng
bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Hưng Yên đã nỗ lực vượt khó trong phát triển kinh tế- xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đạt được những kết quả tích cực Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ làm thay đổi bộ mặt đô thị, thị trấn, thị tứ Kinh tế phát triển kéo theo giá đất ngày càng tăng, đây là một nguyên nhân khách quan dẫn đến việc vi phạm pháp luật đất đai Dẫu cho tỉnh đã áp dụng đồng bộ các biện pháp để phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai (trong đó có vi phạm hành chính về đất đai) song tình hình vẫn chưa được cải thiện và đạt hiệu quả mong muốn Đi tìm nguyên nhân và cơ chế phù hợp để giải quyết vấn đề này thì không thể không có nghiên cứu, đánh giá toàn diện, hệ thống, khách quan, khoa học về pháp luật xử lý vi phạm pháp luật trong sử dụng đất tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên hiện nay
Với những lý do cơ bản trên, học viện lựa chọn đề tài “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên”
làm luận văn Thạc sỹ Luật học
2- Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về “Pháp luật xử lý vi phạm hành chính” khá nhiều, tuy nhiên, những công trình đề cập trực tiếp đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai lại khá hiếm hoi Đặc biệt, việc nghiên cứu vấn đề này gắn liền với thực tiễn tại Hưng Yên thì chưa có công trình nào Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên” có thể chia làm ba nhóm như sau:
Trang 103
Nhóm 1 – Những công trình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính nói chung Liên quan đến nhóm này, có rất nhiều công trình ở các cấp độ khác nhau: Luận án, luận văn, sách tham khảo, chuyên khảo, bài báo khoa học… Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Bàn về vấn đề vi phạm hành chính nhiều lần và thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính của tác giả Nguyễn Hoàng Việt, Đào Thùy Linh, Tạp chí Nghề Luật số 4/2019, tr 61-66; Một số góp ý hoàn thiện Luật
Xử lý vi phạm hành chính của Trần Quốc Huy, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24/2018, tr 48-52; Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Nguyễn Hoàng Việt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên
đề 5/2015, tr 27 – 32; Sự chồng chéo giữa biện pháp khắc phục hậu quả với các hình thức xử phạt trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính của tác giả Cao
Vũ Minh trên Tạp chí nhà nước và pháp luật số 10/2018, tr 38 – 47; Bàn về nguyên tắc "không xử lý vi phạm hành chính" theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của tác giả Trần Thị Lâm Thi đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 14/2010, tr
36 – 40; Bàn về vấn đề thời hạn, thời hiệu trong xử phạt vi phạm hành chính của tác giả Nguyễn Văn Quang đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2001, tr 49 – 53; Luật về
xử phạt vi phạm hành chính, của Hoàng Xuân Hoan - Nguyễn Trí Hòa (1993), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Hỏi - đáp về Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, của Đặng Thanh Sơn - Hà Thị Nga(1996), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội; Tìm hiểu về
xử phạt vi phạm hành chính, của Phạm Dũng - Hoàng Sao (1998), Nxb Pháp lý -
Hà Nội; Chế tài Hành chính - Lý luận và thực tiễn của Vũ Thư (2000), Nxb Chính trị quốc gia- Hà Nội… Các công trình nêu trên nghiên cứu những vấn đề chung về
xử lý vi phạm hành chính ở các góc độ, khía cạnh khác nhau… Ví dụ Bài viết Một
số góp ý hoàn thiện Luật Xử lý vi phạm hành chính của tác giả Trần Quốc Huy nêu một số bất cập và góp ý nhằm hoàn thiện Luật xử lí vi phạm hành chính qua thực tiễn thi hành, như: hoàn thiện quy định về mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính, qui định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, Bài viết Bàn về vấn đề vi phạm hành chính nhiều lần và thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính của tác giả Nguyễn Hoàng Việt, Đào Thùy Linh phân tích một số
Trang 114
tiêu chí để có thể phân biệt vi phạm hành chính nhiều lần và thực hiện nhiều hành vi
vi phạm hành chính, giúp cho việc áp dụng pháp luật của người có thẩm quyền thực thi công vụ bảo đảm tính chính xác, đúng đắn Nêu quan điểm về việc ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp một đối tượng thực hiện nhiều hành
vi vi phạm hành chính Bài viết Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính của Nguyễn Hoàng Việt phân tích tình hình bảo đảm các điều kiện cho việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính kể từ thời điểm Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, đánh giá những mặt đạt được, những mặt còn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, trên cơ sở
đó đưa ra đề xuất, kiến nghị
Nhóm thứ hai, đó là nhóm các công trình nghiên cứu pháp luật về xử lý hành chính trong các lĩnh vực cụ thể, trong đó có lĩnh vực đất đai, như: Trần Thế Vinh (2012), Bình luận Luật xử lý vi phạm hành chính và chỉ dẫn áp dụng pháp luật xử lý
vi phạm hành chính trong mọi lĩnh vực, Nxb Lao động, Hà Nội; Vi phạm pháp luật
và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học của Bùi Minh Thanh (2003), Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh - Hà Nội; Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực Hải quan và giải pháp xử lý, Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê nguyễn Nam Ninh (2004), Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội; Trịnh Thị Mai Huyền (2002), Một số vấn đề về
vi phạm và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, Luận văn thạc sĩ Luật học, TS Phạm Hữu Nghị hướng dẫn, Hà Nội; Hoàng Thị Phương
Ly (2016), Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, Luận văn thạc sĩ luật học, TS Nguyễn Thị Thủy hướng dẫn, Hà Nội; Trần Thị Lan Anh (2016), Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, PGS TS Phạm Hữu Nghị hướng dẫn, Hà Nội; Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trần Quang Anh; TS Nguyễn Thị Dung hướng dẫn, Hà Nội, 2018… Trong nhóm công trình nghiên cứu về xử lý hành chính trong lĩnh vực cụ thể thì các công trình nghiên cứu về xử lý hành chính trong
Trang 125
lĩnh vực đất đai chiếm số lượng lớn Các công trình này dù nghiên cứu pháp luật xử
