1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ văn huỳnh thúc kháng trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam

114 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 7,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những nhà nho chí sĩ coi văn chương là một vũ khí lợi hại để đấu tranh với kẻ thù ấy, Huỳnh Thúc Kháng và sự nghiệp văn học của ông gắn bó chặt chẽ với những biến động của thời

Trang 1

-VŨ THỊ VÂN

THƠ VĂN HUỲNH THÚC KHÁNG TRONG TIẾN TRÌNH

HIỆN ĐẠI HOÁ VĂN HỌC VIỆT NAM

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Trang 2

Lời cảm ơn !

Lời đầu luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới PGS – TS Trần Ngọc Vương – người thầy đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tới nhà nghiên cứu Chương Thâu, nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh - Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới song thân và gia đình tôi, bạn bè tôi đã tạo điều kiện về thời gian và động viên về tinh thần để tôi hoàn thiện luận văn này

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Phần một : Mở đầu 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 4

4 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5

6 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 : Con người và sự nghiệp 7

1 Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng 7

2 Con người và sự nghiệp 10 Chương 2 : Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng 19

1 Giai đoạn 1 : trước năm 1908 24

Trang 4

Chương 3 : Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá 62 văn học Việt Nam

1 Tổng quan về sự vận động của nền văn học Việt Nam 63 những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

2 Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá văn học 67 Việt Nam

Trang 5

PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình chuyển biến từ xã hội phong kiến cổ truyền phương Đông sang xã hội cận hiện đại tư sản phương Tây Đó là bước chuyển cực kì sâu sắc cả về thời gian lẫn không gian lịch sử Sự thay đổi này xảy ra sớm nhất và nổi bật nhất trong phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều xu hướng mang tính chất cải cách Điểm mới là các phong trào cách mạng này đều

do các sĩ phu nặng lòng trung nghĩa khởi xướng và nó đã diễn ra mạnh mẽ, công khai, mượn hình thức của một cuộc vận động văn hoá và dùng văn chương làm công cụ tuyên truyền Đó chính là không gian tư tưởng và không khí văn chương để các nhà nho chí sĩ xuất hiện trên văn đàn Việt Nam

Trong sự vận động của văn học đầu thế kỉ, từ một nền văn học trung đại mang tính khu vực, văn học Việt Nam bắt đầu chuyển dần từng bước sang nền văn học hiện đại mang tính quốc tế với những tên tuổi lớn như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhà yêu nước khác Vốn là những học trò ưu tú của Nho môn trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động,

hơn ai hết họ thấm nhuần lí tưởng “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”

Lí tưởng nam nhi, tinh thần tự nhiệm, sự xuất hiện của trách nhiệm công dân của các nhà nho chí sĩ hồi đầu thế kỉ đã tạo ra “những vùng, những mảng mờ trong tư tưởng, tư duy nghệ thuật với những nỗ lực cách tân to lớn” Trong số những nhà nho chí sĩ coi văn chương là một vũ khí lợi hại để đấu tranh với kẻ thù ấy, Huỳnh Thúc Kháng và sự nghiệp văn học của ông gắn bó chặt chẽ với những biến động của thời đại và phản ánh rõ nét không khí thời đại cũng như

Trang 6

khuynh hướng vận động của văn học Việt Nam trong giai đoạn giao thời nhạy cảm ấy Nói đúng hơn, Huỳnh Thúc Kháng từ một nhà nho đã vươn lên trở thành một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX, đồng thời là một tác gia văn học tiêu biểu và quyền uy của văn học Việt Nam giai đoạn đó Chúng tôi nhận thấy ở Huỳnh Thúc Kháng hội

tụ đầy đủ đặc điểm của một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của thế

hệ ông :

Thứ nhất, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại một văn nghiệp khá đồ sộ thuộc nhiều thể loại khác nhau, từ thơ, phú (chữ Hán, chữ quốc ngữ), điếu, văn xã thuyết, phê bình, dịch thuật,… quan trọng hơn là khi khảo sát thơ văn ông chúng tôi thấy ông đóng một vai trò rất quan trọng, là một trong những người tiên phong và quyền uy nhất trong quỹ đạo vận động của văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại tiến dần sang phạm trù hiện đại, hội nhập vào quỹ đạo văn học thế giới hai mươi, ba mươi năm đầu thế kỉ XX Chính những nhà nho chí sĩ đầu thế kỉ mà tiểu biểu là Huỳnh Thúc Kháng đã làm nên một diện mạo mới

cho văn học Việt Nam, đồng thời tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của hình tượng “cái

tôi” trong thơ ca Việt Nam

Thứ hai, trong số những nhà nho chí sĩ nhập thế bằng con đường lập ngôn, sáng tác văn chương đương thời, Huỳnh Thúc Kháng là một trong số không nhiều người tiến xa nhất trong văn nghiệp : hoạt động trên một mặt trận rất mới, rất “hiện đại” là báo chí, viết phê bình, dịch thuật,… hơn thế nữa, ông là người duy nhất trong số họ mà sự nghiệp hoạt động cách mạng cũng như văn nghiệp đến được với cách mạng tháng Tám và những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Sự hiện diện của một lão thành cách mạng, một cựu “quốc sự phạm”, một nhà văn nhà thơ mà nhân cách và tài năng đã được nhân dân ghi nhận và ngưỡng vọng giữa văn đàn trong một bối cảnh lịch sử mới chắc hẳn sẽ

Trang 7

đem đến những ảnh hưởng có tác động tích cực đối với sự phát triển của văn học Việt Nam

Với những lí do kể trên cùng với mong muốn bổ sung thêm một tên tuổi

lớn nhưng vì những lí do nào đó còn bị khuất lấp vào đội ngũ những nhà văn – chí sĩ tiêu biểu hồi đầu thế kỉ, người viết lựa chọn đề tài này với hi vọng bước đầu tìm hiểu về sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng – một trong những nhà hoạt động cách mạng chân chính và nổi bật vào bậc nhất trong 30 năm đầu thế kỉ

XX Những năm qua chúng ta đã nghiên cứu thơ văn và trả lại vị trí xứng đáng cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… thì không có lí do gì chúng ta không đặt ra vấn đề nghiên cứu Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một tác giả văn học, một nhà văn hoá tiêu biểu của dòng văn học yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ trên cả hai phương diện những đóng góp tích cực vào tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà cũng như những điểm hạn chế làm cản trở

sự vận động của văn học Việt Nam những năm hai mươi, ba mươi của thế

kỉ XX

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Như trên đã trình bày, trong quá trình hoạt động cách mạng, để phục vụ cho mục đích chính trị, Huỳnh Thúc Kháng cũng như nhiều nhà cách mạng đương thời đã sử dụng văn chương như một phương tiện đấu tranh đắc lực

Song, nói như thế đúng nhưng vẫn chưa đủ, còn phải là họ làm chính trị bằng

văn chương Chính vì thế mà các sáng tác của họ gắn liền với những thăng trầm của lịch sử và đời sống văn hoá, xã hội

Trong quá trình tìm hiểu trước tác của Huỳnh Thúc Kháng chúng tôi nhận thấy : ông có một sức viết không thể xem thường ở nhiều thể loại và với nhiều bút danh khác nhau Tuy nhiên, để làm rõ về vai trò của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong phạm vi giới hạn

Trang 8

của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những đóng góp của nhà chí sĩ

ở các phương diện : ý thức cá nhân nghệ sĩ, quan điểm thẫm mĩ, hệ thống hình tượng, thể loại, ngôn ngữ văn học,… biểu hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu

ở mỗi giai đoạn sáng tác của ông

Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát trước tác của Huỳnh Thúc Kháng

trên quan điểm khách quan hoá sự nghiệp văn học của ông, từ đó đi đến những

đánh giá khách quan giá trị thơ văn Huỳnh Thúc Kháng cả về những đóng góp tích cực cũng như những hạn chế, thậm chí kìm hãm, nhất là khi đặt nó vào quỹ đạo vận động của văn học sử nước nhà đầu thế kỉ XX

3 Mục đích, Ý nghĩa của đề tài

Trên quan điểm xem xét những đóng góp của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng đối với tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong những thập niên đầu thế

kỉ XX, tác giả luận văn mong muốn làm sáng tỏ những đóng góp cũng như

nhấn mạnh tác động (cả tích cực lẫn hạn chế, thậm chí là kìm hãm) của thơ văn

Huỳnh Thúc Kháng về mặt nội dung cũng như về nghệ thuật đến sự hình thành của văn học hiện đại, qua đó khẳng định vị trí của ông với tư cách là một tác giả văn học, một nhà văn hoá tiêu biểu trong 30 năm đầu thế kỉ

