Sáng tác của Nguyễn Khuyến đã góp phần tạo nên chỗ đứng vững vàng của nhà thơ trong nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng và sự phát triển của nền văn học dân tộc nói chung... Xét trê
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS AN THỊ THÚY
Trang 3đã nhiệt tình giảng dạy tôi trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Thương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kiến thức trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Thương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của khóa luận 7
7 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 8
1.1 Tác giả và tác phẩm 8
1.1.1 Tác giả 8
1.1.1.1 Bối cảnh thời đại 8
1.1.1.2 Cuộc đời và con người 10
1.1.2 Tác phẩm 13
1.2 Tính tự sự trong sáng tác thơ ca 14
1.2.1 Khái niệm tự sự 14
1.2.2 Khái quát về tính tự sự trong thơ ca trung đại thế kỷ XVIII - XIX 15
Chương 2 TÍNH TỰ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN KHUYẾN 20 2.1 Tự sự về bản thân 20
2.1.1 Tự thuật về ngoại hình, phẩm chất, tính cách 20
2.1.1.1 Tự thuật về ngoại hình, dáng vẻ 20
2.1.1.2 Tự thuật về phẩm chất, tính cách 26
2.1.2 Tự thuật về hoàn cảnh và đời sống sinh hoạt 32
2.2 Tự sự về hiện thực xã hội 46
Trang 62.2.1 Tự sự về bộ mặt xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến 46
2.2.2 Tự sự về cuộc sống cơ cực của người nông dân 51
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 7Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của dân tộc Sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với nhiều thăng trầm nhưng bản lĩnh kiên cường, tâm hồn thanh cao không khuất phục trước cương quyền Tâm hồn luôn hướng đến sự tự do, cảm xúc dạt dào yêu thương là những giá trị vô cùng cao đẹp ông để lại trong những vần thơ
Nguyễn Khuyến để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca phong phú Ông sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, ở cả hai loại chữ đều được Nguyễn Khuyến sử dụng rất điêu luyện, song chữ Hán vẫn là thể loại được nhà thơ sử dụng trong sáng tác thơ ca nhiều hơn cả Thể loại trong sáng tác của ông cũng được lựa chọn khá đa dạng như: thơ, phú, văn tế, câu đối Trong tất cả những thể loại mà Nguyễn Khuyến lựa chọn sáng tác thì thơ ca là thể loại ông đặt nhiều tâm huyết và mang giá trị lớn nhất trong sự nghiệp của ông Phần lớn thơ văn Nguyễn Khuyến thể hiện thái độ của mình đối với thời thế Sáng tác của Nguyễn Khuyến đã góp phần tạo nên chỗ đứng vững vàng của nhà thơ trong nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng và sự phát triển của nền văn học dân tộc nói chung
Trang 8Bắt đầu với sự nghiệp thơ ca, Nguyễn Khuyến được biết đến với một hồn thơ trữ tình đằm thắm bởi những vần thơ viết về nông thôn, quê hương, làng cảnh, tình cảm gia đình Về sau, bằng cái nhìn chân thực về thời thế và
sự trải nghiệm thực tế của bản thân, Nguyễn Khuyến còn được biết đến là một nhà thơ trào phúng với giọng điệu mỉa mai Qua mỗi bài thơ, độc giả sẽ thấy được sự đa dạng và linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật của tác giả Đồng thời, thấy được chân dung, cuộc đời con người nhà thơ cùng với hiện thực bối cảnh xã hội được hiện lên qua những dòng thơ
mà Nguyễn Khuyến tự thuật
Xét trên khảo sát thực tế, Nguyễn Khuyến là tác giả đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình đặt giấy bút để tìm hiểu về cả tác giả lẫn sự nghiệp thơ ca của ông, họ đã thành công và đạt được những thành tựu to lớn Nhưng
trên thực tế chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Tính tự sự trong thơ
chữ Hán Nguyễn Khuyến” Từ những lí do trên, tôi quyết định đi vào nghiên
cứu đề tài “Tính tự sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến” Trên đây là một
gợi mở để người viết đi vào tìm hiểu và nghiên cứu khóa luận của mình
1.2 Về mặt thực tiễn
Nguyễn Khuyến là tác gia có khối lượng tác phẩm sáng tác bằng chữ Hán lớn Những vấn đề trong thơ ông khá phong phú Ngoài ra, Nguyễn Khuyến là tác gia được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhiều cấp học, bậc học như: Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Cao đẳng, Đại học Có nhiều
tác phẩm của Nguyễn Khuyến được lựa chọn đưa vào giảng dạy như: “Khóc
Dương Khuê”, “Thu điếu”, “Bạn đến chơi nhà” Vì thế tôi quyết định đi vào
tìm hiểu đề tài này với hy vọng sẽ giúp tác giả nghiên cứu cũng như người đọc có thêm sự hiểu biết về con người, sự nghiệp thơ ca của tác gia Nguyễn Khuyến Kết quả thu được từ việc nghiên cứu đề tài sẽ phục vụ tốt cho việc nghiên cứu và giảng dạy sau này của mình
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Trong sáng tác văn học, tính tự sự thường được biết đến như là một yếu
tố cấu thành nên tác phẩm văn xuôi Tuy nhiên, trong lĩnh vực thi ca cũng có
nhiều bài nghiên cứu về tính tự sự hoặc dưới dạng thức yếu tố kể hay một vài
dạng thức khác
Là một trong những tác giả tiêu biểu của nền văn học dân tộc Cuộc đời cũng như sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ trước đến nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu có giá trị Đối với đề tài “Tính tự sự trong thơ chữ Hán
Nguyễn Khuyến” chưa có một công trình nghiên cứu và bài viết của tác giả
nào đề cập đến một cách tổng quát và toàn diện về đề tài này
Trước năm 1945, Nguyễn Khuyến còn là tác giả ít được biết đến và có được biết đến cũng chủ yếu qua thơ Nôm của ông Phan Kế Bính là người có
ý kiến về Nguyễn Khuyến sớm nhất với công trình Việt - Hán văn khảo (1930) khi “luận riêng về phép làm thơ”
Nhà thơ Xuân Diệu với công trình nghiên cứu “Các nhà thơ cổ điển
Việt Nam” không chỉ ca ngợi Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt
Nam, Xuân Diệu còn cho rằng: “Hai trục xúc cảm rất rõ trong thơ Nguyễn
Khuyến, là quê hương làng nước, và đồng bào nhân dân; không phải tâm hồn nhà thơ nào cũng có cả hai trụ cột như thế” [4, tr.411] Từ quan niệm của
Xuân Diệu về nhà thơ Nguyễn Khuyến chúng ta có thể thấy Nguyễn Khuyến
là một nhà thơ không chỉ gắn bó mật thiết với quê hương làng cảnh Việt Nam
mà còn là nhà thơ thấu hiểu được những nỗi thống khổ của nhân dân
“Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ” do Nguyễn Huệ Chi chủ biên là công trình nghiên cứu nhằm “Cố gắng ghi nhận những bước đổi thay đáng kể
trong quá trình nhận diện lại Nguyễn Khuyến, đánh dấu bằng hội nghị khoa học lớn về Nguyễn Khuyến năm 1985, nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh nhà thơ” [2, tr.24] Bên cạnh việc đi sâu vào tìm hiểu, tập hợp những tài liệu,
Trang 10những bài viết nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Huệ Chi còn nhận định về nhà thơ như sau: “So với các văn
khoa khác cùng thời, Nguyễn Khuyến là một con người vận động rõ rệt trong
tư tưởng Văn chương của một số sĩ phu khác có thể có một sự thay đổi về màu sắc, chủ yếu là do sự thay đổi của đối tượng phản ánh (từ đề tài quan trường, ngâm vịnh chuyển sang đề tài đánh giặc chẳng hạn), nhưng nội dung truyền tải của nó vẫn là nội dung “trung quân ái quốc” không có gì khác trước Văn chương Nguyễn Khuyến thì không phải như vậy Trong thơ ca của mình, Nguyễn Khuyến ít nói đến những chuyện đánh giặc, trung vua, ca ngợi
“sự bền vững ngàn đời” của non sông xã tắc Đề tài chính thống và truyền thống khá mờ nhạt trong thơ ông” [2, tr.13]
“Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm” do Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (Nxb Giáo dục – 2007) là “Sự tập hợp một cách rộng rãi những bài
viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ xưa đến nay nhằm đem đến cho bạn đọc một bức tranh toàn cảnh những thành tựu trong việc nghiên cứu một trong những tác gia văn học lớn nhất cuối thế kỷ XIX Cuốn sách ra đời với mong muốn trở thành cơ sở cho bước tiếp theo trong việc nghiên cứu sự nghiệp của nhà thơ được cả dân tộc yêu mến” [20, tr.44] Quyển sách gồm có bốn phần chính: Phần một: Nguyễn
Khuyến giữa bước ngoặt lịch sử và sự chuyển mình của văn học dân tộc; Phần hai: Từ những biến đổi trong quan niệm thẩm mĩ đến nhà thơ của con người
và làng cảnh Việt Nam; Phần ba: Sự kết hợp phức điệu và tài hoa trong một phong cách thơ; Phần bốn là phụ lục Như vậy tác giả đã tập hợp các bài viết, công trình nghiên cứu và phân chia theo nội dung của mỗi bài để chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng như phong cách nghệ thuật của thơ văn ông Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo vô cùng quý báu cho chúng ta tham khảo về nhà
Trang 11thơ Nguyễn Khuyến nói chung và đề tài “Tính tự sự trong thơ chữ Hán
Nguyễn Khuyến” nói riêng
Ngoài ra chúng tôi lần lượt đi khảo sát ở một số công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan trực tiếp đến con người cũng như thơ văn Nguyễn Khuyến:
1 Nguyễn Đình Chú (2003), Nguyễn Khuyến với thời gian, Nxb Giáo dục,
5 Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Đại
học khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Nxb Quốc gia Hà Nội
Nhìn chung, ở mỗi công trình nghiên cứu đều có những phát hiện, khám phá rất mới mẻ và vô cùng sâu sắc Đây chính là nguồn tư liệu vô cùng phong phú để chúng ta có thể tìm hiểu về tác gia Nguyễn Khuyến một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất Các tác giả không chỉ giới thiệu về vị trí của Nguyễn Khuyến trong nền văn học trung đại Việt Nam mà còn đi vào tìm hiểu đề tài tính tự sự trong thơ ca ông Các công trình đã được đề cập đến ở những góc
độ khác nhau, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đó chưa đặt thành vấn đề riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện Chính vì thế trên cơ sở tiếp thu kết quả của những người đi trước chúng tôi
mong muốn sẽ lí giải một cách cụ thể, hệ thống đề tài “Tính tự sự trong thơ
chữ hán Nguyễn Khuyến” Qua đó người viết góp phần khẳng định giá trị nội
dung của tác phẩm và hiểu sâu hơn phẩm chất, tấm lòng, tâm sự của nhà thơ
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
Đề tài khóa luận nghiên cứu nhằm hướng tới những mục đích sau: Góp phần tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc và cụ