lý hành chính trong lĩnh vực đất đai ở các khía cạnh khác nhau, nhưng tựu chung lại, đã làm rõ những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, phân tích khá thấu đáo thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này
Nhóm thứ ba là các công trình nghiên cứu về thực tiễn thi hành pháp luật xử
lý vi phạm hành chính tại các địa phương Các công trình thuộc nhóm này có thể kể đến bao gồm: Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình - Thực trạng và giải pháp khắc phục, luận văn Thạc sỹ luật học của Đỗ Thị Phương(2005), Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Hà Nội; Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học của Dương Mai Tùng; PGS TS Nguyễn Quang Tuyến hướng dẫn, Hà Nội, 2018; Hoạt động quản lý xử phạt vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật ở Ninh Bình của Trịnh Thị Hằng Nga đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số chuyên đề 7/2016, tr 11 – 14; Một cách làm riêng về xử lý vi phạm hành chính ở huyện Tiên Phước, Quảng Nam của Vũ Minh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 1/2012, tr 53 - 54… Các công trình nêu trên đã tìm hiểu, phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tại các địa phương, nêu những kết quả đạt được trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; những khó khăn, hạn chế trong công tác này Qua đó, các công trình nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu thuộc ba nhóm trên đây đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng, bao gồm phân tích khái niệm, đặc điểm, hậu quả của vi phạm pháp luật và vi phạm hành chính; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống vi phạm pháp luật Liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả thực hiện, còn có hai công trình khá sát, đó là: Pháp luật xử lý vi phạm hành chính
Trang 13lý luận, thực tiễn đặt trong mối quan hệ tham chiếu với Luật đất đai năm 2013, Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nói chung và thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nói riêng thì chưa có công trình nào đề cập Chính vì thế, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; làm rõ thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thực hiện tại Hưng Yên Thông qua đó, luận văn nêu bật khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật đất đai tại các địa phương nói chung và Hưng Yên nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây;
Trang 147
- Tổng hợp, phân tích hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam thông qua việc luận giải một số nội dung
- Phân tích khái niệm và đặc điểm của vi phạm pháp luật đất đai nói chung
và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng
- Tìm hiểu hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Phân tích khái niệm và đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc và các hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Phân tích khái niệm và đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cơ sở ra đời pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Hưng Yên
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đại nói chung và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;
Trang 158
- Các quy định của Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng;
- Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bản luận văn Thạc sỹ luật, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn ở những nội dung cụ thể sau:
Giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai của Luật đất đai
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian: Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Mặt khác trên thực tế, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai có thể là vi phạm về hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm hành chính Tuy nhiên, xem xét, tìm hiểu
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cho thấy phần lớn các vi phạm hành chính
là do người sử đụng đất thực hiện Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả nghiên cứu, tìm hiểu vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai giới hạn ở khía cạnh vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất do người sử dụng đất thực hiện Đồng thời đối tượng mà luận văn này nghiên cứu tập trung vào vi phạm pháp luật trong sử dụng đất đai bị xử lý bằng biện pháp hành chính mà chưa đến mức vị truy cứu trách nhiệm hình sự giới hạn trong phạm vi không gian và địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 169
Giới hạn về phạm vi, thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu ở giai đoạn từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành (từ 01/7/2014) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin;
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu…được
sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất;
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp…được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên;
Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải…được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
6 Những kết quả nghiên cứu đạt được
Luận văn hoàn thành với những kết quả nghiên cứu đạt được cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất ở Việt Nam;
- Giải mã nội hàm khái niệm về xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất nói riêng, đồng thời chỉ ra những đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất;
Trang 1710
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất qua các thời kỳ nhằm nhận diện sự phát triển tư duy pháp lý của Nhà nước ta trong xây dựng và hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này;
- Định giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sử dụng đất và thực tiễn thi hành chế định pháp luật này tại tỉnh Hưng Yên ;
- Đưa các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
7 – Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Hưng Yên
Trang 1811
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.1 Lý luận về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Khái niệm
Vi phạm hành chính được hiểu là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính1 Từ định
nghĩa này có thể hiểu: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi có lỗi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính2
Đặc điểm
Bên cạnh những đặc điểm chung của vi phạm hành chính như: Có hành vi trái pháp luật; Có lỗi; Bị xử lý theo quy định của pháp luật3, thì vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có một số đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là người sử
