2.2.2.3 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về văn hoá - xã hội 2.2.2.4 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về an ninh quốc phòng2.2.3 P
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung Ihực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
m ột công trình nào khác
Hà Nội, iháng 8 năm 2004
Tác giả ìuận văn
Đ ào Đức T huận
Trang 3MỤC LỤC
TiPhần mở đầu
QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992)
1.1 Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) - một nguồn
sử liệu có giá trị1.1.1 Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội
1.1.2 Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu của phỏng lưu trữ Quốc hội
(giai đoạn 1976 - 1992)
1.1.3 Giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992)
1.2 Nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố, giới thiệu tài
liệu lưu trữ Tiểu kết chương 1
NGUỔN SỬ LIỆU QUAN TRỌNG PHỤC v ụ NGHIÊN c ứ u LỊCH s ử
2.1 Tình hình công bố, giới thiêu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai
đoạn 1976-1992) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia i n Hà Nội2.1.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu
phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - ỉ 992)
2.1.2 Những hạn c h ế trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu phông
lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) 2.2 Giá trị sử liêu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 -
1992)2.2.1 Phục vụ nghiên cứu lịch sử lập hiến việt nam (sự ra đời của hiến
pháp 1980 và hiến pháp 1992)
2.2.2 Phục vụ nghiên cứu lịch sử lập pháp Việt N am
2.2.2.1 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về
tổ chức nhà nước2.2.2.2 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về
Trang 42.2.2.3 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về
văn hoá - xã hội
2.2.2.4 Nhóm hồ sơ phản ánh quá trình xây dựng và ban hành pháp luật về
an ninh quốc phòng2.2.3 Phục vụ nghiên cứu lịch sử tổ chức và hoạt động của Quốc hội
2.2.4 Phục vụ nghiên cứu lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước từ cấp trung
ương đến địa phương
Tiểu kết chương 2
TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮQUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 -1992)
3.1 Quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm công bố công bố, giới thiệu tài
liệu phông lưu trữ Quốc hội3.2 Xây dựng những nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố,
giới thiệu tài liệu
3.3 Nghiên cứu vấn đề giải mật trong công tác công bố, giới thiệu tài
liệu phông lưu trữ Quốc hội3.4 Hoàn thiện vấn đề tổ chức khoa học tài liệu phông lưu trữ Quốc hội3.5 Đào tạo, bổi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác công bố,
giới thiệu tài liệuTiểu kết chương 3 Kết luận
Tài liệu tham khảo Phụ lục
Trang 5PHẨN MỞ ĐẨU
1 Lý do ch o n đề tài
Tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá đặc b iệt của d ân tộc C hính vì vậy, tài liệu lưu trữ ỏ V iệt N am đã và đang được n g h iên cứu đ ể phục vụ đắc lực cho việc ban h àn h các q u y ế t định quản lý, giú p cho các cơ q uan, tổ chức có thể điều h àn h có hiệu q u ả các công việc của cơ q uan, đơn vị m ình C húng ta đều công n hận, cùng với c ô n g tác bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ thì công tác tổ chức, sử d ụng tài liệu có hiệu quả (m à công bố, giới th iêu tài liệu là m ộ t hình thức tổ chức sử d ụ n g đ ặc biệt) là m ột trong nhữ ng n h iệm vụ quan trọng của công tác lưu trữ Bởi su y cho cù n g thì thì việc ch ú n g ta thu thập, bổ sung, tổ chức k h o a h ọ c và bảo q u ản an toàn tài liệu lưu trữ cũng chỉ nhằm m ụ c đích tối quan trọ n g là đưa ra p h ụ c vụ xã hội, phục vụ cổng ch ú n g m ộ t cách hiệu quả nhất
Q u ố c hội nước C ộ n g hoà xã hội chủ n g h ĩa V iệt n am , cơ quan q u yén lực nhà nước cao n h ất củ a nước ta là cơ quan d u y n h ất có q u y ền lập h iến và lập pháp, q u a từng thời k ỳ h o ạ t động đã sản sinh ra rất n h iều tài liệu có giá trị quý báu N ếu n h ư kh ố i tài liệu này được đem ra n g h iên cứu, sử d ụ n g p h ụ c vụ các nhu cầu k h á c n h au c ủ a xã hội m ộ t cách n h an h ch ó n g và hợp lý thì sẽ tạo điều
k iện p h át h u y được tối đ a tác dụng của tài liệu lưu trữ đối với đời sống xã hội
T ài liệu h ìn h th àn h trong q ú a trình h o ạ t đ ộ n g củ a Q u ố c hội thời kỳ
1 976-1992 thể h iện q u a n điểm , chủ trương, đường lối và nhữ ng k ết quả đạt được của cơ q u an có vai trò đặc b iệt q uan trọng này trong việc h o ạch địn h các
chính sách p h á t triển đ ấ t nước Đ ây là giai đ o ạn m à d ân tộc ta thống n hất đất
nước v ề m ặ t n h à nước (năm 1976) sau hơn hai m ươi n ăm bị chia cắt Q uốc hội
nước ta trong g iai đ o ạ n này có n h iều sự th ay đổi tích cực, thể hiện đường lối cách m ạn g đ ú n g đ ắn c ủ a dân tộc ta q u a từng thời kỳ G iai đ oạn 1976-1992
đánh d ấu th êm n h iều sự kiện lịch sử q uan trọ n g , chủ trương "Đ ổ i m ớ i” của
Trang 6Đ ảng ta khởi xướng và lãnh đạo năm 1986 b ắt đầu thu được m ộ t số k ết quả ban đầu N ăm 1992, Q u ố c hội nước ta lại thông q ua H iến pháp m ới, thể hiện tư tưởng đổi mới tích cực để phù hợp với tình h ìn h đ ất nước trong tình hình m ới.
K h ố i tài liệu q u ý báu n ày hiện đang được lun g iữ tại T rung tâm Lưu trữ
Q uốc g ia III H à N ội, tuy n h iên m ức độ được đưa ra cô n g bố, giới th iệu còn hạn chế, chưa xứng với tiềm năng Do đó việc đi sâu tìm hiểu, giới thiệu những tài liệu lưu trữ h iện đ a n g được N hà nước b ảo q u ản (tại T rung tâm Lưu trữ
Q uốc g ia III H à N ộ i) với tư cách là nguồn sử liệu ch ân thực và tin cậy phục vụ cho n g h iên cứu lịch sử là m ộ t n h iệm vụ cấp th iết h iện nay X u ấ t p h át từ những
lỷ do trên đây, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “TÀI LIÊU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOAN 1976-1992) - NGUỒN sử LIỆU GIÁ TRI CẦN ĐƯỢC CÔNG Bố, GIỚI THIÊU PHỤC VỤ NGHIÊN cứ u LICH sử”
N g h iên cứu đề tài này , chúng tôi n h ằm hư ớng tới m ộ t số m ụ c đích chủ yếu sau đây:
- N h ìn n h ận thực trạn g tài liệu thuộc p h ô n g lưu trữ Q u ố c h ộ i h iện đ a n g được bảo q u ản tại T rung tâm L ưu trữ Q uốc gia III H à N ội (về tổ chứ c k h o a học tài liệu, th àn h phần, nội d u n g , đ ặc điểm của tài liệu )
- Giới th iệu nhữ ng th ô n g tin có giá trị về tài liệu thuộc p h ô n g lưu trữ Q uốc hội (giai đ o ạn 1976 - 1992) n h ư m ộ t n g u ồ n sử liệu quý để các cơ q u an n h à nước
có th ẩm q u y ền và n h ữ n g người ng h iên cứ u (các n h à n g h iên cứu lịch sử, các nhà lưu trữ học, các n h à k h o a học, nhà qu ản lý, các cá n h â n có thể ng h iên cứu để cô n g bố, giới th iệ u ph ụ c vụ cho việc n g h iên cứu lịch sử (lịch sử Q u ố c hội, lịch sử lập h iến , lập pháp, lịch sử tổ chứ c bộ m áy nhà n ư ớ c ) giai đoạn 1976-1992
2 Đ ối tư ơng và n h iêm vu n g h iên cứu
K hi tiến h àn h n g h iê n cứu đề tài này, ch ú n g tôi x ác đ ịn h chủ yếu m ộ t số đối tư ợng n g h iên cứu c h ín h là vấn đề giới th iệ u tài liệu p h ô n g lưu trữ Q u ố c hội (giai đ o ạ n 1976 - 1 992) h iện đ an g được b ảo q u ản tại T ru n g lâm Lưu trữ Q uốc
Trang 7g ia III H à N ội V iệc x ác đ ịn h đối tượng và m ụ c đ ích n g h iên cứu trên đây đ ặt ra
cho người n g h iên cứu vấn đề phải giải q u y ế t n h ữ n g nhiệm vụ ch ín h sau: T h ứ
n h ấ t là tìm h iểu và giới thiệu , ph ân tích m ộ t số tài liệu th u ộ c p h ồ n g lưu trữ
Q u ố c hội (giai đ o ạn 1 9 7 6 -1 9 9 2 ) về thành phần, nội d u n g , đ ặ c đ iểm củ a các tài liệu đó k èm theo n h ữ n g p h ân tích , đ án h giá về giá trị củ a ch ú n g K ế t quả của việc tìm h iểu , phân tíc h này sẽ g iú p cho v iệc đ á n h giá m ộ t c ác h c h ín h xác giá trị của tài liệu th u ộ c p h ô n g lưu trữ Q uốc hội n h ư m ộ t n g u ồ n sử liệ u ch ân thực,
có độ tin cậy cao, cần được c ô n g b ố phục vụ ch o việc n g h iê n cứu lịch sử dân
tộc nói ch u n g và lịch sử Q u ố c h ộ i nói riên g T h ứ hai, trên cơ sở tìm h iểu thực
trạng k ể trên, đề x u ấ t m ộ t số g iải p h áp n h ằ m n ân g c ao c h ấ l lượng công tác
cô n g bố, giới thiệu tài liệ u p h ô n g lưu trữ Q u ố c h ộ i (giai đ o ạn 1 9 7 6 -1 9 9 2 ) phục
vụ cho việc n g h iên cứu lịch sử d ân tộc
3 P h a m vi và n g u ồ n tư liêu p h u c vu n g h iên cứu củ a đề tài
N g h iê n cứu về vấn đề cô n g b ố h ọ c nói ch u n g và n g h iên cứu về p h ông lưu trữ Q u ố c hội (giai đ o ạ n 1 9 7 6 -1 9 9 2 ) n ó i riên g là m ộ t vấn đề h ế t sức phức tạp và cò n k h á m ới m ẻ đối với b ản thân tác g iả lu ận văn V ới k h ả n ăn g và thời
g ian h ạ n c h ế nên c h ú n g tôi chỉ tập trung n g h iê n cứu và giớ i th iệu tài liệu lưii
trữ hà n h ch ín h h ìn h th àn h trong q ú a trình h o ạ t đ ộ n g củ a Q u ố c h ộ i giai đoạ n
1976 -1 9 9 2 hiện đ a n g được bảo q u ản tại T ru n g tâm L ư u trữ Q u ố c gia III H à
N ội C ác loại h ìn h tài liệu k h á c phô n g , th u ộ c g iai đ o ạ n lịch sử trước và sau giai
đ o ạn 1 9 7 6 -1 9 9 2 k h ô n g th u ộ c phạm vi n g h iê n cứu c ủ a đề tài T h êm vào đó
ch ú n g tôi sẽ tập tru n g n g h iê n cứu, tìm h iể u và giới th iệ u c ác tài liệu th u ộ c
p h ô n g lư u trữ Q u ố c hội (giai đ o ạ n 1 9 7 6 -1 9 9 2 ) dưới g ó c đ ộ n h ữ n g tài liệu lưu
trữ đó là m ộ t tron g c á c n g u ồ n sử liệu tin c ậ y cần được c ô n g b ố, giới th iệu phục
vụ các n h u cầu k h á c n h a u củ a đời sống xã h ộ i Đ ề tài sẽ k h ô n g tập trung giải
q u y ế t m ộ t cách sâu sắ c và triệ t đ ể toàn bộ vấn đ ề dưới g ó c đ ộ phê p h án sử liệu học
Trang 8N g u ồ n tư liệu th am k h ảo chính của đề tài là các sách giáo k h o a dùng
trong n g h iên cứu, g iản g dạy và h ọc tập m ôn h ọ c C ô n g bô' tài liệu vãn kiện,
Lịch s ử n h à nước và p h á p lu ậ t V iệt N a m , các văn bản quan trọng như các
văn bản q uy phạm p h áp lu ật và các văn bản k h á c của N h à nước q uy định về
cô n g tác công bố, giới th iệu tài liệu lưu trữ N g o ài ra, tro n g k hả n ăn g tiếp cận cho phép, chúng tôi sẽ sử d ụ n g các hồ sơ lưu trữ và m ộ t số tư liệu bổ trợ k h ác hiện đ a n g được bảo q u ả n tại T rung tâm L ưu trữ Q u ố c g ia III H à N ội như
n g u ồ n tư liệu tham k h ả o ch ín h p h ụ c vụ cho việc giải q u y ế t n h iệm vụ đ ặt ra của
đề tài C ác n g u ồ n tư liệ u th am k h ảo kh ác n h ư các đ ề tài n g h iên cứu các cấp có liên q u a n của các n h à lưu trữ học, các nhà q u ả n lý, các sách ch uyên lu ận của nước n g o à i và của V iê t N am viết về vấn đề cô n g b ố h ọ c T h êm vào đ ó đề tài sẽ
th am k h ả o , sử dụn g th êm m ộ t số k ết quả n g h iên cứu tro n g các k h o á luận tốt
n g h iệp c ủ a sinh viên, lu ận văn tốt n g h iệp củ a h ọ c viên sau đại h ọ c n g àn h Lưu trữ h ọc và Tư liệu h ọ c, L ịch sử V iệt N am
4 L ich sử n g h iên cứu vấn đề
M ộ t số k ế t q u ả tìm h iểu ban đầu cho thấy, h ầ u n h ư chưa có cô n g trình
k h o a h ọ c nào n g h iên cứu m ộ t cách có hệ th ố n g về cô n g bố, giới th iệu tài liệu thuộc p h ô n g lưu trữ Q u ố c hội (giai đo ạn 1 9 7 6 -1 9 9 2 ) M ộ t số bài viết được
cô n g b ố trên tạp ch í L ư u trữ V iệt N am và k h o á lu ận tố t n g h iệp cử nhân của
sinh v iên đã bước đ ầu tìm h iểu về vấn đề này C h ẳn g h ạ n n h ư bài v iết “T à i liệu
lưii trữ tạ i T ru n g tâ m Litu trữ Q u ố c gia III n g uồ n s ử liệu đ ể nghiên cím lịch sử
V iệ t N a m hiện đ ạ i” củ a P h ạm B ích H ải, T ạp c h í L ư u trữ V iệ t N am số 4 2000
Bài v iết đ ã giới th iệ u m ộ t cách khái q u át to àn bộ tài liệ u lưu trữ h iện đang được b ả o q u ả n tại T ru n g tâm L ưu Irữ Q u ố c g ia III H à N ội, trong đ ó có m ột
ph ần n h ỏ giới th iệu về p h ô n g lưu trữ Q uốc hội c ù n g n h ữ n g đ á n h giá bước đầu
về giá trị sử liệu củ a c h ú n g đối với việc n g h iên cứu lịch sử V iệ t N am h iện đại
Bài v iết “T à i liệu hai tr ữ ở T ru n g tâm Lỉùi tr ữ Q u ố c g ia III với tiề m năng p h ụ c
vụ cá c n h u cầu của x ã h ộ i” củ a tác giả H à Q u ả n g trên T ạp c h í Lưu trữ V iệt
Trang 9N am số 3 2001, tro n g đó tác g iả cũng đã sơ lược giới thiệu th àn h phần nội dung tài liệu của p h ô n g lưu trữ Q uốc hội cũng như Liềm năng củ a chúng đối với việc phục vụ các n h u cầu của xã hội M ột số cồ n g trình kh o a h ọc của sinh viên thể h iện q u a các k h o á luận tố t n g h iệp cử nh ân n g à n h Lưu trữ h ọc và Q uản
trị văn p h ò n g n h ư củ a sinh viên Đ ào Thị Thu H iền với đề tài “77m hiểu v ề tổ
chức s ử dụng tải liệu lim trữ p h ô n g Q uốc hội tại T ru n g tâm Liũi trữ Q uốc gia
I i r \ sinh viên V ũ T hị N g ọ c T h u ý với đề tài “C hỉn h lý tà i liệu lưii trữ P hông
Q uốc h ộ i giai đ o ạ n 1 9 4 6 - 1992 ở Trung tâ m Lim trữ Q u ố c gia III (ỉhuộc đ ề
án nâng c ấ p )” M ộ t vài bài báo công bố giới thiệu tài liệu của p h ô n g Q uốc hội
n hư “T u yên ngôn của Q u ố c h ộ i V iệ t N a m ” trên l ạ p ch í Lưu trữ V iệt N am số
1.2001 n h ân d ịp kỷ n iệ m 55 n ăm n g ày Q uốc hội V iệt N am T uy n h iên ở cả hai khoá luận tố t n g h iệ p n ày , sinh viên cũng m ới chỉ bước đ ầu đưa ra những n h ận xét về giá trị sử liệu c ủ a p h ô n g lưu trữ Q uốc hội m à chưa đi sâu vào việc giới thiệu, ph ân tích về g iá trị của nhữ ng tài liệu ấy để có thể cô n g bố, giới thiệu phục vụ cho các m ụ c đ ích k h á c nhau N h ìn ch u n g , tro n g số các bài viết, công trình k h o a h ọ c nói trên , các tác giả vẫn chỉ gián tiếp đề cập đ ến vấn đề cần phải cô n g bố, giới th iệ u n h ữ n g tài liệu đó phục vụ ch o các n hu cầu của xã hội
m à chưa có sự n g h iê n cứu có hệ thống về vấn đề cô n g bố, giới th iệu những tài liệu này
5 P hư ơng p h áp n g h iê n cứu
P hư ơng p h á p n g h iê n cứu là vấn đề m à ch ú n g tôi luôn coi trọ n g trong khithực h iện đề tài này , cụ thể, lu ận văn sử d ụ n g các phư ơ ng ph áp k in h điển của
lý luận n h ậ n thứ c M á c - x ít là phương p h áp luận củ a chủ n g h ĩa d u y vật biệnchứng và d u y v ật lịch sử n h ư k im chỉ n am cho toàn bộ lý luận n h ậ n thức khoa
h ọ c tro n g q ú a trìn h h o à n th àn h luận văn Từ đ ó ch ú n g tôi vận d ụ n g các phương
p h áp cụ thể là p h ư ơ n g p h á p đ iều tra, k h ảo sát thực tế, phư ơ ng p h áp m ô tả,phương p h áp p h ân tíc h , tổ n g hợp, phương p h áp hệ th ố n g , p hư ơ ng p h áp sử liệu
h ọ c Bổ trợ ch o các p h ư ơ n g ph áp cụ thể kể trên, tác g iả có thể sử dụng thêm
Trang 10phương p h áp phỏng vấn đối với m ộ t số n hà lưu trữ học, sử học, n hà quản lý, cán bộ lưu trữ và người d ân để thu thập thêm các thông tin cần th iết phục vụ cho việc n g h iên cứu đề tài.
6 Đ ó n g góp củ a luân văn
T rên cơ sở k ết q u ả n g h iê n cứu của đề tài, ch ú n g tôi hy vọng lu ận văn sẽ
là m ộ t cô n g trình:
- G iới th iệu m ộ t cách có hệ thống thành phần, nội dung và đặc đ iểm của tài
liệu th u ộ c p h ô n g lưu trữ Q u ố c hội (giai đ o ạn 1 976-1992) k èm theo những phân tích đ án h giá ban đ ầu n h ằm giúp cho các n hà n g h iên cứu, các cơ quan, tổ chức, cá n h â n có th ô n c tin đ ể có thể phục vụ cho các m ụ c đích sử d ụ n g k h ác
n hau, đ ặ b iệt ch o các n h à n g h iên cứu lịch sử
- Là sản p h ẩm k h o a h ọ c g ó p phần p h ụ c vụ cho việc n g h iên cứu và h ọ c tập của cán bộ và sin h viên n g à n h L ưu trữ học và Q uản trị văn p h ò n g về công b ố học
T ro n g chư ơ ng n à y , c h ú n g tôi trình bày đ ô i n ét về chức n ăn g , n h iệm vụ
và q u y ề n h ạn củ a Q u ố c h ội với vai trò là cơ quan d u y n h ấ t ở V iệt N am đại diện ch o ý c h í và n g u y ệ n vọ n g của n h ân dân T iếp đó, c h ú n g tôi đưa ra những
k ết quả k h ảo sát, đ á n h g iá b an đ ầu về thành phần, nội d u n g và đặc đ iể m của tài liệu p h ô n g lưu trữ Q u ố c h ộ i (giai đo ạn 1976 - 1992) T rên cơ sở đó, tài liệu của p h ô n g lưu trữ Q u ố c h ộ i (giai đ o ạn 1976 - 1992) cũ n g được đ án h g iá về giá trị sử liệu p h ụ c vụ ch o v iệc n g h iê n cứu lịch sử trên m ộ t số vấn đề như: ng h iên cứu lịch sử lập h iến , lập p h áp , tổ chức và h o ạ t độ n g củ a Q u ố c hội và nghiên cứu về lịch sử của c á c n g à n h và các đ ịa phương M ộ t số vấn đề về n g u y ên tắc, phư ơ ng p h á p và h ìn h thứ c c ô n g bố, giới th iệ u tài liệu c ũ n g được trìn h bày
Trang 11N hữ ng k ết q u ả n g h iên cứu này sẽ g iú p chúng tôi có cơ sở để đề xuất những giải pháp chủ yếu ở chư ơ ng 3 của luận vãn.
