Một số nghiên cứu trong thời gian vừa qua cho rằng, nguyên nhân chính của sự giảm sút nêu trên nằm ở cơ cấu nội tại của ngành công nghiệp, biểu hiện ở việc ngành công nghiệp phụ thuộc và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
LÊ HUY ĐOÀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI-2018
Trang 2VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
LÊ HUY ĐOÀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 9310105
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn
HÀ NỘI-2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và nội dung này chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Lê Huy Đoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ tôi, đến gia đình của tôi đã yêu thương và ủng hộ tôi vô điều kiện trong suốt những năm qua
Đặc biệt cảm ơn PGS-TS Nguyễn Ngọc Sơn đã tận tình hướng dẫn, góp
ý, hỗ trợ cả về mặt lý luận và thực tiễn trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Xin cảm ơn chân thành đối với Viện Chiến lược Phát triển, đặc biệt là PGS TS Bùi Tất Thắng, TS Đặng Quốc Tuấn và các nhà khoa học đã có những gợi ý ban đầu đối với đề tài nghiên cứu này và những ý kiến đóng góp quý báu
để hoàn thiện luận án, đã tạo điều kiện về thời gian, tinh thần và những hỗ trợ khác cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Xin chân thành cảm ơn Học viện Chính sách và Phát triển và các đồng nghiệp, đặc biệt là PGS-TS Đào Văn Hùng, ở những mức độ khác nhau, đã có những hỗ trợ, ủng hộ quý giá và là một phần không thể thiếu trong luận án của tôi
Tác giả
Lê Huy Đoàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu chung 4
a) Về mặt lý luận 4
b) Về mặt thực tiễn 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
4.1 Phương pháp tiếp cận 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp mới của luận án 7
6 Kết cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1 9
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 9
1.1 Các công trình trong nước 9
1.2.Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 33
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CÔNG NGHIỆP 33
2.1 Cơ sở lý luận về chất lươ ̣ng tăng trưởng ngành công nghiê ̣p 33
2.1.1 Khái niệm chất lượng tăng trưởng 33
2.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế về mặt lượng 33
2.1.1.2 Quan niệm về chất lượng tăng trưởng 35
Trang 62.1.2 Chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp 39
2.1.2.1 Khái niệm 39
2.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng công nghiệp 42
2.2 Kinh nghiệm các nước trong phát triển công nghiê ̣p và nâng cao chất lượng công nghiệp 50
2.2.1 Thái Lan 50
2.2.2 Trung Quốc 52
2.2.3 Kinh nghiệm quốc tế trong định hướng phát triển công nghiệp 53
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3 61
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM THỜI KỲ 2001-2015 VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 61
3.1 Vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam 61
3.2 Thực tra ̣ng chất lươ ̣ng tăng trưởng công nghiê ̣p Viê ̣t Nam 63
3.2.1 Đánh giá cấu trúc của tăng trưởng 63
3.2.2 Hiệu quả của việc đạt được chỉ tiêu tăng trưởng 71
3.2.3 Đánh giá tác động lan tỏa của tăng trưởng công nghiệp tới nền kinh tế 78
3.3 Các nhân tố tác đô ̣ng tới chất lươ ̣ng tăng trưởng công nghiê ̣p Viê ̣t Nam từ nay đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 92
3.3.1 Quan điểm phát triển các ngành công nghiệp 92
3.3.2 Xu hướng công nghiệp thế giới 96
3.3.2.1 Hội nhập kinh tế thế giới của kinh tế Việt Nam 96
3.3.2.2 Xu thế phát triển công nghiệp của thế giới theo hướng bền vững 99
3.3.3 Công nghiệp phụ trợ 102
3.3.4 Hiệu quả sử dụng nguồn lực 105
3 3.5 Chất lượng nguồn nhân lực 110
3.3.6 Trình độ công nghệ của doanh nghiệp 111
Trang 73.4 Đánh giá chung về chất lượng tăng trưởng công nghiê ̣p Viê ̣t Nam 113
3.4.1 Những kết quả đạt được 113
3.4.2 Những hạn chế tồn tại trong tăng trưởng ngành công nghiệp Việt Nam 114 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 118
CHƯƠNG 4 119
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 119
4.1 Đi ̣nh hướng phát triển các ngành công nghiê ̣p Viê ̣t Nam đến 2025 và tầm nhìn 2030 119
4.2 Phướng hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiê ̣p Viê ̣t Nam đến 2025 và tầm nhìn 2030 122
4.3 Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lươ ̣ng tăng trưởng công nghiê ̣p Viê ̣t Nam đến 2025 và tầm nhìn 2030 124
4.3.1 Nâng cao chất lượng chiến lược và Xây dựng Chiến lược công nghiệp 4.0 124
4.3.2 Nâng cao hiệu quả đầu tư 126
4.3.2.1 Đối với nguồn vốn đầu tư nhà nước 126
4.3.2.2 Đối với nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước 127
4.3.2.3 Đối với nguồn vốn ngoài khu vực nhà nước 128
4.3.3 Khuyến khích ứng dụng khoa học-công nghệ 128
Thúc đẩy nhu cầu đổi mới công nghệ và đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp: 128
Hình thành thị trường các sản phẩm khoa học công nghệ và hỗ trợ thị trường này phát triển: 129
4.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 130
4.3.5 Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường 132
4.3.6 Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam 133
4.3.7 Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước 138
Trang 8KẾT LUẬN 140
DANH MỤC BIỂU, HÌNH VẼ Hình 1 Chuỗi giá trị 12
Hình 2 Nguồn gốc cơ bản của tăng trưởng kinh tế 21
Nguồn: [69] 21
Hình 3 Chỉ số chất lượng tăng trưởng 25
Hình 4 Những khung nghị sự chất lượng tăng trưởng khác nhau 27
Hình 5 Khung chất lượng tăng trưởng 27
Hình 6 Khung quan niệm: thay đổi công nghệ cho sự chuyển đổi cơ cấu toàn diện 40
Hình 7 Mô hình sản xuất được hướng tới trong tương lai 41
Hình 8 Khung phân tích chất lượng tăng trưởng công nghiệp 44
Hình 9 Vi điện tử và các ngành công nghiệp bao quanh của Singapore 58
Hình 3.1: Chuyển dịch cơ cấu VA công nghiệp 64
Hình 3.2: Tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất công nghiệp 75
Hình 3.3: GO và VA của ngành công nghiệp (tỷ đồng) 76
Hình 3.4: Đóng góp của các khu vực cho tăng trưởng của nền kinh tế 79
Hình 3.5: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng 82
Hình 3.6: Mức phát thải CO2/ một đồng VA công nghiệp của Việt Nam và các nước trên thế giới (kg/1 USD PPP VA công nghiệp) 89
Hình 3.7: Thiệt hại của nền kinh tế từ ô nhiễm của Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới 90
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Thành công và thất bại trong việc can thiệp của chính phủ khi
Biểu 3.3: Tỷ lê ̣ đóng góp cho tăng trưởng GTSX công nghiệp
Biểu 3.4: Tăng trưởng GDP công nghiệp va ̀ tỷ lê ̣ đóng góp của các phân
Biểu 3.5: GDP, lao động, năng suất lao động bình quân của cả nước và
Biểu 3.7: Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng của nền kinh tế
Biểu 3.8: Đóng góp của các ngành công nghiệp cho tăng trưởng của nền
Biểu 3.9: Mức phát thải CO2 của ngành công nghiệp Việt Nam so với một
Biểu 3.10: Sử dụng nước ở một số ngành công nghiệp Việt Nam
92
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu á
CN- XD Khối ngành Công nghiệp và Xây dựng
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
GO Giá trị sản xuất
IC Chi phí trung gian
NI Thu nhập quốc dân
N-L-N Khối ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp
NSLĐ Năng suất lao động
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
VA Giá trị gia tăng
WB Ngân hàng thế giới