dụng đất (người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất ổn định; người nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp), tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là chủ thể vi phạm pháp luật đất đai bao gồm cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi
Trang 1912
chung là cá nhân); cơ quan, tổ chức kinh tế trong nước và các tổ chức khác (gọi chung là tổ chức); hộ gia đình; cơ sở tôn giáo được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài; được công nhận chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai hoặc trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai Cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ (thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai) có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý đất đai không thuộc nhóm chủ thể vi phạm pháp luật đất đai trong sử dụng đất
Thứ hai, khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là các
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai; quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và chế độ sử dụng các loại đất được pháp luật đất đai bảo vệ
Thứ ba, do đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh-quốc phòng v.v và là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống nên vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cộng đồng Hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để lại những tác động tiêu cực trên nhiều phương diện về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường… Việc khắc phục hậu của của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tiến hành rất khó khăn, phức tạp và rất tốn kém; thậm chí có trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để lại hậu quả không thể khắc phục được
Thứ tư, việc sử dụng đất thường liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nhà ở,
công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất Do đó vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thường kéo theo vi phạm pháp luật về nhà ở, về lĩnh vực xây dựng; vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự hoặc vi phạm pháp luật đất đai ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề môi trường, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững v.v…
Trang 2013
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện và xử lý kịp thời; theo đó, người có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý bằng chế tài pháp lý Xử lý vi phạm pháp luật là việc xem xét, quyết định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật.4
Từ quan niệm chung về xử lý vi phạm pháp luật trên đây, có thể hiểu: Xử lý vi phạm pháp luật đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật đất đai để đưa ra chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật đất đai nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của người sử dụng đất trong lĩnh vực đất đai
Xét về mặt lý luận, vi phạm pháp luật đất đai có 02 hình thức xử lý: i) Xử lý trách nhiệm hình sự đối với vi phạm pháp luật đất đai nếu tính chất, mức độ và hậu quả gây ra nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (Điều 228), ii) Xử lý hành chính đối với vi phạm pháp luật đất đai mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự
Bản chất của hoạt động xử lý vi phạm hành chính là áp dụng một số loại biện pháp cưỡng chế hành chính do pháp luật quy định Cưỡng chế hành chính được xác định là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo thủ tục hành chính đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân nhất định với mục đích ngăn chặn, phòng ngừa hoặc thực hiện công vụ vì lí do an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia Từ đó,
có thể hiểu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là việc áp dụng các biện pháp chế tài mang tính cưỡng chế hành chính Nhà nước đối với chủ thể có hành vi
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Luận văn này tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất)
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
4
Xem: Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 48
Trang 2114
Thứ nhất, đây là hoạt động áp dụng pháp luật đất đai của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nhằm xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai Điều này có nghĩa là không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng được xử lý người có hành vi
vi phạm pháp luật đất đai mà chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được áp dụng pháp luật đất đai để xử lý hành vi vi phạm Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, các cơquan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật đất đai; bởi lẽ, vi phạm pháp luật đất đai xâm phạm khách thể của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về đất đai đã được xác lập Để khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước về đất đai thì các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai áp dụng chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai Tuy nhiên, để tránh việc tùy tiện, lợi dụng việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai vì lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực v.v… thì việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục Theo quy định pháp luật hiện hành thì thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được giao cho: Chủ tịch UBND các cấp; thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ, Chánh Thanh tra
Sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng cục trưởng Tổng cụ Quản lý đất đai, Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp Bộ; Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai…5
Thứ hai, đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là cá nhân/tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai hoặc trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai, bao gồm: Một là, hộ gia đình, cộng đồng dân cư,
cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi là cá nhân); Hai là, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp
5
Xem: Điều 208 Luật đất đai năm 2013 và Điều 31, 32, 33 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP
Trang 2215