C hương 2: T à i liệu p h ô n g lư u trữ Quốc h ội (giai đoạn 1976 -1 9 9 2 ) - N guồn sử
liệu q u a n trọ n g p h ụ c vụ n g h iê n cứ u lịch sử
L à chương chính của luận văn, chúng tôi tập trung phân tích những giá trị
về m ặt sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội Đặc biệt, chúng tôi đi sâu vào giới thiệu những kết quả khảo sát và kèm theo m ột số phân tích giá trị tiềm năng của phông lưu trữ Q uốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) trong việc phục vụ nghiên cứu lịch sử trên các k h ía cạnh như nghiên cứu lịch sử lập hiến và lập pháp Việt
N am (giai đoạn 1976 - 1992) và nghiên cứu về lịch sử tổ chức và hoạt đóng của Quốc hội, nghiên cứu lịch sử của các ngành và các địa phương Đóng góp chính của chương này là giới thiệu được cho những người nghiên cứu lịch sử những thông tin giá trị về m ột bộ phận tài liệu của phông lưu trữ Q uốc hội Với giá trị to lớn này, nếu được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu để công bố, giới thiệu kịp thời sẽ phát huy được giá trị đặc biệt của tài liệu phông lưu trữ này
C hương 3: M ộ t sô g iả i p h á p nhằm đẩy m ạnh công bố, giới thiệu tà i liệu p h ô n g
lư u trữ Q uốc h ộ i g ia i đ o ạ n 1 9 7 6 -1 9 9 2
Ở chương này, chúng tôi đề xuất m ột số giải pháp, trong đó có những giải pháp trước m ắt và lâu dài để có thể đẩy mạnh hơn nữa hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu về thông tin tài liệu lưu trữ cho các nhà nghiên cứu lịch sử và cho hoại động của chính Q uốc hội K ết quả của hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu sẽ có nhiều tác động tích cực tới hoạt động nghiên cứu lịch sử của những người quan tâm đến khối tài liệu này cũng như để nâng cao hơn chất lượng hoạt động của
Q uốc hội để Q uốc hội xứng đáng với vị trí là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước
Trang 12C uối cùng, cho p h ép tác giả được gửi lời biết ơn và cảm tạ sâu sắc tới những người đã g iú p đ ỡ để chúng tôi có thể ho àn thành luận văn này, đặc biệt
là PGS N g u y ễn V ăn H àm C húng tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ q u ý báu, tận tình của lãnh đạo và các cán bộ h iện đ an g công tác tại
P hòng Tổ chức sử d ụ n g th u ộ c T rung tâm Lưu trữ Q u ố c g ia III H à N ội, Thư viện Q uốc hội đã tạo n h iều điều k iện thuận lợi để ch ú n g tôi có thể tiếp cận được n g u ồ n tư liệu, c á c th ầy cô g iáo trong K hoa Lưu trữ h ọc và Q u ản trị văn phòng, bạn bè đồng n g h iệp và g ia đình đã động viên, đ ó n g g óp n h iều ý kiến bổ ích để ch ú n g tôi có th ể h o à n th àn h luận văn này
H à N ộ i, tháng 8 năm 2004
Trang 13CHƯƠNG 1 QUỐC HỘI VÃ GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG Lưu TRỮ Q u ố c HỘI
n ăm 1946, 1959, 1980, 1992) đã được ban h àn h kể từ khi n h à nước V iệt N am
đ ộ c lập (năm 1945) đ ề u xác lập vị trí này của Q u ố c hội K ể từ khi xuâ't hiện lần đ ầu tiên trong H iế n pháp 1946 với tên gọi là N ghị viện n h â n d ân cho đến
H iế n p h áp 1992 (sửa đ ổ i n ăm 2 0 0 1 ), Q uốc hội là c ơ q u a n q u y ền lực d u y n h ấ t
ở V ie t N a m có q u yền lậ p hiến và lập p h á p D ù có sự thay đổi về tên gọi và m ột
số chứ c n ăn g , n h iệm vụ và q u y ền h ạn thể hiện q ua các bản H iế n pháp, song tập tru n g lại, th eo H iế n p h áp 1992 được N ghị q u y ế t số 5 1 /2 0 0 1 /Q H 1 0 về việc sửa đổi, bổ sung m ộ t số đ iều củ a H iến pháp 1992 th ô n g q u a và th eo L uật Tổ chứ c Q u ố c h ộ i được Q u ố c hội th ô n g qua n ăm 2001 thì Q u ố c hội có m ộ t số chứ c năng, n h iệm vụ và q u y ền h ạn sau đây
1 ■ 1 ■ 1 ■ 1 ■ C hức năng c ủ a Q u ố c hối
- Q u ố c h ộ i là cơ q u an đại biểu cao n h ấ t củ a n h ân d ân , cơ q u an q u yền lực n h à nước cao n h ấ t củ a nước C ộng hoà xã hội ch ủ n g h ĩa V iệt N am Q uốc hội là cơ q u an d u y n h ấ t có q u y ền lập hiến và lập pháp
- Q u ố c h ộ i q u y ế t đ ịn h n h ữ n g ch ín h sách cơ b ản về đ ố i n ộ i và đối ngoại,
n h iệm vụ k in h tế - x ã h ộ i, q u ố c phò n g , an n in h củ a đ ất nư ớc, nhữ ng ng u y ên tắc ch ủ yếu về tổ ch ứ c và h o ạ t đ ộ n g của bộ m áy n h à nước, về q u an hệ xã hội
và h o ạ t đ ộ n g củ a cô n g d ân
- Q u ố c h ộ i thực h iện q u y ề n g iám sát tối c a o đối với to àn bộ h o ạt động
củ a N h à nước
Trang 141.1.1.2 N hiêm vu và quyển han của Quốc hồi
Quốc hội có m ột số nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo H iến pháp, luật và Nghị quyết của Q uốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Q uốc hội, C hính phủ, Toà án nhân dân tối cao, V iện K iểm sát nhân dân tối cao
- Q uyết định k ế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Q uyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách N hà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách N hà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế
- Q uyết định chính sách dân tộc của N hà nước
- Quy định tổ chức hoạt động của Q uốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, V iện K iểm sát nhân dân và chính quyền địa phương
- Bầu, m iễn nhiệm , bãi nhiệm các chức danh chủ chốt của Nhà nước
- Q uyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và tương đương, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh và tương đ ư ơ n g
- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, V iện K iểm sát nhân dân tối cao trái với H iến pháp, luật và Nghị quyết của Q uốc hội
- Quy định và q u y ết định m ột số vấn đề khác như hàm cấp trong lực lượng vũ trang, ngoại g ia o , đại xá, chiến tranh và hoà bình, những chính sách cơ bản về đối ngoại, trưng cầu dân ý [20; 9]
N hư vậy, với vị trí đã được xác lập trong H iến pháp, có thể nói vị trí của
Q uốc hội là đặc biệt quan trọng Đ iều này m ột lần nữa được thể hiện trong
L u ậ t T ổ chức Q uốc hội, cụ thể là Đ iều 1 của L uật này được Q uốc hội thông
qua ngày 25.12.2001 và được Lệnh của Chủ tịch nước công bố ngày
Trang 1507.01.2002 đã khẳng định m ột cách vắn tắt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của Q uốc hội như “Q uốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt
N am Q uốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản vê đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh t ế
- x ã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ m áy nhà nước, về quan hệ x ã hội và hoạt động của công dân Q uốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nitórc” [20; 7] Chính vì vị trí và tầm quan trọng hết sức đặc biệt
như vậy, toàn bộ tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của Q uốc hội đã được lập thành phông lưu trữ H iện nay theo quy định hiện hành, toàn bộ tài liệu của phông lưu trữ Q uốc hội có thời gian từ 1946 đến 1992 hiện đang được bảo quản thống nhất tại Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội
1.1.2 T h à n h p h ầ n , n ộ i d u n g , đặc đ iểm tài liệu củ a p h ô n g lư u tr ữ Q uốc hội
(giai đoạn 1976-1992).
T heo Q uyết định số 54/Q Đ - TCCB ngày 26.6.1995 của Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là C ục V ăn thư và Lưu trữ N hà nước) thì T rung tâm Lưu trữ
Quốc gia III H à Nội với chức năng chủ yếu là “thu thập, b ổ sung, bảo quản an
toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu ỉưii trữ có ý nghĩa toàn quốc từ
C ách m ạng tháng T á m năm 1945 đến nay" Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III
H à Nội là m ột trung tâm lưu trữ “m ở” , tức là hàng năm trung tâm đều tổ chức tiếp nhận tài liệu đã đến hạn nộp lưu theo quy định N guồn tài liệu nộp lưu là các cơ quan quản lý nhà nước ỏ trung ương đóng trên đ ịa bàn lãnh thổ từ
Q uảng Bình trở ra phía Bắc Tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à Nội có giá trị đặc biệt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng
trên phạm vi cả nước T rong số gần 6000 mét giá tài liệu hiện đang được bảo
Trang 16quản tại T rung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à Nội với nhiều loại hình khác nhau thì m ột trong những khối tài liệu quan trọng nhất là phông lưu trữ Q uốc hội.
N hư H iến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt Nam ghi nhận, Q uốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước V iệt Nam Toàn bộ phông lưu trữ Q uốc hội (tính từ Q uốc hội khoá I nước V iệt N am Dân chủ Cộng hoà năm 1946), từ những hồ sơ tài liệu gốc về cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ngày 06.01.1946 đến các hồ sơ về các kỳ họp Q uốc hội sau này cùng nhiều tài liệu khác đều có giá trị đặc biệt trong việc công bố, giới thiệu phục vụ các nhu cầu khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Do đó, phông lưu trữ Q uốc hội có vị trí đặc biệt trong thành phần Phông lưu trữ Q uốc gia V iệt N am , hay cụ thể hơn là có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ các khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à N ội Tài liệu lưu trữ thuộc phông Q uốc hội (giai đoạn 1976-1992) có m ột số đặc điểm sau
Toàn bộ tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội từ 1946 đến 1992 đã được giao nộp và bổ sung vào T rung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội theo đúng quy định hiện hành của N hà nước Tính đến nay, toàn bộ tài liệu phông Quốc hội
đã được giao nộp vào T rung tâm Lun trữ Q uốc gia III H à N ội sau 6 đợt tiến hành bổ sung Cụ thể là:
- Đ ợt 1: N gày 01.11.1975 gồm 27 cặp bao gồm tài liệu của các khoá
Q uốc hội I, II, III có thời gian từ năm 1946 - 1965
- Đ ợt 2: N gày 10.8.1978 gồm 104 cặp bao gồm tài liệu của các khoá
Q uốc hội I, II, III có thời gian từ năm 1946 - 1965
- Đ ợt 3: N gày 26.3.1981 gồm 108 cặp bao gồm tài liệu của các khoá
Q uốc hội III, IV, V có thời gian từ 1956 - 1974
- Đ ợt 4: N gày 2 5 8.1983 gồm 53 cặp bao gồm 50 cặp về Dự thảo H iến
pháp nước C ộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt Nam năm 1980 và 03 tập công văn lưu năm 1978
Trang 17- Đ ợt 5: Tháng 7.1991 gồm 212 cặp bao gồm tài liệu từ khoá I đến khoá
VI và 41 cặp tài liệu trong tình trạng bó gói
- Đợt 6: Ngày 06.8.1997 gồm 289 hộp tài liệu của Quốc hội khoá VI đến K hoá VIII có thời gian từ 1976 - 1992
H ầu hết tài liệu thu được về Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội ban
đầu đều trong tình trạng bó gói, chưa được chỉnh lý hoặc mới chỉ được sắp xếp
ở mức sơ bộ Tính đến thời điểm hiện nay, toàn bộ tài liệu của phông Quốc hội
đã được chỉnh lý làm 3 đợt vào các năm 1980, 1982, 1991 với tổng số hồ sơ
được lập là 6842 hồ sơ, hầu hết các hồ sơ đều có giá trị bảo quản vĩnh viễn,
m ột số ít hồ sơ có thời hạn bảo quản lâu dài và tạm thời K ết quả khảo sát ban đầu cho thấy toàn bộ khối lượng tài liệu này phản ánh quá trình hoạt động của
Q uốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am từ Quốc hội khoá I (1946) đến Q uốc hội khoá V III (từ 6.1987 đến 1992), bao gồm nhiều loại hình tài liệu khác nhau như tài liệu hành chính (chiếm đa số), phim ảnh ghi â m Trong đó nhìn chung thành phần và nội dung của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) đã phản ánh khá đầy đủ hoạt động của Quốc hội trên tất cả các m ặt công tác Cụ thể là toàn bộ tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giai đoạn (1976 - 1992) được chia thành các khoá VI, VII, VIII Trong mỗi khoá đó, căn cứ vào những nét tương đồng của nội dung tài liệu, có thể tập trung thành m ột số n h ó m như:
- Tài liệu bầu c ử đại biểu Q uốc hội: Tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc
hội chiếm số lượng khá lớn trong giai đoạn 1976 - 1992, phản ánh đầy đủ quá trình bầu cử Q uốc hội các khoá VI, VII, VIII Các tài liệu đó phản ánh quá trình bầu cử trên phạm vi toàn quốc từ giai đoạn chuẩn bị đến khi kết thúc bao gồm: các văn bản chỉ đạo của Ban chấp hành T rung ương Đảng, Ưỷ ban Thường vụ Q uốc hội, của Ban chỉ đạo hội đồng bầu cử Do khoá VI là khoá
Q uốc hội đầu tiên của nước V iệt N am thống nhất nên trong khối tài liệu bầu
cử đại biểu Q uốc hội khoá VI còn xuất hiện tài liệu về chỉ đạo bầu cử ở m iền
Trang 18Bắc của Phủ Thủ tướng, Uỷ ban Thường vụ Q uốc hội, Hội đồng bầu cử m iền Bắc, tài liệu về chỉ đ ạo bầu cử ở m iền Nam của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phủ Chủ tịch, Ban chỉ đạo bầu cử ở m iền Nam, Hội đồng bầu cử m iền Nam , Ban A n ninh m iền N a m Ngoài ra còn có m ột số tài liệu khác như báo cáo, biên bản về kết quả bầu cử của các tỉnh trong cả nước, biên bản bầu bổ sung (nếu có).