Luận văn không mong muốn gì hơn là qua việc khảo sát và sự tìm tòi nghiêm túc của mình, trả lại cho thơ văn Huỳnh Thúc Kháng một vị trí xứng đáng và khách quan trong lịch sử văn học (chứ không phải là trong lịch sử chính trị), qua đó, mong muốn tạo điều kiện cho những người tiếp theo nghiên cứu

sâu hơn thơ văn Huỳnh Thúc Kháng

4 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, nếu như việc nghiên cứu về vai trò, vị trí của Huỳnh Thúc Kháng trên phương diện lịch sử – chính trị đã được khẳng định, thì ở phương

Trang 9

diện sáng tác văn chương đều chưa được thoả đáng, còn có phần phiến diện Ví

dụ như tác giả Vương Đình Quang ngay trong công trình Thơ văn Huỳnh Thúc

Kháng đã nhận xét : “… Cái phần để cho người ta thừa nhận Huỳnh Thúc Kháng là một nhà văn theo quan điểm văn học, mĩ học không có mấy…” Ngoài một số công trình sưu tầm, tuyển chọn các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng,

phổ biến nhất là cuốn Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng chọn lọc của nhà nghiên cứu Chương Thâu và Huỳnh Thúc Kháng – tác giả, tác phẩm của Nguyễn Q

Thắng, ngoài ra chưa có một công trình nghiên cứu khoa học kĩ càng và nghiêm túc nào về văn nghiệp cũng như đưa ra những đánh giá về đóng góp của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng đối với sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỉ Trong chương trình Văn học ở nhà trường phổ thông cũng không có tác phẩm nào của ông, còn các khoá luận, luận văn trong trường đại học hay những chuyên luận về thơ văn Huỳnh Thúc Kháng cũng gần như vắng bóng Đó là một thực trạng đáng phải xem xét lại, nhất là khi đặt các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam những thập niên đầu thế

kỉ XX

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài luận văn này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như : Phương pháp thống

kê, phân loại ; phương pháp đối chiếu, so sánh ; phương pháp đồng đại, lịch đại; phương pháp phân tích, tổng hợp ; phương pháp lịch sử – cụ thể Tuỳ từng vấn

đề đưa ra mà chúng tôi sử dụng một hay kết hợp một vài phương pháp với nhau

để đạt hiệu quả biểu đạt tốt nhất

6 Cấu trúc luận văn

Chúng tôi trình bày luận văn với 4 phần chính:

- Phần I : Phần Mở đầu

Trang 10

- Phần II : Phần Nội dung gồm 3 chương :

+ Chương 1 : Con người và sự nghiệp

+ Chương 2 : Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng

+ Chương 3 : Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá văn học

Trang 11

PHẦN HAI : NỘI DUNG

Chương 1 CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

1 Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng

Quảng Nam – quê hương nhà chí sĩ thường được hình dung như là điểm giữa của chiếc đòn gánh – miền Trung, nơi mà bao đời phải oằn mình gánh hai thúng gạo ở hai đầu là hai miền Nam – Bắc Đó còn là nơi thường xuyên hứng chịu những hà khắc của thiên nhiên, khí hậu Theo Nguyễn Q Thắng, làng quê nơi Huỳnh Thúc Kháng sinh ra và sống trọn vẹn trong thời niên thiếu là một làng hẻo lánh thuộc miền “nguồn” tây nam xứ Quảng, chung quanh đều rừng núi khô cằn Đây là một miền cách trở mọi giao thông, liên lạc với bên ngoài, nhân dân trong làng quanh năm phải lăn lộn trong cảnh sống “Lam sơn chướng khí” Những nét phác hoạ trên đã phần nào lí giải được cốt cách, tình cảm con người xứ Quảng nói chung, và con người Huỳnh Thúc Kháng nói riêng Đó là tính chịu thương chịu khó, can đảm, sẵn sàng làm việc nghĩa nhưng cũng lại là người “khô khan, tằn tiện, ương ngạnh, khảng khái, ” Chính Huỳnh Thúc

Kháng trong một lần tự họa chân dung mình đã thẳng thắn nói : “Tôi, một anh

học trò, gốc sanh trưởng nhà nông nghèo trong thôn quê, đã là cái hoàn cảnh phác dã, thô vụng, khô khan, quê kệch, gia dĩ trời phú ham mê về sự học, nửa

đời người tôi, ngoài thơ văn sách vở ra, gần như không có cái gì gọi là

“mĩ cảm”

Trang 12

Nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, ngay từ những năm cuối thế kỉ XIX khi thực dân Pháp bắt đầu vào xâm lược nước ta, Nghệ – Tĩnh và Nam – Ngãi đã trở thành một “địa chỉ đỏ”, nơi xuất thân của rất nhiều lãnh tụ các cuộc khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu nhất là hai chí sĩ họ Phan : Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Hai vùng ấy cũng là những địa bàn diễn ra nhiều phong trào yêu nước và cách mạng nhất trong cả ba xứ, “kể cả khi các hoạt động cụ thể diễn ra trên một địa chỉ khác thì các chí sĩ của Nghệ – Tĩnh và Nam – Ngãi vẫn có một địa vị ít nhiều nổi trội” “Nam – Ngãi và Nghệ – Tĩnh từ lúc nổ ra cuộc xâm lược và chống xâm lược Pháp vốn thường xuyên là những địa danh nổi tiếng cả nước về sự “ngạnh trực”, những nơi mà từ sĩ phu, thân hào cho đến người bình dân cùng đều nhiệt tình với quốc sự, hay có ý kiến khác, nhiều trường hợp là ngược lại với “sự chỉ đạo của cấp trên”, thậm chí ngược cả với ý chỉ của vua” [39]

Cốt cách xứ Quảng dường như đã nhiễm rất sâu vào Huỳnh Thúc Kháng, đến mức mà khi đi tìm lời giải đáp cho cá tính và cốt cách của nhà chí sĩ, người

ta thường tìm về cội nguồn quê hương, mảnh đất Quảng Nam “Lam sơn chướng khí” nhưng cũng là nơi sản sinh ra những nhân vật kiệt hiệt nhất trong thời đại

“mưa Âu gió Á”, cái “thế cục” đang quăng quật và rắp tâm vùi dập những kiếp người, và cao hơn, hạ gục cả một dân tộc giàu truyền thống Ở một bình diện nào đó, chúng ta có thể nói rằng, chính những biến loạn của đất nước, cùng sự thất bại “đầu rơi, máu chảy” của Nghĩa hội Quảng Nam hoạt động trong phong trào Cần vương mà ông tận mắt được chứng kiến từ thuở thiếu niên là một trong những yếu tố đẩy những nhà nho giàu tâm huyết và tinh thần tự nhiệm như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… “phải hiện diện giữa vòng xoáy của những cơn lốc ấy” với mong muốn tìm được một phương kế cho con đường giải phóng dân tộc

Trang 13

Là người con ưu tú của quê hương Nam – Ngãi, ngay từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã ham học, thông hiểu học thuyết của Nho gia Tinh thần “khắc kỉ phục lễ” được ông tiếp thu và thực hành đến mức sâu đậm Chính điều này đã tạo nên một Huỳnh Thúc Kháng vừa hết sức trang nghiêm, cẩn trọng, cương quyết, chân thành nhưng cũng lại tới tận mức bảo thủ, ương ngạnh, Đó chính là những nét tiêu biểu nhưng cũng là những điểm hạn chế trong tính cách con người Huỳnh Thúc Kháng Từ những nét phác thảo trên ta thêm hiểu, vì sao trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà chí sĩ, dù luôn bị thực dân Pháp và tay sai tìm cách cám dỗ, mua chuộc ông vẫn vững vàng, kiên trung trên trận tuyến đầu trong cuộc chiến đấu chống quân thù, vẫn được quốc dân đồng bào ta ngưỡng vọng, hướng đến như một trong ít tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong số những nho sĩ yêu nước tiêu biểu đầu thế kỉ XX

Có thể nói, trong cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như trong sáng tác văn học, Huỳnh Thúc Kháng đã luôn đứng ở vị trí trung tâm của cơn bão thời đại, trung tâm của công cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc và là một trong những cây bút tiêu biểu, quyền uy nhất trong số những nhà nho chí sĩ chọn con đường lập ngôn làm con đường nhập thế và tham gia tích cực vào quỹ đạo hiện đại hoá văn học nước nhà như một trong những cây bút tiên phong.Cuộc đời ông, sự nghiệp sáng tác văn chương của ông là một minh chứng đầy

đủ nhất cho quan niệm :

Giàu sang lợi lộc đừng ham

Chông gai, cay đắng cũng cam một bề

Nét tính cách này in đậm trong con người thường nhật của ông và cũng là

cơ sở để ta nói rằng nó in đậm trong dấu ấn sáng tạo văn chương của Huỳnh Thúc Kháng Ở chương sau của luận văn này chúng tôi sẽ có dịp đề cập sâu hơn vấn đề này

