1. Tính cấp thiết của đề tài: Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia dựa trên sự phát triển của sản xuất. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi diễn ra từng ngày, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển. Vô số các công nghệ, kỹ thuật mới, các loại vật liệu mới được ứng dụng vào sản xuất đòi hỏi người lao động phải được đào tạo ở những trình độ lành nghề nhất định. Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao. Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc. Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Cung đào tạo do các trường dạy nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ các doanh nghiệp. Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung – cầu đào tạo cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, gây ra những lãng phí lớn và giảm hiệu quả đào tạo. Liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp là một tất yếu khách quan, nhất là trong bối cảnh Việt Nam mới hội nhập WTO với thách thức lớn về sự mất cân đối cơ cấu lao động cũng như thiếu hụt lực lượng lao động đã qua đào tạo nghề. Liên kết này dựa trên quy luật kinh tế về quan hệ Cung - Cầu và bảo đảm hài hòa lợi ích nhà nước, cũng như lợi ích của mỗi bên liên kết. Vì vậy, Cần phải tích cực trong việc giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội nói chung và cán bộ quản lý các cơ sở dạy nghề, chủ đoanh nghiệp nói riêng để mối liên kết này ngày càng phổ biến và ngày càng mang lại hiệu quả cao. Có như vậy, chúng ta mới nâng cao được sức cạnh tranh nhà nước, sức cạnh tranh doanh nghiệp và sức cạnh tranh hàng hóa khi tham gia vào thị trường Thương mại Thế giới một cách bình đẳng. Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội từ khi được thành lập đã có những định hướng chú trọng vào lĩnh vực dạy nghề. Trung tâm vừa đào tạo tại Trung tâm vừa liên kết đào tạo với các cơ sở dạy nghề khác, các doanh nghiệp trên thành phố Hà Nội. Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm đã liên kết đào tạo với một số doanh nghiệp như: Trung tâm Đào tạo quốc tế mầm non, công ty đào tạo quốc tế Hoa Sao, công ty thời trang Ngọc Thạch, công ty TNHH 1 thành viên đào tạo và công ứng nhân lực Nosco, công ty thương mại Tiến Thành cung ứng đồ uống... Những năm qua, công tác liên kết đào tạo đã có những kết quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trung tâm nói riêng, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài “Liên kết giữa trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng Đào tạo nghề” làm luận văn thạc sỹ của mình. 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đào tạo nghề là một lĩnh vực quan trọng của giáo dục – đào tạo, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực quốc gia phục vụ CNH – HĐH. Tuy nhiên, lĩnh vực ĐTN trong thời gian gần đây còn nhiều bất cập đòi hỏi phải nghiên cứu khắc phục. Đã có nhiều công trình khoa học đề cập tới vấn đề này dưới những góc độ, quy mô khác nhau như luận án “Những giải pháp phát triển ĐTN góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH” của Phan Chính Thức, luận văn “Đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam” của Lê Văn Nhã; đề tài cấp nhà nước “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010” của Tổng cục Dạy nghề, đề tài “Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên Việt Nam hiện nay” của Viện Khoa học Lao động & Xã hội; sách “giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Viết Sự, “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của Trần Khánh Đức... mỗi công trình có những cách nhìn, quan điểm khác nhau về Đào tạo nghề. Tuy nhiên cho đến nay ở lĩnh vực liên kết trong đào tạo nghề lại có rất ít công trình đi sâu nghiên cứu, vì thế đề tài: “Liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề” mà tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu là có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đồng thời không trùng lặp với các công trình đã được công bố trước đây. 3. Mục đích nghiên cứu: - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề và sự liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội và doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Đồng thời luận văn cũng giới thiệu một số phương pháp đào tạo nghề và mô hình liên kết đào tạo nghề phổ biến ở Việt Nam và các nước. - Tập trung phân tích và đưa ra những đánh giá, kết luận về chất lượng đào tạo, mức độ liên kết giữa Trung tâm GTVL Hà Nội và doanh nghiệp trong đào tạo nghề cũng như mối quan hệ giữa chúng. - Đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường sự liên kết giữa Trung tâm GTVL Hà Nội và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề . 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng đào tạo nghề, sự liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với doanh nghiệp trong đào tạo nghề, mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo và mức độ liên kết giữa Trung tâm với doanh nghiệp trong đào tạo nghề. - Phạm vi nghiên cứu: + Không gian nghiên cứu: Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội và các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội + Thời gian nghiên cứu: Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng giai đoạn 2010 -2013, đề xuất phương hướng đến năm 2020. 5. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp chuyên gia - Phương pháp thống kê - Phương pháp quan sát - Phương pháp phân tích tổng hợp. - Phương pháp dự báo. 6. Một số đóng góp của luận văn - Phân tích, đánh giá thực trạng liên kết và chất lượng đào tạo nghề của Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội, với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ liên kết đào tạo nghề giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội nói chung, ở các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng với các doanh nghiệp trong thời gian tới. 7. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Chương 2: Thực trạng liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với doanh nghiệp trong đào tạo nghề giai đoạn 2010 - 2013 Chương 3: Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với doanh nghiệp trong đào tạo nghề đến năm 2020.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH
-ĐẬU THỊ HIỀN
LIÊN KẾT GIỮA TRUNG TÂM GIỚI THIỆU VIỆC LÀM
HÀ NỘI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NAM ĐỊNH - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH
-ĐẬU THỊ HIỀN
LIÊN KẾT GIỮA TRUNG TÂM GIỚI THIỆU VIỆC LÀM
HÀ NỘI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM QUANG PHAN
NAM ĐỊNH - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôivới sự cố vấn của người hướng dẫn khoa học GS.TS PHẠM QUANG
PHAN Đây là đề tài luận văn Thạc sỹ; Chuyên ngành Quản trị kinh doanh Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ
Tác giả
Đậu Thị Hiền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 5
1.1 Những vấn đề chung về liên kết đào tạo nghề 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Đào tạo nghề 7
1.1.1.3 Liên kết đào tạo nghề 12
1.1.3 Chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 14
1.1.4 Sự cần thiết liên kết cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề 20
1.2 Nội dung và các hình thức liên kết trong đào tạo nghề 25
1.2.1 Nội dung liên kết đào tạo nghề 25
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết đào tạo nghề giữa trung tâm Giới thiệu việc làm với doanh nghiệp 36
1 3.1 Các nhân tố bên trong 36
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài 37
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT GIỮA TRUNG TÂM GTVL HÀ NỘI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 40
2.1 Khái quát chung về Trung tâm GTVL Hà Nội 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm 40
2.1.2 Chức năng – nhiệm vụ của TTGTVL Hà Nội 42
2.1.3 Vai trò của trung tâm GTVL Hà Nội 43
Trang 52.2 Tình hình liên kết giữa TTGTVL Hà Nội với các doanh nghiệp trong
đào tạo nghề giai đoạn 2010 - 2013 44
2.2.1 Thực trạng các hình thức liên kết 44
2.2.2 Nội dung liên kết trong đào tạo nghề 48
2.2.3 Kết quả công tác liên kết đào tạo nghề 58
2.3 Đánh giá chung về thực trạng liên kết giữa Trung tâm GTVL Hà Nội với các DN trong đào tạo nghề 61
2.3.1 Những kết quả đạt được 61
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 62
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 62
2.3.3.1 Nhóm nguyên nhân khách quan 63
2.3.3.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan 64
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT GIỮA TRUNG TÂM GTVL HÀ NỘI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẾN NĂM 2020 67
3.1 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020 67
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đến năm 2020 67
3.1.2 Nhu cầu lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 69
3.2 Giải pháp tăng cường liên kết giữa Trung tâm GTVL Hà Nội với DN nhằm nâng cao chất lượng trong đào tạo nghề 71
3.2.1 Các giải pháp tăng cương liên kết giữa trung tâm GTVL Hà Nội và doanh nghiệp trong đào tạo nghề 71
3.2.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề 74
3.3 Một số kiến nghị 78
3.3.1 Kiến nghị với nhà nước 78
3.3.2 Kiến nghị với các doanh nghiệp sử dụng lao động 81
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố quan trọng quyết định sự pháttriển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia dựa trên sự phát triển của sản xuất.Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi diễn ra từng ngày, sựphát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển Vô
số các công nghệ, kỹ thuật mới, các loại vật liệu mới được ứng dụng vào sảnxuất đòi hỏi người lao động phải được đào tạo ở những trình độ lành nghềnhất định
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đàotạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú Tuynhiên, chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao Rất nhiềungười sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêucầu công việc Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này
là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề.Cung đào tạo do các trường dạy nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng củamình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ các doanh nghiệp Điều nàydẫn đến sự mất cân đối cung – cầu đào tạo cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt làchất lượng, gây ra những lãng phí lớn và giảm hiệu quả đào tạo
Liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp là một tất yếu kháchquan, nhất là trong bối cảnh Việt Nam mới hội nhập WTO với thách thức lớn
về sự mất cân đối cơ cấu lao động cũng như thiếu hụt lực lượng lao động đãqua đào tạo nghề Liên kết này dựa trên quy luật kinh tế về quan hệ Cung -Cầu và bảo đảm hài hòa lợi ích nhà nước, cũng như lợi ích của mỗi bên liênkết Vì vậy, Cần phải tích cực trong việc giáo dục, tuyên truyền nâng caonhận thức của xã hội nói chung và cán bộ quản lý các cơ sở dạy nghề, chủđoanh nghiệp nói riêng để mối liên kết này ngày càng phổ biến và ngày càng
Trang 8mang lại hiệu quả cao Có như vậy, chúng ta mới nâng cao được sức cạnhtranh nhà nước, sức cạnh tranh doanh nghiệp và sức cạnh tranh hàng hóa khitham gia vào thị trường Thương mại Thế giới một cách bình đẳng.
Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội từ khi được thành lập đã có nhữngđịnh hướng chú trọng vào lĩnh vực dạy nghề Trung tâm vừa đào tạo tại Trungtâm vừa liên kết đào tạo với các cơ sở dạy nghề khác, các doanh nghiệp trênthành phố Hà Nội Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm đã liên kết đào tạo vớimột số doanh nghiệp như: Trung tâm Đào tạo quốc tế mầm non, công ty đàotạo quốc tế Hoa Sao, công ty thời trang Ngọc Thạch, công ty TNHH 1 thànhviên đào tạo và công ứng nhân lực Nosco, công ty thương mại Tiến Thànhcung ứng đồ uống Những năm qua, công tác liên kết đào tạo đã có nhữngkết quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trung tâmnói riêng, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài “Liên kết giữa trung tâm Giới
thiệu việc làm Hà Nội với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng Đào tạo nghề” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đào tạo nghề là một lĩnh vực quan trọng của giáo dục – đào tạo, gópphần to lớn vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực quốc gia phục vụ CNH –HĐH Tuy nhiên, lĩnh vực ĐTN trong thời gian gần đây còn nhiều bất cập đòihỏi phải nghiên cứu khắc phục
Đã có nhiều công trình khoa học đề cập tới vấn đề này dưới những góc
độ, quy mô khác nhau như luận án “Những giải pháp phát triển ĐTN góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH” của Phan Chính Thức, luận văn “Đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam” của Lê Văn Nhã; đề tài cấp nhà nước “Phát triển lao động
Trang 9kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010” của Tổng cục Dạy nghề, đề tài
“Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên Việt Nam hiện nay” của Viện Khoa học Lao động & Xã hội; sách “giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Viết Sự, “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của Trần Khánh Đức mỗi
công trình có những cách nhìn, quan điểm khác nhau về Đào tạo nghề
Tuy nhiên cho đến nay ở lĩnh vực liên kết trong đào tạo nghề lại có rất
ít công trình đi sâu nghiên cứu, vì thế đề tài: “Liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề” mà tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu là có ý nghĩa cả về mặt
lý luận và thực tiễn, đồng thời không trùng lặp với các công trình đã đượccông bố trước đây
3 Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chấtlượng đào tạo nghề và sự liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội
và doanh nghiệp trong đào tạo nghề Đồng thời luận văn cũng giới thiệu một
số phương pháp đào tạo nghề và mô hình liên kết đào tạo nghề phổ biến ởViệt Nam và các nước
- Tập trung phân tích và đưa ra những đánh giá, kết luận về chất lượngđào tạo, mức độ liên kết giữa Trung tâm GTVL Hà Nội và doanh nghiệptrong đào tạo nghề cũng như mối quan hệ giữa chúng
- Đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường sự liên kết giữa Trung tâmGTVL Hà Nội và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng
đào tạo nghề, sự liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội vớidoanh nghiệp trong đào tạo nghề, mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo vàmức độ liên kết giữa Trung tâm với doanh nghiệp trong đào tạo nghề
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp dự báo
6 Một số đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng liên kết và chất lượng đào tạo nghề củaTrung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội, với các doanh nghiệp trên địa bànthành phố Hà Nội
- Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa mối quan
hệ liên kết đào tạo nghề giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội nóichung, ở các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng vớicác doanh nghiệp trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Chương 2: Thực trạng liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội
với doanh nghiệp trong đào tạo nghề giai đoạn 2010 - 2013
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa Trung tâm Giới thiệu
việc làm Hà Nội với doanh nghiệp trong đào tạo nghề đến năm 2020
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 Những vấn đề chung về liên kết đào tạo nghề
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm nghề:
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc.Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêuvong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành côngnghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phầncứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v…
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ranhững biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thịtrường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là mộtthứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình
độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứhàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức laođộng” quyết định Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trìnhvận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực,trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm,
tự tạo việc làm…
Để hiểu đầy đủ nội hàm khái niệm “nghề” chúng ta hãy phân biệt 2 khái
niệm “Nghề” và “Chuyên môn”
Trang 12Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao độngsản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mìnhlàm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…)hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách lànhững phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội Trên thế giới hiện nay
có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Liên Xô trướcđây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số
đó lên tới 40.000
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên mônnhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiềunghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, cácnghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoahọc và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như
về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng
đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bịđào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệtrường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trêndưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau
- Khái niệm nghề xã hội: là sự phân công lao động của xã hội cho mỗi
người lao động để họ hành nghề kiếm sống và cống hiến cho xã hội
- Khái niệm nghề đào tạo: là những nghề mà người lao động phải được
đào tạo với thời gian quy định để có được những năng lực cần thiết mới có thểtìm việc và hành nghề Nghề đào tạo là do các nhà quản lý giáo dục và các nhàgiáo tự đề ra và được thiết kế theo các diện nghề (profile) rộng hẹp khác nhau
Trang 131.1.2 Đào tạo nghề
1.1.2.1 Khái niệm đào tạo nghề
Luật Dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”.
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạođức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sứckhoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năngtìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầucủa sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Như vậy, nội dung của đào tạo nghề bao gồm: trang bị các kiến thức lýthuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành,tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằmgiúp họ có thể làm một nghề nhất định
Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí,điện tử, xây dựng, sửa chữa …); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánhmáy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị …) và phổ cậpnghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp)
1.1.2.2 Phân loại và các hình thức đào tạo nghề
a) Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta
có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau Trong phạm vibài này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
Trang 14* Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới
một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là
có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những ngườikhông có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tạichỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước vềmặt giáo trình, giảng viên…
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một
năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viênnghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đàotạo ngắn hạn
* Căn cứ vào trình độ đào tạo nghề:
Dạy nghề là một phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chứccho ba cấp trình độ:
- Sơ cấp nghề: Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học
nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một sốcông việc của một nghề, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khitốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lêntrình độ cao hơn Thời gian học từ ba tháng đến dưới một năm đối với người
có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học
- Trung cấp nghề: Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người
học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của mộtnghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào côngviệc, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong côngnghiệp, có sức khỏe tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp cókhả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên cao hơn Thờigian học từ một đến hai năm học tùy theo nghề đào tạo
Trang 15- Cao đẳng nghề: Dạy nghề trình độ cao đẳng nghề nhằm trang bị cho
người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việccủa một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm,
có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, giải quyếtđược các tình huống phức tạp trong thực tế, có đạo đức, lương tâm nghềnghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện chongười học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làmhoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn Thời gian học từ hai đến ba năm họctùy theo nghề đào tạo
* Căn cứ vào tính chất đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa
có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề)
- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có
nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng
và kinh nghiệm làm việc đáp ứng với sự ứng dụng công nghệ và thiết bị mới
để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn
b) Các hình thức đào tạo nghề.
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung làrất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường
áp dụng một số hình thức chính sau đây:
- Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thựchiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tạicác cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục
Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại cáctrung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủyếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Trang 16Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giaiđoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơbản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80%nội dung giảng dạy và tương đối ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyênmôn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyệnnhững kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn.
Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học sinh được học mộtcách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạođiều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng; Đào tạotương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủđộng, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việctương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển củasản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày cànggiữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạotương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, độingũ giáo viên, các cán bộ quản lý… nên kinh phí đào tạo cho một học viên làrất lớn
- Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đóngười học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việcthông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn củanhững người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên vềthực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp(hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức
Trang 17Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việcthường chia làm bai giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuấtvừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viênsau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn
ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc mộtcách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năngđào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng;Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viênchuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng… nên tiết kiệm chi phíđào tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vàoquá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt vàtiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sưphạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặpnhiều khó khăn… nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ họcnhững phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quenkhông tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp vớinhững công việc đòi hỏi trình độ không cao
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết vàthực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuậtphụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các
kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu ápdụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lýthuyết và độ thành thục cao
Trang 18Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tươngđối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở cácphân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề; Bộ máy đào tạo gọn, chiphí đào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ởnhững doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùngngành có tính chất giống nhau.
- Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được ápdụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trongnhững năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu “đàotạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệthống dạy và học có hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạothành chức năng chung của hệ thống”
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chứcdưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng,lãnh thổ và khu vực
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ởViệt Nam còn ít, mới chỉ thực hiện ở một số tập đoàn hoặc công ty và đượcbiểu hiện ở các hoạt động như:
- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho cáctrường đào tạo);
- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
- Một số trường liên kết với các doanh nghiệp trong suốt quá trình đào tạo
1.1.1.3 Liên kết đào tạo nghề
Ở các nước phát triển đào tạo nghề có vai trò hết sức quan trọng, nó đượctiến hành một cách chuyên nghiệp trong bản thân doanh nghiệp cũng nhưtrong các cơ sở dạy nghề Việc liên kết đào tạo cũng rất rõ ràng và khoa học,
Trang 19được các Hiệp hội nghề nghiệp thẩm định chương trình và đánh giá về chấtlượng đào tạo Doanh nghiệp có thể trực tiếp dạy nghề theo hệ thống đào tạo
lý thuyết và thực hành đồng hành cùng các cơ sở dạy nghề (Dual System)hoặc có các hình thức liên kết đào tạo chặt chẽ khác với Cơ sở dạy nghề Đốivới doanh nghiệp không tổ chức dạy nghề nhưng cần được cung cấp nguồnnhân lực từ các cơ sở dạy nghề sẽ có nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho các cơ
sở dạy nghề đó Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể đóng góp kinh phítrực tiếp cho các cơ sở dạy nghề có khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho họnhư một dạng liên kết hoặc thỏa thuận hỗ trợ mang tính thực hiện nghĩa vụtrước khi hưởng thành quả hoặc sau khi được cung ứng nguồn nhân lực bảođảm theo nhu cầu của doanh nghiệp Bản chất mối quan hệ giữa nhà trường
và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía.Mối quan hệ này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính tương hổ trong việccung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các doanh nghiệp
Hoạt động trong cơ chế thị trường, nhà trường phải tuân thủ một nguyêntắc chung là sản phẩm đào tạo của mình phải đáp ứng nhu cầu của thị trườnglao động rất đa dạng và đầy biến động Nguyên tắc này thể hiện thông qua sựtiếp nhận của thị trường lao động đối vói những học viên tốt nghiệp từ trường,Việc đánh giá nhà trường có là một cơ sờ đào tạo vững mạnh, có triển vọnghay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đầu ra là học viên tốt nghiệp cóđược các doanh nghiệp tuyển dụng và đúng các nghề mà giới công nghiệp cần
Để có thể cung ứng cho thị trường những lao động có chất lượng cao,đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, nhà trường cần phải nắm bắt nhu cầucủa doanh nghiệp Các doanh nghiệp có vai trò là những nhà cung cấp thôngtin để nhà trường nắm được nhu cầu lao động mà thị trường cần Vì lợi íchcủa chính mình, mọi hoạt động đào tạo của nhà trường phải luôn hướng đếnnhu cầu của các doanh nghiệp, như vậy, nhà trường phải luôn gắn kết vớidoanh nghiệp
Trang 201.1.3 Chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
1.1.3.1- Khái niệm về chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, cùng với sự pháttriển của xã hội, khái niệm chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể.Trước đây, người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêu chuẩnchất lượng được coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài Ngày nay,khái niệm chất lượng không được gắn với một tiêu chuẩn cố định nào đó, mà
“chất lượng là một hành trình, không phải là một điểm dừng cuối cùng mà ta
đi tới” Đây là quan niệm “động” về chất lượng, trong đó chất lượng đượcxác định bởi người sử dụng sản phẩm – dịch vụ hay trong nền kinh tế thịtrường còn gọi là khách hàng Khách hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụngsản phẩm – dịch vụ có nghĩa là sản phẩm – dịch vụ đó có chất lượng
Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhaucũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng Có một số khái niệmtiêu biểu về chất lượng như:
“Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chấtcủa sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nóvới sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểuthị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vậtlại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật vàkhông tách rời khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thểmất đi chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sựvật Về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính qui định về
số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi sự vật bao
giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” – (Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 1999).
Trang 21“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” – (Theo ISO 9000, năm 2000).
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đối tượng
cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử – cụ thể của đối tượng đó
1.1.3.2 – Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Có thểphân các yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
Thứ nhất, Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo
nghề)
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trongcủa chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở dạy nghề; cơ sở vật chất,tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên, học viên học nghề; chương trình,giáo trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá,cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảmbảo chất lượng của đào tạo nghề Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:
* Mục tiêu đào tạo:
Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mụctiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễncủa thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hợp tác đàotạo Các mục tiêu đào tạo càng sát thực, càng khả thi thì chất lượng đào tạonghề càng được nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo cần phải có
sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng yếu tố
* Chương trình, giáo trình đào tạo:
Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhànước các cấp, các ngành đối với hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề
Trang 22Chương trình đào tạo phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là mộttrong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo Không cóchương trình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạocủa các đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát khôngtheo một tiêu chuẩn thống nhất.
Trong lĩnh vực dạy nghề, chương trình đào tạo gắn với nghề đào tạo.Không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều cóchương trình riêng Do vậy, một cơ sở dạy nghề có thể có nhiều chương trìnhđào tạo nếu như cơ sở đó đào tạo nhiều nghề Điều này đòi hỏi việc nghiêncứu, đánh giá thực trạng về chương trình đào tạo nghề xét ở mức độ có haykhông có, không thể chỉ căn cứ vào cơ sở đào tạo nghề mà phải căn cứ vàocác nghề mà cơ sở đó đào tạo
Chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tươngứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượngnội dung cũng như thời gian học Điểm khác biệt cơ bản trong chương trìnhđào tạ nghề là tỷ lệ thực hành khá cao, thường chiếm 60% - 70% thời lượng.Nhà nước xây dựng và ban hành chương trình khung để các trường thực hiện,đảm bảo một trình độ nhất định hiệu trưởng các trường dạy nghề căn cứ vàochương trình khung để xây dựng chương trình dạy học của trường mình phùhợp với yêu cầu của thị trường lao động
Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơncủa chương trình về từng môn cụ thể trong đào tạo Nội dung giáo trình phảitiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo mớisát thực tế và hiệu quả đào tạo nghề mới cao
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý
và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thểnắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng
Trang 23trực tiếp tới chất lượng đào tạo.
Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình đào tạo nghề Chấtlượng của các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng đào tạo nghề
Tuy nhiên, hệ thống đào tạo nghề vận hành trong môi trường văn hoá,chính trị, xã hội … nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiệnmôi trường
* Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
- Phải có kiến thức: Giáo viên dạy nghề là người giữ trọng trách truyền
đạt kiến thức lý thuyết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mìnhcho các học viên trên cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có Vì vậy, năng lựcgiáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề
- Phải có kỹ năng, tay nghề vận hành thiết bị: Đào tạo nghề có những
nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân đó làngành nghề đào tạo rất đa dạng và học viên học nghề cũng có trình độ vănhóa rất khác nhau Bên cạnh đó, cấp trình độ đào tạo ở các cơ sở đào tạonghề cũng rất khác nhau (chưa có nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, bồidưỡng, nâng bậc thợ) Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy nghềcũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau
- Phải có khả năng sư phạm: Giáo viên dạy nghề phải có đủ cả về số
lượng và chất lượng, có đủ về số lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn,theo sát học viên và đội ngũ giáo viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy
và truyền đạt cho các học viên học nghề một cách hiệu quả
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
đó là đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề Trong giai đoạn trước đây, vai trò củacác cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuynhiên trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế vàcạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là
Trang 24những người thực sự có trình độ Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnhhưởng rất lớn đến đào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điềuphối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo…
* Học viên học nghề:
Học viên học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết địnhđối với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạonghề Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹthời gian… của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô vàchất lượng đào tạo nghề Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của họcviên càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghềcàng tốt, khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và ngược lại
* Cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính:
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thựctập sản xuất, thư viện – học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và họctập… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượngđào tạo nghề Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quátrình đào tạo nghề, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện
kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiệnđại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng
có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy,
cơ sở vật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp với tốc độđổi mới của máy móc, công nghệ sản xuất
Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảmbảo chất lượng đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng đào tạo nghềthông qua khả năng trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy,khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, … Tài chính đầu tưcho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng có điều kiện bảo đảm chất lượng đàotạo nghề Các nguồn tài chính chủ yếu cho đào tạo nghề bao gồm: các nguồnlực từ Ngân sách nhà nước, đóng góp của bên hợp tác (doanh nghiệp), các
Trang 25nguồn hỗ trợ khác.
Thứ hai, các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồmcác điều kiện môi trường của hệ thống đào tạo nghề Các yếu tố này ảnhhưởng tới chất lượng đào tạo nghề với tính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệthống, hợp với các yếu tố bên trong thành hệ các yếu tố tác động đến chấtlượng đào tạo nghề
Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiềulĩnh vực khác nhau như: thể chế chính trị, kinh tế – xã hội, khoa học – côngnghệ, địa lý, truyền thống – văn hoá, … Tuy nhiên cần quan tâm hơn đến một
số yếu tố cơ bản như: Hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; Sự pháttriển của khoa học kỹ thuật; Thể chế chính trị; Sự phát triển kinh tế – xã hội;
Cơ chế - chính sách; Qui mô
- Sự đánh giá của xã hội, thái độ, tôn vinh lao động giỏi và đánh giá củathị trường lao động thông qua mức tiền công, thu nhập của người lao động
- cơ cấu lao động; Nhận thức xã hội về đào tạo nghề Các yếu tố này cóthể khái quát như sơ đồ sau:
CHẤT LƯỢN
G ĐÀO TẠO
Điều kiện môi trường đào tạo nghề
Trang 26Thông tin phản hồi
1.1.4 Sự cần thiết liên kết cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
1.1.4.1 Nhu cầu của các doanh nghiệp về lao động đã qua đào tạo nghề
Thông qua mối liên hệ giữa nhà trường với người sử dụng lao động,sinh viên ra trường nhanh chóng có việc làm phù hợp với chuyên môn đượcđào tạo và người sử dụng cũng tìm được những nhân viên có năng lực thíchhợp với vị trí mà họ cần tuyển Cụ thể là:
- Doanh nghiệp cung cấp thông tin về số lượng và yêu cầu về chất lượng
cũng như nhu cầu của các nghề chuyên môn theo từng cấp trình độ điều nàygiúp nhà trường định hướng được ngành nghề đào tạo mà DN đang cần
- Doanh nghiệp giới thiệu và thực hành công nghệ mới, những máymóc thiết bị được trang bị trong quá trình sản xuất Liên kết đào tạo vớidoanh nghiệp thì cơ sở vật chất phục vụ đào tạo sẽ tăng lên, thiết bị phục vụđào tạo được cập nhật, tăng lên về số lượng cũng như chất lượng Đồng thờigiúp học viên tiếp cận với thực tế thiết bị hiện đại đang vận hành, dây chuyềnsản xuất hiện đại; đây là một ưu thế nổi trội, bởi vì những thiết bị hiện đại, đắttiền, không có một cơ sở đào tạo nào có khả năng trang bị hàng năm trongkhi đó tại các DN việc đổi mới trang thiết bị, công nghệ là việc làm bắt buộcnhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để chiến thắng trong cuộccạnh tranh
- DN sẽ giúp Nhà trường hiểu được những yêu cầu cần thiết phải bổsung trong chương trình đào tạo, Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơnvới yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại và thị trường lao động nhằmđảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần chứ không phải đào tạonhững cái mà mình có”
Trang 27- DN bổ sung các giáo viên thực hành là những cán bộ kỹ thuật, kỹ sư,công nhân có tay nghề cao đang làm việc tại DN Chính đội ngũ giáo viên nàygiúp nhà trường rất nhiều trong việc hướng dẫn học sinh vận hành các máymóc, thiết bị trong quá trình thực tập
- Hàng năm, DN cần bổ sung đội ngũ lao động để phát triển qui mô sảnxuất Do vậy DN có khả năng tiếp nhận một phần học sinh học nghề sau khi
đã tốt nghiệp
1.1.4 2 Những lợi ích do liên kết mang lại cho các chủ thể tham gia
Như đã phân tích, chất lượng đào tạo nghề được đảm bảo bởi một hệthống các yếu tố, trong đó cơ bản là các yếu tố như: mục tiêu, nội dungchương trình đào tạo; tổ chức và quản lý đào tạo; đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo; tài chính… Nếu chấtlượng của các yếu tố này được nâng cao thì chất lượng đào tạo nghề sẽ đượcnâng cao
Liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp sẽ tác động
cơ bản, toàn diện tới chất lượng của tất cả các yếu nói trên Cụ thể là:
- Khi có sự liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp thì mụctiêu, nội dung chương trình được xây dựng sát hơn với yêu cầu thực tiễn củanhững người sử dụng lao động;
- Đa số đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo nghề được đào tạo cơ bản,đạt chuẩn của Nhà nước đề ra, song kinh nghiệm sản xuất trực tiếp và việclàm thì chưa thành thục bằng những người thợ cả tại các cơ sở sản xuất Khi
cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp kết hợp đào tạo sẽ tận dụng được thếmạnh của cả phía Trung tâm và doanh nghiệp, đội ngũ giáo viên cho đào tạonghề được tăng lên cả về qui mô và chất lượng, đặc biệt là đội ngũ giáo viênthực hành, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo;
- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo chủ yếu được
Trang 28chọn ra từ đội ngũ giáo viên Khi liên kết với các doanh nghiệp, đội ngũ cán
bộ quản lý được bổ sung từ phía doanh nghiệp Điều này rất có lợi cho việc tổchức, quản lý quá trình đào tạo, đặc biệt là các khâu tuyển sinh, thực tập sảnxuất, việc làm, tham gia xây dựng chương trình…;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo là một trong những yếu tố
cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo nghề Liên kết đào tạo với doanh nghiệp thì
cơ sở vật chất phục vụ đào tạo sẽ tăng lên, thiết bị phục vụ đào tạo được cậpnhật, tăng lên về số lượng cũng như chất lượng Đồng thời giúp học viên tiếpcận với thực tế thiết bị hiện đại đang vận hành, dây chuyền sản xuất hiện đại;đây là một ưu thế nổi trội, bởi vì những thiết bị hiện đại, đắt tiền, không có một
cơ sở đào tạo nào có khả năng trang bị hàng năm trong khi đó tại các DN việcđổi mới trang thiết bị, công nghệ là việc làm bắt buộc nhằm nâng cao chấtlượng sản phẩm, hạ giá thành để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh
- Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm các nguồn từ ngân sách, học phí,các nguồn thu và hỗ trợ khác Hiện nay, ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế
và ở mức thấp so với yêu cầu Khi có sự liên kết về mặt tài chính, doanhnghiệp sẽ đầu tư và đóng góp một phần kinh phí cho đào tạo học viên (mà họ
sẽ sử dụng) để phát triển nguồn nhân lực;
- Giới thiệu và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp là một dịch vụ quantrọng dành cho học sinh học nghề Nếu có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đàotạo nghề và doanh nghiệp sẽ góp phần khắc phục tình trạng thất nghiệp củanhững học viên học nghề Học viên được đào tạo sẽ có địa chỉ sự dụng hoặctối thiểu là được đào tạo theo “cầu” của thị trường lao động Từ đó giúp ngườihọc an tâm học tập, nâng cao chất lượng đào tạo và giảm lãng phí cho xã hội;
Như vậy, thiết lập sự liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệptrong đào tạo nghề sẽ cải thiện các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, từ đónâng cao chất lượng đào tạo nghề
Ngoài ra tăng cường sự liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
Trang 29(tăng cường quan hệ trường – ngành) mang lại lợi ích cho cả nhà trường, họcviên, doanh nghiệp và xã hội, cụ thể như sau:
*) Lợi ích đối với Doanh nghiệp (ngành):
Để có đủ nguồn nhân lực, đội ngũ lao động nhằm thực hiện chiến lượckinh doanh, mở rộng kinh doanh của mình, các doanh nghiệp phải chủ độngtìm kiếm lao động trên thị trường Con đường mà các nhà tuyển dụng truyềnthống là thông qua các hội chợ việc làm, đăng tuyển lao động trên cácwebsibe, băng rôn nơi công cộng… Nhưng một điều thực tế tại các hội chợviệc làm được tổ chức gần đây cũng như các hồ sơ gửi về cho thấy, thị trườnglao động rất dồi dào, trình độ cử nhân cũng không thiếu và họ đang khát khaotìm việc Song, không phải doanh nghiệp nào cũng dễ dàng tìm được chomình những lao động phù hợp, ngoài ra một số doanh nghiệp tuyển dụngđược nhưng phải mất thời gian và chi phí để đào tạo lại thì mới sử dụng được.Trong điều kiện này, nếu có một cơ sở đào tạo chất lượng cao, đảm bảo cungcấp những sinh viên đáp ứng nhu cầu công việc ngày thì đó là một điều lýtưởng nhất đối với doanh nghiệp Hiện nay các nhà tuyển dụng cũng cực kỳđau đầu khi săn tìm được nhận lực đáp ứng nhu cầu công việc khi ban lãnhđạo yêu cầu Vì vậy, nếu doanh nghiệp liên kết với nhà trường, đăng ký tuyểndụng sinh viên ra trường sẽ nhận được đội ngũ lao động phù hợp với yêu cầucủa mình Doanh nghiệp chủ động đưa ra bản mô tả nhu cầu lao động trongthời gian tới, hợp tác với nhà trường để định hướng đào tạo cho sinh viên làmột việc làm vô cùng có lợi, chủ động được nguồn nhân lực
- Các doanh nghiệp (ngành) sẽ tiết kiệm được kinh phí và thời gian đàotạo lại lao động do chất lượng sinh viên tốt nghiệp tốt hơn khi có sự liên kếtgiữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo;
- Nguồn cung lao động có tay nghề tăng lên, lực lượng lao động cókhả năng thích nghi cao với công nghệ và môi trường làm việc mới tăng
Trang 30lên sẽ tạo ra các cơ hội tuyển dụng tốt hơn, giảm bớt sự thiếu hụt kỹ năngcho doanh nghiệp;
- Các công nhân lành nghề bậc cao của doanh nghiệp sẽ có cơ hội pháttriển năng lực lãnh đạo khi họ tham gia vào việc tư vấn…
*) Lợi ích đối với Trung tâm dạy nghề:
sự lựa chọn về phương pháp đào tạo, chương trình đào tạo, môi trườngđào tạo sao cho “sản phẩm đào tạo” đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
là sự đột phá và thành công cho riêng mình Phép thử cho sự lựa chọn trên đóchính là sinh viên năm cuối và sinh viên vừa tốt nghiệp có việc làm phù hợptại các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế Rõ ràng, không thể đánh giá mộttrung tâm đào tạo, một cơ sở đào tạo vững mạnh có chất lượng cao mà khisinh viên ra trường bị thất nghiệp nhiều hoặc không được làm đúng ngànhnghề đã được đào tạo
Để có thể cung ứng cho thị trường nguồn nhân lực có chất lượng cao,đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng thì nhà trường cần phải nắm bắt nhucầu của các doanh nghiệp nói riêng, và của nền kinh tế nói chung, chủ độngliên kết với các doanh nghiệp để nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thực tế để cóhướng đào tạo
- Xây dựng và duy trì được các chương trình đào tạo có chất lượng vàphù hợp với yêu cầu thực tiễn;
- Xác định những thay đổi và nguồn lực cần có tốt hơn, từ đó lập kế hoạch– chiến lược một cách hiệu qủa hơn, đưa ra những quyết định xác đáng hơn;
- Tạo ra nhiều cơ hội được nhận các tài trợ về thiết bị và các nguồn lựccho đào tạo, tăng tiềm năng tạo thu nhập;
- Có cơ hội tiếp cận với những nghề nghiệp mới, hiểu sâu sắc hơn vềnhững nhu cầu trong công việc của nghề và ngành, từ đó lựa chọn sự ưu tiên
Trang 31đào tạo cụ thể cho từng nghề để tăng khả năng có việc làm của học sinh tốtnghiệp, tăng cơ hội việc làm với mức lương cao;
- Thúc đẩy phát triển theo kịp tốc độ của ngành và cộng đồng, tạo điềukiện chuyển đổi giáo dục - đào tạo sang kiểu đào tạo hướng cầu;
- Trở thành đối tác trong hoạt động kinh tế cuả cộng đồng…
*) Lợi ích đối với học sinh học nghề:
- Có nhiều cơ hội lựa chọn để phát triển các lĩnh vực chuyên môn hoá,sẵn sàng đáp ứng công việc khi tốt nghiệp;
- Tăng khả năng có việc làm và những cơ hội đến với những công việc
có thu nhập cao hơn, cải thiện mức sống của gia đình và bản thân;
- Chuẩn bị tốt hơn cho việc học tập suốt đời…
*) Lợi ích đối với Chính phủ (cộng đồng):
- Tăng cường sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tạo ranhiều thuận lợi trong việc hoạch định chính sách, chiến lược về giáo dục - đàotạo cũng như các chiến lược về sắp xếp việc làm;
- Những lợi ích kinh tế của một lực lượng lao động có tay nghề baogồm nguồn thu nhập gia đình tăng, tiêu chuẩn sống tốt hơn và mức độ hàilòng về công việc cao hơn Doanh thu của Chính phủ cũng tăng cùng với sựgia tăng của các hoạt động kinh tế, dẫn tới các lợi ích xã hội được cải thiện
1.2 Nội dung và các hình thức liên kết trong đào tạo nghề
1.2.1 Nội dung liên kết đào tạo nghề
1.2.1.1 Một số mô hình liên kết trong đào tạo nghề
- Đào tạo kết hợp theo mô hình “Alternation”
“Alternation” theo cách gọi của tổ chức GTZ Việt Nam (trong tài liệu
về các hình thức đào tạo nghề trên thế giới) là “đào tạo phối hợp” là hình thứckết hợp đào tạo điển hình tại Pháp Đặc trưng của hình thức này là:
- Chương trình đào tạo: Đào tạo chính quy cấp bằng nghề hoặc bồi
Trang 32dưỡng nâng cao tay nghề Về đào tạo chính quy, trường hoàn toàn tuân thủ theoquy chuẩn quốc gia, không được tự do về nội dung chương trình giảng dạy Vềbồi dưỡng nâng cao trình độ, không bắt buộc phải cấp văn bằng, chứng chỉnghề và doanh nghiệp tham gia vào xây dựng các chương trình đào tạo;
- Phương pháp tổ chức đào tạo: Các môn cơ bản - đại cương, các môn
lý thuyết chuyên môn, thực hành cơ bản được đào tạo tại trường cho giáo viêncủa trường thực hiện Thực tập sản xuất được tiến hành tại doanh nghiệp với
sự tham gia của cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp;
- Tài chính: Doanh nghiệp khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộpcho trường đào tạo nghề hoặc cho Nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề)bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3%cho cán bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề;
- Đánh giá kết quả đào tạo: Việc thi, kiểm tra, tốt nghiệp được thựchiện tại trung tâm Kiểm tra tay nghề (thi thực hành) được tiến hành tại doanhnghiệp với Hội đồng kiểm tra bao gồm giáo viên của trường và cán bộ củadoanh nghiệp
- Đào tạo kết hợp theo mô hình “Dual system”
Trong các tài liệu về đào tạo nghề tại Việt Nam, “Dual system” đượcgọi bằng nhiều cách như “song tuyến”, “song hành”, “kép”… Tuy nhiên, dùđược gọi bằng cách nào thì về bản chất nội dung và hình thức của nó vẫn là
“kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp” Trong phạm vi bài viết này sẽ
sử dụng khái niệm “song hành”
Đào tạo kết hợp theo hình thức song hành là hình thức đào tạo nghề cơbản của Đức và chủ yếu là đào tạo để phục vụ cho doanh nghiệp Đặc điểm cơbản của đào tạo song hành là:
- Xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo: Căn cứ theochương trình khung thống nhất của Nhà nước, khối cơ quan quản lý Nhà nước
về đào tạo nghề xây dựng Chương trình đào tạo lý thuyết và các hiệp hội nghề
Trang 33nghiệp, phòng công nghiệp sẽ xây dựng chương trình đào tạo thực hành cóđịnh hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp;
- Cơ sở vật chất – trang thiết bị thực hành: đào tạo được tiến hành cả ở
cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nên cơ sở vật chất trang thiết bị đào tạo gồm cảcủa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp;
- Cán bộ giáo viên: gồm cả giáo viên của cơ sở dạy nghề và doanhnghiệp, trong đó giáo viên của cơ sở lao động sẽ dạy các môn lý thuyết;
- Tài chính: do cả phía trường và doanh nghiệp đóng góp Tài chínhcủa cơ sở đào tạo ( Trung tâm GTVL HN) lấy từ ngân sách Nhà nước và cáckhoản thu hợp lệ khác Về phía doanh nghiệp sẽ cấp học bổng cho học sinh,đầu tư tuyển cán bộ hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, đầu tư cơ sở vậtchất – sư phạm;
- Đánh giá tốt nghiệp: Kết quả thi thực hành quyết định việc tốt nghiệpcủa học viên, kết quả thi lý thuyết chỉ có giá trị tham khảo Đề thi thực hành
do các phòng công nghiệp ra Đặc điểm của phương pháp đào tạo này làngười lao động đã được DN tuyển dụng vào làm việc 2 hoặc 3 ngày trongtuần làm việc tại DN, thời gian còn lại học tại trường
- Mô hình đào tạo tuần tự
Kết hợp theo mô hình đào tạo tuần tự tức là quá trình đào tạo được chialàm hai giai đoạn và tiến hành ở hai địa điểm là cơ sở đâò tạo và doanhnghiệp: Giai đoạn một đào tạo lý thuyết và thực hành cơ bản tất cả các côngviệc của nghề tại cơ sở đào tạo; giai đoạn hai là thực hành sản xuất theo từngcông việc và thực hành tốt nghiệp tại cơ sở sản xuất trong một thời gian dài
Ưu điểm của mô hình này là đơn giản trong việc tổ chức quá trình đàotạo kết hợp và tận dụng được ưu thế của mỗi bên trong việc kết hợp Tuynhiên, nhược điểm của nó là học lý thuyết và thực hành cũng như thực hành
Trang 34cơ bản và thực hành sản xuất được tiến hành ở những khoảng thời gian cách
xa nhau nên học sinh dễ bị quên những điều đã học
1.2.2.2 Nội dung liên kết đào tạo nghề
Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề, mối quan hệ liên kết giữa các cơ
sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp sử dụng lao động thường được thể hiện
ở hai nội dung chủ yếu sau,
Một là, hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông, dạy nghề chuyên sâu, bồi dưỡng, đào tạo lại và tuyển dụng lao động
Trong mỗi nội dung liên kết cả phía cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp đều
có trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định, cụ thể là:
* Về phía Trung tâm GTVL:
- Tham gia tư vấn cho do DN về hoạch định chiến lược, xây dựng kếhoạch phát triển nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn
- Lập kế hoạch tham quan thực tế ở doanh nghiệp, thực hành kỹ thuật vàthực tập sản xuất cho học sinh phổ thông, học viên học nghề trung tâm
- Tiếp nhận lao động của doanh nghiệp để đào tạo mới, tư vấn hướngnghiệp để chuyển đổi nghề và đào tạo lại theo hợp đồng liên kết đào tạo
- Bồi dưỡng ngắn hạn và cập nhật kiến thức, kỹ năng mới cho cán bộ,người lao động của doanh nghiệp
- Cử giáo viên giỏi tham gia các hội đồng của doanh nghiệp để chấm thinâng bậc, giám khảo các hội thi kỹ thuật do DN tổ chức
- Nắm bắt kịp thời phản hồi của doanh nghiệp về kỹ năng tay nghề, thái
độ và tác phong công nghiệp của học sinh học viên khi ra trường để điềuchỉnh, đổi mới chương trình, phương pháp dạy-học
* Về phía doanh nghiệp
- Tham gia tư vấn cho Trung tâm HNDN hoạch định chiến lược đào tạo,
Trang 35xây dựng kế hoạch phát triển trung tâm Tham gia xây dựng chương trình đàotạo, trong đó chú trọng chương trình dạy thực hành
- Tiếp nhận, tạo điều kiện cơ sở vật chất và tham gia hướng dẫn học sinhphổ thông, học viên học nghề của trung tâm đến tham quan , thực tập, thực hành
- Đặt hàng về yêu cầu tay nghề, yêu cầu định hướng nghề và thời gian hoànthành việc đào tạo cho từng trường hợp cụ thể Tận dụng máy móc thiết bị, cơ sởvật chất của doanh nghiệp phục vụ quá trình đào tạo cho người lao động
- Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên trung tâm đến tham quan, thực tập
để không ngừng cập nhật kiến thức, công nghệ mới, phục vụ cho việc nângcao chất lượng đào tạo
- Cử chuyên gia tham gia các hội đồng thi thực hành cho học sinh phổthông, học viên học nghề
- Phản hồi cho trung tâm thông tin về kỹ năng tay nghề, thái độ lao động
và tác phong công nghiệp của học sinh, học viên khi lao động, thực tập tạidoanh nghiệp
Hai là, liên kết nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới và các dịch vụ khác
* Về phía trung tâm GTVL:
- Lập đề cương nghiên cứu Tính toán chi phí cho việc nghiên cứu trưngcầu ý kiến chuyên gia của doanh nghiệp về đề cương, kinh phí, tổ chức lựclượng giáo viên, nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ
- ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Giảingân và thanh quyết toán theo đúng chế độ tài chính hiện hành
- Phối hợp với doanh nghiệp tổ chức hội thảo về xu hướng công nghệmới, hoặc hội nghị tập huấn về nghiệp vụ nghiên cứu khoa học, ứng dụngcông nghệ mới
Trang 36- Tăng cường công tác tuyên truyền để tuyển sinh người lao động họcnghề định hướng nhằm xuất khẩu lao động
- Hỗ trợ về chương trình, chuyên môn và liên kết với doanh nghiệp mở
cơ sở đào tạo nghề theo cơ chế xã hội hóa
- Tổ chức gian hàng giới thiệu năng lực đào tạo trong Hội chợ việc làm.Đưa học sinh học nghề phổ thông đến các gian hàng doanh nghiệp để giáodục định hướng nghề nghiệp cho học sinh
* Về phía doanh nghiệp:
- Đặt hàng công trình khoa học, chuyển giao công nghệ xuất phát từ nhucầu thực tế sản xuất kinh doanh Tham gia các hội đồng tư vấn việc lập đềcương, kế hoạch kinh phí, tổ chức thực nghiệm, kiểm tra đánh giá nghiệm thu…
- Ký kết hợp đồng, cho ứng kinh phí và thanh, quyết toán kinh phínghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Phản hồi về tính hiệu quả củacông trình để đặt hàng những công trình tiếp theo
- Tham gia hội thảo, hội nghị tập huấn với trung tâm Tạo nên phong tràophát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong tập thể cán bộ, người lao động đểlàm tiền đề cho việc phát hiện vấn đề, nảy sinh các công trình khoa học, côngnghệ mới…
- Hợp đồng với các đối tác nước ngoài trong việc trao đổi lao động, xuấtkhẩu lao động
- Đầu tư tài chính, máy móc thiết bị và liên kết với trung tâm HNDN mởxưởng sản xuất trực thuộc trung tâm theo uy chế đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính
- Tổ chức gian hàng giới thiệu năng lực sản xuất kinh doanh, thiết bị,công nghệ mới, góp phần trong việc định hướng nghề nghiệp, kích thích tìmtòi nghiên cứu khoa học của giáo viên và học sinh
1.2.2.3 Các hình thức liên kết
* Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo
Trang 37Thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý,điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất
và thị trường lao động Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêucầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho chất lượng đào tạo nghề đượcđánh giá là cao hơn Muốn như vậy, cơ sở dạy nghề cần phối hợp chặt chẽ vớidoanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo Mỗi chương trìnhđào tạo phải được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia về phát triểntài liệu, cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn, giáo viên có trình độ - kinh nghiệmgiảng dạy và các chuyên gia thực tiễn của các doanh nghiệp Hình thức liênkết xây dựng chương trình tiêu biểu là: Căn cứ theo chương trình khung thốngnhất của Nhà nước, cơ sở dạy nghề phối hợp với khối cơ quan quản lý Nhànước về đào tạo nghề xây dựng Chương trình đào tạo lý thuyết; phối hợp vớicác hiệp hội nghề nghiệp, phòng công nghiệp và doanh nghiệp xây dựngchương trình đào tạo thực hành có định hướng theo yêu cầu phát triển côngnghệ sản xuất của các doanh nghiệp
Liên kết xây dựng chương trình đào tạo giữa cơ sở dạy nghề, doanhnghiệp và cơ quan quản lý của Nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượngđào tạo nghề, đảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần chứ khôngphải đào tạo những cái mà mình có”
* Liên kết về nhân sự
Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo viên giảng dạy và cán
bộ quản lý đào tạo cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định sự đảm bảo vànâng cao chất lượng đào tạo Thông thường, khi kết hợp về mặt giáo viên giữaTrung tâm và doanh nghiệp thì sự kết hợp đó được biểu hiện dưới các hìnhthức như sau:
- Cơ sở dạy nghề sẽ cung cấp toàn bộ đội ngũ giáo viên giảng dạy lýthuyết và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo các nội dung lý thuyết của khoá
Trang 38học Các doanh nghiệp sẽ tổ chức đào tạo phần thực hành với đội ngũ giáoviên dạy thực hành là các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp
- Cơ sở dạy nghề tổ chức đào tạo cả lý thuyết và thực hành cơ bản.Cuối khoá học, khi học viên bước vào giai đoạn thực tập sản xuất (thực tập tốtnghiệp), doanh nghiệp sẽ cử những công nhân lành nghề hoặc kỹ sư hướngdẫn trực tiếp tại các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp mời giáo viên tại các cơ sở đào tạo tới giảng dạy trựctiếp tại các lớp học do doanh nghiệp tự tổ chức Hình thức này thường ápdụng cho các lớp học ngắn hạn nhằm đào tạo lại hoặc đào tạo bồi dưỡng, nângcao kiến thức cho người lao động của doanh nghiệp
- Cơ sở dạy nghề mời các cán bộ của doanh nghiệp tham dự các buổithảo luận, trao đổi trực tiếp với học viên về những công nghệ sản xuất mới củadoanh nghiệp để giúp học viên cập nhật kiến thức mới và tích luỹ kinh nghiệm
Cùng với đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý của cơ sở dạy nghềcũng phải liên kết chặt chẽ với cán bộ quản lý của các doanh nghiệp trong quátrình đào tạo kết hợp nhằm tổ chức và quản lý việc đào tạo có hiệu quả hơn
* Liên kết về tổ chức đào tạo
Nội dung liên kết phổ biến giữa các cơ sở dạy nghề và các doanhnghiệp hiện nay là liên kết trong việc tổ chức đào tạo, tức là việc đào tạo (dạynghề) cho học viên sẽ được thực hiện bởi cả hai chủ thể là cơ sở dạy nghề vàdoanh nghiệp Nội dung, thời gian đào tạo mà mỗi chủ thể phải thực hiện tuỳthuộc vào sự thoả thuận, phân công ban đầu Chương trình đào tạo của từngnghề, nguồn lực về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất… của từng chủ thể làcăn cứ để phân chia công việc mà cơ sở dạy nghề hay doanh nghiệp phải thựchiện trong toàn khoá đào tạo Thông thường, việc đào tạo lý thuyết sẽ do nhàtrường thực hiện còn phía doanh nghiệp sẽ đảm nhận việc dạy thực hành Tuynhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi bên trong quá trình liên kết, việc tổ
Trang 39chức đào tạo sẽ có những biểu hiện cụ thể khác nhau hay nói cách khác làhình thức đào tạo sẽ khác nhau.
* Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
Liên kết về tài chính là phía doanh nghiệp sẽ hỗ trợ trực tiếp (hoặc giántiếp) cho cơ sở dạy nghề một phần (hoặc toàn bộ) kinh phí đào tạo nghề chohọc viên
Trên thế giới hiện nay, việc doanh nghiệp đóng góp kinh phí cho đàotạo nghề rất phổ biến, thậm chí là bắt buộc ở một số nước nếu doanh nghiệpmuốn sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề Mức độ liên kết về tài chínhgiữa cơ sỏ dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề tuỳ thuộc quy địnhcủa từng quốc gia và khả năng tài chính cũng như nhu cầu về nhân lực củadoanh nghiệp Trên thực tế có nhiều kiểu liên kết tài chính, tiêu biểu là cáckiểu liên kết như sau:
- Doanh nghiệp tới cơ sở dạy nghề để tuyển lao động, sau khi tuyểndụng xong họ trả lại tiền đào tạo cho Nhà nước Căn cứ vào số lượng lao động
mà doanh nghiệp tuyển dụng, Nhà nước lại chuyển số tiền mà doanh nghiệp
đã nộp vào cho nhà trường (mô hình liên kết tại Hàn Quốc)
- Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, doanh nghiệp đặt hàngvới cơ sở dạy nghề và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường Ngườilao động sau khi được đào tạo sẽ làm việc cho doanh nghiệp (việc tuyển sinh
có thể do nhà trường thực hiện hoặc do doanh nghiệp tuyển người và gửi đếntrường để học
- Hàng năm, doanh nghiệp cấp một lượng học bổng nhất định cho cáchọc viên của trường Cơ sở dạy nghề sẽ có những ưu tiên trong việc giới thiệuhọc viên sau khi tốt nghiệp tới làm việc tại doanh nghiệp
- Doanh nghiệp khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộp cho cơ sở dạynghề hoặc cho Nhà nước một khoản phí (phí học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của
Trang 40doanh nghiệp Trong đó, 0,2% cho cơ sở dạy nghề và 0,3% cho cán bộ doanhnghiệp tham gia đào tạo nghề (mô hình đào tạo kết hợp điển hình tại Pháp).
- Trường hợp các học viên đến thực tập tại doanh nghiệp và làm ra sảnphẩm, doanh nghiệp sẽ trích một phần doanh thu đó trả cho nhà trường để đầu
tư trở lại cho đào tạo
- Doanh nghiệp đầu tư thiết bị, phương tiện thực hành cho cơ sở dạynghề đối với những nghề mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động
- Doanh nghiệp cho nhà trường sử dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởngcủa chính doanh nghiệp để tổ chức đào tạo thực hành (bao gồm cả thực hành
cơ bản và thực tập sản xuất)
* Liên kết về thông tin
Liên kết về thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa cơ sởdạy nghề và doanh nghiệp Các thông tin về nhu cầu thực tế của các doanhnghiệp về số lượng, chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là mộttrong những căn cứ để các trường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dungđào tạo Đồng thời, các cơ sở dạy nghề cũng dựa vào các thông tin phản hồicủa doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo bởi cơ sở dạy nghề để cónhững điều chỉnh phù hợp chương trình đào tạo
Liên kết về mặt thông tin giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trongđào tạo nghề có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc giántiếp Tiêu biểu như sau:
- Các doanh nghiệp báo cáo định kỳ về nhu cầu sử dụng lao động tới
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp hayphòng công nghiệp Cơ sở dạy nghề có thể thu thập thông tin từ các tổ chứcnày để tổng hợp và xác định qui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, xu hướng đổimới ngành nghề, công nghệ sản xuất để có những điều chỉnh và đầu tư kịp