- Tài liệu, hồ s ơ v ề các kỳ họp của Quốc hội: Q uốc hội của nước ta thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của m ình thông qua chế độ làm việc là các cuộc họp, m ột năm thường họp hai lần, trừ khi được triệu tập đột xuất, có m ột số năm do nhiều lý do khác nhau nên chỉ họp m ột lần như các năm 1976, 1 9 7 8 Có thể nói tài liệu phản ánh các kỳ họp của Quốc hội chiếm số lượng đồ sộ và có giá trị nhất trong toàn bộ tài liệu của Phông Q uốc hội, đặc biệt là giai đoạn 1976 - 1992, giai đoạn thống nhất về m ặt nhà nước
và pháp luật Do Q uốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các vấn đề m ang tính chất quốc k ế dân sinh, những chiến lược về
m ặt đối nội và đối n g o ạ i nên các kỳ họp của Q uốc hội đã được phản ánh rất đầy đủ thông qua n h iều tài liệu như chương trình kỳ họp, biên bản tóm tắt các
kỳ họp, danh sách Đ oàn chủ tịch và danh sách đại biểu dự, đại biểu vắng mặt, tham luận của các đại biểu, công văn, tài liệu của các Bộ, ngành trả lời chất vấn của đại biểu, báo cáo công tác của Uỷ ban Thường vụ Q uốc hội, Hội đồng dân tộc và các U ỷ ban chuyên m ôn của Q uốc hội, các tài liệu phản ánh kết quả tiếp xúc cử tri của đ o àn đại biểu Quốc hội các tỉn h
- T ài liệu v ề h o ạ t động của các đại biểu Q uốc hội: Đ ại biểu Quốc hội
do nhân dân cả nước bầu ra, đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân lao động M ột trong những hoạt động quan trọng nhất của đại biểu Quốc hội là tham gia vào các kỳ họp của Quốc hội, thảo luận trong các tổ trong các
kỳ họp của Q uốc hội theo các nhiệm vụ của người đại biểu Q uốc hội, chuẩn bị các tham luận trình bày tại các kỳ họp Nhóm tài liệu về h o ạt động của các đại
Trang 19biểu Q uốc hội còn có tài liệu phản ánh về các kiến nghị của các đại biểu Quốc hội, tài liệu ghi lại kết quả làm việc, tiếp xúc cử tri của các đoàn đại biểu Quốc hội với các cơ quan, các địa phương, tài liệu phản ánh kết quả làm việc trong các chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Quốc hội nước ta tới các nước
- Tài liệu v ề hoạt động của ư ỷ ban Thường vụ Quốc hội (H ội đồng N hà
nước) và Văn phòng Q uốc hội: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo Luật Tổ chức
Quốc hội, là cơ quan làm việc thường xuyên nhất của Q uốc hội, được Quốc hội giao cho m ột số quyền hạn nhất định giữa hai kỳ họp của Quốc hội, được quyền ban hành m ột số văn bản quy phạm pháp luật Văn phòng Q uốc hội như chúng ta biết là cơ quan giúp việc thường xuyên cho tất cả các hoạt động của Quốc hội Do vậy, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của hai cơ quan này đề cập đến rất nhiều vấn đề quan trọng và chiếm số lượng khá lớn trong toàn bộ tài liệu trong phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) Tài liệu của U ỷ ban Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Q uốc hội cho thấy rất nhiều nội dung có giá trị như k ế hoạch, báo cáo công tác của Uỷ ban Thường
vụ Q uốc hội và V ăn phòng Q uốc hội, hồ sơ về các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Q uốc hội (Hội đồng N hà nước), tài liệu đề cập đến vấn đề ân giảm
án, đặc xá cho phạm nhân
- T ài liệu v ề hoạt động của H ội đồng dân tộc và các Ưỷ ban thường trực
của Q uốc hội (chủ yếu của U ỷ ban pháp luật và Uỷ ban đối ngoại): Hội đồng
dân tộc và các U ỷ ban chuyên m ôn là các cơ quan giúp việc của Q uốc hội theo lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực được giao Kết quả khảo sát, nghiên cứu cho thấy
là tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của các cơ quan này phản ánh khá rõ n ét chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chúng Tài liệu hình thành bao gồm các văn bản chỉ đạo, chương trình và báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng và các U ỷ ban K hi tiếp cận khối tài liệu này, chúng tôi nhận thấy tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan này trong giai đoạn
1 9 7 6 _ 1992 chủ yếu là tài liệu của Hội đồng dân tộc, Ưỷ ban đối ngoại và Uỷ
Trang 20ban pháp luật Đ iều này có thể dễ lý giải là sau khi giải phóng m iền Nam
thống nhất đất nước năm 1975, nước V iệt Nam thống nhất đã được nhiều quốc
gia trên th ế giới công nhân và chính thức đặt quan hệ ngoại giao, nước ta cũng
chủ trương m ở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và các
quốc gia yêu chuộng hoà bình trên thế giới để hợp tác trên tất cả các lĩnh vực
nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh vấn
đề thống nhất về m ặt nhà nước thì vấn đề thống nhất về m ặt pháp luật cũng
được đặt ra n hư m ột yêu cầu hết sức cần thiết Do vậy, thời kỳ này Uỷ ban
pháp luật của Quốc hội đã cho thấy quá trình và những thành tựu của công
cuộc lập hiến và lập pháp của nước ta trong suốt m ột quá trình 16 năm từ Quốc
hội khoá VI đến Q uốc hội khoá VIII
- Tài liệu của các Bộ, ngành, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành p h ố gửi tới báo cáo công tá c: Q uốc hội là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất, có quan hệ công tác với tất cả các cơ quan nhà nước ở trung
ương và địa phương Do vậy, trong phông lưu trữ Q uốc hội (giai đoạn 1976 -
1992), chúng tôi nhận thấy còn có nhiều tài liệu của các cơ quan Bộ ngành ở
trung ương, H ội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh trao đổi qua lại,
chủ yếu là để báo cáo công tác, xin ý kiến chỉ đạo, trả lời ý kiến chất vấn của
các đại biểu Q uốc hội trong và sau các kỳ họp của Q uốc h ộ i Những tài liệu
này cho chúng ta thấy m ối quan hệ nhiều chiều giữa Q uốc hội với các cơ quan
trung ương và địa phương trong quá trình công tác để thực hiện chức năng và
các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Tuy không phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài, song bên cạnh
khối tài liệu hành chính có dịp tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy qua một số tài liệu tham khảo còn có m ộ t số lượng không nhỏ tài liệu phim ảnh (bao gồm khoảng gần 2000 tấm ảnh ghi lại các hoạt động quan trọng của Q uốc hội và các cơ quan của Q uốc h ộ i ) , tài liệu ghi âm ghi lại các bài phát biểu, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đ ảng và Nhà nước, Q uốc hội trong các kỳ họp của
Trang 21Q uốc hội N hóm tài liệu này cùng với tài liệu hành chính, nếu được cồng bố, giới thiệu có hiệu quả sẽ là nguồn sử liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu khoa học và nghiên cứu lịch sử.
Về đặc điểm của tài liệu: Tài liệu phông lưu trữ Q uốc hội sau khi được giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à Nội đều được tổ chức khoa học và có ch ế độ bảo q u ản an toàn Tất cả tài liệu hành chính của Phông Quốc
hội được hệ thống hoá theo phương án Thời gian (K hoá) - C ơ cấu tổ chức, m ột
phương án áp dụng rất hợp lý khi hệ thống hóa tài liệu của phông lưu trữ này
Có thể nói hầu hết tài liệu của phông Quốc hội nói chung (giai đoạn 1976 - 1992) nói riêng đều là bản chính, bản gốc, có giá trị pháp lý nên có độ tin cậy cao
Nội dung của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội có m ột vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ thành phần Phông Lưu trữ Q uốc gia V iệt Nam X ét dưới góc độ là nguồn sử liệu chữ viết thì tài liệu lưu trữ của phông Q uốc hội là những chứng cứ lịch sử phản ánh sự ra đời, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Q uốc hội như m ột cơ quan đại diện cho nhân dân, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp cũng như quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ
m áy nhà nước và về các quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Do tầm quan trọng đặc biệt của tài liệu phông lưu trữ Q uốc hội nên trong những năm gần đây, T rung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội đã tiến hành chỉnh lý hoàn
chỉnh khối tài liệu lưu trữ của phông này trong chương trình thực hiện “Đ ề án
chống nguy cơ huỷ hoại, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ của Q uốc gia ” đã được Bộ trưởng, Trưởng Ban T ổ chức Cán bộ Chính phủ
(nay là Bộ N ội vụ) phê d u y ệt năm 1998 Toàn bộ tài liệu đã được lập hồ sơ đầy
đủ và có công cụ tra cứu khoa học, thuận tiện cho công tác tra cứu, sử dụng tài
liệu lưu trữ V ề tình trạng vật lý của tài liệu, có thể nhận thấy tài liệu nếu như
I ! p ( í N' *' ! ' * I
L l I W i
Trang 22so với toàn bộ tài liệu của phông Quốc hội nói chung từ những năm 1946 là bị
ố vàng, m ờ chữ, ròn và rách thì tài liệu của phông Quốc hội (giai đoạn 1976 -
1992) có tình trạng vật lý khá hơn, đa số tài liệu được làm trên giấy có chất lượng tốt, lại được sản sinh trong những năm gần đây nên có điều kiện được bảo quản tốt hơn Song do nhiều yếu tố trong đó có yếu tố môi trường thiên nhiên của nước ta rất khắc nghiệt nên nếu như không có những phương pháp bảo quản và phòng chống huỷ hoại tốt thì tài liệu vẫn luôn nằm trong nguy cơ tiềm ẩn bị huỷ hoại cao
Về thể thức và m ức độ hoàn chỉnh của tài liệu trong phông: So sánh với
thể thức của tài liệu trong phồng ở các giai đoạn trước đó, có thể thấy rằng, thể
thức văn bản đã đầy đủ hơn về các yếu tố thông tin, chất lượng giấy tương đối tốt Các hồ sơ được lập và biên m ục khá hoàn chỉnh, việc sắp xếp tài liệu bên trong hồ sơ, đánh số tờ, viết m ục lục văn kiện, chứng từ kết thúc, giới thiệu tiêu đề bên ngoài hồ s ơ được thực hiện khá tốt Q ua nhiều lần được khai thác sử dụng nhưng chưa thấy có sự m ất m át, thất lạc nhiều về tài liệu trong hồ
sơ Toàn bộ gần 7000 hồ sơ của phông lưu trữ Q uốc hội nói chung đã được lập thành danh m ục với 3 quyển m ục lục hồ sơ dày hàng ngàn trang Điều này là
m ột thuận lợi cơ bản cho cồng tác tra tìm và sử dụng tài liệu
1.1.3 G iá trị của tài liệu p h ô n g lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 -1 9 9 2 )
Về tính xác thực và độ tin cậy đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với các nguồn tài liệu khác, chúng tồi hoàn toàn nhất trí với tác giả L âm Bá N am - Vũ
Thị Phụng trong bài viết “Sử dụng tài liệu lưu trữ trong việc nghiên cứii và
biên soạn lịch sử địa phư ơng” trên tạp chí Lưu trữ V iệt Nam số 3.1991 khi
khẳng định về tính chân thật, không thể thay th ế của tài liệu lưu trữ trong việc
phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương Đ ó là “cớ th ể coi tài liệu lưu trữ là
những nhân chứng lịch sử, bởi l ẽ nó được sản sinh ra gần như đồng thời với các sự kiện, hiện tượng lịch sử và do nhu cầu khách quan của mọi hoạt động trong quá khứ giúp chúng ta tiếp cận với sự thật lịch s ữ ' [ 28; 4].
Trang 23Quả đúng vậy, với những đặc điểm đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với những nguồn sử liệu, tư liệu khác, tài liệu lưu trữ hoàn toàn là những chứng cứ quan trọng nhất giúp cho việc nghiên cứu lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ xem xét giá trị của tài liệu phông lưu trữ Q uốc hội phục vụ cho nghiên cứu lịch sử trên cơ sở phân tích thành phần, nội dung của tài liệu theo lịch sử từng khoá Q uốc hội, từ khóa VI (6.1976 đến 6.1981), khoá VII (6.1981 đến 6.1987), khoá VIII (6.1987 đến 1992) Từ kết quả phân tích đó, chúng tôi sẽ có sự so sánh, khái quát giá trị của tài liệu lưu trữ phông Q uốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử
Q ua m ột thời gian nghiên cứu tư liệu và khảo sát tài liệu trực tiếp trên
m ột số tài liệu lun trữ của phông Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992), chúng tôi
nhận thấy giá trị tài liệu của phông lưu trữ này có thể phục vụ cho nhiều khía
cạnh của nghiên cứu lịch sử Chẳng hạn như có thể khái quát về giá trị sử liệu của những tài liệu này theo m ột số vấn đề sau:
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử lập hiến V iệt N am giai đoạn 1976 - 1992
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử lập pháp V iệt N am (giai đoạn 1976 - 1992)
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử
tổ chức và hoạt động của Q uốc hội Việt Nam (giai đoạn 1976 - 1992)
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu kiện toàn bộ m áy N hà nước từ cấp trung ương đến địa phương
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu nhiều vấn đề về chính trị, kịnh tế, xã h ộ i quan trọng khác trong m ột giai đoạn lịch
sử nhất định (giai đoạn 1976 - 1992) như về hoạt động giám sát của Quốc hội,
Trang 24vấn đề quyết định những vấn đề lớn của đất nước và về hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước
Tuy nhiên, với điều kiện và khả năng nghiên cứu cho phép, tác giả luận văn sẽ cố gắng giới thiệu những tài liệu của phông lưu trữ Q uốc hội (giai đoạn
1976 - 1992) phản ánh về bốn vấn đề đầu tiên (được đề cập kỹ hơn ở chương 2 của luận văn)
lưu trữ
Từ những nhận định, phân tích trên về thành phần, nội dung, đặc điểm
và giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) trong việc phục vụ nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cho rằng để có thể công bố để sử dụng có hiệu quả theo những m ục đích khác nhau thì phải tuân thủ theo một số nội dung có tính nguyên tắc sau
Theo tiếng H y L ạp cổ thì nguồn gốc của thuật ngữ “công b ố học” bắt
đầu từ chữ “A rc h a io s” có nghĩa là cổ xưa, xa xưa, lâu đời và “g ra p h ò ” nghĩa là
viết, ghi chép và m ô tả các bản thảo cổ Với nguồn gốc xuất phát kể trên thì các nội hàm của thuật n gữ “công bố học” là chưa thực sự rõ ràng, hầu như nó mới chỉ phản ánh được m ột phần của công bố học theo cách hiểu của chúng ta ngày nay
T heo các nhà công bố học Liên Xô trước đây và Liên bang N ga hiện nay
thì “ công b ố học ỉà m ộ t m ôn khoa học b ổ trợ cho khoa học lịch sử, nghiên CÍŨI
lý luận và phương p h á p công b ố các sử liệu chữ viết (văn lự)” [21; 10] Theo
cách hiểu này thì định nghĩa này có hai phần tách biệt, thể hiện hai sự khẳng
định M ột là “công bô' học là m ột môn khoa học b ổ trợ cho khoa học lịch sử”
K hoa học về công b ố chưa phải là m ột khoa học độc lập, nó nằm trong hệ thống các k h o a học bổ trợ cho khoa học lịch sử khác như lưu trữ học, bảo tàng
học H ai là “ nghiên cihi lý luận và phương pháp công bô' các sử liệu chữ
Trang 25viết (văn tự)” Cách khẳng định này cho thấy khoa học công bố đã được xác
định tương đối rõ ràng hơn về đối tượng nghiên cứu Đó là giới hạn nghiên cứu
lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết
Với các nhà lưu trữ học V iệt Nam, kết hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà lưu trữ học th ế giới, đặc biệt là các nhà lưu trữ học Xô V iết và các nước xã hội chủ nghĩa với thực tiễn V iệt Nam đã đưa ra cách định nghĩa hoàn
chỉnh hơn, phù hợp với thực tiễn V iệt Nam hơn Đó là “Công bô' học là môn
khoa học nghiên cứu các vấn đ ề về công bô' các tài liệu thành văn trong quá
k h íC Còn theo Từ điển Lưu trữ V iệt Nam thì: Công b ố tài liệu là dựa trên các nguyên tắc và phương p h á p của hoạt động công b ố học đ ể truyền đạt lại tài liệu dưới các hình thức khác nhau nhằm phục vụ cho các đối tượng độc giả
khác nhau [3] Chúng tôi cho rằng tuy cách định nghĩa này chưa hẳn đã phản
ánh đầy đủ các nội hàm cần thể hiện song nó đã khái quát hoá được các vấn
đề, góc cạnh cần nghiên cứu của công bố học
N hìn chung, về công bố học từ trước đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều tập trung vào các vấn đề như khoa học công bố không thể tách rời khoa học lịch sử, làm nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử công bố các tài liệu văn kiện và những vấn đề về lý luận và phương pháp công bố chúng trên
cơ sở khái quát thực- tiễn Theo Đại từ điển tiếng Việt do N guyễn Như ý chủ
biên, NX B Văn hoá - Thông tin, H 1998, tr.454 thì khái niệm “công bố” nghĩa
là “thông báo cho m ọi người đều biết” Theo cách hiểu phổ thông này thì
“công b ố ” được hiểu theo nghĩa rộng Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm “công b ố ” theo nghĩa rộng này và hoạt động công bố không
chỉ giới hạn là dưới hình thức là các xuất bản phẩm mà còn có thể ỏ một số
hình thức khác
Trang 26M ục đích của ho ạ t động công b ố
H oạt động nào của con người cũng cần có m ục đích, hoạt động nghiên cứu khoa học càng cần có m ục đích rõ ràng để xác định như là đích đạt được của nhà nghiên cứu T heo các kết quả nghiên cứu, tham khảo của chúng tôi qua các tài liệu khoa học thì có thể bước đầu xác định được các m ục đích chính của hoạt động công bố như sau:
Trước tiên, công bố những tài liệu văn kiện của đảng, nhà nước Việt
Nam để th ể hiện rõ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa M ác Lênin đã
được vận dụng linh h o ạt và sáng tạo vào điều kiện cụ thể của tình hình đất nước ta Từ những quan điểm , đường lối chính sách của Đ ảng và Nhà nước ta được trình bày qua tài liệu lưu trữ, chúng ta cũng nêu bật được đường lối chiến lược, các chủ trương của Đ ảng và Nhà nước ta qua từng thời kỳ lịch sử nhất định của đất nước
M ục đích thứ hai của hoạt động công b ố ở V iệt N am là tham gia tích
cực vào việc bảo vệ chủ quyền của đất nước N hư đã được khẳng định nhiều
lần, tài liệu lưu trữ là n guồn sử liệu phong phú và tin cậy nhất, phần lớn là các tài liệu gốc, hoặc bản sao có giá trị như bản gốc Do đó, các tài liệu này là những chứng cứ quan trọng, có sức thuyết phục cao trong việc làm sáng tỏ nhiều sự kiện lịch sử có liên quan đến quan hệ với các quốc gia láng giềng, đặc biệt là quan hệ về biên giới
M ục đích thứ ba của công tác công bố tài liệu là tạo cấu nối giữa các
kho, các trung tâm lưu trữ với các giới nghiên cứu, đặc biệt là với các nhà nghiên cứu lịch sử M ục đích cuối cùng của công tác lưu trữ là tài liệu lưu trữ phải được đem ra để phục vụ cho các mục đích của xã hội, của nhà nước, các yêu cầu chính đáng của công dân Đối với giới khoa học, dù là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và nhân văn thì tài liệu lưu trữ có thể được coi là nguồn tư liệu qúy giá nhất, tin cậy và phục vụ đắc lực nhất cho hoạt động nghiên cứu Công bố tài liệu là m ột hình thức sử dụng tài liệu lưu trữ đặc biệt,
Trang 27cho nên các tài liệu được đem ra công bố công khai không chỉ phục vụ tích cực
cho các nhà khoa học m à còn có thể đem lại nhiều lợi ích khác cho đông đảo nhân dân Thực tế cho thấy chỉ khi nào tài liệu lưu trữ được công bố sử dụng
có hiệu quả thì lúc đó m ới thực sự là “thước đo” cho giá trị của tài liệu Chúng
tôi đánh giá cao vai trò của cầu nối này vì có như vậy thì tài liệu lưu trữ và
công tác lưu trữ mới được giới thiệu m ột cách rộng rãi độc giả để người dân nhận thức được rõ hơn vài trò của tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ đối với đời sống xã hội Từ việc nhân thức này mọi người có thể dành sự quan tâm, đầu tư thích đáng hơn đến việc bảo quản an toàn và sử dụng m ột cách có hiệu quả nhất tài liệu lưu trữ của quốc gia
C ác nguyên tắc công b ố
M ỗi m ôn khoa học đều có những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu riêng Về các n g u y ên tắc của công b ố tài liệu lưu trữ đã được các nhà nghiên cứu ở trên th ế giới và V iệt N am xây dựng nên trên cơ sở khái quát thực tiễn hoạt động công b ố trong những năm vừa qua Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận này sẽ chỉ dừng lại ỏ việc trình bày và phân tích m ột số nguyên tắc của công bố học Cụ thể
C ô m b ố tài liêu phải đảm bảo đô chính xác cao
Chúng ta đều b iết tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá đặc biệt, chứa đựng nhiều thông tin liên quan đến các sự kiện, hiện tượng tự nhiên, xã hội được hình thành trình quá trình diễn biến của các sự kiện, hiện tượng, hoạt động của các cơ quan, cá nhân N guyên tắc đảm bảo độ chính xác cao ở đây khi công
bố tài liệu được hiểu là phải đảm bảo độ chính xác cao của thông tin được đưa
ra công bố K hi công b ố b ất kỳ m ột tài liệu nào thì đều có nghĩa là đưa ra thông tin về m ột đối tượng đã được xác định Đ iều này đều đòi hỏi nhà công
bố phải có thái độ cẩn trọng, thật kỹ lưỡng về cách xem xét độ chính xác của thông tin có trong tài liệu lưu trữ bằng cách vận dụng các kiến thức khác của
sử học như phê phán sử liệu học, ngôn ngữ học lịch sử, cổ tự học Những kiến
Trang 28thức bổ trợ cho công b ố học này sẽ là những công cụ hết sức cần thiết đối với những nhà cổng bố học Tuy nhiên trong khi đảm bảo nguyên tắc này khi công
bố tài liệu, kiến thức về sử liệu học giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo
độ chính xác cao của thông tin chứa đựng trong tài liệu lưu trữ Thái độ cần thiết ở đây trong khi vận dụng các nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá giá trị tài liệu là có sự khách quan, khoa học
Đ ộ chính xác cao cần phải bảo đảm khi thực hiện công bố tài liệu lưu trữ đòi hỏi chủ thể công bố phải thực hiện như m ột yêu cầu tiên quyết là phải
sử dụng bản chính, bản gốc của tài liệu Chủ thể công bố khi vận dụng nguyên tắc này phải coi đây là m ộ t nguyên tắc có tính quyết định bởi vì nó quyết định tới hiệu quả của hoạt đ ộ n g công bố Nếu như nói nguyên tắc này là nguyên tắc
có tính kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công bố cũng hoàn toàn có lý
Đ iều này thể hiện ỏ chỗ nó là cơ sở để xây dựng các phương pháp cụ thể phục
vụ cho hoạt động công bố Đ ó là các phương pháp như sưu tầm , phát hiện tài liệu phục vụ cho chủ đề công bố, m ô tả các tài liệu sưu tầm được lên tấm thẻ hoặc sổ tay
Tài liêu lưu trữ đưa ra c ô n s b ố phải phuc vu lơi ích của dân tôc
T rong các quy định của Đ ảng và Nhà nước ta trước nay đã từng nhiều lần nhấn m ạnh rằng tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc, có giá trị đặc biệt trên phương diện kiến thiết quốc gia Như vậy khối lượng tài liệu lưu trữ
ấy thuộc về sở hữu toàn dân và khi đem ra khai thác, sử dụng, công bố phải
đem lại lợi ích chung cho toàn dân tộc, trong đó có m ỗi người dân Những người làm công tác lưu trữ nói chung và những người làm nhiệm vụ công bố tài liệu nói riêng phải thấu hiểu được, nhận biết và quán triệt m ột cách triệt để nguyên tắc này M ục đích của công tác công b ố tài liệu lưu trữ là nhằm làm sáng tỏ hơn các sự kiện, các diễn biến của lịch sử đất nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và vì các m ục đích cụ thể khác nhau C ác tài liệu lưu trữ được đem ra công bố phải nhằm m ục đích bảo
Trang 29vộ chế độ, bảo vệ Đ ảng và bảo vệ nhà nước và những quyền lợi hợp pháp khác của nhân dân Bảo vệ Đ ảng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa chính là bảo
vệ sự an toàn và các lợi ích chính đáng khác của công dân Có thể hiểu rõ hơn nguyên tắc này khi chúng ta đặt vấn đề đối với công tác công bố tài liệu lưu trữ
là “lấy xâ y đ ể c h ố n g Đ ối với những người làm công tác lưu trữ và thực hiện
các nhiệm vụ công bố tài liệu thì vấn đề được đặc biệt nhấn m ạnh hơn vì họ là người nắm các bí m ật của Đ ảng và Nhà nước, chất lượng hay hậu quả của công tác công bố phụ thuộc rất nhiều vào ý thức và phương pháp công bố của các chủ thể công bố đó Tài liệu lưu trữ đem ra công bố phải phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chung của toàn dân tộc
C ô n s b ố tài liêu phải dưa trên hê thốns pháp luât của quốc sỉa
Chúng ta đều biết, bất kỳ m ột ngành hoạt động nào của nhà nước đều phải dựa trên những q u y định chung của H iến pháp, pháp luật và của từng ngành đó Pháp luật là m ột hành lang pháp lỷ quan trọng để m ỗi ngành có thể hoạt động trong phạm vi hành lang đó Công tác lưu trữ và công tác công bố học không phải là m ột ngành hoạt động ngoại lệ H oạt động công bố không chỉ tuân thủ theo những quy định chung cuả ngành lưu trữ m à còn phải bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định khác của nhà nước như các quy định của L uật Di sản văn hoá, Pháp lệnh thư viện, L uật xuất bản Những quy định được thể hiện trong các văn bản luật và dưới luật này là hành lang pháp lý quan trọng để các cán bộ làm nhiệm vụ công bố có căn cứ để thực thi nhiệm
vụ của m ình m ột cách đúng luật và hiệu quả nhất
N guyên tắc này không tách rời mà thậm chí thực chất hỗ trợ đắc lực cho nguyên tắc công bố tài liệu lưu trữ phục vụ lợi ích của dân tộc Khi và chỉ khi hoạt động công bố tài liệu lưu trữ tuân thủ chặt chẽ theo những quy định hiện hành của nhà nước thì quyền lợi của nhân dân, của dân tộc mới được bảo đảm bởi pháp lu ật do nhà nước đặt ra cũng chỉ là để bảo vệ chế độ và những quyền lợi chính đáng khác của công dân Tài liệu lưu trữ là tài sản chung của toàn
Trang 30dân tộc nên m ọi công dân nếu có nhu cầu chính đáng đều được yêu cầu tiếp nhận thông tin từ tài liệu lưu trữ để phục vụ cho các lợi ích chính đáng, được
pháp luật cho phép N ội dung của Pháp lệnh lưu trữ quốc gia được Uỷ ban
Thường vụ Q uốc hội thông qua tháng 4 năm 2001 cũng đã chỉ rõ là tài liệu lưu trữ phải được đem ra phục vụ nhân dân và theo quy định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
N ếu như nói tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc, và những di sản văn hoá ấy cần phải được đem ra nghiên cứu, sử dụng phục vụ cho lợi ích của toàn dân tộc thì vấn đề phải đ ặt ra những quy định chặt chẽ đối với việc công bố, sử dụng tài liệu lưu trữ là m ột trong những nhiệm vụ hết sức cấp bách của các nhà quản lý về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ Đ ặt vấn đề quản lý nhà nước (bằng luật pháp) về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ, trong đó có công tác công bố, giới thiệu tài liệu là để đảm bảo rằng tài liệu lưu trữ phải được đem ra sử dụng đúng m ục đích, tức là hiệu quả, tác dụng của tài liệu lưu trữ phải được đảm bảo công bằng cho tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
m ục đích chính đáng trong việc nghiên cứu, sử dụng tài liệu lưu trữ
N hiều q u ố c gia trên th ế giới đã ban hành luật pháp về lưu trữ trong đó vấn đề công b ố tài liệu (hiểu theo nghĩa rộng) luôn được quan tâm Chẳng hạn như_Luật pháp của C ộng hoà Pháp, Canada hay CHN D T rung H oa trong các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như L uật lưu trữ, sắc lệ n h về công bố tài
liệu lưu trữ có quy đ ịn h về thời gian tự do công bố tài liệu chủ yếu là sau 30
năm kể từ n g ày hình thành tài liệu và đều có quy định riêng về thời hạn được
tự do tiếp cận tiếp cận tài liệu đối với những tài liệu liên quan đến an ninh, ngoại giao, q u ố c phòng hay đời tư cá nhân v ề thẩm quyền công bố tài liệu lưu trữ thì các quốc gia cũng có sự quy định khác nhau T hẩm quyền cho phép công bố, sử dụng tài liệu lưu trữ được luật pháp lưu trữ C ộng hoà Pháp qưy
định khá rõ ràn g trong sắ c lệnh s ố 79 - 1037 ngày 03.12 1 9 7 9 v ề thẩm quyền
của các cơ q u a n hai trữ công và v ề sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý đế
Trang 31thu thập, bảo quản và công b ố tài liệu lưu trữ công Đ iều 2 của sắc lệnh này
ghi rõ: Ban G iám đốc lưu trữ Pháp quản lý các lưu trữ Q uốc gia và lưu trữ tỉnh kiểm tra các lưu trữ công khác kể cả lưu trữ ngoại giao và quốc phòng [18]
L uật pháp C anada chưa có m ột quy định nào thật rõ ràng về thời gian công bố tài liệu, chỉ quy định m ức thời gian chung được công bố tài liệu công là 30 năm Về vấn đề thẩm quyền công bố tài liệu lưu trữ, Đ iều 22 của Luật pháp
lưu trữ nước CH N D T rung H oa chỉ rất rõ ràng ‘T ổ / liệu hai trữ thuộc sở hữu
nhà nước thì do Viện lưu trữ được nhà nước giao quyền hoặc là cơ quan hữu quan công bố; khi chưa được sự đồng ý của Viện liũi trữ hoặc cơ quan hữu quan thì không tổ chức v ă cá nhân nào được quyền công b ố ’’ [18].
Đối với Việt N am , xây dựng luật pháp về lưu trữ là m ột nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước V iệt N am quan tâm trong nhiều năm nay Kể từ khi thành lập ngành lưu trữ V iệt N am (từ 1962) đến nay, đã hơn 40 năm trôi qua và quãng thời gian ấy đã ghi nhận m ột số thành tựu nhất định của nhà nước ta trong việc xây dựng và thường xuyên bổ sung những quy định mới về luật pháp lưu trữ
V ăn bản đầu tiên m à chúng ta ghi nhận là bản Điều lệ v ề công tác công
vãn, giấy tờ và công tác lưu trữ ban hành kèm theo N ghị định 142/CP ngày
28.9.1963 của H ội đồng C hính phủ Bản Điều lệ có 46 điều với nhiều quy định điều chỉnh các hoạt động khác nhau của công tác văn thư lưu trữ, trong đó rất tiếc không có m ột quy định nào về công tác sử dụng, công bố tài liệu lưu trữ
Có thể nói đây là m ột hạn c h ế đáng kể của bản Đ iều lệ trên Có lẽ do nhiều lý
do khác nhau, m ãi đến gần 20 năm sau, tại m ột văn bản là Q uyết định số 168/H Đ BT ngày 26.12.1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Phông lưu trữ Q uốc gia nước C ộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am , vấn đề công bố, giới thiệu tài liệu mới được đề cập, dù chỉ bước đầu là hết sức sơ lược Đó là tại
Đ iều 5: “C ác tài liệu của Phông ỉưii trữ Quốc gia cần được công bố, giới thiệu
Trang 32cho các cơ quan, cán bộ và nhân dân khai thác, nghiên cứii, sử dụng, trừ các tài liệu bí m ật có c h ế độ khai thác riêng C h ỉ có C ục Lưu trữ mới được công
b ố các hồ sơ, tài liệu của Phông lưu trữ Q uốc gia V iệt N a m Như vậy, theo
nội dung của Q uyết định này, lần đầu tiên, vấn đề công bố, giới thiệu tài liệu
lưu trữ được đề cập đến ở hai khía cạnh Thứ nhất là các tài liệu của Phông lưu trữ Q uốc gia cẩn được công bố, giới thiệu cho các cơ quan, cán bộ và nhân
dân khai thác, nghiên cứu, sử dụng Thứ hai là quy định thẩm quyền công bố
tài liệu lưu trữ Đó là chỉ có C ục Liíu trữ N h à nước m ới được công bô' các hồ
sơ, tài liệu của Phông lưu trữ Q uốc gia V iệt Nam
M ột văn bản nữa của N hà nước ta điều chỉnh về công tác lưu trữ là Pháp
lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ Q uốc gia được ban hành bởi L ệnh số 08-CT/HĐNN
7 ngày 11.12.1982 của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt Nam
Tại Chương II Đ iều 12 có quy định: “Việc sử dụng và công b ố tài liệu lưu trữ
quốc gia ph ả i phục vụ đường lối, chính sách và đảm bảo bí m ật của Đảng vả
N h à nước C h ế độ sử dụng và công b ố tài liệu lưu trữ quốc gia do H ội đồng Bộ trưởng quy đ ị n h Pháp lệnh này nhấn m ạnh vào m ục đích của công bố giới
thiệu tài liệu nhiều hơn là có các quy định cụ thể về công bố tài liệu
Trong văn bản quy phạm pháp luật mới nhất và cao nhất của nhà nước ta
về công tác lun trữ là P h á p lệnh Lưu trữ Q uốc gia do U ỷ ban Thường vụ Quốc
hội thông qua và Chủ tịch nước ký lệnh công bố tháng 4.2001, tại Điều 18 có
nhân định chung “tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử được khai thác, sử dụng
rộng rãi cho yêu cầu nghiên cứii của toàn x ã hội, trừ tài liệu ỉ m trữ thuộc danh m ục b í m ậ t nhà nước, tài liệu lưu trữ đặc biệt quý hiếm Người đíừig đầu lưu trữ lịch sử p h ả i thông báo, giới thiệu danh m ục tài liệu lưu trữ đ ể phục vụ việc khai thác, sử dụng”[21} V à tại Đ iều 23 có quy địn h về thẩm quyền công
bố là “C ơ quan có thẩm quyền của Đảng q u y định việc công bô tài liệu thuộc
Trang 33Phông L uti trữ Đảng C ộng sản V iệt N am Chính phủ quy định việc công bô' tài liệu thuộc Phông Lưu trữ N h à nước V iệt N a m ” [27].
M ặc dù theo nhận định của Báo Nhân dân số ra ngày Thứ Hai
07.5.2001 là “ Đ ồ n g thời P háp lệnh tạo điều kiện thuận lợi đ ể m ỏ rộng khả
năng khai thác, sử dụng tài liệu liỉu trữ quốc gia phục vụ đắc lực hơn cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tể, văn hoá, x ã hội của đất nước và mọi
nhu cầu chính đáng của công d â n ”, song cho đến nay, để Pháp lệnh đó thực sự
phát huy hết các gía trị thì vẫn còn là m ột vấn đề cần giải quyết tiếp theo Bởi
vì cho đến nay các văn bản của Nhà nước ta như đã phân tích trên đây đều chưa quy định các vấn đề cụ thể của công XÁC công bố tài liệu Nếu như tại
Q uyết định 168/H ĐBT năm 1981 giao cho Cục Lưu trữ N hà nước thẩm quyền công bố tài liệu thì nhữ ng năm sau đó, cả hai Pháp lệnh kể trên đều giao cho
H ội đồng C hính phủ hay C hính phủ thẩm quyền cho phép công bố tài liệu nhưng từ đó đến nay, C hính phủ vẫn chưa xây dựng và ban hành Nghị định hay m ột văn bản nào hướng dẫn về quy định hay ch ế độ về công bố tài liệu Hơn nữa, cũng chưa có b ất kỳ m ột văn bản nào của N hà nước quy định cụ thể
về các nguyên tắc và các c h ế độ công bố tài liệu M ột phần quy định khá quan trọng nữa hầu như vẫn còn bỏ ngỏ là thời gian tiếp cận, công bố tài liệu lưu trữ
V ẫn chưa thấy m ột văn bản nào của N hà nước ta quy định về vấn đề này Nếu như m ức độ và chất lượng công bố của chúng ta còn chưa cao thì m ột phần lớn
là do chúng ta chưa có được những văn bản quy phạm pháp luật đủ m ạnh để làm hành lang vững chắc cho việc công bố tài liệu lưu trữ
Trang 34v ề các hình thức công bố xél trên góc độ công bố hiểu theo nghĩa rộng thì có nhiều hình thức khác nhau Đó là có thể dưới dạng các xuất bản phẩm văn kiện (theo phông, theo các chuyên đề, theo từng thể loại văn k iệ n ), dưới dạng thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, truyền hình, truyền thanh), tổ chức triển lãm, trưng b à y Đó là m ột trong các hình thức tổ chức sử dụng tài liệu m ang tính chủ động cao.
Tiểu kết chương 1
Q uốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở V iệt Nam và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Trong quá trình hoạt động hơn
50 năm qua trải qua nhiều nhiệm kỳ đã hình thành nên khối lượng lớn tài liệu
có giá trị G iai đoạn 1976 - 1992 tuy là m ột giai đoạn không dài trong suốt chiều dài h o ạt động của Q uốc hội song lại là giai đoạn rất quan trọng Tài liệu lưu trữ của Q uốc hội giai đoạn này phản ánh hoạt động của Quốc hội trong tình hình thống nhất đ ất nước về m ặt nhà nước và pháp luật, chứa đựng nhiều thông tin giá trị, song những giá trị ấy vẫn còn ở dạng tiềm năng Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à N ội với trách nhiệm bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội trong những năm qua vẫn chưa có điều kiện tổ chức nghiên cứu để công bố, giới thiệu những tài liệu ấy phục vụ cho nhiều m ục đích khác nhau của thực tiễn xã hội trong đó nhu cầu sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho hoạt động nghiên cứu lịch sử Việc nghiên cứu những vấn đề về lý luận và luật pháp của V iệt Nam về công bố tài liệu lưu trữ
đã và đang là m ột trong những nhiệm vụ quan trọng trực tiếp quyết định tới hiệu quả của công tác công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động nghiên cứu lịch sử
Trang 35CHƯƠNG 2 TÀI UỆU PHÔNG LƯU TRỮQUÔC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992)
- NGUỒN SỬ UỆU QUAN TRỌNG PHỤC vụ NGHIÊN cứu L|CH sử
đoan 1976-1992) tai T ru n g tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nối
2.1.1 N h ữ n g k ết qu ả đ ạ t được trong hoạt động côn g bố, giới thiệu tài liệu
p h ô n g lưu trữ Q uốc h ội (giai đoạn 1976 -1 9 9 2 )
Trong những năm qua, Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội đã có nhiều thành tựu trong công tác tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ, nhất là đã tiến hành công bố, giới thiệu nhiều tài liệu có giá trị với các hình thức công bố như:
V iết bài công bố trên các tạp chí, báo chí định kỳ, trưng bày, triển lãm, làm
cuốn phim tài liệu “G iữ trọn niềm tin” nhân kỷ niệm 50 năm ngày Thương
binh liệt sỹ, cung cấp tư liệu cho Đài Truyền hình V iệt Nam xây dựng bộ phim
tài liệu “50 năm phong trào thi đua ái q u ố c’’’ hoặc cho Đài Phát thanh Truyền hình H à Nội xây dựng bộ phim truyện “Người dưng” đã đạt Giải Bông sen,
nhân dịp kỷ niệm 55 năm Q uốc hội V iệt Nam , Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
H à Nội đã cho công bố, giới thiệu bản ‘T uyên ngôn của Quốc hội Việt Aĩa n ỉ'
trên Tạp chí Lưu trữ V iệt N am số 01.2001 Riêng đối với tài liệu phông lưu trữ Q uốc hội thì đáng ghi nhận và trân trọng nhất là đã cung cấp tư liệu quý để Ban nghiên cứu lịch sử Q uốc hội biên soạn các cuốn Lịch sử Q uốc hội, và cuốn Lịch sử Quốc hội tập I (1946 - 1960) đã ra m ắt bạn đọc năm 2002, cuốn Lịch sử Q uốc hội tập II (1960 - 1976) ra m ắt bạn đọc năm 2003 H iện nay tài liệu lưu trữ của phông Q uốc hội vẫn đang được các nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm tìm hiểu để n g h iên cứu các tập sách tiếp theo của Lịch sử Quốc hội
V iệt N a m T uy nhiên x ét m ột cách toàn diện thì tài liệu lưu trữ thuộc phông
Trang 36Q uốc hội chưa được công bố, giới thiệu rộng rãi để phục vụ các nhu cầu khác nhau của công tác sử dụng tài liệu, chủ yếu vẫn ở dạng “tiềm năng”
2.3.2 N h ữ ng hạn chê tro n g h oạt độn g côn g bố, giới thiệu tài liệu ph ôn g lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 -1 9 9 2 )
Những kết quả trên đây của Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III Hà Nội trong công tác công bố, giới thiệu tài liệu nói chung và tài liệu của phông Quốc hội nói riêng cho thấy nếu như so với tiềm năng cực kỳ to lớn của tài liệu hiện đang được bảo quản tại đây M ặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm những hình thức công bố, giới thiệu tài liệu song có thể nhận thấy là tài liệu của P hông Q uốc hội được công bố, giới thiệu quá ít, m ột vài bài giới thiệu trên Tạp chí Lưu trữ V iệt N am m ang tính chất lẻ tẻ, cung cấp thông tin về tài liệu nhiều hơn là m ang những đặc điểm của công tác công bố, giới thiệu tài liệu Có thể nói tài liệu của phông Quốc hội trong thời gian qua chưa được sử dụng triệt để, ngoại trừ được sử dụng để Ban biên soạn Lịch sử Quốc hội đã
biên tập và xuất bản được cuốn Lịch sử Quốc hội tập I, tập II được dư luận
đánh giá rất cao về m ặt giá trị của các sử liệu được sử dụng trong công trình nghiên cứu đó
Q ua tìm hiểu tình hình thực tế về cán bộ lưu trữ của Trung tâm, chúngtôi được biết Trung tâm chưa có cán bộ chuyên trách thực hiện các nhiệm vụcủa công bố, giới thiệu tài liệu Điều này ảnh hưởng khá lớn đến số lượng vàchất lượng công bố, giới thiệu tài liệu của Trung tâm Cũng phải thừa nhận m ộthiện thực kh ách quan là sau m ột thời gian ổn định về m ặt tổ chức kể từ khiđược chia tách từ T rung tâm Lưu trữ Q uốc gia I H à Nội, Trung tâm đã phảithực hiện nhiều nhiệm vụ m ới như vấn đề thu thập, bổ sung, chỉnh lý tài liệu,
lo xây dựng kho tàng bảo quản tài liệu v v nên nhiệm vụ tổ chức sử dụng tàiliệu trong đó có vấn đề công bố, giới thiệu tài liệu có lúc chưa được quan tâmnhư m ong m uốn Cho đến nay, khi phân lớn các công việc cua Trung tâm đabước đầu đi vào ổn định thì nhiệm vụ tổ chức, sử dụng tài liệu càng được đật ra
Trang 37cấp thiết hơn bao giờ h ết để có thể phát huy tối đa ảnh hưởng của tài liệu lưu trữ đối với các m ặt khác nhau của đời sống xã hội Dưới góc độ là m ột người nghiên cứu về lưu trữ học, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu để giới thiệu
về phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) như m ột nguồn sử liệu quan trọng cần được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu công
bố, giới thiệu, đồng thời cũng giúp cho những người nghiên cứu lịch sử những thông tin về khối tài liệu này Đó cũng là nội dung chính m à chương 2 của luân văn sẽ phải giải quyết
2.2 Giá tri sử liêu của tài liêu phòng lưu trữ Q uốc hòi (giai đoan 1976 1992)
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Q uốc hội được quy định trong H iến pháp và L uật tổ chức Quốc hội, dựa trên kết quả khảo sát, phân tích tình hình thực tế tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của
Q uốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am (giai đoạn 1976 - 1992), trong phạm vi nghiên cứu của luân văn, chúng tôi tạm khái quát về giá trị của nguồn sử liệu này phục vụ nghiên cứu lịch sử cụ thể là phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử lập hiến; Lịch sử lập pháp giai đoạn nói trên; Lịch sử tổ chức và hoạt động của Q uốc hội, nghiên cứu lịch sử tổ chức bộ m áy Nhà nước
từ cấp trung ương đến địa phương Những vấn đề khác chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu trong khuôn khổ luân văn này
2.2.1 P h ụ c vụ nghiên cứu lịch sử lập hiến V iệt N am (sự ra đời của H iến
Trang 38chính phủ thực hiện hai việc quan trọng là tổ chức tổng tuyển cử và ban hành
H iến pháp Theo tinh thần đó, ngày 06.01.1946, nhân dân cả nước đã nô nức đi
bỏ phiếu bầu ra Q uốc hội mới với 333 đại biểu đại diện cho các giai cấp, tầng
lớp nhân dân ở V iệt N am Tới tháng 11.1946, Q uốc hội nước Việt Nam Dân
chủ cộng hoà đã thông qua bản H iến pháp đầu tiên của đất nước độc lập "Đó
không ch ỉ là cái mốc đánh dấu sự ph á t triển của pháp luật V iệt N am , mà còn
là cái m ốc đánh dấu s ự p h á t triển mới của tổ chức bộ m áy N hà nước ở Việt
N a m ” [ 29; 221] N hư vậy, ngay từ khi nước V iệt N am mới được tuyên bố
thành lập, các nhà lãnh đạo của V iệt Nam lúc đó đã có nhận thức hết sức đúng
đắn trong việc quyết tâm xây dựng m ột hệ thống pháp luật mới m à nền tảng là
hiến pháp, bộ luật cơ b ản của nhà nước để quản lý đất nước H iến pháp 1946 ra
đời cũng là sự khẳng định trước quốc dân đồng bào và nhân dân th ế giới nền
độc lập, chủ quyền th ật sự của nhà nước V iệt N am mới
Từ đó đến nay, nhà nước V iệt Nam Dân chủ cộng hoà và nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am đã xây dựng và ban hành bốn bản H iến pháp
trong các năm 1959, 1980 và 1992 (được Q uốc hội sửa đổi, bổ sung năm
2001) Các bản H iến pháp ra đời trong các giai đoạn khác nhau là để điều
chỉnh các quan hệ cơ bản của nhà nước trong mỗi m ột giai đoạn lịch sử nhất
định
Mười sáu năm của giai đoạn đặc biệt 1976 - 1992, nhà nước ta đã cho ra
đời hai bản H iến pháp là H iến pháp 1980 và H iến pháp 1992 Nói đó là giai
đoạn đặc biệt vì:
- Đ ất nước ta bắt đầu hoà bình và thống nh ất đất nước sau hơn hai mươi
năm bị chia rẽ hai m iền N am Bắc (1954 - 1975) Sau khi đã giải quyết xong
nhiệm vụ giải phóng đ ất nước, thống nhất Bắc N am thì bên cạnh nhiệm vụ
thống nhất về m ặt nhà nước, nhiệm vụ thống nhất về m ặt pháp luật để quản lý
đất nước trong tình hình m ới cũng được đặt ra như m ột yêu cầu m ang tính cấp
bách
Trang 39- G iai đoạn 1976 - 1992 về cơ bản là hoà bình song thực tế chưa phải như vậy; nhân dân ta vẫn phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới tổ quốc ở cả
hai đầu đất nước là chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam Song
song với nhiệm vụ bảo vệ biên giới của tổ quốc thì đất nước ta cũng vừa phải
tiến hành khôi phục kinh tế sau chiến tranh và xây dựng nền tảng kinh tế - xã
hội tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự nghiệp “Đ ổi m ới” do Đ ảng ta khởi xướng và
lãnh đạo từ nãm 1986 là m ột dấu m ốc quan trọng trong sự nghiệp phát triển
đất nước của chúng ta giai đoạn này
N hư đã phân tích trên đây, sau khi nước nhà giành được độc lập kể từ
m ùa thu tháng 9.1945, vấn đề ổn định về m ặt nhà nước và pháp luật đã được
nhà nước ta quan tâm trên nhiều phương diện Lịch sử V iệt N am hiện đại đã
chứng kiến sự chia cắt nước nhà làm hai m iền Bắc N am với thực tế tồn tại hai
chế độ khác nhau Đó là nhà nước V iệt N am Dân chủ cộng hoà ở m iền Bắc và
V iệt N am C ộng hoà (N guỵ quyền) ở m iền N am với hai chế độ chính trị, kinh
tế, xã h ộ i về cơ bản là khác nhau Chính vì vậy, khi thống nhất đất nước với
những điều kiện khác nhau đó, nhà nước ta vẫn cẩn có sự ổn định nhanh chóng
để có thể quản lý đất nước C hính vì vậy, ngay tại kỳ họp đầu tiên của Quốc
hội khoá VI, Q uốc hội nước ta đã quyết định lấy H iến pháp 1959 làm Hiến
pháp chung cho cả nước V iệt N am thống nhất ư ong khi chưa kịp soạn m ột bản
H iến pháp m ới có thể phù hợp nhất với tình hình mới Cũng trong tình hình
mới này, với việc hoàn thành nhiệm vụ thống nhất nước nhà, H iến pháp 1959
của nước V iệt N am D ân chủ cộng hoà cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ lịch sử và cần được thay th ế bằng m ột H iến pháp mới của nước V iệt N am thống nhất và
xã hội chủ nghĩa
Q ua n ghiên cứu tài liệu của phông Quốc hội lưu trữ (giai đoạn 1976 - 1992) với rất n h iều hồ sơ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III H à N ội, chúng tôi nhận thấy tài liệu có liên quan đến việc xây dựng các bản H iến pháp 1980, 1992 chiếm số lượng khá lớn trong toàn bộ thành phần
Trang 40tài liệu của phông Q uốc hội Chẳng hạn như trong thời gian Q uốc hội khoá VI (từ 6.1976 đến 6.1981) là thời gian bản H iến pháp 1980 ra đời, đã có hàng
ngàn trang tài liệu với trên 180 hồ sơ có liên quan Đ ây là nguồn sử liệu đặc
biệt quý giá giúp những nhà nghiên cứu có thể thấy được quá trình chuẩn bị,
soạn thảo và ban hành hết sức chặt chẽ và khoa học của những người tham gia
Ban soạn thảo H iến pháp Có thể tóm lược các quá trình đó là:
- Q uá trình chuẩn bị đề án, thành lập Ban soạn thảo
- Q uá trình lấy ý kiến của các ngành, các cấp, các cơ quan, đoàn thể trung ương và địa phương
- Q uá trình lấy ý kiến của các đại biểu Quốc hội
- Q uá trình lấy ý kiến của nhân dân cả nước (bao gồm ý kiến của các nhà lãnh đạo trung cao cấp và các đối tượng nhân dân k h á c )
- C hỉnh sửa và ban hành H iến pháp
T rong m ột số hồ sơ lưu trữ m à chúng tôi được phép tiếp cận tại Trung tâm Lưu trữ Q uốc gia III H à Nội để nghiên cứu về lịch sử lập hiến của nước ta, chúng tôi nhận thấy, ngay từ khi nước ta giành được thắng lợi thống nhất nước nhà về m ặt nhà nước năm 1975, các đồng chí lãnh đạo Đ ảng, Nhà nước và
Q uốc hội đã đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất trong cả nước m à bắt đầu từ đạo luật cơ bản nhất là H iến pháp
C húng ta đều biết trong m ột thời gian dài, từ khi đất nước thống nhất, để quản lý chung cho cả nước và là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, Q uốc hội nước ta đã đồng ý sử dụng H iến pháp 1959 của nước V iệt
N am D ân chủ cộng h o à làm H iến pháp chung cho cả nước trong khi chưa có
H iến pháp m ới Tuy nhiên, Q uốc hội nước ta đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị soạn thảo H iến pháp m ới
N hấn m ạnh phải có H iến pháp mới, đồng chí Trường Chinh, tại kỳ họp thứ n h ất Q uốc hội nước C ộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am diễn ra từ ngày 24.6 đến n g ày 0 3 7.1976 đã thay m ặt Đ oàn Chủ tịch và U ỷ ban dự thảo Hiến