Trang 14

2 Con người và sự nghiệp

Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) còn có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh, hiệu Minh Viên, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam Tổ tiên ông vốn là người Bắc vào xứ Quảng lập nghiệp từ thế

kỉ XIV, XV và chỉ đơn thuần làm nghê nông Tuy xuất thân từ gia đình nhiều đời làm nông, nhưng thân sinh Huỳnh Thúc Kháng lại mang giấc mộng khoa

cử, đi thi vài lần nhưng không đỗ đạt gì, thêm vào đó những biến cố đau lòng của gia đình sau sự ra đi của hai người anh trai vốn nổi tiếng thông minh, ham học hỏi là những nguyên nhân thúc giục Huỳnh Thúc Kháng khắc kỉ đến cùng

để theo đuổi nghiệp khoa cử, “trải trên 20 năm như một ngày theo khuôn khổ nghiêm huấn không lúc nào sai” Chính nỗ lực không ngừng nghỉ ấy mà ngay từ

nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi danh là một trong tam hùng xứ Quảng (Huỳnh

Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu) Tuy vậy, mãi đến năm 29 tuổi (1904) ông mới đỗ tiến sĩ nhưng lại không lựa chọn con đường hoạn lộ mà cùng với các bạn đồng chí hướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, rẽ sang một hướng khác nhiều gian nan, cực nhọc hơn nhưng tiếng thơm lưu lại đến muôn đời : con đường hoạt động cách mạng

Những năm cuối thế kỉ XIX, đất nước ta gần như chìm đắm trong vòng nô dịch cuả thực dân Pháp Những biến động lớn lao trong đời sống xã hội cùng những biến cố từ bên ngoài bằng nhiều con đường được đưa vào Việt Nam đã thúc giục những nhân sĩ tâm huyết với dân tộc không thể mãi khoanh tay nhìn đất nước trong cảnh lầm than, cơ cực Để cứu đất nước ra khỏi thực trạng bi thảm ấy, họ phải nhập cuộc với tất cả sự tự giác và nghị lực phi thường Trong

số không ít những khả năng hành chỉ đương thời, duy tân, tự cường là con đường được những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp lựa chọn và theo đuổi

Trang 15

Đỗ đạt theo đúng ước nguyện thân phụ hằng gửi gắm nhưng khá đột ngột khi Huỳnh Thúc Kháng rẽ sang một bước ngoặt khác mà không vì bất kì một biến cố hay áp lực bên ngoài nào tác động vào Đây là một sự lựa chọn dũng cảm, hoàn toàn chủ động có ý thức và có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ đối với

sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng mà còn đối với lịch sử dân tộc trong một giai đoạn có nhiều biến động lớn lao đầu thế kỉ XX Sự kiện quan trọng này đã được lịch sử ghi nhận : “Người đỗ đạt mà không ra làm quan thì không phải đến thời điểm này mới có, nhưng đỗ chính thức đại khoa mà không ra làm quan thì những người như vậy trong lịch sử khoa cử Việt Nam không nhiều Trước Nguyễn Thượng Hiền, tôi không nhớ được có yếu nhân nào đã từng làm như thế Sau Nguyễn Thượng Hiền, giờ tới lượt hai ông, nghè Ngô và nghè Huỳnh – những người cùng trang lứa (Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, Ngô Đức Kế sinh năm 1878), cùng tâm trạng và rồi, sẽ cùng chung nhiều chặng của số phận” [39]

Cuộc tiếp xúc với các sách báo Tân thư, Tân văn từ phương Tây đưa vào,

từ Trung Quốc đưa sang dường như ngay lập tức có tác động mạnh mẽ khiến nhà chí sĩ đi đến một quyết định dứt khoát, cùng các đồng chí thực hiện nam du kêu gọi bài xích lối học khoa cử cũ, đả kích chế độ quân chủ, đề xướng tân học,

… Phong trào Duy tân mà Huỳnh Thúc Kháng là một trong ba lãnh tụ đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Kì, nó cho thấy những lời kêu gọi có tính chất hoà bình của một cuộc vận động xã hội để thức tỉnh, giục giã nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng lối sống mới của các ông một khi đã đi vào lòng quần chúng, tới tận từng thôn xóm sẽ làm bùng phát các làn sóng đấu tranh xã hội, kích thích họ nổi dậy thành những phong trào có tính chất bạo lực cách mạng,

dù chỉ là đấu tranh tự phát nhưng những phong trào ấy đã góp phần không nhỏ làm thay đổi tính chất và mục tiêu các phong trào đấu tranh đang có phần im ắng lúc bấy giờ - một không khí mà như Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Paul

Trang 16

Doumer trong bức thư gửi về nước đã viết : “Từ năm 1897 đến nay không hề có một tên lính nào chết vì trận mạc ở Đông Dương1”

Trong Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, tác giả đã viết rằng : “Thành Thái

năm thứ 18 (Bính Ngọ – 1906), nửa năm đầu dạy học tại làng Mỹ An trong tổng; kế đó cùng các thân hào bằng hữu đề xướng chung vốn lập thương cuộc tại các phố (Hội An – Faifoo) cùng lập trường học, hội nông, trồng quế,… Tùy theo phong khí biến đổi trong nước, nào ăn mặc theo Âu Tây, cúp tóc náo nhiệt một thời, khiến cho bọn thủ cựu ngó nghiêng cặp mắt”

Như vậy, những nỗ lực hoạt động của bộ ba hào kiệt xứ Quảng đã thu được ít nhiều thành quả, chỉ trong một thời gian ngắn họ đã vươn lên trở thành những lãnh tụ của một trong hai khuynh hướng cách mạng tiêu biểu nhất thời kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX

Những hoạt động cách mạng mang tính chất ôn hòa của các ông đã tạo nên những phong trào đấu tranh rộng rãi của quần chúng nhân dân Phong trào chống sưu bùng nổ ở Quảng Nam và sau đó lan rộng ra khắp dải đất từ Hà Tĩnh vào Bình Định, lan sâu vào cả những thôn làng miền ngược hẻo lánh (năm 1908) khiến thực dân Pháp nhận ra rằng những lời “huyết lệ” ấy của các sĩ phu yêu nước, một khi được truyền rộng và thấm sâu vào ý thức quần chúng nhân dân thì có thể tác động tới trái tim và khối óc, thôi thúc họ hành động tạo nên những phong trào có tính chất bạo động đáng sợ Chính vì lẽ đó, các chí sĩ hiển nhiên trở thành cái gai mà bọn thực dân và tay sai không thể làm ngơ, chúng phải hành động Hàng loạt sĩ phu yêu nước mà đứng đầu là những lãnh tụ của phong trào Duy Tân phải nhận án lưu đày Côn Đảo Trần Quý Cáp đang làm

Trên thực tế, ngay từ khi mới đặt được ách thống trị trên đất nước ta, để thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp đã chia Việt Nam thành ba xứ : Trung Kì – Cochinchine, Bắc Kì – Tonkin, Nam Kì – Basse – Cochinchine)

Trang 17

giáo thụ ở Khánh Hòa phải lên đoạn đầu đài, Huỳnh Thúc Kháng và cả Phan Châu Trinh (khi đó đang ở Hà Nội) phải chịu án lưu đày, “ngộ xá bất nguyên” trở thành một trong những “đệ nhất tù nhân” của “địa ngục trần gian” Côn Đảo Năm 1921, sau 13 năm bị lưu đày Huỳnh Thúc Kháng và một số bạn tù được mãn hạn Trở về từ “trường học thiên nhiên” Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng càng trở nên già dặn, kiên trung, đến mức dù sống trong lòng nghi kị của một số bạn hữu cũ, dù trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng khi thực dân Pháp đưa quan chức, bổng lộc ra làm mồi nhử thì ông vẫn rất mực tỏ thái độ bất hợp tác “Sau khi nhận trát, liền viết đơn từ chức, nhờ Huyện chuyển đạt, trong đó

có câu : “Ngày trước từ chức Giáo thọ Điện Bàn, đã sinh ra lụy lớn tới thân gia, nay nhận chức thuộc viên tại Cổ Học, còn mặt mũi nào ? Chỉ vì 60 đồng bạc lương, đem cán bút cùn mơ mộng cảnh hoa tàn còn trở lại, nhìn lại trên mười ba năm tù đày sống thừa, hai mái tóc rối bù, há dám lò đầu ra khỏi núi” [19, tr.60] Tưởng như chấp nhận cuộc sống “nằm im ngắm thời cuộc, giữ thái độ trầm mặc” trong suốt quãng đời còn lại thì vào năm 1926, thực hiện “chính sách ve vãn thuộc địa”, thực dân Pháp chủ trương cải tổ Hội đồng Tư phỏng thành Viện Nhân dân đại biểu (gọi tắt là Viện dân biểu), Huỳnh Thúc Kháng ra ứng cử và trúng cử, rồi được bầu làm Viện trưởng Viện dân biểu