thể hơn đề tài “Tính tự sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến” người viết sẽ
vẽ ra những đường nét để người đọc có thể hình dung về chân dung con người cũng như phẩm chất, tâm hồn thanh cao của Nguyễn Khuyến Qua đó hiểu thêm những độc đáo nghệ thuật của nhà thơ, thấy được mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống đã ảnh hưởng đến tư duy thơ ca của Tam Nguyên Yên
Đổ Đồng thời, để độc giả nhìn nhận được hiện thực xã hội thời bấy giờ được hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Khuyến, giúp ta nhận ra thái độ, tư tưởng
và tình cảm của tác giả đối với con người và cuộc đời, khẳng định vị trí của Nguyễn Khuyến trong nền văn học dân tộc
Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi muốn tập dượt với nghiên cứu khoa học, đóng góp một phần cho việc giảng dạy về tác giả, tác phẩm Nguyến Khuyến trong nhà trường phổ thông sau này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát trên toàn tập thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến, đặc biệt đi sâu vào khảo sát bản dịch thơ chữ Hán của
Nguyễn Khuyến trong Tuyển tập thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến do Trần
Văn Nhĩ tuyển chọn và dịch thơ, Nxb Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích bình giảng
- Phương pháp liệt kê, phân loại
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử
đánh giá để làm rõ vấn đề
Trong quá trình triển khai luận văn, người viết không tuyệt đối hóa phương pháp nào, khi cần thiết có thể sử dụng tổng hợp tất cả các phương pháp trên
6 Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận: Khẳng định những giá trị nghệ thuật đặc sắc và nội dung nhân đạo sâu sắc của thơ ca chữ Hán Nguyễn Khuyến
Về mặt thực tiễn: Góp phần vào việc giảng dạy và học tập các tác phẩm của Nguyễn Khuyến trong nhà trường phổ thông
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Tính tự sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 Tác giả và tác phẩm
1.1.1 Tác giả
1.1.1.1 Bối cảnh thời đại
Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn Năm 1858 thực dân Pháp lấy cớ triều đình Nguyễn ngăn cản việc công thương và giết giáo sĩ, ngày 1 tháng 8 chúng
đã nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc xâm lược nước ta biến nước ta từ một nước độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến với yêu cầu bức thiết và cháy bỏng là: “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng” Sau năm tháng nhận thấy cuộc chiến tranh vẫn không có chút tiến triển nên thực dân Pháp đã thay đổi kế hoạch, chúng chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở lại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) để giữ chân quân đội triều đình còn lại tất cả kéo vào Nam mở cuộc tiến công Gia Định Ngày 10 tháng 2 năm 1859
từ Vũng Tàu chúng pháo kích các công sự bảo vệ con đường thủy vào Gia Định và sau vài ngày chúng chiếm được Gia Định Trong vòng bốn mươi năm thực dân Pháp đã hoàn toàn đặt được ách thống trị trên đất nước ta Trong thời gian ấy chúng đã chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kì và ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Từ đó cho đến cuối thế kỉ theo quan điểm của bọn thực là
“chinh phục và bình định Trung kì, Bắc kì” rồi toàn quốc Trong nội bộ giai cấp địa chủ phong kiến có sự phân hóa sâu sắc cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước cuộc xâm lược Triều đình nhà Nguyễn mục nát, nhu nhược, cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp Thắng lợi của chúng được đánh dấu bằng những hàng ước mà triều đình nhà Nguyễn lần lượt kí với chúng Năm 1864 triều đình nhà Nguyễn đã kí hàng ước nhường ba tỉnh
Trang 15Biên Hòa, Gia Định, Đình Tường và đảo Côn Lôn cho thực dân Pháp, năm
1875 kí điều ước và thương ước nhường toàn bộ Nam Kì cho chúng, năm
1883 và 1884 kí hai hàng ước công nhận nền đô hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam Đất nước chính thức chịu ách nô lệ của thực dân
Ở nước ta, sau khi vua tôi triều Nguyễn kí những hàng ước đầu hàng, vào những năm cuối thế kỉ XX thực dân Pháp bắt đầu bước vào thời kì tổ chức và khai thác thuộc địa lần thứ nhất trên quy mô toàn quốc Sự tác động của tư tưởng tiến bộ ở phương Tây cũng như cuộc cách mạng Tân Hợi và cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, nhất là về tư tưởng chính trị Xã hội Việt Nam có sự biến chuyển và phân hóa sâu sắc Xã hội Việt Nam xuất hiện hai giai cấp mới: giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Nước ta trở thành nước thực dân nửa phong kiến
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, với khí thế sục sôi cả dân tộc ta với tinh thần yêu nước đã tiến hành cuộc chiến đấu quyết liệt chống lại kẻ thù,
ở đâu có tiếng súng xâm lược ở đó có phong trào kháng chiến bảo vệ chủ quyền dân tộc Từ Nam kì, Bắc Kì, Trung Kì, ngoài ra còn các phong trào yêu nước của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi nhất là phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản như phong trào Đông Du (Phan Bội Châu), Đông Kinh Nghĩa Thục (Lương Văn Can, Nguyễn Quyền), Duy Tân (Phan Chu Trinh) Đặc biệt là sau năm 1885, phong trào Cần Vương nổ ra sôi nổi trên phạm vi
cả nước, ít nhiều vẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến do các văn thân và sĩ phu yêu nước chống Pháp lãnh đạo Phong trào rầm rộ trên nhiều tỉnh thành và kéo dài gần hết thế kỉ XIX Tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa nổ ra
lẻ tẻ, thiếu sự thống nhất trong lãnh đạo do đó tạo cơ hội cho kẻ thù dễ bề chia cắt, cả nước lại rơi vào cảnh nô lệ tối tăm, các cuộc chiến không còn phương hướng, khí thế các phong trào cũng lắng xuống, tiếng súng Cần Vương tắt dần
Trang 16nhưng sự kiên cường và lòng yêu nước thì không bao giờ tắt Nếu chưa thể cháy bùng thành ngọn lửa thì nó âm ỉ cháy trong lòng những người yêu nước
để chờ một nguồn gió mới thổi vào rồi lại bùng lên mãnh liệt
Đây là những diễn biến lịch sử cơ bản đã diễn ra trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Đây là giai đoạn lịch sử dân tộc ta trải qua bao biến cố thăng trầm, bắt đầu rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân chịu nhiều tầng áp bức từ triều đình phong kiến nhà Nguyễn và đế quốc thực dân Bối cảnh lịch sử này đã chi phối tới đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Xã hội thực dân nửa phong kiến rõ nét dần vào những năm cuối thế kỉ XIX với bộ mặt của xã hội đảo điên, lố lăng Chính bởi hoàn cảnh lịch sử đó đã tác động và để lại dấu ấn rõ nét trong sáng tác của Nguyễn Khuyến Và đặc biệt nó ảnh hưởng rõ rệt đến văn học giai đoạn này Giai đoạn văn học có sự đóng góp của dòng văn học yêu nước cho đến văn học tố cáo hiện thực xã hội Đây là giai đoạn nổi lên tên tuổi của những nhà thơ với những tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước của mình và Nguyễn Khuyến là một nhà thơ điển hình Đồng thời, thông qua tác phẩm của Nguyễn Khuyến, độc giả phần nào hiểu được đặc điểm văn học và bối cảnh lịch sử giai đoạn này
1.1.1.2 Cuộc đời và con người
Nguyễn Khuyến tên hồi nhỏ là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, sau đổi
ra Nguyễn Khuyến, tự Miễn Chi Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi)
Ông xuất thân từ một gia đình nhà Nho nghèo, hai bên gia đình nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng Quê nội gốc ở Treo Vọt, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, di cư ra Yên Đổ (nay là xã Trung Lương), huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, cho đến đời nhà thơ được 500 năm Cụ bốn đời Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Mại, từng đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Hiến sát sứ
Trang 17Thanh Hóa Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Liễn, vẫn theo đời Nho học, đỗ
ba khoa tú tài, chuyên nghề dạy học Cụ Liễn là người thanh bạch, giản dị, trọng đạo lí, tính tình hào phóng Cuộc sống và tính cách ấy của cụ có ảnh hưởng sâu sắc đến nhà thơ sau này
Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan quê làng Văn Khê tục gọi làng Ngòi, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tổ bảy đời cụ Thoan là Trần Hữu Thành cụ đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đếm Giám sát ngự sử Ông ngoại nhà thơ là Trần Công Trạc đỗ Tú tài thời Lê Mạt Cụ gả con gái thứ tư cho ông Nguyễn Liễn và tạo điều kiện để con rể mở trường dạy học ở Hoàng
Xá Bà rất mực thương người, mọi việc nữ công gia chánh đều thông thạo cả một đời bà chịu thương chịu khó phụng dưỡng bố mẹ chồng, chăm chỉ làm việc, có lúc phải bán cả tư trang, may thuê, vá mướn kiếm tiền để khuyến khích và nuôi chồng con ăn học, thi cử Lòng nhân ái bao la, gương đảm đang chịu thương chịu khó của bà mẹ, đặc biệt là chí quyết tâm thúc đẩy con trai học tập thành tài đã tác động rất lớn đến anh khóa Thắng
cũ
Năm 1852, Nguyễn Khuyến lấy vợ, con một nhà nghèo, người họ Nguyễn cùng làng Đây chính là người vợ “tao khang” suốt đời của nhà thơ, tính nết hiền hậu, suốt đời làm ăn Và khi mới ở tuổi 17 Nguyễn Khuyến đã thi Hương cùng khoa với cha song không đỗ Năm sau đó có dịch thương hàn, anh khóa Thắng mắc bệnh suýt chết Cha và em ruột, cùng nhiều họ hàng thân thuộc đều qua đời vì cơn dịch bệnh Gia đình lâm vào cảnh đói rét
Năm 1854, anh nối nghề cha để lấy lương ăn, ở Lạng Phong, Kỷ Cầu Tuy nghèo khó nhưng Nguyễn Khuyến vẫn theo đuổi công việc sách đèn Song ba khóa thi Hương tiếp theo (1855, 1858, 1861), Nguyễn Khuyến đều trượt Có lúc ông nản đường khoa cử định chuyển nghề dạy học kiếm
Trang 18sống và nuôi gia đình thì được người bạn là Vũ Văn Báo nhận chu cấp lương
ăn và khuyên đến học cùng với cha mình là Tiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang (nay là huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam) Do vậy khoa thi
1864 ông đỗ cử nhân đầu trường Hà Nội Sau đó ông thi vào các khoa 1865,
1868 nhưng không đỗ Cho đến 1871 mới liên tiếp đỗ đầu thi hội, thi đình khi
đó ông ba bảy tuổi Cả ba kì thi ông đều đỗ đầu nên được gọi với cái tên
“Tam Nguyên Yên Đổ” Có thể thấy qua thành tích của Nguyễn Khuyến đó là
sự cố gắng không ngừng
Sau khi đỗ, Nguyễn Khuyến được bổ ra làm quan ở nội các Huế, sau đó làm Đốc học Thanh Hóa, rồi thăng lên Án sát tỉnh ấy Đó cũng là lúc Pháp đánh chiếm bốn tỉnh Bắc kỳ lần thứ nhất Năm 1874 ông phải mang quân chặn quân khởi nghĩa phạm vào Tĩnh Gia, Thanh Hóa Cũng đúng lúc ấy mẹ ông mất tại tỉnh đường Thanh Hóa, ông phải nghỉ ba năm về quê chịu tang
mẹ Mãn tang ông vào kinh nhận chức Biện lí bộ Hộ Năm 1877, ông giữ chức Bố chính tỉnh Quảng Ngãi Rồi làm Toản tu ở Sử quán từ năm 1879 đến
1883, sống trong cảnh thanh bần, lại thêm đau yếu nên ông đã có tâm trạng chán ngán cảnh quan trường
Năm 1883 quân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ hai Vua Tự Đức chết, quân pháp đánh chiếm của biển Thuận An, triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước Harmand ngày 25 - 8 - 1883 chấp nhận ách thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi nước ta Nguyễn Khuyến được cử làm Phó sứ sang Mãn Thanh, ông lấy cớ đau yếu, xin tạm về quê dưỡng bệnh
Tháng 12 - 1883, quan Pháp đánh chiếm Sơn Tây, các quan tỉnh đó đều
bỏ chạy Nguyễn Hữu Độ đề cử ông giữ chức quyền tổng đốc Sơn Tây - Hưng yên - Tuyên Quang, song ông không chịu đến nhậm chức
Chính hành động cáo quan lui về ở ẩn của ông đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông Một phần tư thế kỷ trở về sống ở Yên Đổ ông
Trang 19tiếp tục sáng tác và viết lên những tác phẩm bất hủ bộc lộ cả tài năng và phẩm chất sáng ngời không màng danh lợi cùng với tinh thần yêu nước Đó cũng là
cơ hội để Nguyễn Khuyến sống hòa nhập với thiên nhiên, đồng cảm với cuộc sống cơ cực của nhân dân
Ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 05 tháng 02 năm 1909, tức ngày
15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, thọ 74 tuổi
1.1.2 Tác phẩm
Nguyễn Khuyến đã để lại cho văn học nước nhà một khối lượng thơ ca
đồ sộ và vô cùng quý giá Ông sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, nhưng phần lớn là các tác phẩm viết bằng chữ Hán, cả hai đều rất điêu luyện Ông để lại khoảng 800 tác phẩm bao gồm nhiều thể loại: thơ, hát nói, văn tế, câu đối
Quế Sơn thi tập có trên 300 bài thơ
Yên Đổ thi tập Bách Liêu thi văn tập
Cẩm ngữ và những bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng
Riêng đối với thơ chữ Hán, chúng tôi khảo sát trong cuốn Tuyển tập
thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến do Trần Văn Nhĩ tuyển chọn, gồm các tập:
Yên Đổ tiến sĩ thi tập
Quế Sơn thi tập
Quế Sơn Tam nguyên thi tập
Các tập thơ khác:
Hải Vân Am thi tập Quế Sơn thi tập tục biên Yên Đổ Tam nguyên thi tập Quế Sơn cựu lục
Trang 20Các sáng tác của ông phần lớn đều được làm trong thời kì ông trở về sống ở Yên Đổ Sáng tác của ông chủ yếu xoay quanh ba nội dung:
- Tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
- Thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến
- Tình cảm của nhà thơ dành cho quê hương, gia đình, bạn bè, hàng xóm
Toàn bộ thơ văn của ông Hán cũng như Nôm biểu hiện rất rõ cá tính, cách điệu tâm hồn con người Nguyễn Khuyến, đặc biệt bộ phận chữ Hán phản ánh một cách cụ thể hơn từng khía cạnh tâm sự, diễn biến tử tưởng và cả một
số chi tiết về tiểu sử của nhà thơ Nhưng thơ viết bằng chữ Nôm là bộ phận làm nên tên tuổi của nhà thơ
1.2 Tính tự sự trong sáng tác thơ ca
1.2.1 Khái niệm tự sự
Khái niệm tự sự thuộc một phương thức phản ánh cuộc sống của văn học nghệ thuật Tự sự bao gồm nhiều thể loại khác nhau: truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơ Nôm, truyện ngắn,
Theo GS Trần Đình Sử: “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực
tiếp hiện thực khách quan như có một cái gì tách biệt ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu chuyện có diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh có sự phát triển của tâm trạng, tính cách, hành động của con người Đó là thể loại văn học phản ảnh hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật có đầu có cuối thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lạ bằng một người kể nào đó” [6, tr.250]
Theo G Genette: “Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi sự kiện
có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự”
[5, tr.41]
Trang 21Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra định nghĩa: “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [8, tr.385]
Còn theo Từ điển Tiếng Việt phân biệt: “Tự sự là thể loại văn học trong
đó nhà văn phản ánh thế giới bên ngoài bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua một cốt truyện tương đối hoàn chỉnh” [16, tr.1332]
Như vậy, tự sự là một khái niệm rộng Đối lập với miêu tả, nó như một câu chuyện kể được người nghệ sĩ kể lại sau khi chứng kiến ngoài cuộc đời
Tự sự dựa trên một hay những sự kiện, sự kiện là nền tảng của tự sự, nó tạo nên câu chuyện, cốt truyện Văn bản tự sự có ba đặc điểm một là có người kể, hai là có hành động tự sự và ba là có sự kiện được kể ra Đặc điểm chung nhất của tự sự là “kể chuyện đời”, nhà văn tái hiện đời sống bằng cách nhà văn kể lại các sự việc, con người, hiện tượng xã hội Thông qua ngôn từ người nghệ
sĩ bày tỏ thái độ, tư tưởng, tình cảm trước hiện thực cuộc sống
1.2.2 Khái quát về tính tự sự trong thơ ca trung đại thế kỷ XVIII - XIX
Văn học trung đại lấy văn học dân gian làm nền tảng, khi văn học Việt Nam mới ra đời các tác giả đều hướng về cội nguồn, khai thác văn học dân gian, lấy văn học dân gian làm cơ sở xây dựng truyền thống cho văn học viết Tiếp sau đó văn học nước nhà tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa từ nền văn học của nhiều nước Đến thời kì văn học trung đại, trước thế kỷ XVIII chữ Hán dùng để sáng tác tất cả các thể loại văn học, còn chữ Nôm dần được hoàn thiện, từ đó làm cơ sở cho văn học Nôm phát triển Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX văn học ra đời và phát triển gắn liền với thời kì đất nước đang gặp nhiều biến cố Vào cuối thế kỷ XVIII chiến tranh nổ ra liên miên, triều đình suy thoái, nhân dân lầm than dẫn đến xã hội khủng hoảng trầm trọng Cũng vì lẽ đó mà chất lãng mạn trong văn học trùng xuống, thay vào đó các nghệ sĩ đưa hiện thực xã hội vào trong các tác phẩm của mình, các sáng
Trang 22tác thơ ca mang đậm chất hiện thực cuộc sống, thông qua ngôn từ tác giả phản ánh những sự kiện liên quan đến vận mệnh đất nước và số phận của con người Từ đó tác giả cũng bày tỏ tư tưởng, thái độ, tình cảm của mình Văn học chữ Hán vẫn trên đà phát triển, các sáng tác mang đậm dấu ấn cá nhân, thơ ca mang nặng những trăn trở, suy tư về con người và cuộc đời
Trong thơ ca trung đại tính tự sự được thể hiện rất độc đáo Bằng
những chứng kiến lịch sử, nhiều tác giả đã phản ánh khá rõ nét hiện thực xã hội và tình hình đời sống nhân dân lúc bấy giờ Tiêu biểu là các sáng tác thơ
ca của một số tác giả như: Phạm Nguyễn Du (1740- 1786); Bùi Huy Bích (1744- 1818); Nguyễn Du (1765- 1820); Cao Bá Quát (1809 – 1855)
Trong thơ Nguyễn Du thường xuất hiện những cảnh tượng khốn cùng,
những con người bi đát Với tính tự sự, trong bài thơ Sở kiến hành (Những
điều trông thấy) tác giả đã kể lại những điều trông thấy ở xứ người mà giống như ở làng quê Việt Nam thời bấy giờ:
“Có người đàn bà dắt ba đứa con Cùng nhau ngồi bên đường
Đứa nhỏ trong bụng mẹ Đứa lớn cầm giỏ tre Trong giỏ đựng gì lắm thế Rau lê hoặc lẫn cám Qua trưa rồi chưa được ăn
Áo quần sao mà rách rưới quá Thấy người không ngẩng nhìn Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
Lũ con vẫn vui cười Không biết lòng mẹ đau Lòng mẹ đau ra sao? ”
Trang 23Đó là câu chuyện về một người mẹ với ba đứa con, đứa con “trong
bụng mẹ”, đứa “cầm giỏ tre”, trong giỏ của đứa bé chỉ có “mớ rau lẫn tấm cám” Nhà thơ đã phát hiện và miêu tả nghịch cảnh đáng thương: mẹ thì khóc
lóc vì khổ sở, vì đói, vì nhìn thấy những đứa con sắp chết đói mà vẫn cười đùa Nghịch cảnh ấy khiến tác giả đau lòng Nhà thơ còn cho biết đây không phải là một người đàn bà có nghề ăn mày mà là một người lao động lang thang đi kiếm việc làm thuê Thấu hiểu được tình cảnh bi đát và nỗi lòng của người mẹ Nhà thơ đã thổi vào bài thơ một hồn thơ mang đậm chất xót xa, đồng cảm
Một tác phẩm sẽ được nảy mầm từ tài và tâm của người nghệ sĩ Bằng ngòi bút tài hoa cùng với tâm tình xót thương của tác giả đối với con người, thi hào Nguyễn Du đã có nhiều tác phẩm đậm chất tự sự phản ánh đúng chất
của cuộc sống và xã hội Những bài thơ giàu tính tự sự như: Thái Bình mại ca
giả (Người hát rong ở thành Thái Bình); Trở binh hành (Bài hành về việc
binh đao làm nghẽn đường),
Đối với Cao Bá Quát, ông là tác giả có nhiều bài thơ về bản thân, con người và thế giới cảnh vật Là tác giả có nhiều bài thơ viết về cuộc đời số phận con người đặc biệt là những con người nghèo khổ, con người nhỏ bé
Tiêu biểu như các bài thơ: Cái tử (Người ăn xin); Mộ Kiều quy nữ (Cô gái từ trên cầu trở về lúc trời tối); Phụ tương tử (Người vác hòm)
Cao Bá Quát chứng kiến và cảm nhận được sự khổ cực của nhân dân lao động và từ đó xây dựng hiện thực cuộc sống một cách chân thực trong
thơ Trong bài thơ Phụ tương tử Cao Bá Quát kể về nỗi khốn khổ của một anh
chàng người ở quê ra thành phố đi làm thuê vì sưu cao, thuế nặng:
“Thất thểu anh vác hòm Mỗi bước đi lại ngập ngừng than thở Bỗng gặp người áo khăn đứng đắn
Trang 24Nắm lấy tay nước mắt giàn giụa
Muốn khỏe mạnh để làm ăn Nhưng hàng ngày cứ bị đánh mắng luôn
Trên nhà thì của ngon vật lạ đầy đủ, Dưới bếp thì người nào cũng gầy giơ xương ”
Nhà thơ kể lại câu chuyện về một hôm tình cờ gặp một “anh vác hòm” với dáng vẻ “thất thểu”, bước đi “ngập ngừng than thở” “Nắm lấy tay” hỏi
chuyện, hỏi ra ông mới biết đó là một người phải bỏ quê đi làm thuê vì không
nộp được thuế, hàng ngày còn bị “đánh mắng” Bất công thay là nhà chủ thì
ăn đủ “của ngon vật lạ” còn mình thì phải chịu cảnh “gầy giơ xương” Xã hội
bất công khiến người dân phải chịu nhiều đau khổ Bài thơ là tiếng thở dài bất lực đối với bất công đang đè nén Là sự đồng cảm, xót thương của tác giả đối với cảnh khốn cùng của người dân lao động
Những biến cố lịch sử đã khiến cuộc sống nhân dân đói khổ lầm than Hiện thực xã hội và số phận con người được đề cập đến trong phần nhiều tác phẩm Đặc biệt là các tác giả tập trung vào số phận đau khổ và khát vọng của con người Hình ảnh nhân dân trở thành trung tâm trong hầu hết các sáng tác Tính tự sự được vận dụng cao nhằm phản ánh rõ nét hiện thực lịch sử
Tuy nhiên, thơ văn trung đại không chỉ nói đến cuộc sống lầm than, khổ cực của nhân dân mà cũng có những trang thơ viết cảnh sắc thiên nhiên Với đề tài này, Nguyễn Công Trứ cũng vận dụng tính tự sự vào trong thơ để
miêu tả cảnh sắc thiên nhiên Một số bài thơ tiêu biểu như: “Vịnh cảnh Hà
Nội”; “Vịnh Hồ Tây”; “Vịnh mùa đông” Trong đó có bài thơ “Vịnh mùa xuân”, Nguyễn Công Trứ đã tả về phong cảnh tươi mới của mùa xuân:
“Xuân sang hoa cỏ đua tươi, Khoe màu quốc sắc trẻ mùi thiên hương
Đầm ấm thủa tin xuân phút bắn,
Trang 25Khí phát sinh rải rác trên cành
Thử tập bay, bướm mới uốn mình, Muốn học nói, oanh còn lựa tiếng
Liễu hoàn cựu lục oanh do tĩnh, Đào thí tân hồng điệp vị tri
Mái đông phong mày liễu xanh rì, Đám tàn tuyết đầu non trắng xoá
Buổi hoà hú khí trời êm ả, Hội đạp thanh xa mã dập dìu
Như vậy, ta thấy “tính tự sự” trong thơ ca trung đại thế kỷ XVIII - XIX
được thể hiện rất phong phú và đa dạng Nó không chỉ biểu hiện hiện thực xã hội trái ngang mà thông qua tính tự sự, bằng chứng kiến của mình tác giả vẽ lên những bức tranh thiên nhiên tuyệt sắc Qua đó cũng thấy được tâm tư, tình cảm, tư tưởng của người nghệ sĩ Điển hình trong số đó, không thể không nói đến sự đa màu sắc trong tính tự sự của tác giả Nguyễn Khuyến
Trang 26Chương 2 TÍNH TỰ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN KHUYẾN
về bản thân một cách sinh động, rõ nét giống như cách để Nguyễn Khuyến tự ngắm mình và rồi tự suy ngẫm về bản thân mình
Nói về bản thân, Nguyễn Khuyến “tự than” cho ông già đáng thương với diện mạo: Mặt sạm, râu bạc, mắt mờ, ốm yếu, ở tuổi “năm mươi tư”:
“Khả liên ngũ thập tứ niên ông Diện cấu tu ban nhãn hựu hồng Suy bệnh diệc vô hưu tức nhật Cần lao chỉ tại túy miên trung Thế đồ bất phục phân danh lợi Pháp giới tòng hà kiến sắc không ”
Trang 27Đường đời chẳng còn phân biệt được danh với lợi Pháp giới, làm sao thấy hết sắc không )
(Tự than) Hết một năm, năm mới đến là lại thêm một tuổi, “thế là ông thành ông lão năm mươi lăm tuổi”, tuổi già đến thấy trên đầu có vài sợi tóc bạc Nguyễn Khuyến buồn rầu tự sự về tuổi “năm mươi lăm” với “hai mắt đỏ ngầu” đầy lo nghĩ:
“Trừ khước kim tiêu thị tân tuế Toại thành ngũ thập ngũ niên ông Bất tri đầu thượng kỷ hành bạch Chỉ hữu thiên lai song nhãn hồng ”
(Trừ tịch)
(Hết đêm nay sẽ sang năm mới Thế là thành ông lão năm mươi lăm tuổi Chẳng hay trên đầu đã có mấy sợi tóc bạc Chỉ biết độ năm nay hai mắt đỏ ngầu )
(Đêm ba mươi tết)
Ở cái tuổi “năm mười lăm tuổi lẻ” tức là đã già, bao nhiêu “cái xấu” bắt đầu bộc lộ ra hết, thân thể không còn được khỏe mạnh và chắc chắn như ngày trẻ, răng đã liêu xiêu “như cãi cọ nhau”, “mắt hoa” nên đọc sách không rõ nhiều khi phải “cắt nghĩa mò” Bức chân dung về “một ông lão dở hơi” của Nguyễn Khuyến được chính ông tự sự cụ thể như sau:
“Ngô niên ngũ thập ngũ niên linh
Xú thái bàn bàn lão tận hình
Xỉ bặc hàm toan như tụ tụng Nhãn hoa yểm quyển mạn truyền kinh
Tự liên kính phát tam phần bạch ”
(Lão thái)
Trang 28(Tuổi ta đã năm mươi lăm tuổi lẻ Tất cả mọi cái xấu đều lộ ra lúc già Răng xiêu tê buốt như cãi cọ nhau Mắt hoa, gấp sách cắt nghĩa mò
Tự thương mình, mái tóc trong gương đã ba phần bạc trắng )
(Vẻ già)Khi miêu tả về diện mạo của chính mình ông trở đi, trở lại những hình ảnh về hình ảnh của một ông già gần sáu mươi với bộ tóc bạc, mắt mờ, răng
rụng, cử chỉ, điệu bộ thì lom khom, cơ thể đau yếu bệnh tật Trong bài Tự
thuật Nguyễn Khuyến tự miêu tả diện mạo xấu xí, bệnh tật mình:
“Nhất bần mạo xấu thân kiêm xấu
Đa bệnh hình si ảnh diện si.”
“Ngô niên lục thập dư Hốt sinh lưỡng chỉ trảo Long thế tương bàn hoàn Đại sắc diệc tiên hảo ”
(Chỉ trảo - Kỳ nhất )
(Tuổi ta đã sau mươi có lẻ Bỗng nảy sinh ra hai móng tay
Trang 29Thế như con rồng uốn lượn Sắc như đồi mồi đẹp tươi )
(Móng tay - Bài một)Không chỉ miêu tả móng tay sắc và có “thế như con rồng uốn lượn”,
trong bài Chỉ trảo - bài II khi nói về tuổi già ông lại tiếp tục miêu tả về độ dài
hai chiếc móng tay “dài hơn năm tấc”, “cong queo, cuộn hẳn lại”:
“Dư kim lão thả cơ Hốt sinh lưỡng chỉ trảo Trảo trường ngũ thốn linh Uyển diên nhược khuất nạo ”
(Chỉ trảo - Kỳ nhị)
(Nay ta đã già lại đói Bỗng sinh ra hai móng tay Móng dài hơn năm tấc Cong queo, cuộn hẳn lại)
(Móng tay - Bài hai)
Nguyễn Khuyến tự khen mình có bộ râu “thật là đẹp”, thích thú với bộ râu dài “hai ba thước”, “lê thê đến sát đất” của mình ông cất tiếng cười mãn nguyện, đắc ý:
“ Ông tu diệc thậm giảo
Hạ thùy nhị tam xích Tham kham khứ địa sảo ”
Trang 30Có những bài thơ ông còn tự sự về chiếc răng, ông kể về chiếc răng đã cùng ông gắn bó, “ngon ngọt chung hưởng” răng “được ăn nhưng không có quyền nhai” thuận phục ông “sáu mươi năm nay”, nhưng theo quy luật tự nhiên “ta già” thì răng long, không có gì trường tồn mãi mãi:
“Cộng ngã phì cam lục thập niên Ngã suy nhĩ lạc phận đương nhiên Tùy lưu thượng hữu y a thái
Bạn thực nguyên vô trớ tước quyền Phụ tể ký đa hà bổ ngấn ”
(Dao xỉ)
(Cùng ta ngon ngọt chung hưởng sáu mươi năm nay
Ta già thì ngươi rụng, phận đành vậy Theo miếng uống, ngươi còn có vẻ thuận phục Được cùng ăn nhưng không có quyền nhai Cặn sâu quá nhiều, làm sao vá được chân răng? )
(Răng long)
Vẽ lại chân dung, diện mạo của mình Ngoài vẽ lại bộ râu và cái răng,
Nguyễn Khuyến hay vẽ lại mái tóc và đôi mắt Trong bài Hạ nhật ngẫu hành,
ông miêu tả đôi mắt đỏ hồng, đôi mắt của đau yếu bệnh tật - một chân dung tiều tụy của ông già Tam Nguyên Yên Đổ:
“Bệnh nhỡn phùng nhân đa thác ngộ Kính đồ cử túc bội gian nan”
Trang 31Đến năm Canh Tý - năm 1900 Khi ở tuổi sáu mươi sáu, trong bài Canh
Tý xuân Nguyễn Khuyến lại một lần đau xót tự sự về cảnh già đáng thương
của mình, ông vẽ lại sự mỏi mệt của tuổi sáu mươi sáu, răng lợi lung lay không còn chắc chắn, đầu tóc rối mù cũng khác xưa:
“Ngô niên lục thập lục chi niên Tuế nguyệt xâm tầm diệc khả liên
Sơ khoát xỉ nha như nhị giáp Bồng tùng mao phát diệc canh phiên ”
“Tuế văn thiên kinh nhật nguyệt tồ Lão lai bất giác tính tình cô
Song bồng ban bạch nha tương thoát Lưỡng nhãn hôn hoa giáp diệc dù Suy bệnh phùng nhân giai khả yếm ”
(Lão bệnh)
Trang 32(Cuối năm kinh sợ thấy ngày tháng vùn vụt Tuổi già đến, không hiểu tính tình trở nên cô độc Hai mái tóc rối như cỏ bồng lốm đốm trắng, răng gần rụng Hai mắt tối mờ, má cũng lõm
Ốm yếu gặp nhau đều thấy chán ngán )
(Lão bệnh) Qua những lời thơ tự thuật, chân dung con người Tam Nguyên Yên Đổ hiện lên cụ thể, rõ nét Hình ảnh mái tóc, chiếc răng, cái móng tay được Nguyễn Khuyến vẽ lên bằng những lời thơ sinh động Từ đó hiện lên một chân dung con người già yếu, ốm đau, bệnh tật, Tuổi già hiện hữu ngay trên đầu nhưng Nguyễn Khuyến chỉ cảm thấy xót xa, chứ không hề hoảng sợ Ông xót xa vì khi tóc đã bạc, răng đã lung lay, ốm đau lại thêm mắt nhập nhèm mà bản thân vẫn chưa làm được gì Ông cảm thấy bất lực trước sự hữu hạn của cuộc đời Tự thuật về bản thân là cách Nguyễn Khuyến tự ý thức về cuộc đời mình trước thời cuộc
2.1.1.2 Tự thuật về phẩm chất, tính cách
Qua những lời thơ chữ Hán phẩm chất, tính cách Nguyễn Khuyến hiện lên đa màu sắc, nhưng tựu chung lại vẫn là con người thâm trầm đầy sâu sắc
trước thời cuộc
Trong bài Nhân tặng nhục Trong bối cảnh nghèo đói, có người đi đám
ma về lấy về cho ông phần thịt Muốn nhận nhưng trong thâm tâm ông còn băn khoăn: một bên là cái nghèo không ăn thì bị đói, một bên là cái tôi “ăn vào thì thành con người tục”, cho dù cuộc sống ở tận cùng của cái nghèo Nguyễn Khuyến vẫn đề cao tự trọng:
“Bất thực nhân linh cơ Thực chi linh nhân nhục
Bất thực linh nhân bì, Thực chi linh nhân tục.”
(Nhân tặng nhục)
Trang 33(Không ăn thì người bị đói,
Ăn vào thì người bị nhục
Không ăn thì người bị gầy,
Ăn vào thì thành con người tục.)
(Có người cho thịt)
Tự tách mình ra khỏi vòng danh lợi của cương quyền Nguyễn Khuyến
tự hào nói về tấm lòng mình - một “tấm lòng son” Tuổi già đến, tóc của thi nhân bạc đi nhiều phần khiến lòng ông buồn tủi, nhưng dù có già, có yếu thì tấm lòng son sắt, phẩm chất thanh cao vẫn luôn thường trực trong ông, tự hào nhà thơ kể:
“Tự liên kính phát tam phần bạch, Thăng hữu đan tâm nhất điểm linh.”
Khuyến được thể hiện ở chiếc “lược đồi mồi” mà ông dùng hai mươi năm
nay Chiếc lược bền bỉ và miệt mài phục vụ người đời cho đến cùn những chiếc răng cuối cùng Nó giống như phẩm cách cao quý của Nguyễn Khuyến:
“Hoàng trần tảo đãng quy tàn xỉ, Bạch phát bồng tùng độc ẩn ưu
Trang 34Kỳ thử trinh tâm kham cộng thưởng,
Hà duy văn thái tự minh châu.”
(Đại mạo sơ)
(Bụi vàng quang quẻ răng hồ nhụt, Tóc bạc lồng bồng dạ những âu
Được tấm lòng bền ai chẳng thích?
Lựa là văn vẻ tựa minh châu!)
(Lược đồi mồi)Vốn mang trong mình cốt cách thanh cao Nguyễn Khuyến không màng đến những phù phiếm, xa hoa mà người đời theo đuổi, nhà thơ chỉ mong được làm kẻ nhàn hạ, sống một đời bình dị, yên ổn, an nhàn, nhàn tâm và nhàn thân
“theo người xưa truyền lại”, Nguyễn Khuyến tự sự:
“Thế lợi ư nhân vô sở mộ Khách nhàn độc ngã đắc nhi truyền.”
(Nhàn vịnh)
(Không ưa gì những điều lợi mà người đời theo đuổi Riêng ta được làm kẻ nhàn hạ theo người xưa truyền lại.)
(Vịnh nhàn)Bản thân là người không màng danh lợi nên Nguyễn Khuyến cũng muốn con của mình là người như thế Ông khuyên con không ra làm quan vì nghèo mà phải vì cuộc sống của người dân, dù nghèo nhưng làm quan cũng đừng tham lợi, phải nới tay với dân, đừng mong ước làm chức quan to Phẩm chất của một ông quan thanh liêm được Nguyễn Khuyến bộc lộ rõ qua những lời thơ tự sự khi khuyên con:
“ Danh cư quá mãn ưu lăng tiết,
Sĩ hữu nhân bần thả bão quan
Đương nhật sự tùy đương nhật ứng,