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Đối với hầu hết các nền kinh tế, trong một số giai đoạn nhất định, ngành công nghiệp có vai trò hết sức to lớn Khác với nông nghiệp, ngành công nghiệp
có lợi thế hơn hẳn về tốc độ tăng trưởng, trình độ mở rộng quy mô Sự phát triển của công nghiệp thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhu cầu tư liệu sinh hoạt cho nhân dân, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa đất nước Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế, công nghiệp càng có vị trí quyết định, bởi suy cho cùng, cạnh tranh trên thị trường quốc tế chủ yếu vẫn là cạnh tranh giữa các sản phẩm do ngành công nghiệp chế tạo ra Công nghiệp tăng trưởng cao, ổn định và có chất lượng sẽ tạo
ra tiền đề vật chất đảm bảo nâng cao nhịp độ phát triển đất nước, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng thị trường cho các khu vực khác trong nền kinh tế Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao của ngành công nghiệp phải gắn liền với việc cải
thiện chất lượng tăng trưởng mới đảm bảo hiệu quả kinh tế cao, duy trì tốc độ
tăng trưởng ổn định và phát triển công nghiệp một cách bền vững, làm động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển, mang đến tiến bộ chung cho nền kinh tế và xã hội
Góp phần cho thành quả tăng trưởng cao bình quân hàng năm của cả nước trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là trong giai đoạn hơn 30 năm kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc “đổi mới” cơ chế quản lý đối với nền kinh tế, khối ngành công nghiệp luôn đạt được tốc độ tăng trưởng vượt bậc so với các khối ngành khác của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng được duy trì ổn định ở mức cao, liên tục trong nhiều năm Giai đoạn gần đây (2001-2015) GDP khối ngành công nghiệp đạt nhịp tăng trưởng bình quân hàng năm 9,6%, cao gấp 1,1 lần so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế trong cùng thời kỳ Công nghiệp tăng trưởng cao và liên tục, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
Trang 12công nghiệp hóa, thúc đẩy xuất nhập khẩu, gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng dịch
vụ phục vụ sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, thúc đẩy tiêu dùng, gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng của khu vực dịch vụ phục vụ đời sống, v.v Bên cạnh đó, thực tế tăng trưởng cao của công nghiệp trong thời gian dài của Việt Nam trong thời gian qua cũng bộc lộ những yếu kém nhất định, gây ra những bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế, khai thác tài nguyên kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh kém, và để lại những hậu quả về mặt môi trường Đánh giá một số khía cạnh liên quan đến tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây, rõ ràng có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng của khối ngành có xu hướng chậm lại từ 16,0%/năm trong giai đoạn 2001-2005, giảm xuống còn 13,2%/năm trong giai đoạn 2006-2010 và chỉ còn duy trì ở mức thấp hơn nhiều, 8,4%/năm trong giai đoạn 2011-2015 Trong đó, đáng lưu ý, tốc
độ tăng trưởng bình quân của giá trị gia tăng (VA) của phân ngành công nghiệp chế biến, phân ngành được cho là phản ánh trình độ phát triển của khối ngành công nghiệp, trong cùng thời kỳ có xu hướng giảm sút một cách tương ứng đáng
lo ngại ở mức từ 17,7%/năm xuống 13,8%/năm và 8,9%/năm; VA công nghiệp khai thác có tốc độ tăng được ghi nhận ở mức thấp hơn nhiều 6,0%/năm, 0,1%/năm và 2,6%/năm trong cùng giai đoạn nghiên cứu Bên cạnh đó, tỷ lệ chi phí trung gian của sản xuất công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2001-2015 có
xu hướng tăng liên tục, từ 60% giá trị sản xuất công nghiệp (GO) năm 2001 lên mức 75% GO năm 2015 (bình quân mỗi năm, chi phí tăng lên 1% trong GO trong suốt 15 năm nghiên cứu) Nói cách khác, VA của sản xuất công nghiệp ngày càng có xu hướng giảm sút, từ 40% của GO năm 2001, xuống còn 25%
GO năm 2015; hay, việc đạt được thêm một đơn vị VA, ngành công nghiệp Việt Nam ngày càng tốn nhiều chi phí nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực và tài nguyên hơn
Việc tìm ra nguyên nhân của sự giảm sút cả về tốc độ tăng trưởng lẫn tính hiệu quả của sản xuất công nghiệp đã và đang là câu hỏi nghiên cứu lớn đối với
Trang 13các học giả, đặc biệt là về chất lượng của quá trình tăng trưởng của khối ngành này Một số nghiên cứu trong thời gian vừa qua cho rằng, nguyên nhân chính của sự giảm sút nêu trên nằm ở cơ cấu nội tại của ngành công nghiệp, biểu hiện
ở việc ngành công nghiệp phụ thuộc vào những phân ngành lắp ráp, gia công có chi phí cao và giá trị gia tăng thấp hơn là phát triển vững chắc dựa vào các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu đầu vào trung gian như cơ khí, luyện kim, sợi, nhuộm, thuộc gia, hoá chất, linh kiện điện tử,… Ý kiến khác lại lập luận, quy mô, trình độ và hiệu quả huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, công nghệ và tài nguyên vào sản xuất công nghiệp là chưa như mong đợi của các nhà quản lý, khiến tăng trưởng giảm sút Việc tăng trưởng của khối ngành công nghiệp chủ yếu dựa vào khả năng mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào vật chất như vốn, lao động, tài nguyên mà thiếu những cải tiến hữu hiệu trong công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý, trình độ người lao động khiến hiệu suất vốn, năng suất lao động có xu hướng tới hạn, là nguyên nhân chính của tình trạng sa sút nhịp tăng trưởng của khối ngành này
Vấn đề đặt ra đối với ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay là nếu không được định hướng phù hợp, nếu những nguyên nhân dẫn tới sự sa sút trong nhịp tăng trưởng không được khắc phục, nếu chất lượng và hiệu quả của quá trình tăng trưởng của ngành không được cải thiện, việc duy trì một nhịp tăng trưởng cao của ngành, của toàn nền kinh tế sẽ khó có thể đạt được Mặc dù nhiều nghị quyết và cơ chế chính sách liên tục được ban hành, hoàn thiện trong các kỳ đại hội Đảng từ kỳ Đại hội khoá VI-XI, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng lần XII nhấn mạnh: “Cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.”; nghị quyết 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia, tạo khuôn khổ chính sách đồng bộ, trọng tâm, đột phá hướng vào tăng
Trang 14năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh” Trên tinh thần đó, Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm thúc đẩy khu vực công nghiệp phát triển nhanh, ổn định và bền vững, thúc đẩy tăng trưởng của cả nền kinh tế trong bối cảnh thế giới đang tiến vào cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Tuy vậy, năm 2016 và đầu năm 2017 vẫn ghi nhận nhịp độ tăng trưởng thấp hơn nữa của khối ngành công nghiệp (7,5% năm 2016
và 4,3% hai quý đầu năm 2017)
Trên cơ sở đó, đề tài “Nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam” được chọn làm đề tài luận án tiến sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
a) Về mặt lý luận
Luận án được nghiên cứu với mục tiêu hệ thống hóa những vấn đề cơ sở
lý luận về chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp
b) Về mặt thực tiễn
Vận dụng những vấn đề lý luận, hệ thống chỉ tiêu đề xuất, trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp và những tác nhân ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp, tìm ra một số giải pháp chủ yếu mong muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm tới với mục tiêu cuối cùng là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài của nền kinh tế Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Tổng quan các vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng tăng trưởng; (2) Phân tích, đánh giá thông qua một số chỉ tiêu phù hợp nhằm nêu bật được chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian qua;
Trang 15(3) Gợi ý, giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng của công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2025 và tầm nhìn 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, luận án lấy ngành công nghiệp của Việt Nam là đối tượng nghiên cứu là các vấn đề thuộc chất lượng tăng trưởng của hệ thống công nghiệp như các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Ngành công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Về thời gian: giai đoạn 2001-2015 là chủ yếu Ngoài ra để thấy xu thế phát triển của hiện tượng có thể sử du ̣ng các số liê ̣u của những năm trước từ
1990 trở la ̣i, đặc biê ̣t là từ 1995 Trên cơ sở những phân tích của luận án, đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Ngành công nghiệp Việt Nam là rộng, mỗi phân ngành có các đặc thù riêng về sản phẩm, về quy trình công nghệ, v.v Do đó, luận án sẽ tập trung phân tích những dấu hiệu có tính phổ biến này nhằm nhận dạng chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó, gợi ý một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện hơn nữa chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, góp phần duy trì một nhịp tăng trưởng cao, bền vững của nền kinh tế Việt Nam
+ Về mặt khoa học: nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp của một nước đang phát triển chuyển đổi có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam thông qua hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành; từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
Trang 16chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2025 và tầm nhìn 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiếp cận
Tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu đi từ việc làm rõ các vấn đề lý thuyết đến nhận dạng đối tượng nghiên cứu trên cơ sở các khung lý thuyết về chất lượng tăng trưởng công nghiệp, thể hiện ở cấu trúc bên trong để đạt được tăng trưởng ở hai khía cạnh đóng góp của các yếu tố đầu vào, đóng góp của các phân ngành, hiệu quả của quá trình tăng trưởng và tác động lan toả của kết quả tăng trưởng tới các khối ngành kinh tế và nền kinh tế Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp; đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam Từ đó, sử dụng lý thuyết hệ thống để tìm ra các gợi ý chính sách thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành trong thời gian tới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, ngoài những phương pháp nghiên cứu truyền thống, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu kinh tế chủ yếu sau:
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Nhằm nghiên cứu, tìm ra các vấn đề có tính quy luật trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp, tăng trưởng ngành và chất lượng của tăng trưởng ngành
Trang 17 Đánh giá tình hình phát triển của nền kinh tế, của khối ngành công nghiệp và cấu trúc bên trong của quá trình tăng trưởng ở cả khía cạnh đầu vào và đầu ra của ngành công nghiệp
So sánh, đánh giá các tiêu chí phản ánh chất lượng tăng trưởng của khối ngành công nghiệp, đánh giá mặt được và mặt chưa được
4.2.2 Phương pháp mô hình hoá
Sử dụng mô hình cân đối liên ngành vào – ra (I-O) để đánh giá tác động lan toả của tăng trưởng ngành công nghiệp tới các khối ngành kinh tế khác trong nền kinh tế
5 Những đóng góp mới của luận án
+ Về măt lý luận: luận án hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến
chất lượng tăng trưởng ngành; đề xuất hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành nói chung và ngành công nghiệp nói riêng trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
+ Về mặt thực tiễn: luận án kết luận chất lượng tăng trưởng của ngành
công nghiệp Việt Nam là chưa cao thông qua tỷ lệ giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài, năng suất lao động thấp và khả năng thúc đẩy lan toả các ngành khác trong nền kinh tế phát triển theo là chưa cao; chỉ
ra nguyên nhân của việc chất lượng tăng trưởng của ngành đang tồn tại nhiều điểm hạn chế; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời đưa ra những kiến nghị đối với Nhà nước nhằm tạo nền tảng tốt cho thúc đẩy nâng cao tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của ngành trong những năm tới
6 Kết cấu của luận án
Với mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu như trên, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trang 18Chương 2: Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng công nghiệp
Chương 3: Thực trạng chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp Việt
Nam thời kỳ 2001-2015
Chương 4: Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành
công nghiệp Việt Nam
Phần Kết luận và các hàm ý chính sách
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
TỚI ĐỀ TÀI 1.1 Ca ́ c công trình trong nước
Nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp cũng như của toàn nền kinh
tế là mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đặc biệt khi Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng của một nước công nghiệp hóa Trong nhiều năm qua, nhịp tăng trưởng nhanh của công nghiệp Việt Nam luôn được duy trì, nhưng vấn đề chất lượng tăng trưởng của ngành đang là được đánh giá là chưa cao trong giai đoạn hiện nay
Theo Ngô Doãn Vịnh (2006), Hướng tới sự phát triển của đất nước-Một
số vấn đề lý thuyết và ứng dụng [19], nâng cao chất lượng tăng trưởng được
quan niệm là nâng cao tính chất bền vững và hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường của quá trình thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng Quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn liền với việc cải thiện các tiêu chí phản ánh chất lượng tăng trưởng Biểu hiện cụ thể của quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng: Một là, quá trình sử dụng ngày càng hợp lý các yếu tố nguồn lực để tạo sản phẩm hàng hóa, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu đời sống kinh tế và xã hội Tăng trưởng
sẽ trở nên có hiệu quả cao hơn khi tỷ trọng đóng góp vào quá trình này là những yếu tố nguồn lực có lợi thế nhất của đất nước và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Tính hiệu quả của tăng trưởng sẽ trở nên bền vững hơn khi có sự chuyển đổi hợp lý, từ việc sử dụng chủ yếu các yếu tố nguồn lực vật chất, thể hiện tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, quyết định bởi
cơ chế sử dụng các yếu tố phi vật chất là công nghệ và vốn nhân lực Hai là,
Nguyễn Thành Độ (2005), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực, [41] với khả năng nguồn lực giới hạn, các chỉ tiêu nằm trong
tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện Trong số các tiêu chí đưa ra ở trên, đặc biệt nhấn mạnh các tiêu chí phản ánh tác động lan tỏa
Trang 20của tăng trưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, kể cả kinh tế, xã hội
và môi trường Đinh Văn Ân (2008), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh
tế-xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam [2], việc nâng cao