Ngay từ khi mới được bầu làm Viện trưởng, Huỳnh Thúc Kháng đã tranh thủ sự hợp pháp này để đấu tranh công khai đưa ra một số yêu sách đòi mở rộng dân chủ, thực hiện những chính sách mà chính quyền thuộc địa đã hứa hẹn Những hoạt động mà Huỳnh Thúc Kháng thực hiện trong thời gian này đã một lần nữa cho thấy nhiệt huyết cách mạng, lòng yêu nước mãnh liệt của một trong những lãnh tụ cách mạng kiệt hiệt đầu thế kỉ XX

Với nhãn giới chính trị sắc bén của mình, Huỳnh Thúc Kháng nhận thấy rằng trong vòng xoáy của bão táp thời đại lúc bấy giờ, một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu như nước ta không thể đủ sức chống lại một nước phương Tây hùng mạnh

Trang 18

Ông trăn trở và nhận thấy rằng, đấu tranh văn hóa là một trong những con đường hứa hẹn mang lại thành công cho sự nghiệp cứu nước Làm Viện trưởng Viện dân biểu để đại diện cho nhân dân nói lên những quyền lợi của mình,

thành lập Công ty Huỳnh Thúc Kháng chuyên về In và báo chí, ra đời báo Tiếng

Dân (10 – 08 – 1927), đó là một bước rẽ lịch sử đánh dấu một bước chuyển mới cao hơn về chất, quyết liệt hơn về tư tưởng của nhà chí sĩ họ Huỳnh Sự kiện một nhà nho chí sĩ ra làm báo, mà lại đứng đầu trên trận tuyến chống quân thù

(ông vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân), giữa vòng xoáy mờ mịt

của “văn hóa nô dịch” mà những tờ báo do Pháp lập ra và bảo hộ đang làm mưa

làm gió (Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí), quả là một sự kiện lớn mà những người cùng thời với ông, ngoài Ngô Đức Kế – chủ bút báo Hữu Thanh

(1921) ra không có nhiều người đủ can đảm và niềm tin để lựa chọn và theo đuổi

Đầu những năm 1940, trong cơn chính biến của cả thế giới, trong nước Nhật đảo chính Pháp, nắm lấy toàn bộ quyền hành trong tay, để “thu phục nhân tâm”, ổn định dư luận, lẽ đương nhiên người Nhật phải tìm đến những nhân sĩ

“có máu mặt”, có đủ uy tín và tài năng kéo theo mình đám đông quần chúng nhân dân Một lần nữa cái tên Huỳnh Thúc Kháng trở thành “địa chỉ nóng” Phát xít Nhật bày đủ trò từ dụ dỗ, dọa dẫm những mong được Huỳnh Thúc Kháng nhận lời ra giúp sức cho chính phủ bù nhìn của chúng, nhưng một lần nữa chí khí khảng khái, tấm lòng yêu nước kiên trung của ông lại thể hiện, ông thẳng thắn từ chối cộng tác với Nhật Trong một bức thư gửi Bảo Đại, Huỳnh Thúc Kháng khẳng định : “Ta thấy người Nhật có chút gì là thực tâm với người Việt Nam chúng ta Điều này Ngài ở trong chính quyền càng nhận thấy rõ hưn phải không ? Như thế dù có ai tài giỏi mấy đi nữa cũng chưa chắc làm nên việc, trừ phi mình có thực lực vững vàng Riêng đối với nhà vua, tôi thành thật khuyên Ngài thoái vị mà giao quyền cho nhân dân Hiện trên thế giới ngày nay

Trang 19

chế độ quân chủ đã lỗi thời Riêng ở Việt Nam chúng ta, trong con mắt dân chúng lại càng không nên duy trì lắm Ngài giao quyền lại cho dân, họa may sẽ

có những vị anh hùng trong đồng quê núi thẳm xuất đầu lộ diện làm nên việc cũng chưa biết chừng và như thế riêng phần ngài cũng tự tỏ mình là người thức thời vậy” [28]

Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta bị đánh đổ, chính quyền cách mạng được thành lập hướng nhân dân tiến bước theo mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chế độ cộng hòa Hòa chung tâm trạng náo nức, phấn khởi thoát khỏi vòng nô lệ của hàng triệu đồng bào, Huỳnh Thúc Kháng cảm khái thốt lên : “Sướng ôi là sướng! thoát thân nô

mà làm chủ nhân ông Vui thật là vui! đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” Khi nước nhà được độc lập, phải đối diện với trùng điệp những khó khăn, thử thách mới, đất nước cần những tấm gương mà đạo đức và tầm nhân cách đủ lớn

để có thể hiệu triệu sự đồng thuận đồng lòng của quốc dân Nhà lão thành cách mạng Huỳnh Thúc Kháng là gương mặt được Đảng, Chính phủ lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh “chọn mặt gửi vàng”, mời ra làm việc trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lễ ra mắt Hội đồng

Chính phủ ngày 7 tháng 3 năm 1946 đã được báo Sự thật đưa tin và bình luận

như sau :

“Lần đầu tiên Cụ ra mắt quốc dân trước tiếng hoan hô vang dậy của hàng vạn đồng bào ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội Lần đầu tiên quần chúng được mắt thấy tai nghe nhà chí sĩ lão thành vẫn hằng ngưỡng mộ Cụ già yếu quá, nhưng giọng nói sang sảng ấy, điệu bộ hăng hái ấy là của thanh niên Lòng nhà chí sĩ đã bị xúc động quá mạnh trước cảnh đồng bào sum họp đoàn kết thân mật, trước vận hội mới của nước nhà Khi Cụ nói lên cái chí căm thù giặc Pháp suốt đời nung nấu tâm can Cụ, mọi người thấy truyền vào mình tất cả sĩ khí

Trang 20

trầm hùng của thời xuân Ai quên được giữa buổi ấy, hình ảnh Hồ Chủ tịch cảm động ôm chầm lấy Cụ, hình ảnh hai người bạn già tương ái” [29, tr.34]

Sự kiện lịch sử này đánh dấu một cuộc tiếp xúc lớn trong hành trình tư tưởng và hoạt động cách mạng của Huỳnh Thúc Kháng Từ chủ nghĩa yêu nước

và lấy chủ nghĩa dân tộc làm hệ quy chiếu, nhà chí sĩ đến với chính quyền cách mạng với niềm tin gửi trọn vào nhà yêu nước cách mạng Hồ Chí Minh như một tất yếu lịch sử nhưng cũng lại là một lối hành xử hoàn toàn chủ động có ý thức Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, Huỳnh Thúc Kháng được cử đi kinh lí miền Trung Tại đây, hưởng ứng lời “Kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chí Minh, với tư cách là Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, Huỳnh Thúc Kháng cũng viết thư “Kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến” Hai bức “huyết thư” của hai lãnh tụ cách mạng cộng hưởng, cùng đồng vọng khắp non sông, đã giục giã, thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân tham gia nhiệt thành vào cuộc trường chinh cứu nước

Trong quá trình kinh lý miền Trung, do tuổi cao sức yếu, Huỳnh Thúc Kháng tạ thế ngày 21 tháng 4 năm 1947 tại thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa, tỉnh Quảng Ngãi – nơi Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Trung bộ đóng trụ

sở, hưởng thọ 71 tuổi Trước khi ra đi, Huỳnh Thúc Kháng còn kịp gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức điện báo, trong đó bày tỏ rõ tâm sự của mình :

“Gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả Chỉ

Trang 21

tiếc không gặp được cụ lần cuối cùng ! Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc”

Chào vĩnh quyết

(Quảng Ngãi, ngày 14 tháng 4 năm 1947)

Huỳnh Thúc Kháng ra đi trong niềm tiếc thương và thành kính vô hạn của quốc dân, đồng bào Nhà chí sĩ được Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chủ tịch cùng toàn thể nhân dân để quốc tang Trong bức thư gửi đồng bào trong lễ quốc tang Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá thoả đáng những

cống hiến của ông đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc : “Cụ Huỳnh là một

người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường gian nan cực khổ Nhưng lòng son, dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm kiên quyết

Cụ Huỳnh là một người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan

Cả đời Cụ không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu Cả

đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập ”

Hồ Tùng Mậu cũng điếu văn Huỳnh Thúc Kháng bằng mấy câu thơ chứa chan niềm đau xót :

Bể Đà Nẵng triều thẫm

Đèo Hải Vân mây sầu

Tháng tư tin buồn đến

Huỳnh bộ trưởng đi đâu?

Trông vào Bộ Nội vụ

Tài đức tiếc thương nhau

Đồng bào ba chục triệu

Đau đớn lệ rơi châu

Trang 22

Huỳnh Thúc Kháng mất đúng lúc cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn đầy cam go, khó khăn, nhưng dường như sự

ra đi ấy không những không làm nao lòng quốc dân, mà ngược lại, nó tiếp thêm sức mạnh cho muôn triệu đồng bào ta trên dưới một lòng dốc chí, bền gan học tập tấm gương yêu nước của nhà chí sĩ để tiếp tục chiến đấu không khoan nhượng, không nản chí Với ý nghĩa đó, Huỳnh Thúc Kháng mãi là một tấm gương yêu nước ngời sáng Sự nghiệp cách mạng của ông sẽ sống mãi, và hơn thế nữa, trước tác của ông với những tác phẩm bàn luận đến những vấn đề trọng đại của dân tộc, của đất nước trong một thời đoạn lịch sử nhiều biến động, xứng đáng được quan tâm, đánh giá mộtcách khách quan và công bằng hơn

Trong số các nhà nho yêu nước đầu thế kỉ, có thể nói Huỳnh Thúc Kháng

là người tiến xa nhất, đúng hơn, là người duy nhất trong số họ đến được với cách mạng tháng Tám, tiến xa nhất trong phong trào đấu tranh yêu nước và giải phóng dân tộc với hành trạng là tinh thần yêu nước kiên trung Cuộc đời ông, văn nghiệp ông, vì vậy vắt ngang qua hai thời kì với bước rẽ lịch sử đặc biệt quan trọng không chỉ trong đời sống chính trị – xã hội mà cả trong đời sống văn chương

Trang 23

Chương 2 VĂN NGHIỆP HUỲNH THÚC KHÁNG

Huỳnh Thúc Kháng được biết đến trước tiên với tư cách một nhà nho chí sĩ tiêu biểu của cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XIX, một nhân cách cao khiết với bản lĩnh chính trị kiên trung, vì thế khi nghiên cứu thơ văn của ông, lẽ dĩ nhiên chúng tôi không tránh khỏi việc có đôi lúc lấy sự nghiệp chính trị của ông như một hệ tham chiếu để tìm hiểu văn học Huỳnh Thúc Kháng trên một số phương diện tiêu biểu nào đó Nhưng dù sao, mục đích cuối cùng của tác giả luận văn này vẫn là hướng đến làm sáng rõ vai trò và những đóng góp của Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một nhà văn đối với tiến trình vận động tiến vào quỹ đạo hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ cả ở những mặt tích cực, có tác động nhất định đến sự phát triển và cả những mặt hạn chế, thậm chí có tác động kìm hãm tiến trình ấy trong một thời đại đầy bão táp và hết sức nhạy cảm

Trong quá trình tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng, chúng tôi nhận thấy, các sáng tác văn chương của ông luôn gắn liền với những mốc lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng Trên cơ sở đó, để thuận lợi cho việc triển khai đề tài luận văn, chúng tôi đã bám sát các mốc quan trọng ấy và chia trước tác của ông làm ba giai đoạn Ở mỗi giai đoạn sáng tác, chúng tôi sẽ điểm nhanh lại hoàn cảnh sáng tác trước khi đưa ra một vài nhận xét, đánh giá có tính chất khái quát về giá trị thơ văn nhà chí sĩ Tuy nhiên để hình dung rõ về văn nghiệp của ông, chúng tôi xin đưa ra đây một niên biểu tương đối đầy đủ dựa trên những tư liệu mới nhất mà chúng tôi có được về các sáng tác thơ văn của

Trang 24

Huỳnh Thúc Kháng theo tiến trình thời gian Trên cơ sở niên biểu này, chúng tôi sẽ chọn một số tác phẩm tiêu biểu cho từng giai đoạn sáng tác của ông để khảo sát và phân tích

Niên biểu văn nghiệp của Huỳnh Thúc Kháng :

1904 – 1905 - Cùng Trần Quý Cáp viết bài Lương ngọc danh sơn phú

1908 - 1921 - Ở tù Côn Đảo viết : Mậu thân dân biến ký, Khả tác lục,

những bản trên đều đã mất tích

1926 - Phan Tây Hồ Tiên sinh lịch sử

- Xuất bản Tập diễn văn của ông Huỳnh Thúc Kháng Chân

Phương ấn quán, Hà Nội, 1926

1927 - Mộ chí ông Phan Châu Trinh

- Bài Tựa tiểu thuyết “Tây phương mỹ nhơn” của Huỳnh Thị

Bảo Hoà Nhà in Bảo Tồn – Sài Gòn,1927

1929 - Nhà học giả phải có một cái quê hương

- Vài nét đặc sắc của vận văn nước ta (T.D số 195, 200, 203 –

1929)

1930 - Cuộc canh tân với lớp thanh niên (T.D số 304 (2 – 8 – 1930)

Trang 25

1930 - 1934 * Tranh luận Truyện Kiều :

- Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề chung không?

- Những thảm hoạ quái gở trong chuyện thi cử (T.D số 417 (9

Trang 26

– 9 – 1931) đến số 418 (12 – 9 – 1931)

- Di hại bởi một chữ “giải nghĩa lầm” của Tống Nho, chữ

“Lợi” ở chương đầu sách Mạnh Tử (T.D số 602 (1 – 7 – 1933) và số 603 (5 – 7 – 1933)

- Các thuyết Thúc Tôn Thông, Sở Hành không khác Khổng Tử

- Ngòi bút nhà văn (T.D số 753 (19 – 12 – 1934) đến số 757

(2 – 1 – 1935)

1935 Thơ văn với cổ tích nước nhà (T.D số 830 (14 – 9 – 1935) đến

số 838 (19 – 10 – 1935)

1937 Bắt đầu đăng từng kì Thi tù tùng thoại T.D số 1106 (9 – 9 –

1937) đến số 1196 (19 – 4 – 1938) trước khi in thành sách vào tháng 10 – 1939

1938 - Vài chuyện dật sự cụ Tây Hồ (T.D từ số 1185 (24 – 3 –

1938) đến số 1186 (26 – 3 – 1938)

Trang 27

- Phải chăng là cái số “trước phúc đầu hoạ” (Tiếng Dân với

cái “số” của ông chủ nó) T.D số 1241 (9 – 4 – 1938)

- Thai Xuyên Trần Quý Cáp tiên sinh tiểu truyện

1939 - Một vài mỹ cảm trong đời tôi (T.D phụ trương số 1887 (10 –

- Vài điều sai trong bài “Phan Thanh Giản” của báo Nghệ

thuật Việt Nam (T.D số 1566, 26 – 3 – 1941)

- Việt ngâm thi thoại (T.D từ số 1594, 8 – 7 – 1941) đến số

Trang 28

Thuyên xuất bản cục – Hà Nội 1942

- Nhà văn Tàu gieo nọc độc đến học giới ta (T.D số 1732, 16 –

12 – 1942 và số 1733, 29 – 2 – 1942)

- Việt ngâm thi thoại (tục biên) (T.D từ số 1662, 23 – 3 – 1942

đến số 1687, 4 – 7 – 1942)

1945 - Xuất bản : Thư trả lời Cường Để

- Xuất bản : Ý kiến ông Huỳnh Thúc Kháng đối với thời cuộc

- Dịch xong tác phẩm: Xã hội tư tưởng ABC của Từ Dật Tiên, xuất bản tại Thượng Hải 1928 với đề tựa Bước đầu trên con đường lịch sử xã hội

1946 Viết Tựa Phan Bội Châu niên biểu

1947 Thư của Uỷ ban kháng chiến “Quân Dân Chính”, Chính phủ

Việt Nam gởi Quốc dân đồng bào (Kính gửi đồng bào phụ lão

Trang 29

thư, tân văn của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc ; Môngtexkiơ,

J.Rut xô ở Pháp, “mua được nhiều sách mới (như Mậu Tuất chính biến, Trung

Quốc hồn , Nhật Bản Duy tân sử, Tân dân tùng báo cùng sách Âu dịch ra Pháp

văn), tôi [ ] thường với Tây Hồ đến nhà Đào (Đào Nguyên Phổ), có bao nhiêu tân thơ đọc hết, biết được đôi chút biến thiên của thế giới, thật bắt đầu từ năm ấy” (năm 1903) [19]

Trong số các nhà nho chí sĩ cùng thời như Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, thì cuộc tiếp xúc với tân thư, tân văn này của hai nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng dường như muộn hơn cả Song điều đáng chú ý ở đây là, ngoài Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trường Tộ đã từng dâng lên vua những bản điều trần đòi canh tân đất nước, rất nhiều các danh

sĩ đương thời dường như chưa một ai đủ nhạy bén và tầm tư tưởng cũng như khả năng để vươn lên trở thành “những lãnh tụ, những người “phất cờ gióng trống, gõ mõ khua chuông”, gây bão tố tạo sấm chớp, cuốn theo mình hầu như trọn vẹn tầng lớp tinh hoa của dân tộc” [39] Chỉ đến khi gần như trong cùng một lúc, tại Nam – Ngãi và Nghệ – Tĩnh hai chí sĩ họ Phan là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng xuất hiện giữa cơn bão thời đại, theo đuổi hai đường hướng cứu nước khác nhau và đều có tác động nhất định tới cuộc vận động cứu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX

Ở mức độ rõ rệt, phong trào Duy Tân mà Phan Châu Trinh cùng hai người bạn cùng chí hướng, hai nhà nho chí sĩ mẫu mực của đất Quảng bấy giờ là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp với đường lối cách mạng “ôn hoà”, dùng hình thức của một cuộc vận động cải cách văn hoá nhằm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cổ động tân học, đả kích lối học khoa cử, phát triển thương nghiệp, hô hào lập các hội thương, hội nông, hội công, nhằm canh tân đất nước theo con đường các nước tiên tiến ở châu Âu, để tích luỹ nội lực cho đất nước đã gây được những tác động tích cực tới mọi mặt đời sống của xã hội ta

Trang 30

trong những năm đầu thế kỉ XX Phong trào Duy Tân cùng với nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã nhanh chóng lan rộng và gây được một tầm ảnh hưởng lớn trong phong trào yêu nước của quần chúng Lúc bấy giờ trong nhân dân lan truyền mấy lời ca sau, đủ cho thấy sức ảnh hưởng của phong trào kêu gọi cải cách văn hoá mà các nhà Duy Tân đã làm :

Cơn mây gió trời Nam bẳng bẳng

Bước anh hùng nhiều chặng gian truân,

Gậm xem máy tạo xoay vần,

Gầy nên một cuộc cách tân cũng kì !

Khắp thân sĩ lưỡng kì Nam Bắc,

Bỗng giựt mình chợt tỉnh cơn mê,

Học, thương, xoay đủ mọi nghề,

Cái hồn ái quốc, gọi về cũng mau

Hồn đã tỉnh bảo nhau cùng dậy,

Chưa học bò vội chạy đua theo

Khi lên như gió thổi đều,

Trong hò cự thuế, ngoài reo phá thành…

Con đường cứu nước của bộ ba hào kiệt xứ Quảng dường như đi ngược lại với truyền thống sử dụng bạo lực, lựa chọn đấu tranh vũ trang để giành độc lập dân tộc mà cha ông ta hàng ngàn năm đã lựa chọn Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện đồng đại, chúng ta hẳn nhiên đều nhận thấy rằng đối thủ của chúng

ta trong cuộc chiến cuối thế kỉ XIX này là một đối thủ khác hoàn toàn về bản chất cũng như về trình độ binh lực, tiềm lực kinh tế, khoa học – kĩ thuật, so với phong kiến phương Bắc Chính tính chất này của cuộc chiến cùng với thái

độ bạc nhược của triều đình phong kiến đã dẫn đến tình trạng, chưa bao giờ các cuộc khởi nghĩa nổ ra với tinh thần “thiết huyết” đến thế nhưng cùng đều bị nhấn chìm trong những bể máu lênh láng đến thế “Máu của nhiều tầng lớp,

Trang 31

nhiều thế lực, lực lượng Có thể nói : máu chảy từ nhiều phía Khi máu đổ quá nhiều mà phía trước vẫn còn mờ mịt, thì điều khả dĩ thi thố là vừa không được làm sai lạc hay bỏ rơi mục đích tối hậu, vừa làm sao để bớt đổ máu vô ích”[39] Xét ở phương diện này, Duy Tân là một con đường cứu nước mới mẻ và chỉ có thể được thực hiện bởi những nhân sĩ ưu tú, can trường của thời đại

Kiên trì con đường đã lựa chọn, bộ ba chí sĩ xứ Quảng đã hăng hái nam tiến, bước chân của các ông đã đặt đến ngay cả những vùng đất hẻo lánh, được coi là miền “ngược” heo hút và khắc nghiệt của Nam Trung Bộ để hô hào cải cách, đấu tranh đòi thực thi dân chủ, mở mang phát triển công thương nghiệp, Những hoạt động ấy, thoạt nhìn là những vấn đề của kinh tế, chính trị, nhưng xét trong bối cảnh lúc bấy giờ, sau khi đã cơ bản dẹp tan các cuộc nổi dậy lớn

bé ở khắp ba kì, tiếng vang của phong trào Cần vương đang lắng dần xuống, thực dân Pháp đang dần chĩa mũi nhọn vào địa hạt văn hoá để đầu độc tinh thần thuộc địa thì đó lại là những hoạt động có tầm ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến trái tim, ý thức và hành động của đông đảo nhân dân Đúng như C Mác

đã viết : “Cố nhiên là vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí ; lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất ; nhưng lí luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [tr 255, 27] Như vậy có thể nói, trước bối cảnh ấy, sự lựa chọn được coi là tối ưu và nhất là phù hợp với sở trường của các nhà nho là dùng văn chương làm vũ khí đấu tranh và vũ khí văn chương cũng lại là vũ khí được nhiều nhà nho chí sĩ lựa chọn có hiệu quả trong hành trình hoạt động cách mạng của mình

1.2 Tác phẩm chính

Giai đoạn sáng tác đầu tiên này cũng chính là giai đoạn đầu tiên trong đời hoạt động cách mạng của nhà chí sĩ, nó gắn liền với phong trào Duy Tân Như

Trang 32

đã nói, Duy Tân là một phong trào đấu tranh đòi canh tân đất nước bằng con đường văn hoá, phát triển thương nghiệp, Để kêu gọi “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, bộ ba hào kiệt xứ Quảng (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) thực hiện nam tiến Khi vào đến trường thi Bình Định,

gặp kì thi khảo hạch (trước thi Hương) với hai chủ đề Chí thành thông thánh và

Lương ngọc danh sơn, ba nhà chí sĩ liền trà trộn vào đám nho sinh, lấy tên là Đào Mộng Giác và làm hai bài phú nổi tiếng (Phan Châu Trinh làm bài thơ Chí

thành thông thánh, còn Huỳnh Thúc Kháng cùng với Trần Quý Cáp làm bài

Lương ngọc danh sơn phú, nhằm mục đích mượn chính đề tài của cuộc thi để nói lên tư tưởng bài xích nền cựu học truyền thống cùng chế độ khoa cử lỗi

thời, đề xướng tân học, Từ góc nhìn lưu hành tác phẩm, Lương ngọc danh sơn

phú chính là bài thơ khai nghiệp văn chương của Huỳnh Thúc Kháng Từ bài phú này, cùng với hành trình hoạt động cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng còn làm nhiều thơ văn để phục vụ mục đích đấu tranh đòi dân quyền và độc lập dân tộc

Mở đầu bài phú, tác giả cất tiếng hỏi tại sao quốc dân ta lúc bấy giờ đang dường như chấp nhận cảnh sống chìm đắm trong kiếp đời nô lệ, dù khát khao được góp sức mình cho độc lập dân tộc nhưng sớm phải chứng kiến quá nhiều cảnh đầu rơi máu chảy tang thương, bi thảm nên sĩ khí dường như đang lắng dần xuống :

Sao chẳng thấy đồng bào ta ở Á châu,

Anh hùng sôi nổi, chí sĩ tranh đua

Nhìn ra bốn biển để soi rọi lại mình, Huỳnh Thúc Kháng cảm thấy đã đến lúc không thể mãi cứ ở yên một chỗ :

Cụ Nam Hải giữa trung châu cổ động

Chàng Đông Sơn bên đường rộng khóc ù

Người đều biết xấu hổ, tại sao không thẹn thò

Rồi quay lại nhìn về quá khứ hào hùng của dân tộc :

Trang 33

Nguyên Việt Nam từ xưa dựng nước,

Cõi Á đông hùng cứ một phương

Dưới xuống Trần, Lý, trên từ Hồng Bàng

Nhân tâm thuần phác, sĩ khí quật cường

Đuổi Tô Định khỏi đất Lĩnh Biểu

Mạnh thay nước Việt ! Ai dám xem thường !

Quá khứ oai hùng, khí thiêng sông núi mấy ngàn năm vẫn toả rạng, con cháu Lạc Hồng vẫn bao đời tự hào về truyền thống cha ông đánh giặc giữ nước,

ấy vậy mà chỉ “một thời làm sai chính sách, Để muôn đời phải chịu tai ương” :

Quân đội lấy gì hùng cường ? Tài chính lấy gì sung túc ?

Dân trí lấy gì mở mang ? Nhân tài lấy gì giáo dục ?

Than ôi đau xót thay ! Dần dà cho đến ngày nay chịu điều khổ nhục Tình cảnh ấy đã khiến dân tộc trở nên yếu hèn, nước đã mất hồn sông núi cũng không còn, đau xót trước thảm cảnh ấy và như dự cảm được bao thảm hoạ

sẽ đến, tác giả kêu gọi :

Ăn năn nào kịp, mới hay đổi kế chậm rồi :

Nguy hiểm đến nơi, dầu muốn tạm yên khó thật

Bây giờ nên đau lòng, xót dạ, theo nghĩa bỏ danh

Trên các quan lại, dưới lớp thư sinh ; quẳng bút dậy thẳng, treo mũ

đi lanh

Còn chút hơi tàn, thời đập ấm, đắm thuyền đầy hứa hẹn

Vui gì sống sót, dẫu nát gan, vỡ óc cũng quang vinh

Cớ sao cả năm lêu lổng, đau ngừa không hay

Mất thời giờ nơi bút cùn đèn tối ; Mệt tinh thần trong chết mộng sống say

Từ nỗi đau nhân thế ấy, hai ông hạ bút chốt lại bài phú với một quyết tâm :

“Hựu hà tất Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vỉ tai !” (Lại cần gì

Trang 34

Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vậy thay) Theo các ông, chính lối khoa cử lỗi thời, văn hoá lạc hậu là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thảm cảnh mất nước Chính vì thế, nếu phải thay đổi điều gì thì việc đầu tiên là phải thay đổi nền văn hoá, học vấn của đất nước

Với hào khí ấy, Lương ngọc danh sơn phú cùng với Chí thành thông thánh

của hai nhà chí sĩ đã nhanh chóng lan rộng, được rất đông sĩ tử truyền tay nhau đọc, đồng thời gây không ít trở ngại, tức tối đối với nhà cầm quyền Bài phú vừa thể hiện lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng thời là tiếng nói mạnh mẽ và hết sức dũng cảm trong việc phủ nhận nền cựu học cùng chế độ khoa cử lỗi thời Lời kêu gọi quẳng bút lông để suy nghĩ, tìm tòi một hướng đi mới để cứu dân tộc khỏi ách lầm than nô lệ của bộ ba chí sĩ đã có tác động mạnh mẽ, tích cựctới trái tim và khối óc của không ít học trò của Nho môn và đông đảo nhân dân trong vùng Bài phú ra đời là một đòn phủ đầu đầu tiên của các nhà Duy Tân, qua bài phú, ta hiểu tại sao, chỉ xuất phát từ hình thức của một cuộc vận động tân văn hoá, mà những nhiệt huyết của các nhà chí sĩ lại có thể tác động mạnh mẽ tới trái tim và khối óc của quần chúng, để từ đó, những phong trào quần chúng nổ ra đã vượt xa khuôn khổ của một hoạt động văn hoá, khiến bọn thực dân không thể ngồi yên

Nếu Lương ngọc danh sơn phú là một bài chữ Hán, sau này được chính tác giả dịch ra, thì Cái văn chương là một bài thơ đầu tiên ông viết bằng chữ quốc

ngữ nhằm mục đích đả kích lối học cử nghiệp Mở đầu bài thơ, tác giả dẫn ra hai câu thơ chữ Hán ý nói mình thuộc con nhà thông tuệ, sang trọng : “Kỷ ngôn toàn thịnh hồng nho tử, Đồ long dục tựu học hà vi”, ấy thế mà vẫn nhận ra cái học khoa cử của Nho gia đã đến hồi mạt vận và cần được đổi thay :

Cái văn chương là cái chi chi

Mút ngòi viết mà hỏi cùng vũ trụ

Những nghĩa, những văn, những thi, những phú,

Trang 35

Những trường thiên, đoản cú, tán, tự, bi, minh

Nếp bồng trông mòn mỏi bấy công trình

Nền khoa cử lấy hiển vinh mày mặt

Đậm lợt cáp phấn vua đôi nét

Rồi công danh phú quý dập dìu theo

Này xe, này ngựa, này võng, này hèo

Này áo gấm xiêm thêu, này đai vàng thẻ bạc

Buông hơn sấm giữa cõi trần rơm rác

Tréo mảy lên, xưng ông nọ ông kia

Ô ai ơi ! Tốt lốt chưa tề

Nên sự nghiệp cũng nhờ ba chữ đó

Tò mò hỏi, năm châu ai lớn nhỏ

“Ủa ! việc ngoại dương tau có biết mô na !”

Cũng tai, cũng mắt cũng người ta”

(Cái văn chương – 1906)

Những bài thơ đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng là những lời hô hào đầy nhiệt tình, thiết tha của nhà chí sĩ để kêu gọi, giục giã những ai còn đang say sưa với cái “bả vinh hoa”, còn nuôi chí lập nên sự nghiệp bằng con đường thi cử của Nho gia hãy nhanh tỉnh giấc, bởi thời đại giờ đã đổi khác, khí vận đã chuyển dời rất xa, những nho sinh của “cửa Khổng sân Trình” còn theo đuổi con đường khoa cử gò bó, khuôn mẫu ấy đã trở thành những người lạc hậu so với thời cuộc

Qua những bài thơ hừng hực khí thế của một nhà nho Duy Tân, tuy được tiếp xúc với các sách tân thư, tân văn khá muộn so với nhiều nho sĩ đương thời, nhưng sự tinh anh, nhạy bén của một tư tưởng lớn đã đưa Huỳnh Thúc Kháng sớm nhập thế và mau chóng trở thành một trong những lãnh tụ khả kính của một phong trào có ảnh hưởng và gây tác động tiến bộ đến toàn bộ nhận thức của

Trang 36

quần chúng nhân dân một nước nông nghiệp lạc hậu, quen sống trong cảnh “bế quan toả cảng” khiến dân trí, dân khí trở nên suy yếu nếu xét trong tương quan thời đại Những bài thơ đầu tiên này của Huỳnh Thúc Kháng, khi vang lên, tựa như những bài hịch của núi sông truyền cảm hứng, nhiệt huyết đến bao thế hệ, ngay từ khi mới ra đời, nó được ví “như một tiếng gà đánh thức mọi người”

2 Giai đoạn 2 : từ 1908 đến 1921

2.1 Bối cảnh lịch sử

Sau những nỗ lực truyền bá cải cách, kêu gọi tân học, bài xích khoa cử lỗi thời, đề xướng dân chủ của bộ ba xứ Quảng, năm 19081 trên khắp dải đất miền Trung từ phía bắc Hà Tĩnh trở vào đến Bình Định diễn ra một phong trào xin xâu, chống thuế lôi cuốn khoảng 8000 người tham gia, họ thay phiên nhau biểu dương lực lượng dài ngày trước trụ sở của quan huyện, thực dân Pháp và tay sai

đã thẳng tay đàn áp dã man phong trào, giết chết, bắt bớ, tra tấn, tù đày hàng nghìn người, trong đó các lãnh tụ của phong trào Duy Tân như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, và các bạn đồng chí hướng bị đày ra Côn Đảo, trở thành những “đệ nhất tù nhân” tại đây, riêng Trần Quý Cáp phải lên đoạn đầu đài chịu án tử hình Đó là hình phạt mà thực dân Pháp dành cho những danh sĩ của phong trào Duy Tân, bởi khi phong trào bùng nổ mạnh mẽ và lan ra rộng khắp Trung Kì, chúng đã kịp nhận ra rằng những lời “huyết lệ” của các nhà duy tân được đội dưới lớp vỏ của một cuộc cải cách văn hoá, một khi đã thấm sâu vào quần chúng bấy lâu nay bị đè nén, bóc lột đến tận cùng thì sẽ tạo động lực cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ đầy ý thức và tự giác của mọi tầng lớp nhân dân

1: Duy Tân năm thứ hai (Mậu Thân – 1908), ngày tháng 2, dân trong hạt nổi lên cự sưu Ban đầu phát ra từ sĩ dân Đại Lộc, rồi toàn tỉnh hưởng ứng, kế các tỉnh lân cận, như Nghĩa, Định, Thừa Thiên tiếp theo, làm náo động toàn xứ Nhà đương đạo lấy cuộc dân biến ấy quy tội cho hàng thân sĩ nói tân học và xướng dân quyền, xiềng gông lang thang cùng đường [19].

Trang 37

Lẽ dĩ nhiên, bất cứ hoạt động nào có nguy hại, làm đảo lộn trật tự xã hội mà chúng muốn xếp đặt thì chúng sẽ không thể để cho tiếp tục phát triển, các nhà duy tân là những cái gai mà bọn thực dân muốn nhổ trước hết Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn Đảo, mang cái án quốc sự phạm, bị ghép vào tội “theo đảng bội quốc, ngầm thông nước ngoài, đề xướng dân quyền, kết án đày Côn Đảo, ngộ xá bất nguyên” [19]

Suốt 13 năm trường (từ tháng 9 – 1908 đến năm 1921) bị lưu đày tại Côn Đảo, chịu nhiều thử thách, bị tách rời khỏi những biến cố lớn lao của lịch sử nước nhà cũng như phong trào yêu nước cách mạng của nhân dân nhưng ý chí kiên cường, lòng yêu nước mạnh mẽ như một hằng số bất biến vẫn liên tục chảy trong huyết quản nhà chí sĩ khiến cho không một khó khăn nào có thể khuất phục được

Ở nơi “địa ngục trần gian” này, những tấm gương kiên trung, những danh

sĩ mẫu mực của khắp ba kì, một cách rất tình cờ đã hội tụ lại, với nghị lực và bản lĩnh phi thường, họ không những đã chịu đựng gian khổ, vượt lên trên khó khăn, thách thức và dần dần bằng trí tuệ và sự sáng tạo, những “đệ nhất tù nhân” Côn Đảo đã biến nơi đây trở thành một “trường học thiên nhiên”, một nơi

“lửa thử vàng” của rất nhiều thế hệ thanh niên ta trong suốt mấy thập niên

trường chinh cứu nước về sau Trong Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, tác giả có

chép lại một bức thủ thư của Tây Hồ Phan Châu Trinh, người được coi là quốc

sự phạm sớm nhất trong số những quốc sự phạm đầu tiên của Côn Đảo gửi cho Huỳnh Thúc Kháng và các bạn đồng chí hướng mới bị bắt đày ra Côn Đảo :

“Anh em vì quốc dân hi sinh tất cả ra đây, nơi đảo khơi, tưởng có vui thú tuyệt, chứ chẳng chút nào buồn chán Cảnh đắng cay này, làm trai ở thế kỉ XX, không thể không nếm tới” Với khẩu khí và quan niệm dứt khoát ấy, chúng ta hiểu tại sao “địa ngục trần gian” dù đáng sợ đến đâu cũng không thể đủ sức làm nao núng tinh thần và ý chí nếu không muốn nói rằng, đó chính là thứ chất kích

Trang 38

thích để những nhân sĩ – tù nhân ấy thêm quyết tâm và khẳng định quyết tâm tiếp tục nuôi chí dấn thân vào con đường cách mạng những mong giải phóng quê hương, đất nước khỏi cảnh lầm than, nô lệ

Với Huỳnh Thúc Kháng, Côn Đảo quả đúng là một “trường học thiên nhiên” như thế Những kiến thức về tiếng Pháp, những hiểu biết về “sổ sách kế toán”, “công văn thư trát”, những kiến thức về doanh thương buôn bán, của ông đều có được trong thời gian này quả là một sự tích lũy đáng giá để sau này, khi được mãn hạn tù, những gì học được từ đây đã góp phần giúp cho Huỳnh Thúc Kháng trên con đường tiếp tục chiến đấu với kẻ thù ở một mặt trận mới

mẻ hơn, quyết liệt hơn

2.2 Tác phẩm chính

Tác phẩm tiêu biểu nhất của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn sáng tác

này là tập Thi tù tùng thoại Đúng như tên gọi của nó, Thi tù tùng thoại không

chỉ ghi chép thơ, mà phần chủ yếu và có giá trị lớn về mặt lịch sử lại là “thi thoại” của nhiều người cùng góp mặt (tùng) Tập thơ ra đời trong lao tù Côn Đảo nhưng sau năm 1927 mới được bắt đầu đăng từng bài trên Tiếng Dân trước khi in thành sách vào năm 1939

Nói về phần thơ, đúng như Huỳnh Thúc Kháng viết trong Lời nói đầu của

tập thơ : “trên thi sử xưa nay, thừa bên này mà thiếu bên kia, nghĩa là phong lưu

nhiều mà thi tù ít, là vì lẽ gì ?” Nhà chí sĩ lí giải nguyên nhân là : “Ở phương Đông về thời đại quân chủ chuyên chế, tù là tội cả, không có hạng tù quốc sự

(chánh trị phạm) như phương Tây Bởi thế nên đã vào tù, vô luận là nhân cách lưu phẩm thế nào, người đời đều xem như vật ghê gớm đáng sợ : đã là vật đáng

sợ trong xã hội, tự nhiên cái người đã mang cái huy hiệu “tù”, công chúng đều tránh xa, với người đó còn không dám lại gần, huống là thi với văn, dầu có nghe thấy thi văn của họ, không dùng đậy hũ tương thì phú cho ngọn lửa Thi

Trang 39

Có thể nói, Thi tù tùng thoại là tập thơ tù đầu tiên của văn học Việt Nam

ta, sau này trong hai cuộc trường chinh cứu nước, văn đàn Việt Nam có rất nhiều thơ tù của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, và nhiều chiến sĩ cách mạng khác Tuy nhiên, ngược dòng lịch sử trước Huỳnh Thúc Kháng, đúng là thơ tù gần như vắng bóng Nguyên nhân của sự vắng bóng ấy, Huỳnh Thúc Kháng đã lí giải rất chính đáng Trong số những quốc sự phạm bị đày ra Côn Đảo cùng với Huỳnh Thúc Kháng, thơ văn họ làm trong chốn lao tù hẳn không ít, nhưng đủ can đảm để in lên mặt báo cho đông đảo nhân dân đọc thì không nhiều Với những hiểu biết tinh tường về thời cuộc, về văn hoá – xã hội, Huỳnh Thúc Kháng nhận thấy sự chuyển biến rõ rệt của thời đại : “Âu triều truyền sang, phong khí đổi mới, chế độ về thời đại chuyên chế bị triều lưu văn minh dội quét gần tàn, trên sử tấn hoá mới của loài người, trong đám tù tội có cái tên gọi là “tù quốc sự” khác với hạng tù thường, không những xã hội không bài xích như ngày xưa, mà trong có hạng chí sĩ chân nhân, trở được người tỏ lòng sùng bái

và khen ngợi, từ đó mà thi tù mới truyền”

Bài ca lưu biệt là một trong những bài thơ đầu tiên sau khi nhà chí sĩ lãnh

án lưu đày Côn Đảo Tại đây, Huỳnh Thúc Kháng đã làm một bài thơ tràn đầy khảng khái :

Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết,

Người ở đời sao khỏi tiết gian nan

Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an,

Tố hoạn nạn, hành hồ hoạn nạn

Tiền lộ định tri thiên hữu nhãn,

Thâm tiêu do hứa mộng hoàn gia

Mấy mươi năm cũng vẫn chửa già,

Nọ núi Ấn, này sông Đà

Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt

Trang 40

Kìa tụ tán chẳng qua là tiếu biệt,

Ngựa tái ông hoạ phúc biết về đâu?

Một mai kia con Tạo khéo cơ cầu,

Thảy bốn bể cũng trong bầu trời đất cả

Ư bách niên trung tu hữu ngã

Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi,t rời nghiêng, đất ngả,

Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn

Trăng kia khuyết đó lại tròn

(Bài ca lưu biệt )

Bài thơ tỏ rõ quan niệm nhập thế của Huỳnh Thúc Kháng, nhất là trong hoàn cảnh lao tù và đất nước thì đang oằn mình dưới ách cai trị thực dân Với những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, cuộc đời đúng là một dòng sông mà mỗi khúc sông khi đục khi trong, lúc bình yên khi dậy sóng dữ dội, nhưng điểm cốt yếu để tạo ra điểm khác biệt là dù ở trong hoàn cảnh nào, thậm chí ngay cả khi phải hiện diện giữa tâm bão thời đại, họ cũng không hề nản chí, sờn lòng, họ vẫn nhìn cuộc sống với thái độ hướng tới ngày mai tươi sáng hơn : “trăng kia khuyết đó lại tròn” Chính tinh thần lạc quan biến nguy nan thành cơ hội mới, những nho sĩ – tù nhân Côn Đảo đương thời đã hợp nhau lại, biến nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo thành một “trường học thiên nhiên”, truyền thống ấy khởi nguồn từ họ và kéo dài mãi trong nhiều lớp thanh niên yêu nước trong hai cuộc kháng chiến cứu nước sau này của đất nước

Thi tù tùng thoại là tập thơ ghi chép lại những tâm sự trong thời gian ngồi

tù của nhà chí sĩ Bên cạnh những vần thơ thể hiện chí khí, nhiệt huyết cách mạng của nhà chí sĩ, qua tập thơ, chúng tôi còn nhận thấy rằng ông làm rất nhiều bài thơ, vịnh thơ dành cho vợ, con, bạn bè đồng chí Dường như bên trong con người nhà nho – chí sĩ rắn rỏi đến tưởng như khô khan ấy luôn có cả một góc riêng dành tình cảm cao quý cho những người thân

Ngày đăng: 13/04/2020, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm