Một số phương hướng, giải pháp cơ bản Iihãm phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯƠNG ĐẠI HỌC KHOA HỌ C XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĂN HỞI
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BÀO ĐÀM sự■ ■ I
THỐNG NHẤT GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN TỘC, TÍNH NHÂN DÂN CỦA NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY• 7 m
Chuyên ngành : CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC■ ■ ■
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Trịnh Trí Thức
Trang 2-LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cơm đoan đây là cồng trình nghiên cứu của riéng tôi chưa từng được công bố Các sô'liệu, kết qua nêu trong luận văn là trung thực và cổ xuất xứ rõ ràng.
l á c giả lu ận văn
LÊ VĂN HỞI
Trang 3Đại hội Đại biểu toàỉrquốc Hội đồng nhân dân
Nghị định Chính phủ Nhà xuất bản
Uỷ ban nhân dân
Ưỷ ban thương vụ Quốc hội
Xã hội chủ nghĩa
Trang 4Chưrmg 1: Bản chất giai cấp, tính dãn tộc, tính nhân dân của Nhà
nước CHXNCN Việt nam và sự thống nhất giữa chúng
1.1 Bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước
của Nhà nước CHXHCN Việt nam
1 2.1 Sự thông nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân dân là đặc trưng cơ bản của Nhà nước 15CHXHCN Việt nam
1.2.2 Tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay là một yêu 21cầu khách quan
Chương 2: Pháp luat và vai trò của nó đối với việc bảo đảm sự thống
nhất giữa bẩn chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân 29 dân của Nhà nước ta.
2.1 Pháp luật và mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật 292.2 Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản
chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta
Chương 3: M ột số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai tro
của pháp luật trong việc tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cap , tính dan tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay
34
51
Trang 556
3.1 TTiực trạng vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất
giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta 51hiện nay
3.2 Một số phương hướng, giải pháp cơ bản Iihãm phát huy vai trò của
pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp,
tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay
3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
3.2.2 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thông
qua việc nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của các cơ 60quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
3.2.3 Bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trang 6MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bất kỳ mọt nhà nước nào cũng là công cụ chuyên chính của một giai cấp, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp các giai cãp khác Nói cách khác nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính tiị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội Điều đó có nghĩa là nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp Mặt khác nhà nước nào cũng phải thực hiện chức năng Xd hội, giải quyết các vấn đề chung vì sự tồn tại của xã hội Vì vậy, ngoài bản chất giai cấp nhà nước còn mang tính dân tộc và tính xã hội
' Nhìn chung, những nhà nước của các giai cấp bóc lột có đặc điểm chung là duy trì sự thống trị của thieu số về chính trị, kinh tế, tư tưởng đối với đa số nhân dân lao động; lợi ích của giai cấp thống trị luôn được đề cao so với lợi ích của dân tộc và lợi ích của nh£n dân Do đó, nhà nước ấy không có
cơ sở bảo đảm sự thống nhất hữu cơ và lâu dài giữa bản chất giai cấp, tính dân ĩộc và tính xã hội
Nhà nước XHCN nói chung, Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng mang hản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân có sự thống nhất với nhau Sự thống nhất đó là đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCN Để bảo đảm
sự thống nhất ấy, cần phải có sự tác động của hàng loạt các yếu tố khác nhau, trong đó pháp luật là yếu tố quan trọng
Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của nhà nước XHCN Nhà nước CíIXlICN Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đã đạt được những thành lựu to như Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ Đảng (khoá VIII) đã khẳng định: "Bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước được giữ vững và củng cố Đây là mặt manh cơ bản của Nhà nước ta" [14, 38]- Kết luận đó càng có ý nghĩa quan trọng khi Đảng ta chủ trương
Trang 7xây dưng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ; đề cao vai trò của pháp luật và thấy rõ sự tác động của pháp luật nhằm bảo đảm
sự thống nhất giữa các yếu tố đó của nhà nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác; nhau, pháp luật nước ta hiện nay chưa phát huy được đầy đủ vai trò cúa nó trong việc bảo đảm, tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta Do đó việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ vai trò của pháp luật ; phân tích thực trạng của pháp luật và đề ra phương hướng xây dựng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường vai trò của nó trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay là vấn đề có tính cấp bách cả về mật lý luận và thực tiễn
Xuất phát tờ nhận thức trên, chúng tôi chọn vấn đề : "Vai trò của pháp luậí trong việc bao đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay " làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cúta:
Đã từ lâu khi nghiên cứu về nhà nước nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại đã đề cập đến việc xây dựng một nhà nước pháp quyền tiêu biểu như Platôn, Arixtốt rồi đến Mong terkiơ, Rút xô Những thế kỷ gần đây, lý luận
về nhà nước pháp quyền được phát triển chủ yếu ở các nước tư bản chủ nghĩa
Để xây dựng và hoàn thiện nhè nước pháp quyền tư sản, các học giả tư sản cũng nêu cao vai trò của pháp luật
Ở Việt Nam5 tư tưởng về tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước xuất hiện khá sớm, nhưng vấn đề nhà nước pháp quyền thì mới được chính thức khẳng định tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) Đó cũng là điểm khỏi đầu cho một giai đoạn nghiên cứu, luận giải mối liên hệ giữa pháp luật với các lĩnh vực khác trong đó có nhà nước Gần đây hàng loạt các công trình về nhà nước pháp quyền, tính dân tộc, tính nhân dân của nhã nước cũng đã được công bố, đó là: "Về nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân" của GS TS Nguyễn Duy Quý ; "Một ý kiến về xây dựng nhà nước pháp quyền" của GS TS Đào Trí úc; "Mấy suy nghĩ về vấn đề xây dựng nhà nước hiện nay" của PGS TS Hoàng Văn Hảo; "Vấn đề quyền lực và cơ chế thực hiên quyền lực ở nước ta" của GS TS Phạm Neọc Quang
Trang 8Ngoài ra, trong những năm gần đây cũng có một số chương trình khoa hoc cấp nhà nước có liên quan đến đề tài của luận văn, chẳng hạn: "Cơ chế thực hiên dân chủ trong hệ ihống chính trị ở nước ta" (đề tài KX 05 - 05);
"Nliừng vấn đề lý luận về nền chính trị và hệ thống chính trị ở nước ta" (đề tài
KX 01 - 14); "Phương pháp xây dựng pháp luật trong những năm đổi mới" (đề tài KX 03-07)
Liên quan đến đề tài này còn có một số luận án PTS, Thạc sỹ đã được bảo vệ, chẳng hạn: "Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" của Lê Văn Hòe;
"Vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ
an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay" của Nguyễn Quang Thiện ; "Tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Ho Chí Minh và sự thể hiện trong cách mạng Việt ]Nam"của Nguyễn Xuân Hồng ; "Mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thực tiễn đổi mời đất nước" của Đỗ Đức Hùng ; "Quan hệ giữa bản chất giai cấp của nhà nước và chức năng xã hội cua nó trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" của Trần Thế Vĩnh v.v
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã phần nào làm rõ sự cần thiêt phải xây dựng một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tinh nhân dân và đề cao vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, điều dễ thấy ỏl các công trình đó, là các tác giả hoặc chỉ tập trung nghiên cứu bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và sự tương tác giữa chúng, hoặc là nghiên cứu vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền Việc nghiên cứu hai vấn đề trên trong một chỉnh thể thống nhất để thấy được vai trò của pháp luật trong việc củng cố sự thống nhất biện chứng giữa hản chất giai cấp còng nhân, tínli dân tộc, tính nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước ta còn ít được quan tâm Luận văn này góp phần nghiên cứu thêm vấn đề đó
3 Mục đích và nhiệm vu của luận văn:
Irên cơ sở làm rõ bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và sự thống nhất biện chứng giữa chúng trong Nhà nước ta, luận vãn góp phần luận
Trang 9giải vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất ấy và nêu lên một
số phương hướng phát huy vai trò của pháp luật trong việc củng cố sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay
Để thực hiện được mục đích trên-, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ nội dung bản chất giai cấp cồng nhân, tính dân tộc, tính nhân dân và sự thống nhất biện chứng giữa chúng trong Nhà nước ta
- Làm rõ vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhan dân của Nhà nước ta va thực trạng vai trò đó hiện nay
- Nêu lên một số phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của pháp luật ừong việc củng cố và tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XIICN Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lỷ luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, đồng thời có sử dụng những thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài đã được công bố
- Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp cái phổ biến và cái đặc thù, ngoài ra còn sử dụng các pnương pháp khác
5 Đóng góp mới của luận văn:
- Góp phần làm rõ thêm vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta
- Nêu ra một số phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong việc củng cố sự thống nhất giữa bỉn chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta trong thực tiễn đổi mới đất nước
Trang 106 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Góp phần vào việc nghiên cứu lý luận chung về nhà nước, pháp luật và vai trò cua pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận vé nhà nước và pháp luật, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học
7 Ket cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương với 6 tiết
Trang 11Chương 1
BẢN CHẤT GIAI CẤP, TỈNH DÂN TỘC, TÍNH NHÂN DÂN CỦA
NHÀ NƯÒC CỘ N G HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ Sự THỐNG NHẤT GIỮA CHÚNG
1.1 BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN TỘC VÀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
1.1.1 Bản chất giai cấp cua \h à nước cộnfl hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để thấy được bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà
nước ta và sự thống nhất giữa chúng cần phải làm rõ nhà nước là gì, nguồn
gốc la đời cũng như bản chất của nhà nước như thế nào
Nhà nước là vấn đề quan trọng đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến
với nhiều công trình nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề phức tạp này, nhất là
về ban chất giai cấp của nó Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy từ thời cổ đại,
Trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng đưa ra nhiều kiến giải khác nhau về nguồn
gốc của nhà nước Nhìn chung họ đều đi tìm cội nguồn của nó từ những căn
nguyên phi vật chất Cho đến thế kỷ XVII - XVIII xuất hiện hàng loạt các
quan niệm mới với các cách giải thích khác nhau về cái "khế ước xã hội"
Những học thuyết này đều dựa trên cơ sở phương pháp luân của chủ nghĩa duy
tâm, coi nhà nước lập ra do ý muốn chủ quan của các bên tham gia khế ước
Họ cũng không giải thích được cơ sở kinh tế - xã hội làm xuất hiện niià nước
cũng như bản chất của nó
Khắc phục những hạn chế đó, chủ nghĩa Mác-Lênin với quau điểm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh một cách khoa học rằng, nhà
nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bấl biến Nó chi xuất hiện khi lực
lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhất định, nhà nước luôn vận
động biến đổi, phát tnển và nó sẽ tiêu vong khi những điều kicn khách quan
mà trên đó nó tổn tại không còn nữa
Theo quan điểm của chu nghĩa Mác-Lênin, trong xã hội cộne sản
nguyên thủy đã có quvền lực, đó là thứ quyền lực xã hội được tổ chức và thực
Trang 12hiện dựa trên cơ sớ của nhrmg nguyên tắc dân chủ thực sự, quyền lực đó được xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng Trong xã hội ấy tuy chưa có pháp luâi, nhưng đã tổn tại những quy tắc xử sự chung của mọi thành viên và được mọi người tự giác tuân theo Do sự phát triển không ngừng của lưc lượng sản xuất, công cụ lao động ngày được cải tiến làm cho con người ngày càng được phát triển và hoạt động của họ ngày càng phong phú, chủ động và tự giác hơn Lịch sử xã hội loài người đã trải qua ba lần phân công lao động lớn, mà mỗi lần đó xã hội lại có những tiến bộ mới làm sâu sắc thêm quá trình tan rã cua chế độ cộng |ản nguyên thủy Trước sự biến đổi lớn của cơ cấu xã hội, tổ chức thị tộc vốn là khép kín và bền vững đã không thể đứng vữnơ được nữa Những nhu cầu mới đã xuất hiện, những lợi ích của các tầng lớp khác nhau không những xa lạ với chế độ thị tộc mà còn đối lập với chẽ độ đó về mọi phương diện Chính những lợi ích đó đòi hỏi cần phải có những cơ quan mới hình thành Mặt khác, những xung đột về lợi ích giữa kẻ giầu và người nghèo, giữa chủ nợ và con nợ ngày càng gay gắt, phá vỡ cái chế
độ dân chủ nguyên thủy đặc trưng trong tổ chức thị tộc Nliư vậy, tổ chức rhị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn cơ bản nội bộ thì nay một xã hội mới ra đời - xã hội mà toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau Xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt các cuộc xung đột - tổ chức đó là nhà nước và nhà nước
đã ra đừi Sự ra đời của nhà nước là một tất yếu khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phẩt triển ctến một giai đoạn nhất định, nó "không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội", mà là "một lực lượng nảy sinh lừ xã hội", một lực lượng "tựa hổ đứng trên xã hội" có nhiệm vụ làm dịu bớt xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng ' trật tự" [34, 253]
Như vậy, nnà nước không chỉ là một bộ máy trân áp sự phản kháng của các giai cấp, mà còn là một kiểu lổ chức xã hội, một hệ thông tổ chức chặt chẽ Mỗi kiểu nhà nước có các chức năng khác nhau và việc tổ chức bộ máy nhà nước để thực hiện các chức năng đó củng có đặc điểm riêng Nhìn chung
Trang 13nhà nước của các giai cấp bóc lột là một bộ máy hành chính - quân sự quan liêu một tổ chức bạo lực nhằm chủ yếu thực hiện sự đàn áp đối với nhân dân lao động, bảo vệ địa vị của giai cấp bóc lột Nhà nước XHCN nói chung và Nhà nước CHXHCN Việt nam nói riêng là nhà nước kiểu mới, nó không chỉ là môt bộ máy hành chính, một cơ quan cưỡng chế mà còn là một tổ chức quản
lý kinh tế, xã hội trong đó tổ chức quản lý kinh tế xã hội là măt chủ yếu của Nhà nước XHCN
Vậy bản chất của nhà nước là gì Đây cũng luôn là đối tượng của cuộc đấu tranh tư tưửng gay gắt, là trung tâm của mọi vấn đề chính trị Làm rõ bản chất giai cấp của nhà nước, tức là chỉ ra rằng nhà nước ấy của ai, do giai cấp nào tổ chức và ỉãrih đạo, phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào
Trong lịch sử, các nhà tư tưởng của các giai cấp bóc lột, vì lạp trường giai cấp của mình mà ít khi đề cập đến bán chất giai cấp của nhà nước, hoặc
họ tìm mọi cách làm cho vấn đề đó trở lên phức tạp thần bí, thậm chí vấn đề quyền lực nhà nước còn được luận giải có nguồn gốc từ một lực lượng siêu nhiên, từ thượng đế Dù có tiến bộ hơn trong quan niệm của John Locke (thế
kỷ XVI); Imanuen Cantơ (thế kỷ xvni - XIX); Gióocgiơ VLnben Phriđrích Hêgen (thế kỷ x v n i - XIX) v.v, song họ cũng mới chỉ dừng lại ở một "xã hội công dân" trừu tượng, ở cái "quyền lực xã hội" trừu tượng mà không thấy được bản chất giai cấp của nhà nước cũng như địa vị của quần chúng nhân dân và ảnh hưửng của họ đối với quyền lực nhà nước
Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, các nhà kinh điôn caa chủ nghĩa Mác-I^énin đã đưa ra một cách giải thích đúng đắn về bản chất của nhà nước Các ông đã khẳng định rằng, nhà nưỡc chỉ ra đời trong xã hội có giai cấp và luôn mang bản chất giai cấp Bán chất giai cấp được thể hiện ở chỗ, nhà nước là một bộ máy đặc biệt của giai cấp thống trị, là công cụ
để trấn áp các giai cấp đối lập, duy trì trật tư xã hội và buộc các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của giai cấp thống trị Trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng", V.I Lênin đã giải thích rằng "Nhà nước thec đúng nghĩa của nó, là một
bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác" [27, 110] Điều
đó cho thấy, nhà nước là một bộ máy đặc biệt để thực biện quyền lực mang
Trang 14tính cưỡng chế, thực hiện sự thống trị giai cấp.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước XHCN cũng có một số đặc điểm chung như các kiểu nhà nước khác, nhưng nó không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa mà chỉ là "nửa nhà nước" [27, 23] Đó là nhà nước mà toàn bộ hoạt động của nó luôn luôn thể hiện tư tưởng, quan điểm của giai cấp công nhân, nhăm phục vụ cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dần tộc Nhà nước đó luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là công cụ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và cũng chỉ đặt dưới su lãnh đạo của Đảng nhà nước đó mới vận động đúng định hướng chínn trị, mới mang bản chất XHCN
Nhà nước ta, từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những nhiệm vụ lịch sử khác nhau Song nó luôn' thể hiện được bản chất tốt đẹp là một nhà nước kiểu mới, hội tụ trong nó
sự thống nhất hữu cơ giữa bản chất giai cấp cÔDg nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện nay là sự kế thừa bản chấĩ tốt đẹp đó được khẳng định trong văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VIII của Đảng là: "Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhâu dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và củã nhân dân" [13, 129] Mô hình nhà nước đó
đã thể hiện quá trình nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo của Đảng ta trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mủc-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng nhà nước trên thế giới Đỏng thời nó cũng thể hiện những nét riêng, mang tính đặc thù phù hợp với điều kiện, hoàn cảrh lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay
Bản chất giai cấp của Nhà nước ta hiện nay thể hiện ở những nội dung
cơ bản sau:
M ột là, những chủ trương, chính sách của Nhà nước đều xuất phát từ
quan điểm của giai cấp công nhân Khi đề ra những chủ trương, chính sách
đó, đều phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, phản ánh đúng quy luật khách quan nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhàn, của dân tộc và của toàn thể nhân dân lao động Kiên t ì bảo vệ mục tiêu lý tưởng của giai cấp
Trang 15công nhân là độc lập dan tộc và chủ nghĩa xã hội, cho đù tình hình trong và ngoài nước có iihiều biến dổi thì nhà nước vẫn không xa rời mục tiêu lý tưởng
đó Bàn chất giai cấp của Nhà nước ta không chỉ thể hiện ở số lượng đảng viên xuất thân từ thành phần công nhân có trong bộ máy nhà nước nhiều hay ít, mà điều quan trong hơn là ở chỗ, những chủ trương, chính sách của nhà nước có quán triệt quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân hay không, nhà nước
có thực sự là của dân, do dân và vì dan hay không
Hai /à, Nhà nước ta hiện nay luôn lấy chủ Iighĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kin chỉ nam cho hoạt động của mình Chủ nghĩa Mác-Lêr.in - học thuyết khoa học và cách mạng, không có học thuyết ấy thì hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ không đi đúng hướng, không mang lại được lợi ích cho gia* cấp công nhân, cho dân tộc và nhân dân lao động Cho nên dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tổ chức và hoạt động của mình, Nhà nước ta luôn kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hổ Chí Minh Đảng ta coi chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưàng, kim chỉ nam cho hoạt động của mình Bởi vì "Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dung sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể nước ta, và trong thực tế tư tưung
Hổ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và cu.a cả dân tộc" [53,187]
Ba là, Nhà nước la với bản chất là nhà nước "của dân, do dân, vì dân",
nó được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, những nguyên tấc đó luôn thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân Đó là những nguyên tắc: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế XHCN Cho nên trong hoạt động của mình, Nhà nước luôn lấy việc phục vụ cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân đân lao động là mục tiêu cao cả Chỉ có lợi ích, đặc biệt là lợi ích "kinh tế" mới là "chất keo" gẩn kết các giai tầng, các dân tộc một cách bền vững Đó chính là nguyên nhân sâu xa, là cơ sở kinh tế bảo đám cho việc củng cố và tăng cường bản chất vốn có của Nhà nước ta
Trang 161.1.2 Tính dân tộc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Theo quan điểm chủa chủ nghĩa Mác - Lênin, bất kỳ nhà nước nào cũng
ra đời, tồn tại và phát triển trên một phạm vi lãnh thổ nhất định trong đó có các dân tộc sinh sống với những đặc trưng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lý Đặc tính dân tộc luôn in dấu ấn vào bộ máy nhà nước với mức độ đậm nhạt khác nhau tuỳ thuộc vào các kiểu và hình thức nhà nước cụ thể
Tính dân tộc của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Môí là, Nhà nước CHXHCNViệt Nam có nguồn gốc ra đời từ cuộc đấu
tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta để giải phóng dân tộc Nhà nước ta luôn là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và chủ quyền dân tộc, luôn quan tâm đến quyền độc lập và tự do của dân tộc Nhà nước ta hiện nay có nguồn gốc
ra đời từ Nhà nước dân cbủ nhân dân phát triển lén và nó đã kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Đó là kho tàng vồ cùng phong phú và quý báu, là tinh hua của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay, bên cạnh việc coi trọng học tập kinh nghiệm c ua các nước trên thế giới, thì điều quan trọng hơn và trước tiên phải biết học tập kinh nghicm của chính eha ồng ta, biết tổng kết lịch sử của chính mình Có như vậy mới "nhân lên sức mạnh của nhần dân ta để vượt qua khó khăn, thử thách, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đi vào thế kỷ 21" [15, 8]
Haỉ là, Nhà nước CHXHCN Vièt Nam hiện nay có nguồn gốc sức
mạnh và cơ sở chính trị là khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đoàn kết tạo nên sức mạnh", mệnh đề đó được xem là đúng với mọi không gian và thời gian Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trên đất nước ta đã có tờ lâu Sự đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc ấy đã tạo nên sức mạnh "dời non lấp biển" để đánh thắng mọi kẻ thù
và vững bước xây dựng một Nhà nước Việt Nam XHCN Phát huy truyền thống đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định: "Tăng cường khối đai đoàn kết toàn dân, cả trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức
Trang 17mạnh của toàn thể dân tộc vì mục liêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" [13, 73] Để có được sự đoàn kết thống nhất, điều quan trọng hàng đầu phái tạo ra đuỢc sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc tham gia VIO quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Táng cường khối đại đoàn kết dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn của Nhà nước để vượt qua và tiến lên mỗi khi đất nước đứng trưức những thử thách và bước ngoặt lịch sử, phải được tiến hành đồng thời vứi việc không ngừng cáng
cố và ìr.ở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất Bởi vì củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất là tạo ra một cơ sở chính trị - xã hội rộng lớn cho việc tăng cường sức manh của Nhà nước ta Mát trận đó chính là tổ chức chính trị -
xã hội, là liên minh chính trị, là tổ chức liên hiệp mang tính rư nguyện của các đoàn thổ nhàn dân, các cá nhân tiêu biểu cho các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo để cùng bàn bạc, hiệp thương dân chủ, thống nhất hành động, hướng tới mục tiêu chung
Trước thòi kỳ đổi mới, các tổ chức này được xem chỉ có chức năng tập hợp, giáo dục, tổ chức quần chúng Trong đổi mới, Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu của các tổ chức đó Ngày 17 tháng 11 năm 1993, Bô Chính trị đã ra Nghị quyết 07/TW về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất Nghị quyết đã khảng định rằng, đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhửng thời cơ và thách thức mới, hơn lúc nào hết phải đoàn kết đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, phát huy sức mạnh
của cả cộng đồng dân tộc, thực hiện đoàn kết toàn dân à tầm cao mới và chicu
sâu mới, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển dân tộc Nghị quyết đó mang lính thời sự cấp bách và hợp lòng dân, làm khơi dậy tiềm năng của các tầng ỉớp nhân dân, tạo điều kiện để mọi ngườ: hòa nhập vào cộng đồng dân tộc nhất là các nhân sĩ trí ĩhức, các nhà doanh nghiệp tư nhân, các chức sắc tôn giáo, những người tiêu biểu trong các dân tộc, neười làm việc trong chế độ cũ Thật vậy, việc "củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc, việc quan tâm đúng mức tới người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, thu hút họ đóng góp xây dựng đất nước đã mở rộng và tănc cường đáng
Trang 18kể cơ sở xã hội cua Nhà nước ta"[51, 13], góp phần làm tăng thêm sức mạnh của bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Ba ĩà, Nhà nước ta hiện nay không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dàn lao động mà còn đại biểu cho lợi ích chân chính của các dàn tộc Nhà nước neày càng có những chính sách dân tộc đúng đắn
Như đã đề cập ở phần trên, vấn đề dân tộc là vấn đề hết sức phức tạp V.I Lê nin đã chỉ ra rằng: "Chỉ có một sự quan tâm lớn lao đến lợi ích của các dân tộc khác nhau thì mới loại trừ được nguồn gốc của mọi sự xung đột, mới trừ bỏ được lòng nghi ngờ lẫn nhau, mới trừ bỏ được nguy cơ gây ra những mưu đồ nào đó, mới tạo được lòng tin, nhất là lòng tin của công nhân và nông dân không nói cùng một thứ tiếng; nếu không có lòng tin đó thì những quan
hẹ hòa hình giữa các dân tộc cũng như sự phát triển thuận lợi đôi chút của tất
cả những gì quỷ báu trong nền văn minh hiện đại đều tuyệt đối không thể thực hiện dược" [30, 287]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta ngày càng có nhiều chính sách đúng đắn nhằm bảo đảm lợi ích của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, qua đó đã phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng
vào quá trình xây dựng chính quyền nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3 Tính nhân dân của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà nước XHCN nói chung, Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng mang tính nhân dân sâu sắc Tính nhân dân của Nhà nước ta được thể hiện ở những điểm cơ bân sau:
Một là, Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và
vì dân Nói nhà nước cửa dẫn, do dân là nói đến nhà nước dân chủ, nơi mà quyền lực bắt nguổn tù dân, thuộc về nhân dân, là bộ máy thừa hành ý chí của dân, và điều đăc biệt quan trọng là nhân viên nhà nước từ trung ương đốn địa phương không còn là cha mẹ dân như trong nhà nước quân chủ, mà là công bộc, đầy tớ của dân, chịu trách nhiệm trước dân và do nhân dân cử ra Họ chỉ
là nhừng người được giao, được uỷ thác quyền hạn để thực hiện công việc :rong khuôn khổ Iihất định Một phương diện hết sức quan trọng thể hiện tính
Trang 19nhân dân cua Nhà nước p hiện nay đỏ là nhà nước được lập ra bằng con đường bầu cử Thông qua tổng tuyển cử mà người dân lựa chọn những người
có đủ đức, tài gánh vác cồng việc chung Hơn nửa thế kỷ qua hình thức bầu cử phổ thống, trực tiếp, bình đẳng và bỏ phiếu kín này vẫn phát huy được tác dụng, phù hụp và đáp ứng được yêu cầu xây dựng chinh quyền nhân dân trong điều kiện cụ the của nước ta Mặt khác Nhà nước ta hiện nay luôn luôn đề cao quvền làm chủ của nhân dân trong việc kiểm soát, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như thay đổi, bãi miễn Chính phủ và các cán bộ, nhân viên nhà nước khi họ có những hành Vi làm phương hại đến nhân dân Đồng thời Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo môi trườiig ổn định lành mạnh để nhân dân thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình
- Như vậy, Đảng ta luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, để quyền lực thực sự là của nhân dân, nhân dân ủy quyền mà không bị mất quyền Đó là thể hiện tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước ta hiện nay
Tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay còn được biểu hiện ở chỗ, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiẻu cao cả
"Cái ‘‘do dâiT mà nhà nước nào cũng có" [31, 59], nhưng để thấy được thực chất của nó phải căn cứ vào chỗ nó phục vụ lợi ích cho ai Cho nên tính
"do dân" của nhà nước luôn được xem xét trong quan hệ hữu cơ với tính "vì dân Đây được coi như là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt các kiểu nhà nước trong lịch sư ở nước ta, xây dựng một nhà nước vì dân đã được Chủ tịch Hỏ Chí Minh đặc biệt quan tâm Người yêu cầu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như mọi cán bô, viên chức nhà nước đều phải hướng tới phục
vụ lợi ích của nhân dân, "việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh"[39, 57] Đương nhiên đó phải là những lợi ích, nhu cầu chính đáng phù hợp với xu thế phát triển chứ không phải bất kỳ nhu cầu, lợi ích n -10 Đổi mới Nhà nước ta hiện nay cũng chính là nhằm làm cho nó ngày càng sát dân hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày được nâng cao Đó là xu hướng ngày càng tăng lên chức năng xã hội
Trang 20trong sự thống nhất với chức nang thống trị giai cấp của nhà nước, là sự thể
hiện đãm nét tính nhân dân trong sự thống nhất với tính dân tộc và bản chất
giai cấp của nó Xu hướng đó đang được nhân dân ủng hộ một cách nhiệt tình,
tích cực Chỉ có sự ủng hộ của nhân dân thì sự nghiệp đổi mới nói chung cũng
như trên lĩnh vực nhà nước nói riêng mới mang lại hiệu quả
Hai là, tính nhân dân của Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn được thể
hiện ở chỗ, sức manh của Nhà nước có nguón gốc từ sức mạnh của nhân dân
Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước ta là lịch sử của sự
gắn bó máu thịt giữa nhà nước và nhân dân Không chỉ còn là "gần dân",
"thân dân" nữa, mà phải dựa hẳn vào dán, bởi "dân là gốc của nước", gốc có
vững thì cây mới bền, dân có giầu thì nước mới mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng nói: "Quyền nành và lực lượng đều ở nơi dân" [39, 276] Vì vậy công
tác dân vận cũng chính là vận động lực lượng của mỗi người dân (tài năng, trí
tuệ, sức lực, tiền của) góp thành lực lượng toàn dân Mặc dù dân có lực lượng to
lớn và tiềm năng vô tận, nhưng họ không thuần nhất, bởi vì "Dân chúng không
nhất luật như nhau Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ
khác nhau, ý kiến khác nhau" [38, 296] Cho nên, phải tập hợp, tổ chức họ lại với
nhau, chỉ có trong sự đoàn kết toàn dân ấy mới tạo ra sức mạnh to lớn làm tăng
lcn sức manh của Nhà nước ta
Tóm lai, Nhà nước CHXHCNViêt Nam hiện nay mang bản chất giai
cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Cho nen, việc xây dựng
và hoàn thiện bộ máy nhà nước mang đậm nét các yêu tố đó trong mối quan
liệ hữu cơ thống nhất đang là sự quan tâm đặc biệt của Đảng ta hiện nay
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN TỘC VÀ TÍNH NHÂN ĐẢN CỬA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHỈA VIỆT NAM.
1.2.1 Sự thống nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc
và tính nhân dân là đặc trưng cơ bản của Nhà nước Cộng hoa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhà nước nào cũng
mang bản chất giai cấp Nhà nước ra đời và tồn tại nhằm thiết lập ưiột trật tự
xã hôi, trấn áp các giai cấp đối khang và buộc các giai cấp đó phải phục tùng
ý chí và quyền lợi của giai cấp thống trị Nói vậy không có nghĩa là nhà nước
Trang 21là sản phẩm chủ quan cua giai cấp này hay giai cấp khác Nhà nước là sản phẩm của cuộc đâu tranh giai cấp Vì thế, về mặt khách quan, nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị mà trong chừng mực nhất định
nó còn phải rhực hiện những lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội
Vậy các nhà nước bóc: lột đã giải quyết những lợi ích của xã hội như thế nào ? Phái chăng nó chỉ gìn giữ, duy trì trật tự công cộng, xây dựng một số công tiình và cơ sở kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của xã hôi nhàm làm cho xã hội tồn tại trong vòng "trật tự" của gia cấp bóc lột Việc các nhà nước của giai cấp bóc lột có sự quan tâm nhất định đến lợi ích của người lao động, điều đó không xuất phát từ thiện chí, lòng từ thiện của nó, mà suy cho cùng nó xuất phát từ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị Một giai cấp không thể thực hiện được sự thống trị đối với xã hội nếu nó không quan tâm đến lợi ích chung của tóàn xã hội Lặm iõ vấh đề này để tránh một cách hiểu cực đoan về bản chất giai cấp của nhà nước, không thấy được tính xã hội, chức năng công quyền của nó của nó mặc dù bản chất giai cấp vẫn là cái chi phối Trong chừng mực nhất định, các nhà nước bóc lột có quan tâm đến lợi ích của quần chúng nhân dân ỉao động, nhưng cần phải thấy rằng trong các chế độ bóc lột
đó về cơ bản không có cơ sở khách quan cho sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính xã hội Bởi vì, giai cấp nắm chính quyền nhà nước là những giai cấp bóc lột có lợi ích căn bản đối líìp với lợi ích của quần chúng nhân dân lao động và của dân tộc Vì thế không thể có sự thống nhất ý chí và nguyên vọng giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Mặt khác, các nhà nước bóc lột dựa trên chế độ sở hữu tư nhàn về tư liệu sản xuất Chế độ kinh tế
đó đã lấy sự bất bình đẳng về kinh tế làm tiền đề, mà khi đã không có sự hình đẳng về kirih tế thì tất yếu cũng không thể có bình đẳng về chính trị Do đó cái gọi là "binh đẳng" của mọi công dân ngay cả khi nó được ghi nhận trong hiến pháp tư sản thì cũng chỉ mang tính hình thức
Trái 1 li nhà nước XHCN có điều kiên khách quan bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân, bảo đảm tất cả quyén lực nhà nước thuộc về nhân dân Sự thắng lợi của cuộc cách mạng vô
Trang 22sản đã đưa giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động từ địa vị những người nô lệ, bị bóc lột, bị áp bức lên địa vị những ngưĩvi làm chủ xã hội Đó là tiền đề chính t) Ị quan trọng nhất bảo đảm tất cả "quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" G.a* cấp vô sản là giai cấp có lợi ích căn bản và lâu dài thống nhất với lợi ích của dân tộc và lơi ích của nhân dân lao động Sự thống nhất giừa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của nhà nước XHCN không chỉ đựa trên tiền đề về chính trị mà còn có cơ sở từ chế độ kinh tế mà trên đó
nó tồn tại Nhiệm vụ của cách mạng XHCN không chỉ giành chính quyền nhà nước về tay nhân dân mà nó còn thủ tiêu chế độ sở hữu tư nhân với tư cách là một chế độ sở hữu thống trị và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Chế độ kinh tế đó là điều kiện khách quan để bảo đảm bình đẳng về kinh tế trong các tầng lớp nhân dân lao động
* Nhà nước ta ' ra đời từ cách mạng tháng Tám năm 1945, ngay từ buổi đầu Nhà nước ta đã thể hiện bản chất tốt đẹp của một Nhà nước gắn bó chặt chẽ và phuc vụ lợi ích của dân tộc, của nhân dân, dưới sự lãnh đạo cua Đảng tiên phong của giai cấp công nhân Từ đó đến nay, Nhà nước ta không ngừng lớn mạnh, làm tròn nhiệm vụ của mình, xứng đáng là công cụ đắc lực của nhân dân trong quá trình đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới" [12, 20-21] Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là đặc trưng bản chất của Nhà nước ta Bản chât đó
có cội nguồn từ sự thống nhất lợi ích can bản của giai cấp công nhân Việt Nam với đa số quần chúng nhân dân lao động mà vấn đề lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân lao đùng đã được C.Mác và Ph.Ăng ghen đề cập đến từ lâu, tuy ở thời kỳ của các ông phong trào giải phóng dân tộc chưa phát triển mạnh Theo các ông, xóa bỏ áp bức giai cấp là diều kiện để xoá bỏ áp bức dân tộc, giai cấp công nhân sẽ không thể giải phóng được mình nếu không giải phỏng dân tộc và toàn xã hội Để làm được điều đó thì giai cấp công nhân
ở mỏi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, trữ thành một giai cấp dân tộc Điều đó có nghĩa là giai cấp cóng nhân sau kl‘ii giành được chính quyền phải trở thành người đại diện chân
Trang 23chính và chính thức cho dàn tộc và nhân dân lao động Khi đó lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân lao động là thống nhất Chính lợi ích, mà đặc biệt là lợi ích kinh tế là "chất keo" kết dính các giai tầng trong xã hội có chung lợi ích căn bản lại với nhau Bởi vì, theo C.Mác, tất cả những gì con người đấu tranh để giành lấy đều gắn liền với lợi ích của họ Không có cái lợi ích chung đó thì không có sự đoàn kết thống nhất, thậm chí
nó có thể là lưc đẩy chia rẽ các giai tầng nếu đó là lợi ích đối lập Cho nên, việc xây dựng một nhà nước thể hiện sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân cần phải dựa trên cơ sở của sự kết hợp hài hòa những lợi ích căn bảii Nhưng nếu "Tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, lợi ích giai cấp không tránh khỏi rơi vào chủ nghĩa biệt phái Tuyệt đối hóa lợi ích dân tộc, xem xét giải quyết vấn đề dân lộc một cách trừu tượng, thoát ly kliỏi quan điểm giai cấp mang tính khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân sẽ làm cho vấn đề dân tộc trở nên phức tạp và lợi ích căn bản của dân tộc nhất đinh sẽ không được thực hiện" [50, 35] Việc giải quyết đúng đắn những lựi ích căn bản thuộc các giai tầng trong xã hội là tạo ra cơ sở vững chắc cho sự đoàn kết thống ĩihất và cũng chỉ có sự đoàn kết bền vững ở những người, những giai tầng xã hội mà lợi ích căn bản thống nhất với nhau Đó chính là cơ
sở kinh tế xã hội của mối quan hệ giữa bản chất giai cấp với tính dân tộc và tính nhân dân của nhà nước XHCN nói chung và nhà nước CHXHCN Việt nam nói riêng Mối quan hệ đó được biểu hiện tập trung ở chỗ:
Một là, bản chất giai cấp công nhân, chức năng thống tri chính tri của
giai cấp luôn giữ vị trí chi phối trong phưang hướng và mức độ thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, chi phối việc giải quyết các vấn đề về quyền lọi cùa dân tộc và nhân dân lao động
Hai là, việc thực hiện chức năng xã hội, giải quyết tốt các chính sách
đối với dân tộc và nhân dân lao động là điều kiện để nhà nước XHCN thực hiện và nêu cao bản chất giai cấp công nhan của mình
Thấm nhuần những quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng một cách £ ng tạo vào quá trình xay dựng nhà nước kiểu mới Điều
Trang 24đó cũng còn xuất phát từ một ước nguyện sâu thẳm của Người về một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, một nhà nước thể hiên sư thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính dân tộc và tính nhân dân có cội nguồn từ sự thống nhất những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động Thật vậy, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn gương cao ngọn
cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phục vụ lợi ích cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích của cả dân tộc Chính vì thế mà lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích của dân tộc và lợi ích của nhân dân lao động thống nhất với nhau, tạo thành cơ sở và là nguyên nhân sâu xa cho sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tĩnh rhân dân của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như Nhà nước QIXHCN Việt Nam sau này Nhà nước ta đã giải quyết nhiều ni ệm vụ liên quan đến bdn chất giai cấp va chức năng xã hội của Nhà nước: giữ vững chính quyền cách mạng, kiên quyết trấn áp bằng bạo lực những âm mưu phản động chống lại chính quyển nhân dân; giải quyết mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn dế quốc vì lợi ích của dân tộc, vì hanh phúc của nhân dân Độc lập dân tộc thu tiêu chế độ phong kiến, thực hiện chế độ dân chủ đó là lợi ích chung cao nhất và cũng là nguyện vọng, mong mỏi từ ngàn đời của nbân dân Việt Nam
Nhà nước dân chủ nhân dân đã thu hút và tập h<íp được mọi tầr.g lớp nhân dân trong Mặt trận dan tộc thống nhất tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng chủ nghĩa thưc dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập dân tộc thống nhất đất nước Ở thời kỳ lịch sử đó, tính dân tộc và tính nhân dân của nhà nước thể hiên khá rõ nét Bởi "nước mất thì nhà tan", tất cả đều hướng về mục tiêu chung trước hết là độc lập dân tộc, mọi hoạt động của bộ máy nhà nước cũng chủ yếu nhằm huy động sức mạnh của toàn dân, của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Chính vì tbế mà nhiều người có lý cho rằng ở giai đoạn lịch sử đó tính dân tộc là tính "trội" trong mối quan hẹ với bản chất giai cấp và tinh nhân dân của nhà nước Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là
Trang 25tiến dề trực tiếp của sự thống nhất giữa chúng trong Nhà nước CHXHCN Việt Nam Nói cách khác, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã kế thừa, củng cố và phát triển bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước dân chủ nhân dân.
Có thể nói trong mấy chục năm xây dựng nhà nước, đặc biệt là trong thời kv đổi mới đất nước, Đảng ta đã rất coi trọng việc giải quyết đúng đắn mối quan hộ này nhàm bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa việc tăng cường bản chất giai cấp công nhân với việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước
Điều đó được thể hiên ờ chỗ: những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước đều nhàm bảo đảm sự thống nhất quyền lợi của giai cấp công nhân với quyền lựi của nhân dân lao động và quyền lợi của các tầng lớp, cá nhân trong
xã hô1 Nhà nước ngày càng có chính sách phù hợp hơn bảo đảm lợi ích của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc vùng sâu, vùng xa Nhờ có sự giải quyết đúng đắn mối quan hộ giữa bản chấí giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dãn
mà trong nbững năm gần đây sức mạnh của Nhà nước ta ngày càng được củng
cố và tăng cường, đủ sức thực hiện chức năng và nhiệm vụ đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đang dặt ra
Như vậy, về bản chất, mối quan hệ giữa bản chất giai cấp cống nhân, tính dân tộc và tính nhân dân là thống nhất và là đặc trrmg cơ bản của Nhà nước ta Tuy nhiên, sự "Kết hợp nhuần nhuyễn tính dân tộc, tính nhân dân và tính giai cấp không phải lúc nào cũng luôn luôn thống nhất” [60, 75] Ở thời kỳ trước đổi mới nhà nước có lúc đã nhấn mạnh đến bản chất giai cấp, lợi ích giai cấp mà coi nhẹ việc thực hiện chức năng xã hội, việc đáp ứng những yêu cầu hợp lỷ của nhân dân lao động Để bảo đảm sự thống nhất đó cần phải
có những điều kiện, sự tác động của tổng thể các yếu tố và phải trải qua một quá trình xây dựng, củng cố lâu dài của Đảng và nhân dân ta Đổi mới bộ máy nhà nước nhằm làm cho nó ngày càng thể hiện bản chất vốn có của nó đang là một trong những vấn đề quan trong cấp bách trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiên nay
Trang 261.2.2.Tãng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc
và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay là một yêu cầu khách quan.
Sự thống nhât g:ữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là đặc trưng cơ bản riêng có của nhà nước XHCN , xét về mặt bản chất Sự thống nhất đó được bảo đảm sẽ nhân lên gấp bội sức mạnh của nhà nước để vượt qua mọi thử thách, gay go khắc nghiệt Song trên thực tế, nhận thức về mối quan
hệ giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước ở một số người không phải bao giờ cũng được thống nhất Trong những năm qua, không chỉ những học giả tư sản mà cả những người tự coi mình là mác xít đã phê phán quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản h< cố tình đưa ra cái gọi là 'Nhà nước phúc lợi chung" ; "Nhà nước nhân dân tự do", v.v nhằm làm lu mờ bản chất giai cấp của nhà nước, đánh lạc hướng đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ở nước ta, trong khi phê phán quan điểm sai lầm "hữu khuynh" đó, thì một số người lại rơi vào sai lầm "tả khuvnh'- Cường điệu, tuyệt đối hóa bản chất giai cấp đã dẫn đến chủ nghĩa biệt phái, được biểu hiện khá rõ ở thời kỳ trước đổi mới như
đã phân tích ở phần trên Những khuynh hướng sai lầm trên đều trái với bản chất của một nhà nước XHCN Cho nên việc củng cố và tăng cường sự thống nhất bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là vấn đề mang tính tất yếu Tính tất yếu đó được xuất phát từ những căn cứ lý luận và thực tiỗn sau:
Thư nhất, xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta “ nhà nước của dân, do
dan, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân là bản chất của Nhà nước ta iiản chất đó là thể hiện sức mạnh vô địch và tính ưu việt của chế độ dân chủ XHCN, nghĩa là chế độ mà theo chủ nghĩa Mác - Lê nin nó ngày càng hướng tới con người hiẹn thực, vì con người và đó cũng là sự nghiệp của chính bản thân nhân dân
Khẳng định bản chất giai cấp là nét đặc trưng nổi bật của mọi nhà nước,
là cái mang tính chi phối không có nghĩa là phủ nhận tứih dân tộc và tính nhân dân của nó Xét từ cội nguồn ra đời, nhà nước nào cũng nảy sinh từ một xã
Trang 27hội, trung một phạm vi lãnh thổ quốc gia nhất định Do đó, trong quá trình tồn tại, biến đổi phái triển, nhà nước đó không thể không mang dấu ấn của cái cơ
sở đã sản sinh ra nó với mức độ đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào chế độ chính trị và kiểu nhà nước cụ thể Một giai cấp không thể thực hiện được sự thống trị đối với toàn bộ xã hội nếu nó không quan tâm đến lợi ích chung của
xã hội, đến sự ủng hộ của đại bộ phận dân cư trong xã hội, như Ph Ăng ghen
đã từng viết: Chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính tri, và sự thống trị cũng như kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó" [33, 253] Việc các nhà nước bóc lột quan tâm đến lợi ích của người lao động, thoả mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước không phải xuất phát từ ngưòi lao động, mà xét đến cùng là xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống tri- Nhà nước tư sản hiện nay, một mặt kiên quyết bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, trấn áp mọi phong trào của quần chimg ỉao động mà họ cho là làm hại đến lợi ích giai cấp Mặt khác, nhà nước
tư sản cũng rất 'mềm dẻo" trong việc giải quyết các vẵn đề xã hội, vấn đề dân tộc Song sự "mềm dẻo", sự quan tâm khôn khéo đó chỉ nằm trong cái "giới hạn" của giai cấp tư sản mà thối
Như vậy, mọi nhà nước đều mang bản chất giai cấp, đồng thời it nhiều mang tính dân tộc Tuy nhiên chỉ có nhà nước XHCN mới mang tính nhân dân sâu sắc Trong nhà nước XHCN giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân có sự thống nhất với nhau Sự thống nhất đó dựa trên một cơ sở kinh tế,
xã hội vũng chắc - chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và là đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCK nói chung và flhà nước CHXHCN Việt nam nói riêng
Nhà nước ta, ngay từ đầu xây dựng , đã lấy nguyên tắc "tất cả quyền lực thuộc về nhân dãn" làm nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Vì thế mà nó "đã thể hiện được bản chất tốt đẹp của một nhà nước gắn
bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của dan tộc, của nhân dãn, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân Từ đổ đến nay, Nhà nước ta không ngừng lớn mạnh, làm tròn nhiệm vụ của mình, xứng đáng là công cụ đắc lực của nhân dân trong quá trình đấa tranh bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới" [12 20-21] Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng
Trang 28và Nhà nưức đã tập trung, nỗ lực vào từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động cùa bộ máy nhà nước để củng cố và tăng cường bản chất vốn có của nó Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn không thể phủ nhận được, Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong quá trinh đổi mới vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhược điểm "bộ máy Nhà nước chậm được sáp xếp lại, tinh giảm và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ nhân dân Tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn, các chb trương chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch dẫn tới chệnh hướng" [13, 66-79].
Để xây dựng một nhà nước có sự gắn bó hữu cơ giữa bản chất giai cấp, tích đân tộc và tính nhân dân trong giai đoạn hiện nay, cần phải khắc phục những nhược điểm, hạn chế của nó như đã nêu trên Đây không phải là việc làm dễ dàng, một sớm một chiẻu, mà là cả mội quá trình lâu dài đầy khó khăn gian khổ, đòi hỏi sự tham gia của mọi giai tầng trong xã hội
Thứ hai, khẳng định tính tất yếu của việc tăng cường sự thống nhất giữa
bản chất giai cấp, tính dân tộc và Ưnh nhân dân của Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn xuất phát từ thực tiễn của nước ta, từ tinh hình an ninh chính trị trong khu vực và trên toàn thế giới
Ngày nay sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường đang là mót thực tế khách quan với sự đa dạng của các hình thức sở hữu đan xen tác động lẫn nhau Điều đó cũng có nghĩa là phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của các nhu cầu và lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế - xã hội khác nhau Mặt khác, quá độ lên CHXH ở nước ta về cơ bản xuất phát từ một xã hội tiền tu bản với nền sản xuất nhỏ là chủ yếu, nền sản xuất đại công nghir.-p chưa phát triển, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản đều nhỏ bé và mâu thuẫn giữa hai giai cấp đó không gav gắt như ở các nước tơ bản phát triển
Bên cạnh yếu tố tiền tư bản còn có yếu tố tư bản và yếu tố XHCN , bên cạnh sản xuất nhỏ còn có sản xuất lớn, bên canh lao động thủ cồng còn có lao
Trang 29động cơ giới, bên c ạnh tâm lý sản xuất nhỏ, tư tưởng tiểu tư sản còn có những
tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản Tất cả những vấn đề đó đang đặt ra cho Nhà nước ta hiện nay nlnệm vụ hết sức nặng nề Tổ chức và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay là một bài toán không đơn giản Nhà nước vừa phải bảo đảm những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vừa phải bảo đảm những lợi ích cơ bản của các dân tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển của các dân tộc "Ngày nay, trong điều kiện đổi mới việc giải quyết lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động phải gắn liền với lợi ích của cả dân tộc" [59, 12], Để giải quyết được những vấn đề đó, đòi hỏi Nhà nước càng phải củng cố và tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân
Thêm vào đó là tình hình an ninh chính trị trong khu vực và trên thế giới hiện nay đang có nhiều biến đổi phức tạp Xu hướng giao lưu, hợp tác, hội nhập được phát triển, đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc trong quá trình hội nhập
mà "không hòa tan", luôn giữ được cái bản sắc của riêng mình Tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là làm tăng thêm sức mạnh của nhà nước để nó không chỉ thực biện chức năng tổ chức xây dựng, mà còn thực hiện chức năng trấn áp, chuyên chính với các thế lực phản động có âm mưu chống lại chính quyền nhân dân, chống lại Tổ quốc Thựe tiễn thế giới hiện nay cho thấy, những kẻ vẫn tự cho mình là "kẻ rĩiuTLh",
rêu rao cái gọi là "nhân quyền", nnưng trên thực tế họ đã xâm phạm và can thiệp thô bạo vào các quốc gia có chủ quyền, ở nước ta, họ đang âm mưu thực hiện ' diễn biến hòa bình", lợi đụng các vấn đẽ tôn giáo, dân tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng mọi thủ đoạn khác nhau như: &ử dụng các phần
tử phản động quá khích, cực đoan trong tồn giáo vào các hoạt động chông phá chí:ih quyền cách mạng; tài trợ, sử dụng các đài phát thanh, gửi tài liệu phỉn động vào trong nước, tuyên truyền vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, lôi kéo quần chúng nhằm vô hiệu hóa Nhà nưóc ta từ cơ sở; VỚI danh nghĩa bội thảo, đẩu tư, viện trợ từ thiện, chúng tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai tự trị đối với các dân tộc phía bắc; phát triển đạo và liên kết với
Trang 30các phần tử Ful rồ ở vùn£ Tây Nguyên và dân tộc Chăm nhằm kích động vấn
đc "vương quốc Chăm pa" gây thêm phức tạp tình hình an ninh ở Tây Nguyên; chúng tuyên truyền kích động thù hằn dan tộc trong vùng dân tộc Khơ Me Nam Bộ, móc nối các phần tử ở đó sang Căm pu chia tham gia các đảng phái chính trị, đưa người thâm nhập trái phép vào Việt Nam v.v
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta, từ thực tiễn của đất nước, từ tinh hình an ninh chính trị trong khu vực và trên thế giới như đã phân tích trên đây đang đòi hỏi phải củng cố và tăng cường bản chất vốn có của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, đảm bảo cho nó có đủ sức mạnh đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mctì
Thật vậy, Nhà nước CHXIiCN Việt Nam trong quá trình đổi mới là sự thể hiện ngày càng đúng đắn tính dân tộc và tính nhân dân trong sự thống nhất với bản chất giai cấp
Nhà nước ta trong quá trình đổi mới vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cải tạo, xây dựng, quản lý đất nước theo định hướng XHCN và đồng thời giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Khắc phục Iihững sai lầm trước đây, trong quá trình đổi mới Đảng ta nhất quán trong tư tưởng và hành động nhằm xây dựng một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân gắn liền với tinh dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Chỉ có nhà nước mang bản chất giai cấp cồng nhân mới là đại biểu cho lợi ích chân chính của dân tộc và nhân dàn lao động, xây dựng nhà nước càng thể hiện tính dần tộc, tính nhân dân bao nhiêu càng thể hiện đúng đắn bản chất giai cấp công nhân bấy nhiêu Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước la đã có nhiều cố gắng trong đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước nhằm bảo đảm sự thống nhất đó Thực tế đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng mà Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ (khóa VIII)
đã đánh giá: "Đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản
về Nhà nước pháp quyền của dân Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, trước hết là của cơ quan hanh chính nhà nước đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tấp trung
Trang 31quan liêu bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý củã Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước được giữ vững và củng cố Đây là mặt mạnh cơ bản của Nhà nước ta" [13, 36-38] Cổ được thành tựu to lớn đó lả nhờ Nhà nước ta dựa trên một nền tảng, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội mới như đã phân tích ở phần trên Nền tảng kinh tế đó hiện đang vận động theo hai khuynh hướng: khuynh hướng phát triển theo tư bản chủ nghĩa và khuynh hướng phát triển theo định hướng XHCN có sự điều tiết tủ a Nhà nước Vì vậy quá trình xây dựng xã hội - XHCN nói chung cũng như hoàn thiện Nhà nước XHCN Việt Nam nói riêng nhanh hay chậm là tùy thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa hai khuynh hướng trên Đi lên XHCN không có nghĩa là xóa bỏ, triệt tiêu mặt đối lập của mâu thuẫn mà phải gắn liền với sự cùng tồn tại của những yếu tố tư bản Vấn đề quan ừc ng là ở chỗ chuyển hóa mặt đối lập đó như thế nào chứ không phải là "xóa sạch", "xóa cànp: nhanh yếu tố tư bản càng nhanh có XHCN Điều
đó đòi hỏi tăng cường vai trò của Nhà nước, kiểm kê, kiểm soát, giám sát đối với các yếu tố kinh tế tư ban để không cho nó pk.át triển không phù hợp với mục đích của CNXH
Tính quá độ của nền kinh tế nêu trên đã ảnh hưởng, quyết định đến kiến trúc thượng tầng mà nhà nước là bộ phận trụ cột Do đó sẽ là sai lầm nếu coi Nlià nước CHXHCN Việt Nam hiện nay đã là nhà nước XHCN đích thực Đó mới chỉ là nhà nước quá độ bị quy định bơi nền kinh tế mang tính quá độ Nói như vậy không có nghĩa là ở cơ sở hạ tầng với sự đa dạng của các hình thức sở hưu thì ở thượng tầng kiến trúc cũng phải có "đa nguyên chính trị" , "đa đảng đối lập" để "cọ sát", "canh tranh" nhau mà một số người với cách hiểu giản dơn đã nêu ra Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, chế độ chính trị phản ánh chế độ kinh tế Song sự phản ánh ở đây không phải như phản ánh của tấm gương mà là sự phản ánh thông qua chủ thể sáng tạo Qua đó chúng tôi cho rằng, kinh tế nhiều thành phần nhưng chính trị phải tập trung, phải nhất nguyên Điều đó đòi hỏi sự lĩnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
Trang 32trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay phải được nâng lên ở tầm cao
mới, để đưa ra những đường lối, chủ trương chính sách phù hợp với thực tiễn phát triển mới của đất nước Như thế cũng có nghĩa là cần phải củng cố và tăng cường bản chất vốn có của Nhà nước ta hiện nay
Thực tiễn của quá trình đổi mới đã chỉ ra rằng, không phải cứ nhấn mạnh một chiều việc thực hiện chức năng giai cấp của nhà nước là tự nhiên các vấn đề xã hội cũng theo đó được giải quyết như trước đây chúng ta quan niệm, mà ngày nay "trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, muốn định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là để giữ vững bản chất giai cấp, thực hiện được cbức năng thống trị về mặt chính trị (chức năng giai cấp) của giai cấp công nhân, Nhà nước phải đặc biệt coi trọng (nếu không muốn nói hàng đàu) chức năng xã hôi" [26, 79] Nhấn mạnh đến chức năng xã hội của Nhà nước ta hiện nay, không có nghĩa là xem nhẹ chức năng giai cấp của nó Bởi vì, xuất phát từ bản chất của nó, Nhà nước phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân, bảo dầm đinh hướng XHCN hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đồng thời Nhà nước càng cần phải có những chính sách phù hợp hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã bội vì con người "Mục tiêu của chính sách xã hộ: thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhàm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giừa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân" [7, 73]
Những năm qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với những người và gia đình có công với cách mạng, phát động phong trào sâu rộng chăm sóc thương bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người già cô đơn, trẻ mồ côi cơ nhỡ, kiên quyết thực hiện đồng bộ các biện pháp để phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội, xây dựng chương trình quốc gia về việc làm và quỹ quốc gia về viêd làm Trong cơ chế thị- trường, Nhà nước đặc biệt coi trọng bảo vệ người lao động với chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm đặc biệt là sự
ra đời của Bộ luật lao động là cơ sở pháp lý bro vê quyền và lợi ích cho người lao động Với các chính sách dân tộc ngày càng đúng đắn, Nhà nước đã quv tụ
Trang 33và phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Các chính sách của Nhà nước đã tác động đến mọi người, mọi giai tầng trong xã hội, từ xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức đến các đối tượng thanh niên, phụ nữ, các nhà doanh nghiệp, các dân tộc, tồn giáo và cả người Việt Nam đinh cư nước ngoài Vì thế đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp, giai cấp, của cả cộng đồng dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn của Nhà nước để nó thực hiện tốt cả hai chức năng giai cấp và chức năng xã hội.
Như vậy, Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong quá trình đổi mới, dưới
sự l?nh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng có nhiều chính sách đúng đắn nhằm bảo vệ lợi ích của dân tộc và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động Đó là thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước XHCN Việt Nam, Nhà nước của sự thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính dôn tộc
và tính nhân dân sâu sắc Tuy nhiên bản chất của Nhà nước ta không phải lúc nằo cũng được bộc lộ ra một cách đầy đủ, giải quyết mối quan hệ giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tĩnh nhân dân không phải lúc nào cũng đúng đắn
và được kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn Vì thế cần phải tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa sự thốne nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay
Tóm lạì, sự thống nhất giữa bán chất giai cấp tính dân tộc, tính nhân
dân là đặc frưng cơ bản của nhà nước XHCN Nhà nước XHCN Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân gắn bó hữu cơ với tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Sự gắn bó thống nhất đó là đặc trưng cơ bản của Nhà nước ta Củng cỗ và tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay là một yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải
có sự tác động của nhiều yếu tố Trong tổng thể các yếu tố bảo đảm sự thống nhất đó như vai trò của Đảng Cộng sản, vai trò của quần chúng nhân dân, các
tổ chức c ỉd tt trị - xã hội v.v thì pháp luật cũng là một trong những yếu tố gổp phần không nhỏ vào việc củng cố sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay
Trang 34Chương 2
PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Đốl VÓI VIỆC BẢO ĐẢM sự THỐNG
NHẤT GIĨĨA BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN TỘC
VÀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA NHÀ NƯỚC TA
2.1 PHÁP LUẬT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT.
Nhà nước và pháp luật là hai vấn đề phức tạp thuộc kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Quá trình ra đời, tồn tại và biến đổi phát triển của pháp luật luôn luôn gắn liền với quá trình ra đời, tồn tại
và b:ến đổi phát triển của nhà nước Nói cách khác nhà nước và pháp luật đều có chung một nguồn gốc ra đời, đều dựa trên một cơ sở kinh tế - xã hội nhất định
■Sau khi nhà nước xuất hiện, giai cấp thống trị đã dùng quyền lực nJhà nước để đặt ra các quy đình, các loại thuế khóa để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước đó và thậm chí còn đàn áp lại chính những người nuôi dưỡng nó Vì thế nhà nước ngày càng trở nên xa lạ với xã hội, quyền lực nhà nước không được thực hiện dựa trên cơ sở tự nguyện như trước đây Iihà nước đã dùng các biện pháp cưỡng chế, sử dụng một công cụ đặc biệt mà xã hội trước đó chưa hề biết đến - đó là pháp luật Cùng với sự rạ đời của nhà nước là sự xuất hiện của pháp luật Chúng đều có chung nguồn gốc phát sinh và phát triển, có chung
một cơ sử kinh tế - xã hội và đcu bị quy định bởi các cơ sở kinh tế - xã hội đó
Đương nhiên sự hĩnh thành của pháp luật không chỉ ở những tập quán được nâng lên thành luât thông qua con đường nhà nước, mà còn được hình thàrh từ một nguồn khác, đó ỉà các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội VỚI nghĩa đó nhà nước không thể tồn tai và phát triển nếu thiếu pháp luật và ngược lui, pháp luật chỉ tồn tại và phát huy được hiệu ỉực khi nó dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước Nhà nước và pháp luật vừa là tiền đề, điều kiện cho nhau, tác động thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển Mối quan hệ đó đã được Ph.Ảngghen đề cập đến trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", theo Ông, việc ra đời của pháp luật đã xuất hiện các cơ quan được giao
Trang 35nhiêm vụ bảo vệ pháp luật - đó là quyền lực công cộng, đó là nhà nước Vì thế không thể nói là pháp luật đứng trên nhà nước hay nhà nước đứng trên pháp luật, mà khi xem xét hai vấn đề đỏ phải đặt chúng trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau trên cơ sở của cùng một nền tảng kinh tế - xã hôi Điều khác nhau cần nhấn mạnh ở đây là ở chỗ phương thức xuất hiện và chức năng của hai hiên tuợng đó không đồng nhất, vả lại trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước thì vai trò của pháp ỉuật ngày càng trở nên quan trọng Quyền lực nhà nưức tồn tại trong khuôn khổ của pháp luật, được bảo đảm bởi pháp luật
và cũng bị hạn chế bởi pháp luật
Vậy pháp luật là gì, nó có đặc trưng và bản chất như thế nào Làm rõ vấn đề này giúp chúng ta có nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của pháp luật đối với đời sống xã hội nói chung và đời sống nhà nước nói Iiâng
' Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật ra đỉíi gắn liền với sự xuất hiện giai cấp và nhà nước Pháp luật bao giờ cũng mang bản chất giai cấp, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị "Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội" [63, Ố4] Như vậy, về mặt cấu trúc có thể thấy pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự Các quy tắc này được sắp xếp theo một trật
tự, có kết cấu lôgíc chặt chẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành th'ể hiện tính quyên lực, tính cưỡng chế Điều này phân biêt với những hệ thống quy tắc xử sự khác không do nhà nước ban hành như những quy tắc liên quan đến vấn đề đạo đức, tôn gjáo Vì vây, khi pháp luật được ban hành và bảo đảm thực hiên thì nó sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước, có tác động đến mọi chủ thể trong đó có nhà nước Đó là đặc tính riêng có của pháp luật Các loại quy tắc khác chỉ có thể tác động trong phạm vi hẹp và được bảo đảm bằng
dư luâỉi chứ không phíii bằng quyền lực nhà nước Hệ thống các quy tắc xử sự
do nhà nước ban hành phải là những "khuôn mẫu", những mực thước cụ thể, không trừu tượng Nghĩa là những quy tắc đó phải là những quy phạm cụ thể
để các chủ thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ pháp luật Mặt khác, hệ
Trang 36th ng cac quy tãc đó phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống tiị Ý chí trong pháp luật là ỹ chí của giai cấp cầm quyền Chỉ có lực lưựng nào nắm được nhà nước mới có khả năng thể hiện tối đa ý chí của mình trong pháp luật, hợp pháp hoá ý chí đó thành pháp luật Điều đó thể hiện rõ bản chất giai cấp của pháp luật Khi ý chí của giai cấp thống trị đã được hợp pháp hoá thành pháp luật thì nó là nhân tô điều chỉnh các quan hệ xã hội như những quan hộ giữa con người với xã hội, giữa công dân với nhà nuớc, giữa con người với con người Sự điéu chỉnh đó được xem là sự tác động đặc trưng của nhà nước, gắn với vai trò và chức năng quản lý của nhà nước, làm cho ý chí của nhà nước được thực hiện trong thực tế.
I "Láp luật là nhân tố thuộc thượng tầng kiến trúc Nội dung và hình thức
cùa pháp luậl do cơ sở hạ tầng quyết định Pháp luật trong các nhà nước bóc
lột lấ ý chí của giai cấp bóc lột được "nâng lên thành luật" và nó do cái chế
độ chiếm hưu tư níiân về tư liệu sản xuất chủ yếu quyết định Pháp luật XHCN
là "Hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công Iihàn và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành vào hảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trén cơ
sở giáo dục và thuyết phục mọi người thực hiện" [63, 328] Pháp luật XHCN nôi chung và pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt nam nói riêng thể hiện ý chí của giai cãp công nhân cũng đồng thời là ỷ chí của nhân dân lao động Nội dung và hình thức của pháp luật XHCN do cơ sở kinh tế-xã hội của CNXH quy định Trong nhà nước XHCN nhân dân lao động vừa với tư cách là chủ thể thực hiện pháp luật, thể hiện ý chí của mình trong pháp luật, vừa với tư cách là đối tượng để pháp luật điều chỉrJi Vì thế pháp luật XHCN ngày càng thể hiện đầy đủ hưn ý chí và nguyện vong của nhản dân lao động Do đó việc xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong đó pháp luật được đề cao và tôn trọng đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân lao động
Ở nước ta, tư tưởng về một nhà nước với sự biện diện của phấp luật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc Với bản "Yêu sách
Trang 37của nhân dân An Nam" (1919), "Việi Nam yêu cầu ca" (1922) và "Nhời hồ hoán cùng vạn Quốc hội” (1926), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề quyền làm người của người Việt Nam, gắn quyền con người với một chế độ chính trị dân chủ, pháp quyền có vị trí tối cao trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Hiến pháp - đạo luật quan trọng nhất của một hệ thống pháp luật Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta khổng được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu" [36, Ố] Và chỉ sau một thời gian ngắn, tháng 11/1946 sau ngày thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử, bản Hiến pháp đầu tiên đã được thông qua Cùng với quá trình xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng là quá trình hoàn thiện dần
hệ thống pháp luật của nhà nước phù hợp với thực tiễn biến đổi của xã hội qua các giai đoạn lịch sử Việc ra đời của Hiến pháp năm 1992 là bước đi thích hợp phù hợp với thực tiễn biến đổi của nền kinh tế nhiều thành phần và công cuộc cải cách bộ máy nhà nước ta hiện nay Cùng với việc xây dựng pháp luật
là việc bảo đảm thực hiện pháp luật Đó là hai mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết, có tác động tương hỗ lẫn nhau, làm cho pháp luật ngày càng được hoàn thiện và phát huy đượe vai trò to lớn của nó trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân
Để thấy được vai trò to lớn của pháp luật cần phải làm rõ tính hai mặt chủ quan và khách quan của nó sau đây:
Thứ nhất, pháp luật là hiện tượng mang tính chủ quan, tức là pháp luật
phụ thuộc trực tiếp vào ý chí của con người, đo con người sáng tạo ra, phán ánh cái khách quan Trong các nhà nước của giai cấp bóc lột thì nó thể hiện ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên thành luật Không phải ngẫu nhiên mà một số văn bản pháp luật thời xưa lại có những tên như: Bộ luật Hăm-mu-ra-
Trang 38pi; Bộ luật Na-pô-lê-ông v.v Sự hình thành pháp luật là kết quả của quá trình hoạt động trực tiếp, của các cơ quan xây dựng pháp luật Những quy định trong pháp luật đó phải bằng nhiều cách khác nhau được "khách thể hóa" ra bên ngoài, thể hiện một cách thực tế trong các văn bản của nhà nước.
Thứ hai, pháp luật còn là hiện tượng mang tính khách quan Điều đó được thể hiện từ cội nguồn sâu xa của nó là kết quả của sự tác động tất yếu của những biến đổi kinh tế - xã hội, của những nhân tố xã hội, đặc biệt là sự biến đổi trên lĩnh vực kinh tế Nội dung của sự biến đổi đó quyết định sự hình thanh pháp luật và vai trò của nó, trực tiếp hoặc gián tiếp, biểu hiện, phản ánh trong bản chất, nội dung của pháp luật hiện hành Tất cả những biến đổi của cái cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đó là tiền đề tất yếu quy định sự biến đổi, phát triển của pháp luật Trong tác phẩm "Sự khốn cùng của triết học" C.Mác
đã viểt: "Trong thời đại nào cũng thế, chính vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị cũng như về dân sự chỉ ỉàm cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế" [32, 13] Mặt khác, khi các quy phạm pháp luật đã được "khách quan hóa" ra bên ngoài, thì chúng tồn tại như vậy trong thực tế và trong khoa học pháp lý Các chủ thể áp dụng, vận dung nó như nó có trong hiện thực, nghiên cứu nó như một hièn tượng tồn tại khách quan
Như vậy, pháp luật là hiện tưựng vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Việc phân tích tính hai mặt chủ quan và khách quan cua pháp luật chỉ mang tính chất tương đối Vấn đề là ở chỗ, xuất phát từ bình diện nào để xem xét nó mà thôi Xác định tính hai mặt của pháp luật có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọn^ Nó giúp cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật dựa trên những cơ sở khoa học, tránh được những biểu hiện chủ quan, duy ý chí tách rời khỏi thực tiễn trong việc xây dựng pháp luật Đồng thời nó còn giúp chun<T ta có nhận thức rõ hơn về vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển của xã hội nói chung cũng như trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay nói riêng
Trang 392.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO ĐẢM s ự THỐNG
NHÁT GIỮA BẢN CHÂT GIAI CAP, TÍNH DÂN TỘC VÀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA
NHÀ NƯỚC TA.
Từ những đặc tính, bản chất và chức năng của pháp luật nêu trên đã làm
cho pháp luật nói chung và pháp luật XHCN nói riêng có vai trò to lớn đối với
đời sống xã hội, đời sống nhà nước Tuy nhiên, xét đến cùng thì vai trò của
pháp luật là do cơ sở vật chất quyết định Ngày nay con người càng nhận thức
sâu sác hơn về vai trò to lớn của pháp luật Có thể khái quát vai trò đó ở những
điểm cơ bản sau:
- Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực
nhà nước
- Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản ỉý kinh tế và xã hội
- Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới, thể hiện tính dự báo
khoa học, tính định hưitng tiên phong
- Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập mối quan hệ
ngoại giao giữa các quốc gia
Pháp luật XHCN có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Xét trên
bình diện chung nhất nó ỉà phương tiện để thể chế hóa đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trên
quy mô toàn xã hội ; là phương tiện để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ;
là phương nện để phát huy dân chủ XHCN, để nhân dân thực hiện quyền và
nghĩa vụ mùa mình VỚI tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp
luật XHCN có sự tác động mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung cũng
như tới tất cả các yếu tố thuộc thượng tầng chính tri - pháp lý trong đó có Iihà
nước Tuy nhiên để thấy rõ vai trò của pháp luật cần phải xem xét nó ở góc độ
cụ thế gắn với việc thực hiện các chức năng của nhà nước XHCN vá nhu cầu
điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội Trong mối quan hệ này ngoài
vai trò của pháp luật nói chung, vai trò pháp luật của pháp luật XHCN còn thể
hiện ở những mặt cụ thể sau:
- Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn Ihiện bộ máy nhà nước XHCN
Trang 40- Pháp luật bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức, quản
lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH
- Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền lực của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội
Trên đây đã đề cập đến vai trò to lớn, bao trùm trên nhiều lĩnh vực của pháp luật nói chung, cũng như pháp luật XHCN nói liêng Chứng tỏ pháp luật
là yêu tố không thể thiếu của bất kỳ nhà nước nào để điều chinh các quan hệ
xã hội, nhà nước và con người, ở nước ta pháp luật là công cụ có hiệu quả điều chỉnh các công việc chung, các mối quan hệ lẫn nhau của con người và
xã hội, của công dân và nhà nước
Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu phân tích pháp luật trong quan hệ với nha nước để làm rõ vai trò quan trọng của nó trong việc bảo đíim sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dán của Nhà nước ta hiện nay Xét trong mối quan hê đó thì nhà nước không thể tồn tại và phát huy được bản chất cúa nó nếu thiếu sư điều chỉnh của pháp luật và ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước
Sự điều chỉnh, tác động của pháp luật mà trước hết là Hiến pháp trong
tổ chức và hoạĩ động của bộ máy nhà nước ta là nhân tố không thể thiếu được trong qúa trình tồn tại cua Nhà nước Đó là điều kiện căn bản và quan trọng hàng đầu bảo đảm tính tổ chức, trật tự của bộ máy nhà nước Nó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng khâu, từng yếu tổ trong bộ máy nhà nước, quy định tính chất, mức độ quan hệ, sự gắn bó và tác động qua lại giữa các khâu, các yếu tố, các thuộc tính đó bảo đảm sự ãn khớp, nhịp nhàng Điều đó cũng có nghĩa là mọi thiết chế của nhà nước và hoạt động bộ máy nhà nước phải được dựa trên những nền tảng chuẩn mực, ổn định, tiên tiến, đó chính là pháp luật Nhà nước đề ra ph?p luật và sử dụng nó để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhưng tìản thân nhà nước cũng phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Bản chất nhà nước cũng Iíhư mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước ta