có vốn đầu tư nước ngoài ( sau đây gọi chung là tổ chức) Ba là, cơ sở tôn giáo6 Bên cạnh đó, cần lưu ý, theo quy định chung của luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, tổ chức, cá nhân được áp dụng quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam theo quy định củapháp luật không thuộc đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
Như vậy, người sử dụng đất và những người khác nếu có hành vi trái pháp luật trong sử dụng đất xâm hại trực tiếp đến quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất như: lấn chiếm đất đai, không
sử dụng đất hoặc sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, hủy hoại đất… Những hành vi vi phạm này thực hiện lần đầu hoặc thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra không lớn, khả năng phục hồi thiệt hại dễ dàng và người gây thiệt hại đã kịp thời khắc phục, tự nguyện bồi thường thiệt hại…nên chưa cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị áp dụng xử phạt vi phạm hành chính
Mục đích của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất nhằm xử
lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai song chưa tới mức độ nguy hiểm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, góp phần bảo vệ tài nguyên đất đai; đồng thời giáo dục người sử dụng đất nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đất đai
Thứ ba, hình thức xử lý vi phạm hành chính
Hình thức xử lý vi phạm hành chính được hiểu là các biện pháp chế tài cụ thể
mà nhà nước áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính Các chế tài này có thể là về vật chất hoặc tinh thần hay bị hạn chế về các quyền yêu cầu pháp lý của chủ thể vi phạm hành chính Các hình thức xử lý vi phạm hành chính bao gồm:
+ Xử phạt vi phạm hành chính (có hình phạt chính và hình phạt bổ sung, ví dụ: phạt tiền là hình phạt chính, tịch thu tang vật là hình phạt bổ sung)
6
Xem: Điều 2 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP
Trang 23+ Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính: áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở và biện pháp quản lý tại gia đình Đối với lĩnh vực đất đai, hình thức xử lý chủ yếu là xử phạt vi phạm hành chính Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung Hình thức xử phạt chính gồm: 1) cảnh cáo, 2) phạt tiền Hình thức xử phạt bổ sung gồm: 1) Tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động; 2) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
1.2 Lý luận về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.2.1 Cơ sở xây dựng chế định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khâu đột phá trong chính sách kinh tế cho bước chuyển đổi này là việc ban hành và thực hiện những chế độ, chính sách mới trong lĩnh vực quản lý đất đai Để giải phóng mọi năng lực sảng xuất của người lao động trong sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc vấn đề an ninh lương thực quốc gia, pháp luật đất đai đã xác định và đề cao vai trò của hộ gia đình, cá nhân; thừa nhận hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nói chung và hộ gia đình, cá nhân nói riêng sử dụng ổn định, lâu dài Hộ gia đình, cá nhân được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn giao đất Những quy định này đã phát huy hiệu quả tích cực: Người sử dụng đất yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai, khuyến
Trang 24Vì vậy những hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng pháp luật; bởi vì:
Thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp luật
đất đai nói riêng đã gây ra những hệ quả tiêu cực đối với đời sống kinh tế - xã hội;
cụ thể:
Một là, hành vi vi phạm pháp luật đất đai xâm phạm đến khách thể của hoạt
động quản lý nhà nước về đất đai Trật tự quản lý đất đai do Nhà nước xây dựng bị phá vỡ, làm rối loạn sự vận hành của quan hệ đất đai vận động theo một quỹ đạo quản lý thống nhất của Nhà nước Điều này khiến Nhà nước không kiểm soát được thị trường đất đai, gây tác động tiêu cực đến sự hấp dẫn của môi trường đầu tư – kinh doanh ở nước ta Hơn nữa, hành vi vi phạm pháp luật đất đai không chỉ dẫn đến việc phá vỡ trật tự quản lý và sử dụng đất đã được xác lập mà còn là nguyên nhân của những tranh chấp, mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân, thậm chí phát triển thành những “điểm nóng” gây mất ổn định về chính trị - xã hội
Hai là, Hành vi vi phạm pháp luật đất đai là biểu hiện sự coi thường pháp
luật, thể hiện ý thức pháp luật ở một trình độ thấp của người dân nói chung và cán
bộ, công chức nhà nước nói riêng, không tôn trọng các quy tắc ứng xử chung của cộng đồng trong lĩnh vực đất đai Đây là điều không thể chấp nhận được trong một nhà nước pháp quyền Nơi mà ở đó tính thượng tôn của pháp luật được tôn trọng, đề cao Mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tuân thủ pháp luật; không một tổ chức,
cá nhân nào được “đứng trên” pháp luật
Trang 2518
Để thiết lập và duy trì trật tự kỷ cương trong xác hội, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân trong sử dụng đất thì hành vi vi phạm pháp luật đất đai phải được pháp luật xử lý kịp thời, dứt điểm, nghiêm minh và bị lên án mạnh
mẽ
Thứ hai, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định: “Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý” Điều này là vô cùng quan trọng; bởi lẽ, quá trình chuyển đổi nền kinh tế được quản lý theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tồn tại nhiều thành phần kinh tế có lợi ích không đồng nhất, thậm chí đối lập, mâu thuẫn với nhau Để các thành phần kinh tế cùng tồn tại, hợp tác và phát triển đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết một cách hài hòa lợi ích của những chủ thể này Muốn vậy, chúng ta cần phải xây dựng Nhà nước và pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Pháp luật với những đặc trưng mang tính đặc thù và tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính tự điều chỉnh sẽ tạo lập được sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho mọi thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất – kinh doanh Điều này có nghĩa là pháp luật thông qua cơ chế điều chỉnh sẽ tác động vào những hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ đất đai trên hai phương diện: i) Đối với những ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ đất đai phù hợp với lợi ích chung của xã hội thì pháp luật bảo vệ, khuyến khích phát triển; ii) ngược lại, đối với những ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ đất đai không phù hợp với lợi ích chung của xã hội thì pháp luật xử lý, ngăn chặn và tiến tới loại
bỏ dần khỏi đời sống xã hội Hơn nữa, pháp luật còn có chức năng kiến tạo giúp người sử dụng đất thay đổi nhận thức và có những hành vi ứng xử đúng đắn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình song không làm phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất khác
Thứ ba, pháp luật có mục đích là giáo dục, răn đe con người để họ có những
hành vi ứng xử vừa mang lại lợi ích cho bản thân mình nhưng lại không làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên nếu giáo dục, thuyết phục không mang lại hiệu quả thì pháp luật phải trừng trị, xử lý đối với
Trang 2619
những người có hành vi ứng xử làm phương hại đến lợi ích chung của cộng đồng cũng như lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác Hành vi vi phạm pháp luật đất đai cũng cần phải được xử lý thích đáng Có như vậy thì tính nghiêm minh, tính thượng tôn của pháp luật mới được mọi người trong xã hội chấp hành và tuân thủ triệt để
Thứ tư, đất đai vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt vừa là lãnh thổ quốc gia, nơi
cư trú của con người, là địa bàn xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh – quốc phòng, đồng thời là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống
Do đó, đất đai là khách thể đặc biệt thuộc đối tượng bảo vệ nghiêm ngặt của pháp luật Hợp nữa, đất đai không do con người tạo ra mà do tự nhiên tạo ra, cố định về
vị trí địa lý và bị giới hạn bởi không gian, diện tích đang có xu hướng giảm xuống
do sự tác động của con người và thiên nhiên; trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng do sự bùng nổ dân số Ở khía cạnh khác, dẫu đất đai không do con người tạo ra song nó lại kết tinh lao động quá khứ của các thế hệ cha anh, trải qua hàng ngàn năm, người Việt Nam đã đổ bao xương máu, mồ hôi, công sức mới tạo lập được vốn đất đai như ngày nay Hơn nữa, đất đai là nguồn tài nguyên rất khó tái tạo hoặc nếu cải tạo phải bỏ ra số tiền không nhỏ nếu bị xâm phạm Vì vậy, Nhà nước cần phải xây dựng các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đất đai nhằm phòng ngừa, răn de hoặc trừng trị những hành vi sử dụng đất sai mục đích, lãng phí, kém hiệu quả
Thứ năm, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường dưới
tác động của các quy luật khách quan của cơ chế thị trường người dân ngày càng nhận thấy giá trị to lớn của đất đai Chính vì vậy bên cạnh việc sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả thì các vi phạm pháp luật đất đai trong sử dụng đất nhằm mục đích thu được lợi nhuận tối đa cũng ngày càng gia tăng Điều này không chỉ đẩy giá đất lên cao gấp nhiều lần so với giá trị thực mà còn gây lũng đoạn hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất và làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai v.v Để khắc phục, tiết chế thực trạng này thì các vi phạm pháp luật về
sử dụng đất cần phải được xử lý bằng pháp luật Có như vậy mới góp phần làm lành
Trang 27về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất, tác giả cho rằng khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất có thể hiểu như
sau: Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai với tổ chức hộ, gia đình, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo trong xử lý vi phạm hành chính về sử dụng đất
Lĩnh vực pháp luật này có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
thuộc lĩnh vực pháp luật cộng Điều này có nghĩa là xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Việc xử lý và đảm bảo thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với người sử dụng đất dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước (hay còn gọi là quyền lực công) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là chế tài của Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư trong sử dụng đất (gọi chung là người sử dụng đất)
Trang 2821
Thứ hai, pháp luật về xử lý vi phạm hình chính trong lĩnh vực sử dụng đất
mang tính liên ngành luật Nó bao gồm quy phạm pháp luật của Luật Đất đai năm
2013, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định các hành
vi vi phạm hành chính cụ thể trong lĩnh vực sử dụng đất, chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất, các mức xử phạt cụ thể đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất v.v
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định các vấn đề chung về xử lý hành chính (trong đó có xử lý vi phạm hình chính trong lĩnh vực đất đai) như thời hiệu xử phạt, nguyên tắc xử phạt, đối tượng
và phạm vi áp dụng, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính v.v
Tính liên ngành luật của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất thể hiện khi áp dụng các mức xử phạt có thể đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của người sử dụng đất, cơ quan nhà nước,
cá nhân có thẩm quyền phải tuân thủ các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành về nguyên tắc xử lý, thời hiệu, đối tượng và thẩm quyền xử phạt v.v
Thứ ba, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất
Như phần trên đã phân tích, hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về đất đai, khiến việc sử dụng đất vượt khỏi quỹ đạo kiểm soát của Nhà nước và gây ra sự rối ren trong lĩnh vực đất đai Hậu quả là Nhà nước không quản lý được đất đai Để khôi phục lại trật tự quản lý bị xâm hại và duy trì kỷ cương, Nhà nước đưa ra các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm hành chính về đất đai của người sử dụng đất Mặt khác, thông qua việc bị áp dụng chế tài xử lý, người sử dụng đất có hành vi vi phạm hành chính về đất đai gánh chịu sự thiệt hại về kinh tế (bị phạt tiền hoặc tước giấy phép hành nghề tư vấn
Trang 2922
về giá đất) Họ nhận thức được rằng nếu không muốn chịu thiệt hại về kinh tế thì phải tuân thủ pháp luật và nếu vi phạm pháp luật đất đai sẽ phải chịu biện pháp trừng phạt của Nhà nước Từ đó ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất được hình thành và phát triển Thông qua việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất của Nhà nước giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đất đai cho các chủ thể khác trong xã hội
1.2.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất
1.2.3.1 Giai đoạn trước Đổi mới (trước năm 1986)
Quá trình hình thành và phát triển các quan hệ sở hữu và sử dụng đất đai ở nước ta gắn liền với sự phát triển của các nhà nước phong kiến trong lịch sử Ruộng đất thời kỳ phong kiến vừa thuộc sở hữu nhà nước, vừa thuộc sở hữu tư nhân; “trong các triều đại phong kiến ở nước ta, vừa có sở hữu đất đai của Nhà nước như quản điền, quản điền mà vua là người đại diện (nhưng vua không phải là chủ đất lớn nhất như ở phương Tây), vừa có sở hữu công xã về đất đai, vừa có sở hữu ruộng đất tư nhân” Để bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của mình, các nhà nước phong kiến đã có các quy định về xử lý vi phạm đất đai
Dưới triều nhà Lê, chính sách ruộng đất công được ban hành và thực thi Năm 1468, vua Lê Thánh Tông định ra lệ sử dụng ruộng đất công để làm lộc điền trả lương cho các quan Đặc biệt Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) năm 1442, Chương 6 gồm 59 điều về điền sản để quy định chế độ sở hữu, sử dụng và bảo vệ ruộng đất Trong đó có những quy định như: Cấm dân không được bán ruộng đất của công cấp cho hay ruộng đất khẩu phần (Điều 342); trừng phạt những người chiếm ruộng đất công quá số hạn định (Điều 343)… Mặc dù chế độ ruộng đất công được nhà nước phong kiến bảo hộ và phát triển mạnh mẽ, song bên cạnh đó còn tồn tại quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất Do sợ phát triển của sở hữu tư nhân ngày càng mạnh, Nhà nước không chỉ thừa nhân mà còn có chính sách bảo vệ hình thức sở hữu này Pháp luật nhà Lê trước hết bảo vệ quyền sở hữu đất đai của giai cấp địa chủ, phong kiến rất chặt chẽ với các hình thức xử phạt bằng
Trang 3023
tiền, biếm tư (hình thức hạ thấm tư cách của người bị phạt) hoặc bằng thích chữa vào mặt, cổ Các hành vi xâm chiếm hoặc bán trộm đất đai bị trừng phạt rất nặng Điều 357 Quốc triều hình luật quy định: Nếu xâm chiếm bờ cõi ruộng đất, nhỏ bỏ mốc giới của người khác hay tự mình lập ra mốc giới thì xử biếm 2 tư, nếu chặt tre,
gỗ trong vườn mộ địa của người khác thì xử biếm 1 tư và nộp tiền tạ lỗi 10 quan…(Điều 358) Pháp luật cũng bảo vệ quyền sở hữu đất đai hợp pháp của tư nhân và trừng phạt các hành vi xâm phạm Bán trộm ruộng đất của người khác thì
xử tội biếm, bán từ 10 mẫu trở lên thì xử tội đồ, trả tiền cho người mua và trả thêm một lần tiền mua nữa để trả cho người có ruộng đất và người mua mỗi người một phần, ruộng đất phải trả cho chủ cũ (Điều 382); người nào tranh giành nhà đất thì phải biếm 2 tư, nếu có chúc thư mà còn tranh giành thì cũng xử biếm như thể và phải tước mất cả phần của mình nữa (Điều 354); nếu khai man ruộng đất của người khác là của mình thì phải biếm 3 tư và phải trả tiền cho chủ cũ (Điều 353)…
Năm 1839 – 1840, Triều đình nhà Nguyễn thực hiện chính sách chia lại ruộng đất, vận động các điền chủ lớn hiến ruộng cho Nhà nước, nhà Nguyễn thực hiện thành công chính sách đất đai như: cấm các chủ sở hữu bỏ hoang ruộng, san sẻ ruộng đất của địa phương nhiều chia cho địa phương ít đất Ngoài ra, nhà Nguyễn còn thực hiện chính sách khai hoang lập ấp mới
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân pháp áp dụng pháp luật của mình để củng cố quyền sở hữu đất đai của tư bản Pháp ở Việt Nam ở Nam Kỳ - thuộc địa của Pháp – thì áp dụng pháp luật đất đai của Pháp; còn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ áp dụng theo quy định của Bộ luật Gia Long và theo phong tục, tập quán Đối với những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai thì không bị xử lý hình sự như thời phong kiến mà thường được xử lý bằng biện pháp hành chính, phạt tiền theo quy định của Bộ luật dân sự ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ
Từ năm 1945, khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (ngày 02/9/1945) Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về đất đai nhằm bảo vệ đất và sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao Các văn bản ra đời trong thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1981 chủ yếu hướng dẫn về việc sử dụng ruộng công và không cho phép để đất
Trang 3124
hoang hóa, khai man diện tích sử dụng, không được phép mua bán ruộng đất, lấn chiếm đất đai… và biện pháp xử lý chủ yếu là tuyên truyền, giáo dục, phê bình, tự phê bình, tự khắc phục các hành vi sai phạm, thu hồi đất hoặc phạt tiền Theo Điều thứ 5, Nghị định số 41/BKT ngày 15/11/1945 về kê khai cho mượn đất trồng màu:
“Các điền chủ có ruộng đất trồng màu phải khai với Ủy ban nhân dân xã, nếu không khai hoặc khai gian lận thì mỗi sào có thể bị phạt 50 đồng” Tiếp đó, n gày 24/9/1974, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 231-TTg về tăng cường quản lý ruộng đất, Chỉ thị xác định” “Công tác quản lý ruộng đất nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu xã hội chủ nghĩa, bảo vệ màu mỡ của ruộng đất, đồng thời bảo vệ những yêu cầu phát triển của các ngành là một nhiệm vụ rất cấp bách và quan trọng” Cần chặn đứng tệ lấn chiếm, giấu giếm, thu hồi đưa vào sản xuất tập thể những ruộng đất, quyền sở hữu xã hội chủ nghĩa bị tư nhân hay đơn vị lấn chiếm làm của riêng hoặc cho cấp, để lại làm của riêng sai chính sách Ngăn chặn tình trạng làm mất diện tích và độ màu mỡ của đất đai Nguyên tắc chung để xử lý
là không để một vi phạm pháp luật nào xảy ra mà không bị xử lý Về xử lý thì căn
cứ trường hợp cụ thể mà xử lý có lý, có tình theo đúng những điều quy định của Nhà nước Đối với ruộng đất bị lấn chiếm hoặc sử dụng trái pháp luật thì yêu cầu cơ bản nhất là thông qua phương phát tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phê bình, tự phê bình, vận động người làm sai tự động sửa, giao trả lại đất nhưng nếu sai mà không chịu sửa thì phải cưỡng bức sửa chữa đúng theo các điều quy định của Nhà nước Những đất nào có quyết định thu hồi thi kiên quyết khẩn trương thu lại, giao cho hợp tác xã hoặc nông trường sản xuất ngay Đối với ruộng đất của nông trường, hợp tác xã, các cơ quan, xí nghiệp nhà nước bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý sử dụng đúng chế độ, chính sách của Nhà nước
Sau khi cả nước thống nhất (tháng 4/1974), ngày 01/7/1980, Hội đồng chính phủ (sau này là Chính phủ) ra Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Tại mục VI-4
của Quyết định này quy định: Nếu phát hiện có việc lấn chiếm ruộng đất, sử dụng
Trang 3225
ruộng đất không đúng mục đích được giao, vượt diện tích được giao hoặc những vi phạm nghiêm trọng khác, cơ quan quản lý ruộng đất ra quyết định tạm thời đình chỉ việc sử dụng đất (đình chỉ sử dụng toàn bộ hoặc một phần diện tích sử dụng đất được sử dụng tùy theo mức độ vi phạm nghiêm trọng nhiều hay ít hoặc quyết định thu hồi đất được ủy nhiệm) Cũng trong quyết định này, các hình phạt đối với người
sử dụng ruộng đất có hành vi vi phạm được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, tuy theo mức độ vi phạm mà xử phạt như sau: cảnh cáo hoặc phạt tiền; buộc phải sửa chữa những hậu quả và bồi thường những thiệt hại do việc vi phạm gây ra, bị thu hồi đất Nếu người sử dụng đất là cơ quan, tổ chức thì ngoài việc cơ quan tổ chức bị xử phạt, người chịu trách nhiệm chủ yếu trước cơ quan, tổ chức về những vi phạm đó
có thể bị thi hành kỷ luật hoặc có nghĩa vụ chịu phạt một phần số tiền cơ quan, tổ chức vi phạm pháp luật đất đai phải chịu phạt Hơn nữa, Quyết định này quy định rõ: người nào lấn chiếm ruộng đất của người khác đã bị xử phạt hành chính mà cố tình tái phạm hoặc người nào có ý phá hoại các công trình bảo vệ, cải tạo đất, gây tổn hại nghiêm trọng đến đất đai…thì bị truy tố trước tòa án và bị xử lý theo Luật hình sự hiện hành Nói chung, các hình thức xử phat của Quyết định số 201/CP là những chế tài hành chính, trong đó hình thức xử phạt cao nhất đối với người sử dụng đất là thu hồi đất Quyết định số 201/CP cũng quy định cụ thể các trường hợp
vi phạm sẽ bị truy tố trước tòa án và bị xử phạt theo Luật hình sự hiện hành
Tóm lại: Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ở giai đoạn trước năm
1986 dường như còn quy định chưa toàn diện, đầy đủ Những hành vi vi phạm trong
sử dụng ruộng đất chủ yếu là lấn chiếm, bỏ hoang, mua bán đất đai… Hình thức xử phạt cũng thay đổi qua từng thời kỳ Thời kỳ phong kiến chủ yếu bằng các hình phạt nghiêm khắc như: thích chữ vào mặt, cổ hoặc biếm tư (hình phạt hạ nhân cách của người bị phạt) Ở giai đoạn từ năm 1945 – 1980, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất đai được ban hành đầy đủ, đồng bộ hơn với hình thức xử lý chủ yếu là trách nhiệm hành chính đối với người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai
1.2.3.2 Giai đoạn sau Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
Trang 3326
Mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa được xây dựng dựa trên cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, kế hoạch cao độ đã không chú trọng đúng mức đến lợi ích của người lao động dẫn đến năng suất lao động bị giảm sút nghiêm trọng và xã hội rơi vào khủng hoảng Để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã khởi sướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường Trước yêu cầu đổi mới đòi hỏi đất đai phải được quản lý một cách toàn diện bằng pháp luật Ngày 29/12/1987, Luật Đất đai đầu tiên của nước ta ra đời Đạo luật này quy định một chương riêng dành cho khen thưởng và xử phạt hành vi bị coi là vi phạm pháp luật của người sử dụng đất, bao gồm: mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô, hủy hoại đất đai… Những hành vi vi phạm này bị xử phạt hành chính bằng một hoặc nhiều hình thức: cảnh cáo, phạt tiền từ 20% đến 30% giá trị thiệt hại do việc vi phạm gây ra, tịch thu toàn bộ tiền mua bán đất, thu hồi phần đất sử dụng trái phép Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị
xử phạt theo Bộ luật hình sự (Điều 53) Luật Đất đai năm 1987 ra đời trong những năm đầu đổi mới nên còn mang dấu ấn của cơ chế bao cấp, qua 6 năm thi hành cho thấy nhiều quy định của đạo Luật này không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước trong điều kiện thể chế kinh tế thị trường ngày càng được xác lập đồng bộ Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993 thay thế Luật Đất đai năm
1987 như là một đòi hỏi tất yếu của sự vận động, phát triển của cuộc sống Luật đất đai năm 1992 cũng có các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đấi đai Những hành
vi lấn chiếm, chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật đề bị xử lý hành chính Trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị xử lý theo Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 1985 về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai Cụ thể hóa các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đất đai, ngày 10/01/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP về xử lý vi phạm hành chính trong quản lý và sử dụng đất Nghị định này đề cập tương đối toàn diện
Trang 3528
29/10/2014 (sau đây gọi là Nghị định số 105/2009/NĐ-CP) Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ra đời đã quy định cụ thể hơn về đối tượng áp dụng, hình thức, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục… theo đó, ngoài hình thức xử phạt bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP còn bổ sung hình thức xử phạt là tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề định giá, cấm hành nghề tư vấn và lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Về biện pháp khắc phúc hậu quả, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP bổ sung các biện pháp: Buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất thải vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn bằng chuyển quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm; buộc phải thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của Luật đất đai… Quy định mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm được sửa đổi bằng việc nâng mức xử phạt tiền lên mức xử phạt cao nhất là 500 triệu đồng Hơn nữa Nghị định số 105/2009/NĐ-CP xác lập nguyên tắc giá trị quy đổi quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền để áp dụng biện pháp xử lý chính xác và phù hợp hơn… Trong thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi với và hội nhập quốc tế, Luật đất đai năm 2003 có một số quy định bộc lộ sự hạn chế trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước Vì vậy ngày 29/11/2014 Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua Luật đất đai năm 2013 thay thế Luật đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật đấi đai và Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã có các quy định về xử lý vi phạm hành chính về đất đai Về cơ bản, các văn bản pháp luật này kế thừa những quy định hợp lý của Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, đồng thời có sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhưng tăng thẩm quyền xử phạt tiền của Chủ tịch UBND cấp xã lên đến 05 triệu đồng; bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam…
Trang 3629
Kết luận Chương 1
1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất là hành vi trái pháp luật của người sử dụng đất được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm quyền sở hữu toàn dân về đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất khác cũng như chế độ sử dụng các loại đất Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất là phản ứng tất yếu của Nhà nước nhằm khôi phục lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực đất đai với những chế tài, mức xử phạt cụ thể đối với những hành vi vi phạm
2 Để tránh sự tùy tiện, lạm dụng việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất từ phía cơ quan công quyền và đảm bảo sự thống nhất, công bằng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất ra đời Lĩnh vực pháp luật này là một bộ phận của pháp luật đất đai và có tính liên ngành luật Nó bao gồm các quy phạm pháp luật đất đai về thẩm quyền, mức xử phạt cụ thể đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất…và các quy phạm pháp luật xử
lý vi phạm hành chính về thời hiệu xử phạt, nguyên tắc xử phạt, các biện pháp xử phạt hành chính…
3 Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất luôn được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện qua các thời kỳ nhằm đấu tranh có hiệu quả với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất; đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Lĩnh vực pháp luật này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, duy trì trật tự, kỷ cương trong
sử dụng đất mà còn tác động tích cực đến ý thức chấp hành pháp luật đất đai của người sử dụng đất ở nước ta
Trang 3730
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HƯNG YÊN 2.1 Nội dung của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sử dụng đất
2.1.1 Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
2.1.1.1 Nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm khi chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Thứ nhất, đối với hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng
sang đất trong cây lâu năm, đất trồng rừng thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Một là, phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta
Hai là, phạt tiền từ trên 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên
Thứ hai, đối với hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng
sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Một là, phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta
Hai là, phạt tiền từ trên 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên
Thứ ba, đối với hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng
sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Trang 3831
Một là, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta
Hai là, phạt tiền từ trên 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên
Thứ tư, biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
Một là, buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành
vi vi phạ hành chính khi chuyển mục đích sự dụng sang đất trong cây lâu năm, đất trồng rừng; hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp;
Hai là, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi
phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng; hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; hành vi vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
2.1.3.2 Nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạ hành chính khi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Thứ nhất, đối với hành vi chuyển mục đích sự dụng sang đất trồng cây hàng
năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác thì hình thức và mức phạt như sau:
Một là, phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 05 héc ta
Hai là, phạt tiền từ trên 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 05 héc ta đến dưới 10 héc ta
Trang 3932
Ba là, phạt tiền từ trên 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 10 héc ta trở lên
Thứ hai, đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Một là, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 05 héc ta
Hai là, phạt tiền từ trên 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 05 héc ta đến dưới 10 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 10 héc ta trở lên
Thứ ba, biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
Một là, buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành
vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất phi nông nghiệp khác, hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
Hai là, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi
phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác; hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
2.1.1.2 Nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Thứ nhất, đối với hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng
đất trồng cây hàng năm sang đất nôi trồng thủy sản nước mặt, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Trang 4033
Một là, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 01 triệu đồng
nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta
Hai là, phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên
Thứ hai, đối với hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng
đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:
Một là, phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta
Hai là, phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng nếu diện tích đất chuyển
mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta
Ba là, phạt tiền từ trên 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu diện tích đất
chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên
Thứ ba, biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm
Một là, buộc khôi phục lại tình trạng của dất trước khi vi phạm đối với hành
vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm; hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp
Hai là, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi
phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức
ao, hồ, đầm; hành vi vi phạm hành chính về chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp