Thông qua luận án này, tác giả sẽ hệ thống hóa các vấn đề lý luận, khung phân tích và thực tiễn kinh nghiệm quốc tế trong những thập niên vừa qua về vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng,
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
NCS ĐINH MAI LONG
CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TIẾN TRÌNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ***
NCS ĐINH MAI LONG
CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TIẾN TRÌNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Xuân Thắng
2 TS Bùi Trường Giang
\
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2018
Nghiên cứu sinh Đinh Mai Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội, Khoa Quốc tế học, Phòng Quản lý và Đào tạo và các quý thầy cô của Học viện Khoa học Xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin được cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chủ tịch nước – nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Xuân Thắng và TS Bùi Trường Giang, cùng các thầy cô: GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, PGS.TS Trần Công Sách, TS Tô Ánh Dương, TS Võ Trí Thành, TS Nguyễn Đức Kiên… với bề dày khoa học và kinh nghiệm nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý
để tôi hoàn thành luận án
Xin cảm ơn các thầy cô, các bạn ở Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian sưu tầm tài liệu và nghiên cứu
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2018
Nghiên cứu sinh
Đinh Mai Long
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ
1.1 Tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới 10 1.2 Tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc 13 1.3 Tình hình nghiên cứu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 19 1.4 Khung phân tích quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 21
1.4.1 Cơ quan thực hiện tái cơ cấu 21
1.4.2 Nguồn lực tài chính để thực hiện tái cơ cấu 22
1.4.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quá trình tái cơ cấu 22
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ
2.1 Hệ thống ngân hàng và những nguyên nhân cơ bản cần tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 25
2.1.1 Hệ thống ngân hàng 25
2.1.1.1 Ngân hàng Trung ương 26
2.1.1.2 Ngân hàng thương mại 26
2.1.2 Những nguyên nhân cơ bản cần tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 27
2.1.2.1 Vấn đề bất đối xứng về thông tin trên thị trường 28
2.2.2 Đối tượng tái cơ cấu 36
2.2.3 Mục tiêu tái cơ cấu 36
2.3 Bối cảnh, vai trò của nhà nước và xu hướng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 37
2.3.2 Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 38
Trang 62.3.3 Những xu hướng chủ yếu trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 39
2.4.1.2 Nguyên nhân gây ra nợ xấu 42
2.4.1.3 Giải pháp xử lý nợ xấu 44
2.4.2 Xử lý vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng 44
2.4.2.1 Khái niệm sở hữu chéo 45
2.4.2.2 Những rủi ro sở hữu chéo gây ra cho hệ thống ngân hàng 46
2.4.2.3 Giải pháp xử lý tác động tiêu cực của sở hữu chéo 48
2.4.3 Mua lại, hợp nhất và sáp nhập một số NHTM 49
2.4.4 Thành lập cơ quan đặc trách xử lý nợ xấu 50
2.4.6 Cơ cấu lại vốn chủ sở hữu 54
2.4.7 Cải thiện niềm tin vào hệ thống ngân hàng 55
2.4.8 Xây dựng ngân hàng theo tiêu chuẩn hiện đại 57
2.5 Kinh nghiệm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở một số quốc gia 58
3.1.2 Đặc điểm hệ thống NHTM Trung Quốc trước cải cách và những động lực cải cách 73
3.1.3 Mục tiêu và lộ trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 75
3.2.1.3 Sở hữu chéo và hệ thống “ngân hàng ngầm” (shadow banking) 81
3.2.2 Nội dung cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 83
3.2.2.2 Thành lập cơ quan xử lý nợ xấu 85
Trang 73.2.2.3 Phát triển thị trường mua, bán nợ xấu trong hệ thống ngân hàng 87
3.2.2.4 Kiểm soát vấn đề sở hữu chéo và “ ngân hàng ngầm” 93
3.2.3 Đánh giá hiệu quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Trung Quốc 95
3.2.3.1 Về cải cách quản trị và cơ cấu sở hữu của NHTMNN 95
3.2.3.3 Về xử lý rủi ro sở hữu chéo và kiểm soát hệ thống ngân hàng ngầm 101
3.3 Vai trò của nhà nước trong quá trình cải cách và những xu hướng 103
3.3.1 Vai trò nhà nước trong cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 103
3.3.2 Những xu hướng của hệ thống ngân hàng Trung Quốc 105
3.3.2.1 Chiến lược duy trì đồng NDT “yếu” 105
3.3.2.2 Chiến lược quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ 105
3.4.2.3 Nguy cơ sập “bẫy đôla Mỹ” 107
3.4.2.4 Ảnh hưởng từ hội nhập kinh tế 108
CHƯƠNG 4 : KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC TÁI CẤU TRÚC
4.1 Quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay – những thành tựu và hạn chế 109
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam 109
4.1.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trước Đề án tái cấu trúc 110
4.1.3 Bối cảnh ra đời Đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam 111
4.1.4 Một số phản biện, kết quả, thành tựu, hạn chế của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 112
4.1.4.1 Một số phản biện về các đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 112
4.1.4.2 Những kết quả chủ yếu về tái cấu trúc ngân hàng giai đoạn 2012 - 2016 116
4.1.4.3 Đánh giá những thành tựu đạt được 119
4.1.4.4 Đánh giá những hạn chế, tồn tại 122
4.1.4.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 124
4.2 Nghiên cứu so sánh hệ thống ngân hàng Việt Nam và Trung Quốc và những biện pháp tái cơ cấu
4.2.1 Về cấu trúc thị trường ngân hàng 125
4.2.2 Về tình hình nợ xấu 127
4.2.3 Về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng 129
4.3.4 Vấn đề nợ xấu trong mối quan hệ với sở hữu chéo 131
4.3.5 Về xử lý nợ xấu bằng các giải pháp thị trường 133
4.3 Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tái cấu trúc hệ thống NHTM sắp tới từ
4.3.1 Về khuôn khổ pháp lý cho các NHTM thực hiện tái cơ cấu 135
4.3.2 Về cơ quan xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng 135
4.3.3 Về phát triển thị trường mua bán nợ xấu trong hệ thống ngân hàng 137
Trang 84.3.4 Về mua bán, sáp nhập và hợp nhất các NHTM 139
4.3.5 Về xử lý vấn đề sở hữu chéo 140
4.3.6 Về kiểm soát rủi ro từ hệ thống “ngân hàng ngầm” 143
4.3.7 Về thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 144
4.3.8 Về quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTM 144
4.3.9 Về thanh tra, giám sát các NHTM yếu kém 146
4.3.10. Về vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong xử lý các NHTM yếu kém 147
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Trang 10ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương Châu Âu
Corporation
Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang
Mỹ
Corporation
Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc
Corporation
Công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc
nước
Trang 11NPL Non-Performing Loan Khoản nợ không sinh lời (nợ xấu)
Corporation
Công ty quản lý tài sản Thái Lan
các tài sản tài chính có độ rủi ro cao
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế
Trang 12Bảng 3: Tình hình áp dụng các tiêu chuẩn của Basel trên thế giới 52
Bảng 4: Tỷ lệ vốn rủi ro hoạt động/Tổng thu nhập tại các khu vực trên thế giới 53
Bảng 5: So sánh tổng hợp các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng chủ yếu 56
Bảng 6: Ước tính chi phí cho một giao dịch của AMC trên thị trường thứ cấp 90
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Cấu trúc thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc 86
Hình 2:Những cơ quan giám sát hoạt động của các AMC trên thị trường thứ cấp 88
Hình 3:Những luật chủ yếu điều tiết hoạt động của AMC trên thị trường thứ cấp. 89 Hình 4:Cấu trúc hệ thống ngân hàng của Trung Quốc. 99
Hình 5:Cấu trúc hệ thống ngân hàng của Việt Nam. 123
Hình 6: Thị phần sở hữu tài sản của các NHTM Trung Quốc và Việt Nam. 124
Hình 7:Diễn biến nợ xấu của các NHTMNN tại Trung Quốc. 124
Hình 8:Diễn biến nợ xấu của các NHTMNN tại Trung Quốc. 125
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề tái cấu trúc hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng tại Việt Nam đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 vừa qua cho thấy, chính sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một nước, dù là nước phát triển hay đang phát triển, đều là nguyên nhân trực tiếp gây nên khủng hoảng tài chính cũng như có tác động lây lan rất lớn đến nền kinh tế của nước khác trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng sâu rộng Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước
đã đặt trọng tâm tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng là một trong số “3 trụ cột” chính của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng Tuy nhiên, đánh giá tình hình thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2012-2016 cho thấy, mặc dù đã có nhiều chủ trương, định hướng lớn được xác định nhưng quá trình triển khai tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng trên thực tế vẫn còn chậm so với kế hoạch và kỳ vọng của thị trường cũng như chưa giải quyết được những vấn đề cơ bản đặt ra đối với hệ thống ngân hàng nước ta (Nguyễn Hồng Sơn, 2016) [28] Do đó, đây đã trở thành một vấn đề chính sách, một chủ đề học thuật được các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và toàn xã hội quan tâm Thông qua luận án này, tác giả sẽ hệ thống hóa các vấn đề lý luận, khung phân tích và thực tiễn kinh nghiệm quốc tế trong những thập niên vừa qua về vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, trong đó đặc biệt tập trung nghiên cứu quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của Trung Quốc, để từ
đó rút ra một số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
Tính cấp thiết của vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008 thể hiện qua các nhân tố sau:
Thứ nhất, xét từ góc độ quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đã làm thay đổi sâu
sắc và căn bản mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, theo đó, khủng hoảng tài chính, khi xảy ra tại một quốc gia, sẽ nhanh chóng lan truyền sang các quốc gia khác qua các mối liên
Trang 15hệ tài chính quốc tế và trở thành cuộc khủng hoảng ở cấp độ khu vực, thậm chí toàn cầu (Nguyễn Xuân Thắng, 2007) [32] Cụ thể, kể từ khi các bong bóng cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ đổ vỡ vào giữa năm 2007, cuộc khủng hoảng này đã nhanh chóng lan ra các nền kinh tế khác thông qua các mối liên kết tài chính toàn cầu và làm suy sụp niềm tin vào hệ thống tài chính ở hầu hết các nền kinh tế phát triển và trở thành cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008 được nhiều nhà kinh tế
và học giả trên thế giới đánh giá là một cuộc khủng hoảng mang tính mô hình [82, tr.1], vì chính những vấn đề yếu kém về cấu trúc nội tại trong hệ thống ngân hàng trước đó tại các nền kinh tế phát triển là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ và lan truyền của khủng hoảng (Goodhart, 2010) [83, tr.1] Đồng thời, cuộc khủng hoảng vừa qua cũng cho thấy những yếu kém và nguy cơ đổ vỡ trong hệ thống ngân hàng tại các nền kinh tế đang phát triển trước những tác động tiêu cực của sự thăng trầm kinh tế toàn cầu (Strauss-Kahn, 2009) [131, tr.1] Cho đến nay, mặc dù nhiều nền kinh tế đã và đang triển khai thực hiện những kế hoạch tái cấu trúc hệ thống ngân hàng khác nhau, nhưng chưa có mô hình tái cấu trúc nào cho đến nay được đánh giá là hình mẫu để các nước áp dụng theo (Luc và Ariff, 2009) [110, tr.6] Đa số các định chế tài chính quốc tế và học giả nhận định rằng, trong thời gian tới trên thế giới sẽ diễn ra xu thế tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng theo hướng bền vững và gắn lĩnh vực tài chính chặt chẽ hơn với các hoạt động sản xuất thực của nền kinh tế (Võ Đại Lược, 2008) [13, tr.54]
Thứ hai, xét từ góc độ trong nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng
trước những đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như những thách thức to lớn của quá trình tự do hóa tài chính và
hội nhập kinh tế quốc tế (Võ Trí Thành et al, 2004) [31] Do đó, những tồn tại cần
được khắc phục trong tiến trình đổi mới căn bản hệ thống ngân hàng là rất lớn, như vấn đề hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng, những yếu kém trong của hệ thống tín dụng trong nước (được bộc lộ rõ hơn trong giai đoạn suy giảm kinh tế vừa qua), sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các ngân hàng
Trang 16nước ngoài trong lộ trình Việt Nam thực hiện các cam kết về mở cửa dịch vụ tài chính ngân hàng ở mức WTO và WTO+ (Phạm Tiến Đạt, 2011) [7, tr.11]
Thứ ba, lý thuyết tài chính – ngân hàng hiện đại chỉ ra rằng, khủng hoảng
tài chính chủ yếu bắt nguồn từ lĩnh vực ngân hàng và bất kỳ một cuộc khủng hoảng tài chính nào cũng liên quan đến bốn vấn đề chính trong ngành ngân hàng: (i) chất lượng tài sản kém; (ii) thiếu vốn tự có; (iii) gặp khó khăn về thanh khoản; và (iv) các vấn đề yếu kém về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro (Kindleberger và Aliber, 2011) [56] Đối chiếu với thực trạng của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy việc Trung ương Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặt vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng một cách mạnh
mẽ và triệt để vào thời điểm này được xem là cấp bách và kịp thời vì: (a) nợ xấu
và nợ tiềm ẩn vốn là vấn đề lớn của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; (b) Mặc
dù tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) trung bình của các NHTM Việt Nam là trên 8% (theo công bố), tỷ lệ này có sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng, và đặc biệt có xu hướng giảm nhanh nếu như hạch toán đúng dự
phòng cho các khoản nợ xấu/nợ tiềm ẩn; (c) các cuộc đua lãi suất thời gian qua
của các ngân hàng đã cho thấy những khó khăn về thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam (Tô Ngọc Hưng, 2013) [8]
Tại Việt Nam, vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tuy đã được đặt ra từ lâu, nhưng chỉ khi bùng nổ lạm phát nghiêm trọng cuối năm 2008 và suy thoái kinh tế từ đầu năm 2009 đến nay thì vấn đề này mới thực sự cấp thiết Với sự phát triển và thay đổi về chất của nền kinh tế trong nước, cùng với xu hướng tự do hóa
và hội nhập quốc tế ngày càng sâu của hệ thống tài chính Việt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu tái cấu trúc một cách toàn diện và đồng bộ để góp phần quan trọng khắc phục những khó khăn trước mắt của nền kinh tế, cũng như tiếp tục là động lực tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế trong trung và dài hạn (Tô Ánh Dương, 2013) [5]
Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc thời gian qua đang trở thành tâm điểm của cả thế giới (Lê Xuân Sang, 2005) [23] Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007, thế giới đã có những đánh giá lại theo hướng tích cực hơn về quy mô (IMF, 2010) và tính bền vững (PBOC,
Trang 172011) của hệ thống ngân hàng Trung Quốc (Đỗ Tiến Sâm, 2009) [26, tr.86-92]
Có thể nói, đó là kết quả của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng mà Trung Quốc đã xúc tiến mạnh mẽ từ những năm 1990 trở lại đây (Wei Huang, 2010) [53, tr.11] Mặc dù, cho đến nay, vẫn còn một số nhận định trái chiều về những thành tựu đạt được và thách thức mà hệ thống ngân hàng Trung Quốc đang đối diện trong giai đoạn sắp tới, có thể nói những gì mà nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng Trung Quốc nói riêng đã trải qua trong 2 thập niên qua vẫn là những bài học kinh nghiệm phong phú và phù hợp mà các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam cần nghiên cứu để lựa chọn cho mình con đường tái cấu trúc hiệu quả (Nguyễn Kim Bảo, 2012) [4]
Hệ thống ngân hàng Việt Nam và Trung Quốc, mặc dù khác nhau về quy
mô nhưng được đánh giá là có nhiều điểm tương đồng như: đều phát triển từ ngân hàng một cấp; các ngân hàng thương mại nhà nước (do chính phủ nắm phần lớn
cổ phần) chi phối thị trường ngân hàng, tỷ lệ tín dụng chảy vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (SOEs) lớn gắn liền với cơ chế cho vay chính sách… (Rosengard
và Huynh, 2009) [126] Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng của Việt Nam và Trung Quốc cũng có những điều kiện tiền đề và định hướng cải cách tương tự nhau (Võ Trí Thành, 2012) [30] Tuy nhiên, Trung Quốc đã đẩy mạnh quá trình cải cách hệ thống ngân hàng của nước này từ thập niên 1990 và cho đến nay quá trình này vẫn còn tiếp diễn, trong khi, do tác động của khủng hoảng và suy giảm kinh tế thế giới giai đoạn 2008-2010, chúng ta chỉ mới thực sự thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng gần đây, khi Chính phủ ban hành Đề án 254 ngày 01/3/2012 về “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” và tiếp đó là Đề án
1058 ngày 19/07/2017 về “Có cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý
nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020” Do đó, việc xem xét kinh nghiệm tái cấu trúc của
hệ thống ngân hàng Trung Quốc là cần thiết để Việt Nam học hỏi những bài học thành công cũng nhưu chưa thành công, tận dụng những kinh nghiệm hay cũng như tránh lặp lại những sai lầm mà Trung Quốc đã trải qua, đồng thời lường trước được những nguy cơ, thách thức có thể gặp phải trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hiện nay và sắp tới, góp phần vào quá trình thực hiện thành công mục tiêu cải cách lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam nhằm giúp nền tài chính –
Trang 18ngân hàng nước ta có thể đề kháng, chống chọi tốt nhất với những biến cố và cú sốc tài chính khu vực và toàn cầu trong tương lai
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cải
cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc và một số bài học kinh nghiệm cho tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam” với mong muốn có thể đóng
góp những nội dung lý luận và thực tiễn nhất định cho giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách trong tiến trình tái cấu trúc ngành ngân hàng nói riêng
và hệ thống tài chính nói chung của Việt Nam trong giai đoạn sắp tới
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình cải cách hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc Lý do lựa chọn đối tượng nghiên cứu này là Trung Quốc
có thể chế chính trị, môi trường kinh tế, đặc biệt là cấu trúc hệ thống tài chính ngân hàng có nhiềm điểm tương đồng với Việt Nam (như đã phân tích ở trên)
Mục đích tổng quát/cuối cùng của nghiên cứu này là rút ra một số bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách hệ thống ngân hàng của Trung Quốc thời gian qua đển áp dụng cho quá trình cải cách hệ thống ngân hàng của Việt Nam trong thời gian sắp tới Để thực hiện được mục đích này, nghiên cứu cũng xác định các mục tiêu trung gian/cụ thể thể hiện thông qua các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
1/ Cải cách hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc dựa trên cơ sở nào? (lý thuyết và thực tiễn kinh nghiệm quốc tế)
2/ Tại sao phải cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc? (những nguyên nhân xuất phát từ nội tại hệ thống ngân hàng Trung Quốc, của nền kinh tế Trung Quốc nói chung và trong bối cảnh khu vực và quốc tế)
3/ Nội dung chính của cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 1990 đến nay là gì? Tác động của quá trình này?
4/ Việt Nam có thể học được những kinh nghiệm gì từ thực tiễn cải cách
hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc?
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 19Về cơ sở lý luận, do cải cách hệ thống ngân hàng là một lĩnh vực rộng lớn, gồm nhiêu nội dung liên quan đến cả vấn đề pháp lý và thực tiễn thị trường cũng như tình hình cải cách các lĩnh vực kinh tế khác có liên quan, trong khuôn khổ của luận án này không thể đề cập, giải quyết hết các vấn đề trên Luận án tập trung nghiên cứu các lý thuyết và khung chính sách cải cách hệ thống ngân hàng mang tính cấu trúc, trong đó đặc biệt tập trung vào nguyên nhân và các giải pháp
xử lý những yếu kém/rủi ro căn bản của hệ thống ngân hàng thương mại (như vấn đề nợ xấu và vấn đề sở hữu chéo – đây cũng là những rào cản chủ yếu trong quá trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay)
Về mặt thời gian, do lĩnh vực tài chính là một trong những lĩnh vực có sự biến đổi và phát triển nhanh chóng trong quá trình toàn cầu hóa kể từ thập niên
1990, để bảo đảm tính cập nhật và giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu, phạm
vi luận án lựa chọn tổng hợp và phân tích các kinh nghiệm trong mốc thời gian
từ những năm 1990 cho đến nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định câu hỏi nghiên cứu là:
Những mô hình, chính sách và giải pháp pháp cải cách hệ thống ngân hàng nào tại Trung Quốc có thể được áp dụng cho quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn sắp tới như thế nào?
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề tập trung phân tích kinh nghiệm quốc tế liên quan đến vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, trong đó đặc biệt tập trung vào trường hợp cải cách hệ thống ngân hàng của các quốc gia trong khu vực hoặc có những đặc điểm thể chế kinh tế tương đồng với nước ta, từ đó rút ra một
số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng đồng thời nhiều cách tiếp cận như:
- Tiếp cận lịch sử và logic: Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về mô hình và
hoạt động của hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới được tiếp cận theo thứ tự về thời gian gắn với xem xét khi có những biến độ về kinh tế vĩ mô
Trang 20- Tiếp cận hệ thống và cấu trúc: không chỉ nghiên cứu nội tại về bản thân
hệ thống mà còn bao gồm các nội dung nghiên cứu về sự tương tác, quan hệ giữa hệ thống ngân hàng với tổng thể nền kinh tế quốc dân, giữa hệ thống ngân hàng với các bộ phận của hệ thống tài chính
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích so sánh quốc tế,
tổng hợp mô hình lý thuyết và thực tiễn tái cơ cấu hệ thống/thị trường ngân hàng của các quốc gia, kết hợp giữa nghiên cứu định tính (phân tích chính sách) với kết quả một số nghiên cứu định lượng (để chứng minh/kiểm chứng cho các nhận định, kết luận) Các phân tích và bình luận của nghiên cứu này dựa trên cơ sở thông tin
thu thập từ những nguồn chính thống và đáng tin cậy, các định nghĩa, khái niệm
và mô hình phân tích được theo chuẩn mực quốc tế từ các tổ chức có uy tín như: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Bộ tiêu chuẩn của Ủy ban Basel… Trong nghiên cứu này, phương pháp phân tích tài liệu được xem như là một trong những phương pháp quan trọng sử dụng để phân tích các nhóm tài liệu: (i) Các báo cáo, thống kê số liệu thường niên về tăng trưởng kinh tế, tiền tệ - đầu
tư, dự trữ ngoại tệ, tài chính – ngân hàng,… (ii) Các tài liệu liên quan khác (các kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước trước đây, những tài liệu liên quan đến nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của Việt Nam, Trung Quốc…)
6 Những đóng góp dự kiến của đề tài:
Hệ thống hoá và phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn căn bản liên quan đến tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới, trong
đó đặc biệt đi sâu phân tích một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Trung Quốc giai đoạn từ những năm 1990s đến nay, cũng như những xu hướng, thách thức tiếp tục cải cách thời gian tới; đối chiếu với đặc điểm hệ thống ngân hàng của Việt Nam để rút ra những khuyến nghị chính sách và đề xuất giải pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn tới Đề tài cũng tập trung vào những “khoảng trống nghiên cứu” hiện nay (như vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để chuẩn bị sẵn sàng và đáp ứng yêu cầu của xu hướng hội nhập tài chính, tiền tệ hơn là chỉ xử lý những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng…)
Trang 21Thứ nhất, góp phần hệ thống hoá những lý thuyết, quan điểm cơ bản về tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến định hướng chính sách và các giải pháp cụ thể trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của mỗi nước
Thứ hai, phân tích sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan
đến tái cấu trúc ngân hàng trong bối cảnh đặc thù của nền kinh tế chuyển đổi như tại Việt Nam và Trung Quốc
Thứ ba, phân tích và đánh giá thực trạng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
của Trung Quốc, tổng kết những thành công, hạn chế của tiến trình này cũng như
dự báo những cơ hội, thách thức trong thời gian tới Trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Việt Nam trong giai đoạn tới
7 Kết cấu của luận án:
Đầu tiên, chuyên đề sẽ rà soát, tổng hợp và hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới, trên cơ sở đó, tổng kết và đánh giá thực tiễn cải cách hệ thống ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới thời gian qua Từ đó, nghiên cứu đối chiếu với những khó khăn, thách thức trong cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay để rút ra một số khuyến nghị chính sách cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian tới
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng
trên thế giới, tại Trung Quốc và Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở đó xác định mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của luận án; với mục tiêu đưa ra những hàm ý/khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tiến độ và nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính bền vững của quá trình tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam (đặt trong bối cảnh tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh và bền vững)
Chương 2: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ
thống ngân hàng trên thế giới, phân tích ưu điểm/hạn chế của từng trường phái tái cơ cấu và những giải pháp tái cơ cấu cụ thể mà các nước trên thế giới và trong khu vực đã áp dụng; trên cơ sở đó hệ thống hóa các giải pháp tái cần thiết cho
Trang 22quá trình cải cách hệ thống ngân hàng nói chung cũng như đối với từng cầu phần của hệ thống
Chương 3: Thông qua việc phân tích chính sách, phân tích thị trường nhằm
đánh giá về quá trình và đặc điểm cải cách hệ thống ngân hàng của Trung Quốc, gắn với quá trình cải cách và phát triển của cả nền kinh tế nước này nói chung Nghiên cứu tập trung đi sâu phân tích những tương đồng và khác biệt giữa hệ thống ngân hàng của Trung Quốc và Việt Nam; những ưu/nhược điểm của các chiến lược cải cách, nhóm giải pháp và giải pháp cải cách cụ thể; nguyên nhân của những thành công và tồn tại trong quá trình này ở Trung Quốc; những thách thức
mà hệ thống ngân hàng Trung Quốc phải đối mặt trong thời gian tới…
Chương 4: dựa trên các kết quả phân tích trong Chương 1, Chương 2 và
Chương 3, căn cứ phân tích đặc điểm thị trường ngân hàng của Việt Nam, khung khổ pháp lý và Đề án Tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng đang triển khai hiện nay, luận án đề xuất một số hàm ý/khuyến nghị chính sách và giải pháp cụ thể đối với quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trong trung và dài hạn
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới
Trong số các nghiên cứu về khủng hoảng hệ thống ngân hàng trên thế giới, tiêu biểu nhất là Luc Laeven và Fabián Valencia (2012), theo đó khủng hoảng ngân hàng có tính hệ thống xảy ra khi có đủ 02 điều kiện: (i) những dấu hiệu đình trệ tài chính nghiêm trọng của hệ thống ngân hàng (được thể hiện thông qua những cuộc tháo chạy khỏi ngân hàng (bank run), tình trạng thua lỗ phổ biến của các ngân hàng và khó khăn thanh khoản); (ii) có những chính sách cạn thiệp sâu rộng để giải quyết tình trạng khó khăn của hệ thống Đồng thời, những biện pháp can thiệp bao gồm ít nhất 03 trong số 06 giải pháp sau: (i) hỗ trợ thanh khoản ở quy mô lớn; (ii) chi phí tái cấu trúc ngân hàng (ít nhất 3% GDP); (iii) quốc hữu hóa các ngân hàng lớn; (iv) bảo lãnh ở quy mô lớn cho các khoản nợ của ngân hàng; (v) mua tài sản từ các tổ chức tài chính (ít nhất 5% GDP); (vi) đóng băng các khoản gửi tiết kiệm
Thông lệ quốc tế hiện nay có hai các tiếp cận phổ biến về tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng Cách thứ nhất, theo nghiên cứu của IMF (1999), tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng nhằm đạt được 03 mục tiêu: (i) Củng cố hiệu quả hoạt động của
hệ thống ngân hàng thông qua việc bảo đảm khả năng thanh toán và khả năng sinh
Trang 24ngân hàng; và (iii) Khôi phục niềm tin của công chúng Cách thứ hai, theo nghiên
cứu của Waxman (1998), tái cấu trúc nhân hàng có thể nhằm giải quyết vấn đề của một ngân hàng đổ vỡ ngày trong điều kiện của hệ thống ngân hàng đang hoạt động hiệu quả Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này là ở đối tượng tái cơ cấu là toàn bộ hệ thống ngân hàng hay chỉ những khâu yếu nhất của hệ thống này
Nghiên cứu của Strauss-Kahn (2009) [131] cho rằng, khi các quốc gia đối mặt với khủng hoảng kinh tế và đang theo đuổi các chính sách khôi phục, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng yếu kém, là một trong những ưu tiên hàng đầu Các dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng đang có vấn
đề bao gồm: (i) Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP; (ii) Vay nợ nước ngoài lớn trong khi dự trữ ngoại hối mỏng và rủi
ro tỷ giá cao; (iii) Giá tài sản biến động lớn; (iv) Khả năng đánh giá tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng kém; thông tin không đầy đủ, thiếu minh bạch; và (v) Các quy định về hoạt động ngân hàng không phù hợp, lỏng lẻo; giám sát ngân hàng không hiệu quả
Một số nghiên cứu khác của Goldstein và Turner (1996); Klingebiel và Caprio (1996) [91] cũng chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng của hệ
thống ngân hàng Thứ nhất, các yếu tố vi mô, gồm: (i) Các quy định và thực tiễn
hoạt động ngân hàng yếu kém, đặc biệt là tình trạng thiếu vốn, vi phạm chính sách cho vay; (ii) Mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành, đặc biệt là các chính sách thưởng để khuyến khích cho vay mà không chú ý tới rủi ro có thể gặp phải; và (iii) Trình độ của nhân viên hạn chế, đặc biệt trong việc áp dụng công
nghệ mới Thứ hai, các yếu tố vĩ mô, như sự biến động mạnh về giá cả hoặc các yếu tố kinh tế vĩ mô như nền kinh tế tăng trưởng nóng Thứ ba, các yếu tố có tính
hệ thống, đặc biệt môi trường hoạt động không thuận lợi như: (i) Số lượng lớn các ngân hàng Nhà nước dẫn đến tình trạng bóp méo xu hướng cho vay, thu hút tiền gửi và cạnh tranh, cũng như hạn chế khả năng đa dạng hóa hoạt động của các ngân hàng; (ii) Chính phủ định hướng chặt chẽ về tín dụng làm hạn chế các ngân hàng phát triển kỹ năng đánh giá các khoản cho vay; (iii) Hệ thống pháp luật không đầy đủ làm hạn chế hiệu quả của hệ thống ngân hàng (như về chính sách an toàn và minh bạch thông tin); (iv) Các quy định và cơ chế giám sát
Trang 25không đầy đủ và hiệu quả; và (v) Thị trường chứng khoán chưa phát triển, đặc biệt là đối với các chứng khoán dài hạn (khi đó, các ngân hàng sẽ phải cung cấp các khoản vay dài hạn và tập trung quá nhiều rủi ro)
Trong số các nghiên cứu về các biện pháp cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới thời gian qua, tiêu biểu nhất là 02 nghiên cứu của Dziobek và Pazarbasioglu (1997, 1998) đều nghiên cứu trên một tập hợp gồm 24 quốc gia đại diện từ cac khu vực khác nhau trên thế với và với trình độ phát triển hệ thống tài chính – ngân hàng khác nhau [59, 60]
Khảo sát chính sách tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại 24 quốc gia trong những năm 1980s và những năm đầu 1990s, Dziobek và Pazarbasioglu (1998) đã liệt kê những chính sách cụ thể được áp dụng phổ biến tại các nước: (i) Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nắm giữ quyền điều hành các ngân hàng thương mại (quốc hữu hóa một phần); (ii) Đóng cửa các ngân hàng yếu kém; (iii) Sáp nhập các ngân hàng trong nước với ngân hàng nuớc ngoài; (iv) Sáp nhập các ngân hàng trong nuớc với nhau; (v) Thành lập công ty quản lý tài sản; (vi) Thay đổi cơ cấu sở hữu ngân hàng thông qua tư nhân hóa Đồng thời nghiên cứu cũng cho rằng không có chính sách đơn lẻ nào chứng tỏ tính ưu việt tới hiệu quả tái cơ cấu so với các chính sách khác [60] Bản thân hiệu quả của từng chính sách phụ thuộc vào các yếu tố thể chế và pháp lý đặc thù của mỗi nước Do vậy việc sử dụng một tổ hợp chính sách được coi là sự lựa chọn hợp lý cho việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của các quốc gia
Trong một nghiên cứu trước đó, Dziobek và Pazarbasioglu (1997) đã phân tích một tập hợp mẫu đại diện gồm 24 quốc gia trên 6 khu vực lãnh thổ trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1995, từ đó phát hiện những yếu tố tạo nên thành công của một quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng [59] Theo nghiên cứu, 24 quốc gia được lựa chọn đã sử dụng trung bình 8 công cụ để thực hiện tái cấu trúc Trong đó, các công cụ tốt nhất được nhận diện liên quan đến những chính sách sau: vai trò của ngân hàng trung ương trong việc dẫn đầu công cuộc chuyển đổi tại các nước; kế hoạch xử lý nợ xấu; chính sách đóng cửa các TCTD thông qua mua bán, sáp nhập hoặc cho phá sản; tư nhân hóa; tái cấu trúc doanh nghiệp; các chính sách khuyến khích đối với nhà quản lý và chủ sở hữu
Trang 26Hai nghiên cứu này cũng đã tổng quát hóa những bài học kinh nghiệm về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại các quốc gia như: (i) Đánh giá đúng bản chất
và phạm vi những vấn đề của hệ thống ngân hàng là một yếu tố quan trọng của quá trình tái cấu trúc – cần có phương pháp tiếp cận toàn diện (trên các khía cạnh: giải quyết ngân hàng yếu kém, giải quyết những sai sót trong hệ thống kế toán và khuôn khổ pháp lý, tăng cường quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro); (ii) Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cần có một đơn vị đi đầu (thường là ngân hàng trung ương) nhằm thiết kế các thước đo kết quả của quá trình tái cấu trúc và tách biệt nhiệm vụ, quyền lợi của các ngân hàng phải tái cơ cấu đối với những ngân hàng còn lại trong hệ thống và luôn sẵn sàng để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết trong suốt quá trình tái cơ cấu này; (iii) Chính phủ cần có chính sách đóng cửa hoặc hỗ trợ tài chính đối với các ngân hàng yếu kém – nguyên tắc chia sẻ tổn thất giữa Chính phủ, các ngân hàng, và công chúng là một phần quan trọng cho thành công của quá trình tái cấu trúc; (iv) Việc loại bỏ nợ xấu ra khỏi bảng cân đối của các ngân hàng và chuyển các khoản nợ đó sang một tổ chức khôi phục
nợ độc lập là một phương pháp hiệu quả được các quốc gia sử dụng, đồng thời,cũng là phương thức để giảm thiểu chi phí của quá trình tái cấu trúc ngân hàng và gửi tín hiệu đến những đối tượng vay nợ vị phạm
Như vậy, các nghiên cứu của học giả quốc tế cho thấy hoạt động tái cơ cấu ngân hàng tại các quốc gia cần tuân thủ một số nguyên tắc chung và phải thực hiện một cách triệt để, toàn diện trên mọi khía cạnh của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, từng quốc gia phải dựa vào bản chất và mức độ của những vấn đề đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng để xác định những phương pháp tiếp cận quá trình tái cấu túc phù hợp nhất
1.2 Tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc
Hiện nay, các nguồn tài liệu, số liệu liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng của Trung Quốc chưa nhiều, thông tin cũng không hoàn toàn nhất quán, vì vậy, nhằm bảo đảm tính xác thực và khả tín của nghiên cứu, tác giả sử dụng thông tin từ các nguồn chính thống như từ các cơ quan của chính phủ Trung Quốc, các tổ chức, tạp chí, trung tâm nghiên cứu và học giả có uy tín tại Trung Quốc và quốc tế
Trang 27Hiện nay, các học giả quốc tế cũng như tại Trung Quốc còn có nhiều đánh giá khác nhau về mức độ thành công, cũng như tồn tại, hạn chế của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc diễn ra trong hơn hai thập niên vừa qua (Tong, 2013) [133] Sự khác biệt này bắt nguồn từ hai trường phái tiếp cận khác nhau về vai trò của nhà nước trong hệ thống ngân hàng: (i) Trường phái ủng
hộ quan điểm của Stiglitz và Weiss (1981), Greenwald và Stiglitz, (1986) cho rằng nhà nước cần đóng vai trò tích cực trong việc khắc phục xu thế độc quyền tự nhiên
và tâm lý hoảng loạn trong hệ thống ngân hàng và (ii) Trường phái ủng hộ quan điểm của Shleifer và Vishny (1998) cho rằng sở hữu của nhà nước trong hệ thống ngân hàng sẽ khiến hệ thống ngân hàng trở nên kém hiệu quả và bị chi phối bởi những mục tiêu/quyết định chính trị, cũng như những rủi ro đạo đức (moral hazard) và những vấn đề ủy thác – nhậm thác (principal–agent problems)
1.2.1 Những đánh giá tích cực cho rằng quá trình cải cách hệ thống ngân
hàng tại Trung Quốc đã đạt được những thành tựu cơ bản, tạo nền tảng quan trọng cho tốc độ tăng trưởng nhanh và những thành tựu phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những thập niên qua gồm:
Alicia, Sergio và Daniel (2006) khi nghiên cứu 03 trụ cột tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng của Trung Quốc (gồm: (i) Xử lý NPL và bổ sung vốn (từ ngân sách) cho 04 NHTMNN lớn nhất; (ii) Từng bước mở của thị trường ngân hàng trong khi vẫn kiểm soát chặt tài khoản vốn; (iii) Tăng cường các quy định về tài chính và kiểm tra đối với hệ thống ngân hàng), cho thấy mức độ lành mạnh của
hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là về chất lượng tài sản Nghiên cứu cũng cho rằng, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc đã bước vào giai đoạn mới, đòi hỏi phải có những chiến lược mới mang tính dài hạn hơn nhằm đối phó với rủi ro hình thành NPLs mới tại các ngân hàng đã được tái cấp vốn trong giai đoạn vừa qua, như thay đổi cấu trúc sở hữu [45]
Chunxia và Shujie (2010) khảo sát 47 ngân hàng tại Trung Quốc, sử dụng
Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên một bước (One-step stochastic frontier analysis) để đánh giá hiệu quả của hệ thống ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 1995-2008 gắn với các chính sách/biện pháp tái cấu trúc chủ yếu, trong đó
Trang 28tập trung phân tích các hiệu ứng về sở hữu, lựa chọn và hiệu ứng động về tác động của những thay đổi trong quản trị tới hoạt động của ngân hàng Nghiên cứu cho thấy hiệu quả của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện trong giai đoạn 1995-2008 (cụ thể, hiệu quả về lợi nhận được cải thiện nhanh hơn hiệu quả về chi phí; yếu tố sở hữu thay đổi có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động chung của
hệ thống ngân hàng), trong đó, nhóm các ngân hàng thương mại tư nhân (JSCBs)
và ngân hàng thương mại đô thị (CCBs) hoạt động hiệu quả hơn hẳn ngân hàng thương mại quốc doanh (SOCBs) trên hầu hết các chỉ tiêu Nghiên cứu cho rằng,
cổ phần hóa không triệt để và sự tiếp tục can thiệp của Chính phủ đối với SOCBs
là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả hạn chế và không đồng đều của quá trình tái cấu trúc Do đó, nghiên cứu đưa ra kết luận, yếu tố then chốt để tái cấu trúc thành công hệ thống ngân hàng Trung Quốc trong gian đoạn tới là thay đổi nền tảng điều hành, ra quyết định dựa trên yếu tố lợi nhuận (profit-driven) hơn là cho vay chính sách (policy-oriented) như hiện nay [58]
Berger, Hasan và Zhou (2009) nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của 4
NHTMQD đang kiểm soát ¾ tổng tài sản của hệ thống ngân hàng của Trung Quốc (nhóm “Big Four”) trong giai đoạn 1994-2003 và kết luận nhóm ngân hàng này hoạt động kém hiệu quả về lợi nhuận so với các nhóm ngân hàng còn lại (mẫu nghiên cứu gồm 38 ngân hàng lớn nhất - chiếm 95% tổng giá trị tài sản của thị trường ngân hàng Trung Quốc), đồng thời cho thấy chỉ cần tỷ lệ nhỏ (thiểu số) tham gia của cổ đông nước ngoài cũng có thể giúp cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động (cả về lợi nhuận và chi phí) của nhóm “Big Four” [42] Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Chunxia và Shujie (2010), khi nghiên cứu trên một mẫu rộng hơn (với 47 ngân hàng thuộc các nhóm), kết luận rằng sư tham gia của
cổ đông nước ngoài có tác động tiêu cực đến hiệu quả về lợi nhuận của ngân hàng. Nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân cơ bản của kết quả trên là do các cổ đông nước ngoài đã chuyển giao kỹ năng quản trị và văn hóa kinh doanh cho các ngân hàng trong nhóm “Big Four”, đặc biệt là cải thiện chất lượng báo cáo và sự tuân thủ thị trường Nghiên cứu khuyến nghị, cần cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cổ phần ở các ngân hàng thương mại quốc doanh khác (không thuộc nhóm “Big Four) để cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này
Trang 29Barth, Koepp và Zhou (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn 1978-2003
và kết luận rằng những cải cách trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng (kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế) là nhân tố kinh tế quan trọng nhất [51] Nghiên cứu này mặc dù ghi nhận tính dễ bị tổn thương của
hệ thống ngân hàng Trung Quốc (do tỷ lệ và cấu trúc nợ xấu trong hệ thống), song vẫn khẳng định những thành tựu của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là chủ yếu và sẽ tiếp tục là nhân tố xúc tác quyết định đối với tăng trưởng của nền kinh
tế Trung Quốc trong tương lai
1.2.2 Những đánh giá tiêu cực hơn về kết quả tiến trình cải cách hệ thống
ngân hàng tại Trung Quốc cho rằng phần lớn những chính sách và biện pháp tái cấu trúc được áp dụng thời gian qua mới khắc phục được khả năng thanh toán (solvency restructuring) của các ngân hàng (thông qua tái cấp vốn, cải thiện bảng cân đối tài sản của ngân hàng), nhưng chưa tạo nên sự thay đổi căn bản về mô hình hoạt động, cấu trúc thị trường (operational restructuring) của các ngân hàng này (như cải thiện khả năng sinh lời và khả năng thanh toán bền vững của ngân hàng) theo hướng bền vững và hiện đại (Li Wen-hong, 2001) [103], cụ thể:
Nghiên cứu của Genevieve và Shang-Jin (2005) về vấn đề mất cân đối giữa
tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tại các khu vực kinh tế khác nhau của Trung Quốc và vai trò trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng nước này kết luận chính sự chi phối của nhà nước, thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh (đặc biệt là nhóm “Big Four”) đã dẫn đến sự chia cắt trong thị trường ngân hàng Trung Quốc (giữa các địa phương và lĩnh vực kinh tế) Cụ thể, mặc dù không có những quy định hạn chế về dịch chuyển vốn giữa các khu vực, tỷ lệ dịch chuyển vốn trên thực tế rất thấp do chính quyền, đặc biệt là các chính quyền địa phương
có xu hướng tác động một cách có hệ thống vào chi nhánh của các ngân hàng thương mại quốc doanh để phân bổ tín dụng theo mục tiêu chính trị, vào những lĩnh vực, khu vực có hiệu quả kinh tế thấp; đồng thời nghiên cứu cảnh báo mức độ dich chuyển vốn tại Trung Quốc đã giảm đi đáng kể trong những năm 1990 (so với những năm 1980) cùng với sự phân cấp và tăng quyền cho các địa phương Nghiên cứu khuyến nghị cần thiết phải giảm vai trò của nhà nước trong thị trường ngân hàng nhằm tăng hiệu quả kinh tế và tốc độ tăng trưởng [79]
Trang 30Guonan Ma (2007) sử dụng khung phân tích của Dziobek (1998) nghiên
cứu về chi phí và việc phân bổ chi phí trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc Nghiên cứu ước tính riêng chi phí cải thiện bảng cân đối tài sản của các ngân hàng tại nước này (chủ yếu là xử lý nợ xấu) trong giai đoạn 1998-
2006 lên đến khoảng 22% GDP (theo giá trị năm 2007), trong đó, người nộp thuế phải gánh chịu nặng nề nhất, khoảng 85% tổng chi phí (trích từ ngân sách), phần chi phí còn lại thuộc về POBC, các cổ đông và khách hàng của các ngân hàng liên quan Nghiên cứu cũng chỉ ra sự phức tạp và kém minh bạch trong các thỏa thuận
về chia sẻ chi phí tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc, trong đó có những giải pháp tái cơ cấu rất tốn kém và thiếu bền vững (như giải quyết nợ xấu
cũ và ngăn ngừa nợ xấu mới hình thành nhưng không cải cách cơ chế cấp tín dụng
và quản trị rủi ro thỏa đáng), nhiều chi phí chưa được thanh toán (trở thành những khoản nợ trong tương lại) Do đó, khuyến nghị xây dựng cơ chế chia sẻ chi phí hợp lý giữa các bên liên quan để tránh vấn đề “rủi ro đạo đức” và cân đối nguồn lực để tiếp tục tái cơ cấu, có tính đến nguồn lực từ các nhà đầu tư nước ngoài [83]
Xiaoqing và Shelagh (2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc và hiệu
quả của thị trường ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 1985-2002 sử dụng phương pháp tiếp cận của Berger (1995) và Goldberg, Rai (1996) về ước tính dữ liệu chuỗi (panel data estimation) để kiểm tra giả thiết về sức mạnh thị trường và hiệu quả cấu trúc; đồng thời, các tác giả của nghiên cứu cũng mở rộng mô hình này để xét đến những tác động từ quy mô và sở hữu của các ngân hàng và áp lực cạnh tranh đối với nhóm “Big Four” Nghiên cứu cho thấy, trung bình, hệ số hiệu quả X (X-efficiency) giảm đáng kể và phần lớn các ngân hàng hoạt động dưới mức quy mô hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp tái cấu trúc có
ít tác động đến cấu trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc, theo đó, chỉ có các ngân hàng liên doanh là đạt được hệ số hiệu quả X cao hơn từ những biện pháp này Nghiên cứu cũng kết luận, do các biện pháp kiểm soát lãi suất của nhà nước, nhóm “Big Four” không dành được lợi nhuận độc quyền và vẫn phải chịu sự cạnh tranh từ các ngân hàng quy mô nhỏ [140]
Kết luận này trái ngược với kết quả nghiên cứu của Sayuri (2001), sử dụng
mô hình tương tự nhưng áp dụng cho giai đoạn ngắn hơn (1996-2000) và kết luận rằng cạnh tranh chủ yếu chỉ xảy ra ở phân khúc cuối của thị trường (giữa các ngân hàng quy mô nhỏ hơn) trong khi nhóm “Big Four” vẫn chiếm thị phần
Trang 31huy động khoảng 80% tổng tiền gửi của toàn thị trường và không có cạnh tranh đáng kể do sự phân định lĩnh vực thị trường từ phía nhà nước [127] Nghiên cứu này cũng chỉ ra những khác biệt mang tính hệ thống về khả năng sinh lời và hiệu quả về chi phí giữa nhóm “Big Four” và các ngân hàng còn lại trong hệ thống
Cụ thể, nhóm các ngân hàng còn lại có khả năng sinh lời, hiệu quả về chi phí, cao hơn và tỷ lệ đòn bẩy ít hơn, và cấu trúc bảng cân đối tài sản lành mạnh hơn, cũng như các tiêu chuẩn cấp tín dụng chặt chẽ hơn nhóm“Big Four”
Bổ sung thêm vào quan điểm hoài nghi về thành công của quá trình tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc, DaCosta và Ping (2002) nghiên cứu các tác
động kinh tế - xã hội của quá trình tái cấu trúc từng bước hệ thống ngân hàng trong hơn 2 thập niên qua của nước này và cho thấy có sự khác biệt đáng kể về các chỉ tiêu kinh tế và tài chính vĩ mô giữa giai đoạn trước và sau năm 1993 (ngoại trừ tốc độ gia tăng tín dụng và tiền gửi nội địa, tỷ lệ giữa nợ nước ngoài trên tổng tiền gửi); các biện pháp kiểm soát kênh truyền tải tiền tệ có thể thay đổi nhưng cơ chế kiểm soát theo mệnh lệnh hành chính vẫn được duy trì, dẫn tới tình trạng phần lớn tín dụng trong nền kinh tế vẫn chảy vào khu vực kinh tế/doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả Nghiên cứu kết luận, mặc dù những biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc thời gian qua đã đẩy lùi nguy cơ khủng hoảng trước mắt thì những rủi ro đổ vỡ vẫn hiện hữu, xuất phát từ sự kém hiệu quả trong hoạt động (do những định hướng cho vay chính sách và bù đắp thâm hụt tài khóa) [64]
Tóm lại, phần lớn các nghiên cứu của học giả quốc tế và tại Trung Quốc mặc dù ghi nhận những thành công và đóng góp của tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nước này vào kỳ tích tăng trưởng của nền kinh tế của nước này trong hơn 2 thập niên vừa qua, nhưng đều thống nhất rằng quá trình này cần được tiếp tục đẩy mạnh, với ưu tiên trước mắt là đẩy mạnh cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước, đặc biệt là nhóm “Big Four”, nhằm khắc phục những bất cân đối và rủi ro phát sinh từ cơ chế phân bổ tín dụng theo chính sách (hơn là theo hiệu quả kinh tế) hiện nay Tuy nhiên các nghiên cứu cũng cảnh báo quá trình cổ phần hóa cần có lộ trình phù hợp để tránh gây ra bất ổn và rủi ro cho thị trường ngân hàng, như bài học được rút ra từ quá trình cổ phần hóa nhanh chóng tại Chi-
lê đầu những năm 1980 (của thế kỷ XX) và Mê-hi-cô năm 1995 dẫn đến khủng hoảng ngân hàng tại các nước này ngay sau đó (Dziobek và Pazarbasioglu, 1997)
Trang 32Có thể thấy, những nghiên cứu, bài viết về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Trung Quốc cho tới nay của các học giả trong và ngoài Trung Quốc mới chỉ phán ánh những khía cạnh khác nhau của quá trình này và chưa sâu chuỗi một cách có
hệ thống đầy đủ về những bài học rút ra từ quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Trung Quốc đối với các nền kinh tế kinh tế đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam Bên cạnh đó, đây là những công trình nghiên cứu, bài viết tương đối hạn chế về mặt thời điểm nên chưa cập nhật được những cải cách lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 và sau Hội nghị Trung ương 3 (Khóa XVIII) của Đảng Cộng sản Trung Quốc Do đó, luận án góp phần cập nhật quá trình cải cách hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc để rút ra những khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
1.3 Tình hình nghiên cứu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Các nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong cải cách lĩnh vực ngân hàng
từ trước đến nay thường theo hai cách tiếp cận chủ yếu (i) đặt cải cách hệ thống ngân hàng từ tổng thể cải cách nền kinh tế nói chung, do đó chưa đi sâu phân tích những bài học kinh nghiệm cụ thể về chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt nam trong quá trình tái cấu trúc; (ii) tập trung vào một khía cạnh, lĩnh vực chuyên biệt của cải cách ngân hàng nên chưa hệ thống hóa được các khuyến nghị chính sách về cải cách hệ thống ngân hàng trong một chỉnh thể thống nhất Một
số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến:
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2012) về “Tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý về tư duy cho Việt Nam”, đã nêu tương đối
rõ về động lực, nguyên nhân mà các nền kinh tế mới nổi cần bắt tay ngay vào thực hiện tái cơ cấu kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 vừa qua Bài viết đã đề cập đến kinh nghiệm tái cơ cấu kinh tế của một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước ASEAN [27] Tuy nhiên, tác giả mới dừng lại ở việc nêu khái quát mô hình cải cách mà chưa phân tích sâu về các nội dung cụ thể của tái cơ cấu lĩnh vực ngân hàng tại các nước này
Nghiên cứu chuyên đề của Viện Quản lý kinh tế Trung ương về “Cơ cấu lại
nền kinh tế: một số vấn đề về nhận thức và kinh nghiệm một số nước” đã tổng
hợp và phân tích khá chi tiết về quá trình thực hiện và kinh nghiệm của một số nước châu Á tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có kinh nghiệm rất đáng
Trang 33quý của các nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xia [11] Tuy nhiên, chuyên đề mới chủ yếu phân tích vấn đề tái cấu trúc trong nền sản xuất thực và cũng chỉ ra cần có những nghiên cứu chuyên sâu về tái cấu trúc lĩnh vực tài chính – ngân hàng trong tương lai
Cuốn sách “Tái cơ cấu Hệ thống tài chính Hàn Quốc sau Khủng hoảng tài
chính 1997 - 1998, Những kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam” đã phân tích khá
chi tiết về công cuộc cải tổ kinh tế sau khủng hoảng tài chính châu Á và một số gợi ý phù hợp cho việc tái cơ cấu hệ tài chính của Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chủ yếu tập trung vào quá trình tái cơ cấu và phát triển thị trường vốn, các công ty trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm ở Hàn Quốc sau khủng hoảng, mà chưa tập trung phân tích về các khía cạnh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của nước này Nghiên cứu định lượng của Nguyễn Đức Thành và Vũ Minh Long (2014)
“Đánh giá hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bằng bộ chỉ số lành mạnh
tài chính (FSIs)” đánh giá tác động của quá trình hội nhập và tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng (theo Đề án 254) ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống ngần hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2012 dựa trên 5 yếu tố: độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, thu nhập và lợi nhuận, thanh toán, đội nhạy cảm với rủi ro thị trường [29] Tuy nhiên, nghiên cứu đã không thể tính và phân tích được các chỉ
số FSIs quan trọng do thiếu số liệu và số liệu không tương thích với thông lệ quốc tế (như: độ an toàn vốn, nợ xấu trên tổng nợ, tính thanh khoản và độ nhạy cảm với rủi ro…), đồng thời mới dung lại ở phân tích về các chỉ số FSIs trong quá khứ, cũng như chưa lượng hóa được mối quan hệ với các yếu tố vĩ mô khác như tăng trưởng, cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối, lạm phát, lãi suất, tỷ giá… Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright do Vũ Thành Tự
Anh chủ biên (2013) “Sở hữu chống chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn
kinh tế tại Việt Nam: đánh giá và các khuyến nghị thể chế” đã áp dụng khung
phân tích dự trên các lý thuyết về “ủy quyền – thừa hành” và nghiên cứu các trường hợp về sở hữu chéo cụ thể đã được công bố để chỉ ra những hạn chế trong
hệ thống các quy định hiện nay liên quan đến vấn đề sơ hữu chéo giữa ngân hàng – ngân hàng và ngân hàng – doanh nghiệp, từ đó rút ra những khuyến nghị chính sách, trong đó chủ yếu tập trung vào vấn đề tư nhân hóa hệ thống ngân hàng và vai trò giám sát của thị trường [2] Tuy nhiên, khung phân tích của nghiên cứu
Trang 34này chủ yếu dựa trên các lý thuyết của kinh tế học cổ điển, mà chưa tính đến những thất bại của thị trường hiện đại một cách thỏa đáng
Nghiên cứu của Đinh Thanh Tâm và Nguyễn Thế Tùng (2015) về “Xử lý nợ
xấu theo mô hình công ty quản lý tái sản: từ kinh nghiệm quốc tế tới thực tiễn tại Việt Nam” tập trung phân tích mô hình xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản
các tổ chức tín dụng (VAMC), so sánh hoạt động của VAMC với DATC, qua đó
đề xuất các giải pháp kết hợp hoạt động của VAMC và DATC, cải thiện khả năng hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn vốn nợ của hệ thống doanh nghiệp, hình thành một thị trường mua bán nợ tập trung, chuyên nghiệp, góp phần xử lý
nợ xấu triệt để [37] Tuy nhiên, khi tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc về việc các công ty quản lý tài sản (AMCs) đồng thời trực thuộc cả Bộ Tài chính và NHTW để xử lý trước hết là các NHTM nhà nước, sau đó là hệ thống ngân hàng của nước này,
mà chưa tham khảo thỏa đáng đến các quốc gia có mô hình xử lý nợ xấu tập trung như Hàn Quốc, In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia… và vai trò quan trọng của cơ quan bảo hiểm tiền gửi trong quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém
1.4 Khung phân tích quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Trước khi đi sâu phân tích quá trình tái có cấu hệ thống ngân hàng của một quốc gia, gồm: đối tượng tái cơ cấu, mô hình tái cơ cấu được lựa chọn, các giải pháp thực hiện tái có cấu, những thành tựu và hạn chế của quá trính tái cơ cấu…, có 03 nội dung quan trọng cần xác định rõ là: (a) Cơ quan thực hiện tái cơ cấu, (b) Nguồn lực tài chính để thực hiện tái cơ cấu; (c) Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
1.4.1 Cơ quan thực hiện tái cơ cấu:
Vấn đề cơ quan chủ trì thực hiện quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thường mang yếu tố quyết định đến hiệu quả của quá trình này (IMF, 2004) Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, NHTW thường không tham gia lãnh đạo trực tiếp quá trình tái cơ cấu mà chỉ đóng vai trò một bên tham gia quan trọng vào quá trình này và nhiệm vụ chủ trì quá trình tái cơ cấu thường được giao cho một cơ quan/tổ chức được thành lập mới với đủ thẩm quyền pháp lý và tính khách quan
để tổ chức thực hiện hiệu quả quá trình tái cơ cấu này (như tại Indonesia và Thái Lan) Khảo sát của Hawkins (1999) về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở 24 quốc
Trang 35gia cũng cho thấy nếu NHTW chịu trách nhiệm tái cấu trúc, thì hệ thống ngân hàng thay đổi chậm và như vậy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng khó đạt hiệu quả cao do: (i) Kế hoạch tái cấu trúc các NHTM thiếu tính minh bạch và phản biện – thường do NHTW độc quyền xây dựng trước khi được công bố công khai; (ii) Thiếu sự kết hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan (như với Bộ Tài chính và các cơ quan giám sát liên quan); (iii) Chi phí tái cấu trúc NHTM không xác định được chính xác trên cơ sở thị trường; (iv) Rủi ro từ mâu thuẫn lợi ích hoặc nảy sinh vấn đề lợi ích nhóm
1.4.2 Nguồn lực tài chính để thực hiện tái cơ cấu:
Nguồn lực tài chính thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng bao gồm: nguồn tái cấp vốn cho các NHTM yếu kém về thanh khoản, nguồn xóa nợ và xử
lý nợ xấu, chi phí xử lý và giải quyết các NHTM và TCTD phi ngân hàng bị đổ
vỡ và các chi phí có liên quan cho việc thực hiện các giải pháp tái cơ cấu của chính các NHTM (như: chi phí đánh giá chất lượng tài sản, chi phí sắp xếp lại, giải thể các NHTM thua lỗ, phá sản, chi phí bồi thường cho người gửi tiền, chi phí nâng cao năng lực quản trị rủi ro, năng lực quản trị doanh nghiệp của các NHTM, chi phí thoái vốn, rút vốn khỏi các lĩnh vực đầu tư phi tài chính…)
Theo thông lệ quốc tế, nguồn tài chính cho việc xử lý các NHTM yếu kém thường được xác định bao gồm: nguồn của các NHTM khác mua lại, kể cả việc tăng room cho nhà đầu tư nước ngoài, nguồn từ thanh lý tài sản của các NHTM
là đối tượng phải xử lý, nguồn từ chính chủ các NHTM phải đáp ứng, nguồn từ phát hành trái phiếu chính phủ qua Bảo hiểm tiền gửi, dùng tiền để Chính phủ quốc hữu hóa các NHTM yếu kém, vực dậy, sau đó bán lại cho tư nhân, thậm chí còn có lãi Tuy nhiên, trong trường hợp Chính phủ bỏ tiền ra để hỗ trợ các NHTM yếu kém, Chính phủ sẽ đưa ra các quy định để đảm bảo hiệu quả của quá trình tái cấu trúc cũng như giảm thiểu tối đa rủi ro đạo đức trong quá trình thực hiện Các NHTM yếu kém bị xử lý được yêu cầu phải cắt giảm về qui mô, nhân viên, chi nhánh, cải thiện năng suất và hiệu quả thì mới được hỗ trợ của Chính phủ trong quá trình tái cấu trúc Nếu các NHTM này tiếp tục thua lỗ và yếu kém trong quản lý thì bị buộc phải giảm vốn và thay thế lãnh đạo
1.4.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quá trình tái cơ cấu:
Trang 36Như vậy, mục tiêu chung của tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nói chung, theo
Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu (1998) [60] “nhằm đạt được 3 mục tiêu:
i) Củng cố hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua cải thiện khả năng sinh lời; ii) Cải thiện năng lực thực hiện chức năng trung gian tài chính của
hệ thống ngân hàng giữa người đi vay và người cho vay; và iii) Khôi phục niềm tin của công chúng” Tuy nhiên, tùy bối cảnh tái cơ cấu của NHTM ở các quốc gia
khác nhau, thì mục tiêu tái cớ cấu cụ thể là khác nhau Nguyễn Hồng Sơn (2012) [27] tổng hợp nghiên cứu quốc tế của Barth J.R và Yago G (2003) [50] về các tiêu chí đánh giá hiệu quả tái cơ cấu ngân hàng theo thông lệ quốc tế và đặc điểm
hệ thống ngân hàng ở các nước đang phát triển, đã xác định 06 tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, gồm: (i) tăng trưởng dư nợ tín dụng; (ii) tăng trưởng vốn chủ sở hữu; (iii) tỷ lệ nợ xấu; (iv) tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; (v) tỷ lệ chênh lệch lãi suất và chi phí hoạt động trên thu nhập từ lãi; (vi) khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE); (vii) thanh khoản của hệ thống và các nhóm/ngân hàng cụ thể
- Tăng trưởng dư nợ tín dụng: theo IMF (2005), chỉ số này là lành mạnh
khi ở mức tương đương 1 – 1,5 lần mức tăng trưởng của nền kinh tế, nếu chỉ số này quá cáo (do nền kinh tế tăng trưởng nóng, nhu cầu tín dụng cho các hoạt động đầu tư/tiêu dùng cao) hoặc quá thấp (do các hoạt động kinh tế suy giảm, nhu cầu tín dụng giảm) Tốc độ tăng trưởng tín dụng cần được xét riêng cho từng nhóm NHTM cụ thể, tương ứng với năng lực kinh doanh/tài chính để đánh giá sự phù hợp và nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu [9]
- Tăng trưởng vốn chủ sở hữu: Berger và cộng sự (1998) [43] nghiên cứu
thực nghiệm 42 ngân hàng tại châu Á cho kết quả, vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều đến rủi ro tín dụng thông qua biến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng; Shrieves và Dahl (1992); Jacques & Nigro (1997), mối quan hệ giữa vốn và rủi ro tín dụng là cùng chiều, nghĩa là khi rủi ro gia tăng thì vốn ngân hàng cũng gia tăng, là do công tác giám sát hiệu quả của thị trường Tuy nhiên, tăng trưởng vốn chủ sở hữu của cả
hệ thống không thể phản ảnh được tình trạng lành mạnh của hệ thống ngân hàng vì
có những ngân hàng yếu kém nếu xử lý hết nợ xấu thì vốn chủ sở hữu sẽ âm
- Tỷ lệ nợ xấu (tổng nợ xấu/tổng dư nợ tín dụng): cần được tính theo thông
lệ quốc tế, tuy nhiên, tại một số nền kinh tế chuyển đổi (như Viêt Nam, Trung Quốc…) đang có cách tính nợ xấu riêng, với kết quả thường thấp hơn nhiều so
Trang 37với thông lệ quốc tế gây khó khăn trong quá trình nghiên cứu, đánh giá Theo thông lệ quốc tế, một trong những dấu hiệu cảnh báo khủng hoảng tài chính và yêu cầu tái cơ cấu cấp bách là tỷ lệ nợ xấu cao Tuy nhiên, quan trọng hơn con số
nợ xấu là cơ cấu nợ xấu và các khoản nợ này đã và sẽ được xử lý như thế nào
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản: là một chỉ tiêu được sử dụng để
đánh giá độ lành mạnh tài chính (FSI) của hệ thống ngân hàng theo khuyến cáo của IMF (Nguyễn Hồng Sơn, 2012) [27], tỷ lệ này gia tăng thể hiện những thay đổi tích cực của quá trình tái cơ cấu ngân hàng, cụ thể là trong việc bảo đảm an toàn tài chính thông qua giảm bớt tỷ lệ đòn bẩy tài chính
- Hiệu quả hoạt động của ngân hàng: thể hiện qua 2 chỉ tiêu chênh lệch lãi
suất (NIM) và chi phí hoạt động trên thu nhập từ lãi Khi NIM có xu hướng giảm
và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập từ lãi tăng chứng tỏ cả hoạt động cho vay lẫn hoạt động huy động của ngân hàng đều đang rất khó khăn, và ngược lại Sau tái cơ cấu, hai chỉ số này của các NHTM thường chưa được cải thiện ngay do vẫn còn sức ép rất lớn từ các khoản vay tiềm ẩn rủi ro phải trích lập nợ xấu, trong khi sức ép phải tăng trưởng tín dụng để gia tăng đầu ra, dẫn đến con số thực về tăng trưởng tín dụng của một số NHTM cao hơn nhiều so với qui định,
từ đó dẫn đến rủi ro kép về nợ xấu lại gia tăng
- Khả năng sinh lời (ROA, ROE): hai chỉ số này có xu hướng giảm trước
và trong quá trình tái cơ cấu do nợ xấu gia tăng mạnh kéo theo chi phí trích lập
dự phòng rủi ro tăng, trong khi đó, tăng trưởng tín dụng một mặt bị NHTW khống chế, kiểm soát đối với các NHTM yếu và trung bình, còn các NHTM khá
và mạnh cũng khó cho vay ra vì tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế
và phục hồi trở lại và đạt mức cao hơn so với trước khi thực hiện tái có cấu, cho thấy quá trình tái cơ cấu đã hoàn tất và có hiệu quả, đồng thời cũng phản ánh sự phục hồi của thị trường ngân hàng nói chung
- Thanh khoản: kinh nghiệm quốc tế cho thấy, rủi ro thanh khoản của hệ
thống ngân hàng thường không được quan tâm đúng mức cho đến khi khủng hoảng diễn ra (Claudia và Ceyla, 1998) [60] Khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng cần được cải thiện rõ rệt qua quá trình tái cơ cấu NHTM là được xem
ra chỉ số cơ bản và quan trọng để đánh giá hiệu quả tái cơ cấu
Trang 38Ngoài ra, các cách thức, biện pháp được sử dụng theo thông lệ quốc tế để đánh giá hiệu quả tái cơ cấu như: so sánh giữa mục tiêu và kết quả, so sánh giữa chi phí và lợi ích của tái cơ cấu, đánh giá mức độ thực hiện các phương án phục hồi của các NHTM yếu kém, đánh giá mức độ phục hồi sau tái cơ cấu/sau sát nhập của các NHTM định dạng mô hình, cấu trúc hệ thống NHTM sau tái cơ cấu, mức độ cải thiện năng lực tài chính và quản trị của các NHTM sau tái cơ cấu… cũng cần được phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu
Trang 39Như vậy, có thể thấy, cách định nghĩa về hệ thống ngân hàng theo thông lệ quốc tế và của Việt Nam không có nhiều sự khác biệt Trong đó, đối tượng chủ yếu của quá trình cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới, cũng như Đề án Tái
cơ cấu các tổ chức tín dụng Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (Đề án 254) tập trung vào hai cấu phần chính của hệ thống là NHTW và NHTM Do đó, luận án sẽ tập trung vào hai thành tố này
2.1.1.1 Ngân hàng Trung ương:
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về NHTW trên thế giới, tuy nhiên, căn cứ vào lịch sử phát triển và hoạt động thực tế của NHTW, khái niệm NHTW có thể được hiểu mang những chức năng chủ yếu sau: (i) là ngân hàng cho Chính phủ và hệ thống ngân hàng, (ii) là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia; (iii) có thẩm quyền pháp lý phát hành tiền; (iv) chịu trách nhiệm giám sát hệ thống ngân hàng và thực thi chính sách tiền tệ Thực tiễn trên thế giới hiện nay cho thấy, NHTW là định chế công được tổ chức theo mô hình trực thuộc Chính phủ (như tại Việt Nam, Trùng Quốc) thuộc hoặc độc lập so với Chính phủ (như tại Hoa Kỳ, Anh quốc) với Chính phủ
Trong mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của
Chính phủ cả về nhân sự, tài chính và quá trình xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ (như tại Nhật Bản và hầu hết các quốc gia đang phát triển) Trong đó, Chính phủ có thể dễ dàng sử dụng NHTW và chính sách tiền tệ, phối hợp với chính sách tài khóa và những chính sách vĩ mô khác cho các mục tiêu về tăng trưởng hay tạo việc làm Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là có thể khiến NHTW xa rời mục tiêu dài hạn là ổn định tiền tệ
Trong mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, NHTW thực hiện các mục
tiêu về tiền tệ trong trung và dài hạn do Quốc hội đề ra và có mối quan hệ hợp tác (không phụ thuộc) đối với Chính phủ Mô hình này phổ biến ở các quốc gia
có nền kinh tế thị trường phát triển phương Tây
2.1.1.2 Ngân hàng thương mại:
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gia tài chính nhằm chuyển tải những khoản tiền tiếp kiệm/tích lũy trong xã hội đến
Trang 40những người có nhu cầu đầu tư/tiêu dùng Trong hệ thống đó, NHTM đóng vai trò quan trọng và phổ biến nhất
Hiện nay, các quốc gia có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống NHTM với phạm vi và tính chất có nhưng sự khác biệt nhất định, tuy nhiên, về cơ bản, các định nghĩa này đều chia sẻ những đặc điểm chung như “NHTM là loại hình ngân hàng trung gian hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu” đồng thời chỉ ra hoạt động có bản của NHTM gồm: (i) nhận tiền gửi; (ii) cho vay và (iii) thực hiện các dịch vụ ngân hàng
Tại Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng (2010), ngân hàng thương mại là “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Đồng thời, những chức năng cơ bản chủ yếu của NHTM tại Việt Nam được quy định gồm:
- Chức năng thủ quỹ cho xã hội: NHTM nhận tiền gửi từ người dân, các
doanh nghiệp và tổ chức, gữi tiền cho những khách hàng này và đáp ững nhu cầu rút tiền, chi tiền của họ
- Chức năng trung gian thanh toán: thực hiện hoạt động thanh toán theo
yêu cầu của khách hàng, như: trích tiền từ tài khoản tiền gửi để thanh toán các giao dịch của khách hàng hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng thu nhập theo lệnh của họ
- Chức năng trung gian tín dụng: thực hiện chức năng “cầu nối” và điều
phối giữa những các nhân/tổ chức dư thừa vốn với các cá nhân/tổ chức có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua việc huy động những nguồn vốn “nhàn rỗi” trong nền kinh tế và cho các đối tượng có nhu cầu đầu tư/tiêu dùng vay Chức năng này bắt nguồn từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất của xã hội
2.1.2 Những nguyên nhân cơ bản cần tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là hệ thống các NHTM, lý thuyết tài chính tiện tệ cổ điển cũng như hiện đại đều chỉ ra những rủi ro cố hữu mà cả hệ thống cũng như mỗi NHTM phải đối diện, đó là: (i) Bất đối xứng về thông tin (asymmetric