dần các tiêu chí về kinh tế, xã hội vừa là kết quả của tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời nó chính là môi trường hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn
Nguyễn Thị Kim Dung và các cộng sự (2006), Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam [18], các tiêu chí để đánh giá
chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp có thể là phân thành ba nhóm:
(1) Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng;
(2) Các tiêu chí đánh giá cấu trúc của tăng trưởng; và
(3) Các tiêu chí đánh giá tác động lan toả của tăng trưởng tới nền kinh tế Phù hợp với ba nội dung trên, có ba nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế như sau:
Thứ nhất, các tiêu chí liên quan đến hiệu quả của việc đạt được chỉ tiêu
tăng trưởng;
Hiệu quả sản xuất của một nền kinh tế được thể hiện dưới góc độ: năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất và hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình sản xuất
- Năng suất lao động: Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, hoặc cho ngành, có thể lấy GDP theo giá có định chia cho số lao động đang làm việc trong nền kinh tế, hoặc cho ngành trong năm Nếu GDP tạo ra trên một lao động càng cao, năng xuất lao động càng lớn
Dưới góc độ ngành hay doanh nghiệp, GDP có thể được thay thế bằng các chỉ số khác có sẵn như giá trị sản xuất hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Có nhiều cách xác định hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Ở giác độ vĩ mô, người ta thường nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn
Trang 21đầu tư thông qua Hệ số gia tăng vốn-sản lượng (ICOR), cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP, cần phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Vì vậy, ở một khía cạnh nào đó, hệ số này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của cả nền kinh tế hoặc của ngành
Theo các nhà kinh tế này, ở những nền kinh tế phát triển theo chiều rộng (tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của các yếu tố đầu vào như vốn và lao động, đóng góp của yếu tố TFP cho tăng trưởng còn thấp) hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì một tốc độ tăng trưởng, cần một tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn
ICOR được xác định qua hai phương pháp, (1) ICOR = I1/ Y1-Y0 trong đó
I1 và Y1 là vốn đầu tư và GDP của năm nghiên cứu, Yo là GDP của năm trước
đó (lưu ý rằng các chỉ tiêu này được tính cùng một loại giá); và (2) ICOR = I/Y chia cho gY, trong đó I/Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP, gY là tốc độ tăng GDP
Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP
- Vị trí của công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu: “Chuỗi giá trị là quá trình biến một sản phẩm, dịch vụ phát triển từ ý tưởng qua nghiên cứu thử nghiệm đến sản xuất rồi đến tay người tiêu dùng và cuối cùng là dịch bán hàng và sau bán hàng (Hình 1) Mỗi một công đoạn trên tùy từng tính chất của mỗi hàng hóa và dịch vụ mà có một hệ thống các hoạt động bao gồm hàng loạt các hãng khác nhau đảm trách, tạo thành một mạng lưới sản xuất, lắp ráp, dịch
vụ nằm rải rác trên khắp thế giới tạo ra chuỗi giá trị toàn cầu
Trang 22Chuỗi giá trị toàn cầu có hai dạng liên kết kinh tế quốc tế Đó là hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối (global value chain driven by producer) và hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường hay người mua chi phối (global value chain driven by marketer) Trong chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối, các doanh nghiệp sản xuất lớn đóng vai trò chủ đạo trong
hệ thống sản xuất (bao gồm cả các liên kết ngược chiều và xuôi chiều) Đây chính là các ngành thâm dụng vốn và công nghệ cao như ô tô, máy bay, máy vi tính, chất bán dẫn và chế tạo máy Vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị này thuộc
về các công ty đa quốc gia và lợi nhuận sẽ phụ thuộc chủ yếu vào quy mô, số lượng và sự vượt trội về công nghệ
Trang 23Chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường hoặc người mua chi phối bao gồm các nhà bán lẻ lớn, các nhà marketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh có vai trò then chốt trong việc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhau trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Mô hình này là đặc trưng chung của các ngành thâm dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giầy, đồ chơi và điện dân dụng Trong hệ thống này các nhà thầu của thế giới thứ ba chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng nước ngoài Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bán buôn đặt hàng cung cấp các sản phẩm với các đặc tính rõ ràng Chuỗi giá trị toàn cầu
do người mua chi phối trái ngược với chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối là do chuỗi giá trị này được đặc trưng bởi cạnh tranh mạnh và hệ thống các nhà máy sản xuất tập trung toàn cầu với rào cản nhập ngành thấp Các công ty
có thương hiệu nổi tiếng kiểm soát hệ thống sản xuất trên phạm vi toàn cầu, hơn nữa họ còn tác động đến lợi nhuận là bao nhiêu trong mỗi giai đoạn trong chuỗi giá trị Trong chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối lợi nhuận lại phụ thuộc chủ yếu vào vào giá trị gia tăng cao trong R&D, thiết kế, marketing và chiến lược kết nối các nhà sản xuất trên phạm vi toàn cầu và bán các sản phẩm ở các thị trường tiêu dùng chính;
- Tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất công nghiệp: Giá trị gia tăng chỉ bao gồm phần giá trị mới tăng thêm (mới sáng tạo ra) trong nền kinh tế Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật chất và chi phí dịch vụ đã chi ra cho quá trình sản xuất để tạo ra giá trị gia tăng đó Chi phí trung gian không làm tăng thêm của cải cho xã hội mà chỉ là tiêu dùng của cải vật chất và dịch vụ của quá trình sản xuất Mối quan hệ giữa giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và chi phí trung gian được thể hiện như sau:
GO = VA – IC hay VA = GO – IC Khi nói đến tăng trưởng kinh tế, người ta thường chỉ quan tâm đến sự gia tăng của phần giá trị mới sáng tạo ra VA theo giác độ ngành kinh tế Theo công
Trang 24thức trên, VA tỷ lệ thuận với GO và nghịch với IC Do đó, tỷ lệ chi phí trung gian là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất của xã hội và của các ngành, tỷ lệ này càng thấp thể hiện sản xuất càng có hiệu quả cao Nhưng cũng lưu ý rằng sự đánh giá này phải dưới góc độ ngành cụ thể và xem xét sự biến động theo thời gian, bởi không thể so sánh tỷ lệ chi phí trung gian giữa các ngành
- Tiêu hao năng lượng của sản xuất công nghiệp
Thứ hai, Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006), Tốc độ và chất
lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [9] đề xuất các tiêu chí liên quan đến cấu
trúc của tăng trưởng liên quan đến cơ cấu của khối ngành Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp thể hiện cấu trúc bên trong của ngành, nó biểu hiện qua tỷ trọng của các phần tử tạo nên cơ cấu và qua các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp quyết định sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng, phù hợp với tiềm năng sẵn có của từng phân ngành và cuối cùng đem lại kết quả tăng trưởng chung cho toàn bộ khối ngành Có nhiều chỉ tiêu nghiên cứu để phân tích cơ cấu ngành kinh tế, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả, trên cơ sở phân tích cơ cấu giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp (VA) và cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nội bộ ngành công nghiệp, cơ cấu lao động,
cơ cấu vốn đầu tư của ngành để đánh giá về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp
Mặt khác, cấu trúc tăng trưởng theo ngành công nghiệp: xem xét cấu trúc tăng trưởng công nghiệp theo ngành nhằm nhận dạng vai trò của các phân ngành công nghiệp đối với tăng trưởng của công nghiệp, kết hợp với trình độ phát triển của các ngành, độ phù hợp của việc phát triển của các phân ngành với tiềm năng
và lợi thế so sánh vốn có của nó, qua đó có thể đánh giá trình độ phát triển của ngành công nghiệp
Cấu trúc tăng trưởng theo mức đóng góp của các yếu tố nguồn lực cho tăng trưởng công nghiệp: đóng góp của vốn, lao động, TFP cho tăng trưởng
Trang 25công nghiệp: Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều trong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có ba yếu tố chính làm tăng GDP: lao động, vốn sản xuất
có ba yếu tố chính làm tăng GDP: Lao động, vốn sản xuất và TFP Nếu chỉ chia GDP cho lao động hay lấy vốn đầu tư chia cho mức gia tăng GDP, thì những chỉ
số này không thể phản ánh đóng góp riêng của yếu tố năng suất Năng suất chỉ là phần tăng GDP sau khi trừ đi vai trò của việc tăng số lượng lao động và số lượng tài sản cố định trong sản xuất Phần thặng dư này phản ánh việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất, và được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Nói một cách khác, TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai yếu tố: (1) tiến bộ công nghệ kỹ thuật và (b) hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sẽ bảo đảm duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả
sử dụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất,… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia
Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức GTFP = gY – (α.gK + βgL) Trong đó, gY là tốc độ tăng GDP, gK là tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định, gL là tốc độ tăng lao động làm việc, α và β lần lượt là hệ số đóng góp của vốn và lao động (α + β =1), thường được xác định bằng phương pháp hạch toán tăng trưởng hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas
Thứ ba, Trần Thọ Đạt (2007), Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế
Việt Nam [9] cho rằng, đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành cũng cần
đánh giá mức độ tác động lan toả của tăng trưởng công nghiệp tới nền kinh tế
Trang 26Trong đó, xem xét ảnh hưởng của tăng trưởng công nghiệp tới nền kinh tế nhằm tìm ra những đóng góp của tăng trưởng ngành công nghiệp tới nền kinh tế Đóng góp của tăng trưởng công nghiệp tới nền kinh tế càng cao cho thấy chất lượng tăng trưởng cao của ngành Việc xem xét ảnh hưởng của tăng trưởng công nghiệp tới nền kinh tế có thể được xem xét dưới các khía cạnh sau:
- Đóng góp của tăng trưởng công nghiệp trong tăng trưởng chung của nền kinh tế;
- Tăng trưởng công nghiệp và giải quyết việc làm cho nền kinh tế;
- Tăng trưởng công nghiệp và tăng trưởng xuất khẩu: co giãn tăng trưởng công nghiệp và tăng trưởng xuất khẩu hoặc tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp;
- Ô nhiễm môi trường của sản xuất công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế cùng với việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất Tăng trưởng kinh tế và
sử dụng tài nguyên môi trường có mối quan hệ với nhau và được xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chính sau đây: Nhịp tăng trưởng của GDP
và giá trị gia tăng của các ngành trong tương quan so sánh với mức độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô nhiễm môi trường
Thêm vào đó, Hồ Tuấn (2009), Giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (nghiên cứu điển hình ngành dệt may) [104] đã hệ thống hoá lý luận và thực tiễn tăng
trưởng và chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp Dệt may và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành dệt may của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Tác giả cũng đã đưa ra một số tiêu chí đặc thù đánh giá một cách cá biệt chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp dệt may Việt Nam
Nguyễn Thị Lan Hương (2012), Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [101] cũng đã chỉ ra
cơ sở lý luận của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam tác động tới khả năng
Trang 27tăng trưởng của các ngành và cả nền kinh tế, từ đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phát triển dài hạn của nền kinh tế Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng của cả nền kinh tế mà không tập trung nghiên cứu bản chất bên trong của quá trình tăng trưởng của từng ngành
Hồ Hữu Nghĩa (2011), Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện
tử Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [102] nghiên cứu các quan
điểm, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp điện tử trong điều kiện Việt Nam, đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành này, phân tích các yếu tố tác động tới chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp đặc thù điện tử nhằm nâng cao khả năng đóng góp của ngành cho tăng trưởng công nghiệp Nghiên cứu không đánh giá chất lượng tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp và vai trò của nó trong tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế
Phạm Đình Thuý (2014), Phát triển ngành cơ khí theo hướng bền vững
[103] làm rõ tư duy phát triển bền vững của các ngành công nghiệp, cụ thể là ngành cơ khí và đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển ngành cơ khí bền vững của Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển các chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu Tác giả cho rằng, để phát triển ngành công nghiệp theo hướng bền vững, cần xây dựng đề án phát triển trên cơ sở các căn cứ khoa học
và có tầm nhìn dài hạn, có xem xét phát triển công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế Trong thời đại công nghiệp 4.0, khung khổ pháp
lý cho phát triển công nghiệp cần được hoàn thiện nhằm tạo điều kiện nền tảng phù hợp cho phát triển ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp cơ khí nói riêng Các chính sách ưu đãi về tài chính và các giải pháp theo dõi đánh giá chất lượng phát triển của ngành công nghiệp cũng cần được chú trọng
Cuối cùng, Tổng cục thống kê, Bùi Trinh và các cộng sự trong nhiều
Trang 28nghiên cứu, đặc biệt là trong Bùi Trinh và các cộng sự (2007), Phân tích cơ cấu kinh tế của Việt Nam: ứng dụng bảng cân đối liên ngành (I-O) 1989, 1996, 2000 [32] và Bùi Trinh và các cộng sự (2012), Cơ cấu kinh tế mới của Việt Nam hướng tới tăng trưởng bền vững đến năm 2020 [30] đã xây dựng, hoàn thiện
phương pháp đánh giá phân tích cơ cấu kinh tế, phân tích mối liên kết và tác động lan toả, độ nhạy giữa các ngành trong nền kinh tế thông qua sử dụng bảng cân đối liên ngành vào – ra (bảng I-O) Phương pháp này có thể được sử dụng để phân tích, đánh giá cơ cấu kinh tế, vai trò “động lực” của các phân ngành trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành
và của nền kinh tế Từ đó, có thể xây dựng cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách trong việc định hướng phát triển các phân ngành kinh tế, nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng
Qua nghiên cứu các công trình nói trên tác giả rút ra những nhận xét sau: + Một số tác giả đã nêu cơ sở lý luận về lý luận tăng trưởng kinh tế Những lý luận này được một số nghiên cứu xem xét ở góc độ vĩ mô của nền kinh tế
+ Chất lượng tăng trưởng của các ngành cụ thể chủ yếu được đánh giá qua một vài tiêu chí liên quan trực tiếp đến ngành cấp ba như tốc độ tăng trưởng, giải quyết việc làm, năng suất lao động,…
Tuy nhiên, theo tác giả những công trình nghiên cứu trên vẫn có những hạn chế như sau:
+ Không có hoặc rất ít tổng quan về các đề tài có liên quan để người đọc có thể thấy khả năng mở rộng và nghiên cứu của người thực hiện đề tài
+ Một số công trình có phần lý luận đề cập đến các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành cấp ba nhưng trong đánh giá thực trạng các tiêu chí đánh giá đối với sự lan toả khả năng tăng trưởng và kết quả tăng trưởng đối với
xã hội; mối liên kết giữa các ngành trong nền kinh tế không được làm rõ;
+ Có nhiều công trình nghiên cứu về tổng thể ngành công nghiệp, tuy vậy,
Trang 29các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng tăng trưởng của một khối ngành thì còn khiêm tốn
+ Thời gian nghiên cứu cách đây nhiều năm nên một số tiêu chí đánh giá hiệu quả, chất lượng, giải pháp đã không còn phù hợp trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như hiện nay với việc tham gia vào các hiệp định TPP và các hiệp định song phương khác nhau Các chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt đối với lĩnh vực công nghiệp, đầu tư, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế của Việt Nam cũng có nhiều thay đổi trong thời gian gần đây khiến các giải pháp gợi ý của các nghiên cứu trở nên thiếu hợp lý
1.2.Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan
(1) Về chất lượng tăng trưởng và vai trò của các yếu tố nguồn lực với tăng trưởng
Về mặt lý thuyết mang tính kinh điển, các trường phái kinh tế (từ cổ điển đến hiện đại) đều cho rằng mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bản về sự tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối quan hệ giữa chúng Mỗi mô hình tăng trưởng đều nhấn mạnh đến yếu tố đầu
vào mang tính quyết định đến tăng trưởng khác nhau Harrod-Domar [8] cho
rằng vốn đầu tư luôn đóng vai trò quyết định, trong khi đó Robert Solow [8, 86] lại quả quyết rằng vốn đầu tư chỉ đóng vai trò quyết định đến tăng trưởng trong ngắn hạn, còn trong dài hạn thì phải là công nghệ và mong muốn thúc đẩy công nghệ của quốc gia Các mô hình tăng trưởng hiện đại thì quy trở về nhân tố vốn đóng vai trò quyết định những không phải là vốn vật chất, mà là vốn con người
và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến công nghệ, biểu thị ở yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
Những nghiên cứu thực nghiệm cuối thế kỷ 20 như của Barro (1991),
Economic Growth in a Cross-section of Countries [42] hay Temple (1999), The Third Generation of Economic Growth, Lindauer (2002) [69] đã nhấn mạnh cụ
Trang 30thể hơn đến vai trò quan trọng của yếu tố trình độ học vấn, chất lượng nguồn nhân lực hay cơ chế chính sách, hệ thống chính trị
Việc xác định yếu tố đóng vai trò động lực cho tăng trưởng ngành và của nền kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia, thể hiện ở
các xu hướng biến đổi của lợi thế nguồn lực nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển khác nhau Kết luận này thể hiện qua nhiều nghiên cứu thực tiễn: Krugman,
P và Obstfeld, M (1991), International Economics – Theory and Policy [66], và
Mô hình đàn nhạn bay của Akamashu (trích trong Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999) [25] đã đồng nhất quan điểm: các quốc gia càng phát triển hơn thì lợi thế vốn và công nghệ càng thể hiện rõ nét hơn, trong khi các quốc gia đang phát triển lại thể hiện lợi thế về lao động và tài nguyên Điều đó cho thấy: việc chuyển đối cơ cấu kinh tế, cơ cấu nội bộ từng ngành kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và duy trì tính bền vững của tăng trưởng là vấn đề cần thiết khách quan
Vai trò của chính sách nhà nước đối với việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và duy trì tính bền vững của quá trình tăng trưởng cũng được thể hiện rõ ở các nghiên cứu của
Samuelson (2001), Economics [84], Begg (2008) [43]; Gillis và các cộng sự (2001), Economics of Development [58]; Torado (1985), Economic
Development in the Third World [94]; Killick (1993), The Adaptive Economy:
Adjustment Policies in Small, Low-Income Countries [64]
Lindauer, D [69] đã tổng quan nguồn gốc cơ bản của tăng trưởng kinh tế
từ các lý thuyết khác nhau: nội sinh, bán ngoại sinh và ngoại sinh như hình dưới đây
Trong đó: Y, K, L, N lần lượt là quy mô, vốn, lao động và tài nguyên của nền kinh tế; A là tổng năng suất các yếu tố (TFP); S là vốn xã hội và t là thời
gian Nhiều học giả học giả kinh tế, đặc biệt là Krugman và Wells [66]; và
Trang 31Serven, L và Solmano, A [85], đã sử dụng hàm sản xuất của nền kinh tế được viết dưới dạng của hàm Cobb-Douglas biến đổi:
Từ hàm sản xuất như vậy, tăng trưởng kinh tế có thể được chia thành 2 dạng: (i) tăng trưởng theo chiều rộng (tức là dựa vào sự mở rộng của vốn và lao động) và (ii) tăng trưởng theo chiều sâu (tức là dựa vào năng suất) [85] Tăng trưởng theo chiều sâu có nghĩa là sử dụng cùng một lượng vốn và lao động hiệu quả hơn Nếu tăng trưởng có được dựa trên sự tăng thêm của lao động thì nó khó
có thể làm tăng được mức thu nhập bình quân đầu người Do đó, các quốc gia đều mong muốn có được một sự tăng trưởng theo chiều sâu và lúc đó các quốc gia sẽ hướng đến sự phát triển kinh tế
Nội sinh
Ngoại sinh
Biến ngoại sinh
Trang 32Về xu hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp,
các nghiên cứu đều nêu bật tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp là ưu tiên hàng đầu trong thúc đẩy chất lượng tăng trưởng chung của nền kinh tế, nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển
Theo quan điểm của Lindauer, D (2002), The Third Generation of Economic Growth [69], chất lượng tăng tưởng thể hiện trên hai khía cạnh: tốc độ tăng
trưởng cao cần được duy trì trong thời gian dài hạn và tăng trưởng cần phải đóng góp cải thiện một cách bền vững vào xoá đói giảm nghèo Lucas (1993),
Government Spending and Economic Growth [68], Serven, L and Solimano, A (1993), Striving for Growth After Adjustment: The Role of Capital Formation [85], và Stinglitz (2000), Economics of Public Sector [88] lại cho rằng, chất
lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau: (1) TFP cao, đảm bảo việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động
từ bên ngoài; (2) tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; (3) tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững; (4) tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở tỷ lệ cao hơn; và (5) tăng trưởng phải đạt mục tiêu cải thiện phúc lợi và xoá đói giảm nghèo Đây cũng là những kết luận có giá trị khi bàn đến việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt nam thời gian tới
(2) Về mối quan hệ giữa tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng với nguồn lực tài chính
Ngoài các nghiên cứu mang tính chất kinh điển như Smith (trong Của cải các dân tộc (1776), Kenyes (1936), hay trong mô hình tăng trưởng Harrod – Domar (1940) [8], những nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã khẳng định vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế
Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1993) và nghiên cứu gần đây
hơn của Stiglitz, J (2005), Economics of Public Sector [87] và Stiglitz, J và
Trang 33Yusuf, S (2002), Rethinking the East Asia Miracle [88] và Kanchana Wanichkorn (2013), Investment, Innovation and Technology for Development: Thailand’s Experiences [62] về vai trò của tiết tiệm đầu tư với tăng trưởng kinh
tế cho thấy nguyên nhân tạo ra thần kỳ Đông Á là tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao
Do duy trì được tỷ lệ đầu tư vốn cao (khoảng 30-50% GDP) để thực hiện công nghiệp hóa, dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao mà không rơi vào thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô
Lucas, O (1993), Government Spending and Economic Growth [68] cũng
đã khẳng định vai trò của đầu tư đối với quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời gian qua, tăng tốc độ huy động vốn đã đóng góp tích cực vào việc đáp ứng nhu cầu đầu vào cho tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, Perkins (2007), Economics of Development [79] cho rằng: sẽ
là sai lầm nếu coi tốc độ huy động vốn là yếu tố dẫn dắt tăng trưởng chung như
mô hình tăng trưởng kiểu “tỷ trọng vốn – sản lượng”, mô hình giả định tăng tốc huy động vốn sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng; ở vào thời điểm quyết định thúc đẩy tăng trưởng, các nhân tố thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng với nâng cao chất lượng tăng trưởng hơn là quy mô huy động vốn Các nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng, đặc biệt là nguồn lực tài chính và khoa học công nghệ tới tăng trưởng có chất lượng cao
Về mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng, các nghiên cứu gần đây nhấn mạnh đến yêu cầu thay đổi hướng đầu tư phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế
của từng nước Krugman (1991), International Economics – Theory and Policy
[66], hay các tác giả khác như Ogundipe, M A và Aworinde, O B (2011)
[77], Easterly (1993), Fiscal Policy and Economic Growth , Journal of Monetary Economics [54] đã rút ra những kết luận mang tính đặc trưng về sự
lựa chọn cơ cấu đầu tư phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các nước Đông Nam Á từ thập niên 60 của thế kỷ 20 đến nay, đó là: sự chuyển đổi từ đầu tư chủ
Trang 34yếu vào những ngành, lĩnh vực thâm dụng lao động (thập niên 60,70), đến đầu
tư vào những ngành có vốn và lao động ngang nhau (thập niên 80, 90) và hiện nay là đầu tư vào lĩnh vực, sản phẩm thâm dụng vốn Một nghiên cứu khác về các nước Đông Nam Á của Stiglitz (2002) cho rằng, các nước Đông Á thành công là do họ biết phân chia hợp lý vốn đầu tư cho các yếu tố tăng trưởng, nhất
là sự quan tâm của các nước này đối với đầu tư nhằm nâng cao TFP như đầu tư công nghệ, đầu tư vào vốn con người v.v…
Trong nghiên cứu của mình, Barro [42] đã lượng hóa các biến mà ông coi
đó là đầu ra của quá trình tăng trưởng hay chất lượng tăng trưởng như tỷ lệ tội phạm giết người, tham nhũng, yếu tố hồi giáo (phù hợp với hoàn cảnh của Hoa Kỳ), ô nhiễm môi trường (không khí, nước),… Đơn giản hơn và dễ dàng đối sánh hơn, John R Baldwin et al [61] đã đưa ra một mô hình đo lường chất lượng tăng trưởng, có thể thể hiện bằng một chỉ số Cách thức này khá dễ dàng được định lượng ở các quốc gia khác nhau dựa trên những biến số vĩ mô không quá phức tạp Trong đó, nền tảng tăng trưởng được dựa trên 4 yếu tố: độ mạnh, độ biến thiên, thành phần ngành và thành phần cầu Ở đây độ ma ̣nh với đa ̣i diê ̣n là GDP bình quân đầu người; đô ̣ biến thiên thể hiê ̣n tính ổn đi ̣nh của tố c đô ̣ tăng trưởng; thành phần ngành thể hiê ̣n sự đa da ̣ng trong mă ̣t hàng xuất khẩu; và thành phần cầu thể hiện đô ̣ lớn của cầu bên ngoài thuần so GDP Đối với hệ quả
xã hội được thể hiện dựa trên những chỉ số về y tế và giáo dục
Điểm hạn chế của chỉ số này là nó thiếu yếu tố về môi trường Ngoài ra, cũng giống như nghiên cứu của Barro (2002)[42], nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến phần kết quả của quá trình tăng trưởng chưa đề cập đến các yếu tố đầu vào hay hộp đen để giải thích kết quả đó
Trong khi đó, Liên hợp quốc định nghĩa về chất lượng tăng trưởng không
hề đơn giản do không dễ gì định lượng được mọi mặt của tăng trưởng Đôi khi những đánh giá mang tính định tính lại rất có ý nghĩa Chính vì lý do đó mà chất lượng tăng trưởng kinh tế cần phải được phân tích theo nhiều cấp độ
Trang 35Hình 3 Chỉ số chất lượng tăng trưởng
Nguồn: [61]
Chất lượng tăng trưởng càng cao thì độ bao trùm về xã hội và địa lý càng rộng Trong quá trình phát triển kinh tế, chất lượng tăng trưởng cao sẽ đảm bảo rằng mức độ bao trùm đối với các vấn đề về con người càng lớn như giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập, cải thiện sức khoẻ và giáo dục của người dân Ngoài
ra, tăng trưởng kinh tế được coi là đạt chất lượng cao khi đạt được bền vững về môi trường Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lực tái sinh của môi trường có thể làm suy yếu sự thịnh vượng kinh tế của các thế hệ tương lai Từ quan điểm kinh tế, chất lượng tăng trưởng cao phải hướng đến sự bền vững Ngoài ra, một quốc gia đang phát triển mạnh sẽ không ngừng tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu của mình Năng lực cạnh tranh của một quốc gia cũng chính là thể hiện một phần chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển con người của quốc gia đó Từ các ý kiến trên, các tác giả đề xuất 05 yếu tố cần thiết
để tăng trưởng kinh tế đạt chất lượng cao, bao gồm: (1) đảm bảo tái sản xuất các
Chất lượng tăng trưởng
Cơ cấu tổng cầu
Lan tỏa đến xã hội
Môi trường sinh thái Mức sống
Trang 36nguồn lực và tri thức cần thiết đối với phát triển con người; (2) củng cố sự gắn kết xã hội; (3) bền vững về môi trường; (4) bền vững về kinh tế và (5) gắn kết với những thay đổi sâu sắc về mặt cấu trúc Đồng thời, cần lưu ý rằng các chính sách của chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với cả chất lượng tăng trưởng và hiệu chỉnh các lỗi sản xuất và phân phối vốn gắn liền với nền kinh tế thị trường
Tổng quát lại, Thomas V và các cộng sự [93] đã đưa ra một khung lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô với chất lượng tăng trưởng Khung lý thuyết này đã thể hiện một quá trình có tính tuần hoàn bao gồm cả nguyên nhân và kết quả của chất lượng tăng trưởng Đây là điểm khác biệt đối với hầu hết các nghiên cứu khác khi tập trung nghiên cứu đầu ra hay kết quả của quá trình tăng trưởng rồi từ đó phân tích chất lượng tăng trưởng Tuy nhiên, việc đo lường chất lượng tăng trưởng của mô hình này vẫn khá phức tạp với những biến số không dễ dàng để lượng hóa
Chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng
bao trùm
Tăng trưởng bền vững
Tăng trưởng đổi mới
Tăng trưởng
an toàn
Tăng trưởng cân đối
Cải cách cơ cấu; Phát triển nhân lực và doanh nghiệp
Việc làm
và PT
bao trùm
Tăng trưởng xanh
Nền kinh tế tri thức:
vượt qua bẫy thu nhập
con người
Các đánh đổi; đồng vận; ưu tiên; cân đối kinh
tế vĩ mô; cân bằng tài khóa
Trang 37Hình 4 Những khung nghị sự chất lượng tăng trưởng khác nhau
Nguồn: [45]
Có thể thấy rằng, tất cả các cách lý giải, mô hình đều có những mă ̣t ma ̣nh
và mặt ha ̣n chế của nó Việc lựa chọn một cách thức đo lường, đánh giá chất lượng tăng trưởng sẽ cần phải dựa trên một số các yếu tố khác, đặc biệt là dựa trên bối cảnh và trình độ, đặc trưng phát triển của quốc gia
(3) Về vai trò của nhà nước trong nâng cao chất lượng tăng trưởng
Lý thuyết kinh tế đề cao kết luận của Samuelson [84], Sliglitz (2002), Rethinking the East Asia Miracle [88]; Ghosal, V and Nair-Reichert, U (2009),
Investments in modernization, innovation and gains in productivity: Evidence from firms in the global paper industry [57] và một số nhà kinh tế như Perkins,
Lindauer, Steven trong những bài viết (Economics of Development, xuất bản lần thứ 6, 2006) đã khẳng định vai trò của nhà nước đối với quá trình tăng trưởng kinh tế, thông qua: giải quyết những vấn đề thị trường can thiệp không thành công, thực hiện những hoạt động thị trường không can thiệp, tiến hành những hoạt động nhà nước không muốn để thị trường can thiệp và cuối cùng là định hướng và điều chỉnh sự phát triển kinh tế theo các mục tiêu nhà nước cần đạt được
Hình 5 Khung chất lượng tăng trưởng
Quản trị tốt và không tham
nhũng;
Giảm sự bóp méo đối với K;
Sửa thất bại của thị trường làm
suy giảm yếu tố H và R;
Nâng cao hiệu lực pháp lý
H
(vốn con người)
K
(vốn vật chất)
R
(vốn tự nhiên)
Phúc lợi Tác
Trang 38Nguồn: [93]
Trên thực tế, Trên thực tế, sự thành công của Trung Quốc trong tăng trưởng (ít ra là đến thời điểm này) và của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước NIC…, nhất là sau thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra vào tháng 10/2008 từ Hoa Kỳ, đã khẳng định sự thất bại của thuyết (chủ nghĩa) tân
tự do trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; nhiều nhà khoa học cho rằng: cuộc khủng hoảng lần này cho thấy nhiều nước (trong đó
có nước Mỹ) cần thiết phải xem xét lại triết lý và mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại đang áp dụng, trong đó đặc biệt cần phải xem xét quan điểm về vai trò kinh tế của nhà nước Như vậy, về nguyên lý, nội dung vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều đã được khẳng định, sự khác nhau trong các quan điểm và thực hành thực tế chủ yếu là mức độ can thiệp, cách thức can thiệp
và các công cụ sử dụng để can thiệp
Để nhà nước có thể thực hiện sự can thiệp thành công vào nền kinh tế, cần phải củng cố và sử dụng có hiệu quả các công cụ can thiệp, trong đó có việc sử dụng lực lượng kinh tế nhà nước bao gồm chi tiêu công, đầu tư công và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là thành tố quan trọng Đó cũng là những nhận định của các nghiên cứu về vai trò của nhà nước Trong các chức năng can thiệp vào nền kinh tế, nhà nước có vai trò quan trọng đối với quá trình đầu tư phát triển Nghiên cứu của Yingyi Qian [99], Chính phủ kiểm soát công tác quản trị
doanh nghiệp, đã nhấn mạnh đến: (1) nhà nước sử dụng các công cụ chính sách tài chính để can thiệp vào thị trường đầu tư; (2) nhà nước sử dụng đầu tư công với tư cách là công cụ thúc đẩy và hỗ trợ cho đầu tư tư nhân và thực hiện các định hướng phát triển nhà nước cần đạt được; (3) Hỗ trợ đầu tư cho doanh
nghiệp và khuyến khích các DNNN đầu tư vốn để bảo đảm cung ứng các hàng
hóa mà khu vực tư nhân không đảm nhận (4) Về vai trò của khoa học-công nghệ đối với tăng cường chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp
Trang 39Tầm quan trọng của khoa học - công nghệ và đổi mổi mới đầu tư khoa học – công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự tham gia của nhiều học giả và những kết quả nghiên cứu trên thế giới cả về lý luận và thực tiễn là phong phú Tiêu biểu có một số nghiên cứu như sau:
Ở cấp độ vĩ mô, gần đây, Raouf Boucekkine và đồng sự (2011) Tăng trưởng dưới hạn mức ô nhiếm: Nghiên cứu tối ưu, chính sách thay thế và đầu tư [82] nghiên cứu một mô hình tăng trưởng tối ưu của một nền kinh tế, có xét đến vấn đề hạn ngạch ô nhiễm, đã chỉ ra rằng những nền kinh tế có ngành R&D hoạt động kém hiệu quả sẽ cần phải tăng thêm hạn ngạch ô nhiễm nếu muốn đạt được tăng trưởng cân bằng trong dài hạn Trong khi đó những nền kinh tế có hoạt động R&D hiệu quả có thể cung cấp một phần hạn ngạch ô nhiễm mà vẫn không gây tác động xấu tới tăng trưởng bền vững của họ trong dài hạn Về lý thuyết, nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của tri thức, khoa học - công nghệ như nguồn lực quan trọng nhất và đổi mới công nghệ là động lực liên tục của tăng
trưởng kinh tế Theo tổ chức OECD (2007) Review of China’s Innovation System and Policy (Tổng quan về chính sách và hệ thống đổi mới của Trung quốc) [75], đổi mới thông qua ứng dụng thành công khoa học - công nghệ vào
thị trường là yếu tố tiên quyết tới khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của
các quốc gia
Ở cấp độ vi mô, Anderson, E., de Renzio, P và Levy, S , The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidence and Methods (Vai trò của đầu tư công trong giảm nghèo: lý thuyết, kinh nghiệm và phương pháp)[38] lập luận rằng đổi mới là yếu tố đảm bảo tăng trưởng bền vững trong
dài hạn cho các doanh nghiệp liên tục đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D)
các quy trình và sản phẩm mới Sau đó, Nguyen Thi Nguyet (2012), Technology – development investment and firm productivity in developing counries [72] lý
giải khi các doanh nghiệp đổi mới, họ tức thời trở thành nhà cung cấp độc quyền các sản phẩm và dịch vụ mới ra thị trường, có thể tạo ra lợi nhuận và có thêm
Trang 40những doanh nghiệp mới tham gia thị trường nhằm đưa cung cầu hàng hóa về mức cân bằng Do vậy, để luôn đạt được lợi nhuận kỳ vọng, doanh nghiệp cần thiết phải liên tục đổi mới các quy trình công nghệ và/hoặc hạn chế khả năng đối thủ cạnh tranh bắt chước công nghệ của mình
Đầu tư khoa ho ̣c và công nghê ̣ nhằm phát triển năng lực công nghệ ở một doanh nghiệp không những có thể tạo ra ngoại ứng cho nội tại doanh nghiệp đó, trong ngành đó và có khi cho cả nền kinh tế thông qua các hoạt động như bắt chước, chuyển giao kỹ năng lao động, và các hình thức lan truyền phi thị trường khác Những ngoại ứng này tạo điều kiện phát triển năng lực công nghệ cho các hãng khác như nghiên cứu của Antje Schimke- Thomas Brenner (2011), Temporal Structure of Firm Growth and the Impact of R&D [39] và Anandarajan et al (2007), The Effect of Innovative Activity on Firm Performance: The Experience of Taiwan [37]
Dựa trên các lý thuyết, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả đầu
tư khoa học – công nghệ được thực hiện trên nhiều phạm vi khác nhau, đáng chú
ý là những nghiên cứu sau:
OECD (2000), Science, Technology and Innovation in the New Economy,
Policy Brief Review [74] nghiên cứu tại 07 nước OECD trong giai đoạn 1975
đến 1996 với 16 ngành kinh tế cho thấy, trong ngắn hạn, đầu tư cho R&D hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng GDP – thể hiện qua sự biến thiên trong nhu cầu thị trường; hiệu ứng đối với tăng trưởng của các ngành sản xuất lại không được
ghi nhận một cách tích cực trong dài hạn Khám phá mới được nghiên cứu rút ra
rằng hiệu ứng của đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học-công nghệ đối với từng ngành sản xuất cụ thể là rất khác nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và cơ cấu nguồn lực đầu vào, cũng như ở quy mô phát triển
Nghiên cứu của Xibao Li (2008), External Technology Purchaseand Indigenous Innovation Capability in ChineseHi-Tech Industries [98] tập trung