Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây. Đối tượng khảo sát là: các địa phương, hợp tác xã, hộnhóm hộ gia đình, các doanh nghiệp, và các nhà khoa học đã tham gia liên kết 4 nhà ở địa phương thời gian qua. Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây tại xã Thạch Sơn. Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập để nghiên cứu trong 3 năm từ 20152017. Thời gian thực tập từ ngày 01102018 đến ngày 10122018.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC I DANH MỤC BẢNG BIỂU III
1.1.3 KHÁI NIỆM VỀ LIÊN KẾT 4 NHÀ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY:
1.4.2 CÁC YẾU TỐ TỪ DOANH NGHIỆP
1.4.3 CÁC YẾU TỐ TỪ NHÀ KHOA HỌC
1.4.4 CÁC YẾU TỐ TỪ NHÀ NƯỚC
1.5 CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.6 KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.6.1 KINH NGHIỆM VỀ QUAN HỆ LIÊN KẾT CỦA MÔT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1.6.2 KINH NGHIỆM VỀ LIÊN KẾT “4 NHÀ” Ở VIỆT NAM TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1.6.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA XÃ THẠCH SƠN
2.1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ
Trang 22.1.3 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG
2.1.4 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 CHỌN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU
2.2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
2.2.4 CÁC CHỈ TIÊU DÙNG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY Ở XÃ THẠCH SƠN
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT BỐN NHÀ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY TẠI XÃ THẠCH SƠN
3.1.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY
3.1.2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT 4 NHÀ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY Ở XÃ THẠCH SƠN
3.1.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỐI LIÊN KẾT “BỐN NHÀ” TẠI XÃ THẠCH SƠN
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI LIÊN KẾT 4 NHÀ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN Ở
THẠCH SƠN THỜI GIAN TỚI
3.2.1 ĐỊNH HƯỚNG
3.2.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ LIÊN KẾT BỐN NHÀ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TOÀN XÃ THẠCH SƠN NĂM 2016
BẢNG 2.2: HIỆN TRẠNG DÂN SỐ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần nghị quyết đại hội
VI của Đảng, sản xuất nông nghiệp nước ta đã không ngừng khởi sắc Nôngnghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về sản xuất lương thực, thựcphẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tổng giá trị cácloại nông sản hàng hóa xuất khẩu ngày càng tăng lên Nông nghiệp đã thật
sự đóng vai trò nền tảng để tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh
tế quốc dân
Trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, chúng ta đã đạtđược nhiều thành tích xuất sắc nhưng cũng bộc lộ nhiều nhược điểm yếu kémcần khắc phục góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tếnông nghiệp nói riêng Nhiều địa phương đã phát huy tốt các tiềm năng thếmạnh của mình trong phát triển nông nghiệp nhưng cũng có những địaphương chưa khai thác hết các điều kiện của địa phương về đất đai, laođộng và cơ sở hạ tầng nên sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, cơ cấukinh tế chậm đổi mới
Để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóathì vấn đề mấu chốt là phải có sự phối hợp giữa nông dân với các nhàdoanh nghiệp với tư cách là người sản xuất và người cung cấp dịch vụ đầuvào/tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Ngoài ra, các nhà khoa học cũng cần vàocuộc để tạo ra các giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt,các qui trình sản xuất tiên tiến để vừa phát triển sản xuất vừa bảo vệ môitrường và tuân thủ các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêuchuẩn VietGap và GlobalGap Nhà nước với tư cách là bà đỡ và hoạch địnhchính sách có vai trò cực kỳ quan trọng trong qui hoạch các vùng sản xuất
và tạo cơ chế gắn bó giữa nhà nông với nhà khoa học và các doanh nghiệp,ngoài ra Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ công như khuyến nông,khuyến lâm, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 5Thời gian qua đã có một số nghiên cứu về liên kết bốn nhà trongsản xuất và tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp ở các địa phương Cácnghiên cứu này đều khẳng định liên kết bốn nhà còn lỏng lẻo, chưa đủsức tạo ra bước ngoặt trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa Chođến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnhliên kết bốn nhà trong phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng của mối liên kếtbốn nhà ở xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang thời gian qua và
đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết bốn nhà góp phần pháttriển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong tình hình mới
Xuất phát từ tình hình trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
tăng cường liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây ở xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu.
2.1 Mục tiêu chung:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết “4nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây ở xã Thạch Sơn thời gian qua đềxuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên kết “4 nhà” đápứng yêu cầu sản xuất và tiêu thụ nông sản ở địa phương thời gian tới
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên kết “4 nhà”đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu thụ khoai tây ở địa phương giai đoạn 2019-2021
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến liên kết “4nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây Đối tượng khảo sát là: các địaphương, hợp tác xã, hộ/nhóm hộ gia đình, các doanh nghiệp, và các nhàkhoa học đã tham gia liên kết 4 nhà ở địa phương thời gian qua
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quanđến liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây tại xã Thạch Sơn
- Phạm vi về thời gian:
Số liệu thu thập để nghiên cứu trong 3 năm từ 2015-2017
Thời gian thực tập từ ngày 01/10/2018 đến ngày 10/12/2018
4 Kết cấu báo cáo
Ngoài phần mở đầu và kết luận báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết 4 nhà trong sản xuất
và tiêu thụ khoai tây
Chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT BỐN NHÀ TRONG
SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ KHOAI TÂY 1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm và quan điểm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm là công đoạn của quá trình sản xuất, nó là yếu
tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất Thông quatiêu thụ, giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá được thực hiện.Tiêu thụ là sự chuyển hoá quyền sự dụng hàng hoá, tiền tệ giữa các chủ thểtrong nền kinh tế
Chính vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu
tố khác nhau: chủ thể tham gia (người sản xuất, người tiêu dùng ), đốitượng (hàng hoá, tiền tệ…), thị trường…
Tiêu thụ hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng hànghoá Thông qua tiêu thụ, hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vậtsang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của các đơn vị sản xuất kinhdoanh được hình thành Từ đó tạo cơ sở thu hồi chi phí và tích luỹ để thựchiện tái sản xuất mở rộng
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là khâu hết sức quantrọng Đây là quá trình tách sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất bước vào quátrình lưu thông và đến tay người tiêu dùng Tiêu thụ sản phẩm nhanh haychậm trực tiếp tác động tới kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh và khẳngđịnh giá trị của sản phẩm có được hay không sự chấp nhận của người tiêudùng
Trang 8ngoài để quản lý các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu phân phối củanó”.
Kênh tiêu thụ sản phẩm nối liền giữa cung và cầu sản phẩm Kênh nàocàng an toàn vững chắc thì chuyển tải được càng nhiều hàng hoá, việc chọnkênh tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó phụ thuộc rất nhiềuvào thị trường kinh doanh
Kênh tiêu thụ sản phẩm có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau: giá
cả, thương mại, sản phẩm mới Giá cả biến động theo hướng thuận lợi thìtiêu thụ có quan hệ cùng chiều và ngược lại Phương thức bán hàng phải phùhợp với từng thị trường Tiêu thụ sản phẩm mới phải có cách xâm nhập thịtrường không đưa ngay vào các kênh bền vững
Kênh tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò vào tăng trưởng kinh tế,cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Chọn kênh tiêu thụ thích hợp sẽ giảmđược chi phí tiêu thụ, tăng lợi nhuận, thuận lợi cho cạnh tranh và tăng khốilượng hàng bán trên thị trường
Kênh tiêu thụ sản phẩm là yêu cầu của trao đổi sản phẩm lúc mới cótrao đổi sản phẩm kênh tiêu thụ còn đơn giản, khi sản xuất hàng hoá pháttriển thì kênh tiêu thụ cũng ngày càng đa dạng và là sản phẩm của nền sảnxuất hàng hoá
Trong doanh nghiệp, nông hộ thì tiêu thụ sản phẩm là hoạt động
có định hướng cụ thể, trong đó kênh tiêu thụ có ảnh hưởng đến thu tiền vàchù kì kinh doanh sau Kênh tiêu thụ là vấn đề có tính chất kinh tế và khoahọc rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải nghiên cứu, lựa chọn cho chính xácvới từng loại sản phẩm cụ thể và trong điều kiện nhất định
Những căn cứ lựa chọn kênh phân phối: mục tiêu của kênh, đặcđiểm của sản phẩm, đặc điểm của khách hàng, đặc điểm của các trung gianphân phối, phân tích kênh phân phối của các đối thủ cạnh tranh, đặc điểmcủa chính doanh nghiệp, đặc điểm của môi trường kinh doanh
Sự trung gian có thể đem lại sự tiết kiệm khá lớn:
Trang 9Hình 1.1 Trung gian phân phối đem lại sự tiết kiệm
Như hình vẽ ta thấy, bốn nhà sản xuất trực tiếp bán hàng cho bốnkhách hàng cần 16 lần tiếp xúc Nhưng nếu sử dụng trung gian phân phối sốlần tiếp xúc giảm xuống còn 8 lần Thông qua trung gian sẽ làm giảm số lầntiếp xúc của mỗi người sản xuất đến mỗi khách hàng từ đó làm tăng hiệuquả phân phối của xã hội
Như vậy thông qua kênh tiêu thụ có trung gian, người sản xuất giảmđược đầu tư vật lực và nhân lực mà sản phẩm vẫn tới được tay ngườitiêu dùng Mặt khác, người tiêu dùng được tiếp xúc nhiều chủng loại sảnphẩm thông qua trung gian
Cấu trúc hoạt động của kênh tiêu thụ là việc thiết lập các thànhviên thực hiện các chức năng phân bổ cho họ Cấu trúc của kênh xác địnhbởi ba yếu tố: trung gian được sử dụng, nhiệm vụ và các hoạt động trunggian phải thực hiện, số lượng của mỗi loại trung gian Cấu trúc của kênhđược xác định qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh
1.1.3 Khái niệm về liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây:
- Khái niệm liên kết:
Liên kết (integration) trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là
sự hợp nhất, sự phối hợp hay sáp nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnhthể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gầnđây mới gọi là liên kết Sau đây là một số quan điểm về liên kết kinh tế:
Trang 10Trong Từ điển Kinh tế học hiện đại David W Pearce (1999) chorằng liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của mộtnền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phốihợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố củaquá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bềnvững.
Trong các văn bản của Nhà nước mà cụ thể là trong quy định ban hànhtheo Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết kinh tế lànhững hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùngnhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việcsản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợinhất Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liênkết kinh tế cùng nhau ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phầnhoạt động của mình để thực hiện
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên cáchoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thựchiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinhdoanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triểntheo hướng có lợi nhất Được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế kí kết giữa các bên tham gia và trongkhuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu là tạo ra muối quan hệ kinh tế
ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiếnhành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai tháctốt tiếm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, để cùng nhau tạo thị trườngchung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả chotừng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau
Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau,tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viêntham gia liên kết Những hình thức liên kết phổ biến là hiệp hội sản xuất tiêu
Trang 11thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngànhhoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu Các đơn vị thành viên có tư cáchpháp nhân đầy đủ, không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc
về mặt quản lý nhà nước, ngành kinh tế kĩ thuật hay lãnh thổ Trong khitham gia liên kết kinh tế, không một đơn vị nào mất quyền tự chủ củamình, cũng như không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với Nhànước theo pháp luật hay theo nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết với các đơn vịkhác
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không
kể quy mô hay loại hình sở hữu Mục tiêu của liêu kết kinh tế là các bên tìmcách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đốitác nhằm đem lại lợi ích cho các bên
* Liên kết bốn nhà:
- Nhà nông: Chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp của nước ta
chính là kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là tổ chức kinh tế phổ biến nhất cho mọi nền nôngnghiệp, chiếm đại đa số trong cư dân nông nghiệp Có nhiều cách nhìn khácnhau về khái niệm của hộ nông dân nhưng nhìn chung thì: Hộ nông dân là
hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao độnggia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức
độ không hoàn hảo
- Nhà nước: Là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ
máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lýđặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo về lợi ích củagiai cấp thống trị trong xã hội
- Nhà khoa học: là những người đã nghiên cứu khám phá ra những
kiến thức mới và mong muốn nghiên cứu đó được áp dụng trong thực tiễnthay thế cho những nghiên cứu cũ không còn phù hợp Nhà khoa học đóng
Trang 12vai trò vô cùng quan trọng trong việc chuyền tải tiến bộ kỹ thuật của mình rathực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
- Nhà doanh nghiệp: Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều
định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang một nội dung với giátrị nhất định Doanh nghiệp được xét theo các quan điểm như: quan điểmpháp luận, quan điểm chức năng, quan điểm phát triển, quan điểm hệ thống
Từ các quan điểm trên thì có thể thấy rằng “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế
có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính vật chất và con ngườinhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng tiêu thụ các sản phẩm haydịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng thông qua tối đa hóalợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xãhội”
1.2 Nội dung của liên kết “4 nhà” trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.
Mỗi ngành hàng gồm nhiều công đoạn được thực hiện bởi những tácnhân nhất định Mỗi tác nhân có thể là pháp nhân độc lập hoặc các bộphận phụ thuộc nhau về mặt pháp lý nhưng đều thực hiện và hoàn thànhmột số chức năng và tạo ra những sản phẩm nhất định
Mối liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa cáctác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng và bao gồm cả liên kếtdọc và liên kết ngang đan xen nhau
Các thoả thuận, cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khithực hiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiệnđúng, đủ theo thoả thuận, cam kết Các mối liên kết này thể hiện thôngqua các hình thức liên kết như sau:
Mua bán tự do trên thị trường: là hình thức giao dịch trực tiếp giữangười mua và người bán Người mua thấy được số lượng, chất lượnghàng hóa mình cần, người bán sau khi thỏa thuận được giá cả sẽ bán vàthu được tiền mặt đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống
Trang 13Việc mua bán được thực hiện trên thị trường theo quan hệ cung cầu.Bất kì bên mua hoặc bên bán hàng nào, nếu thỏa thuận được với nhau thìhoạt động giao dịch được diễn ra Thị trường có vai trò là người định giá.
Hợp đồng bằng văn bản: Theo Eaton and Shepherd (2001), hợp đồng
là sư thoả thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản
về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với mức giá đặt trước.Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữacác tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm
Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ngân hàng, tíndụng, trung tân khoa học kỹ thuật và hộ theo các hình thức:
+ Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nôngsản hàng hoá;
+ Bán vật tư mua lại sản phẩm ;
+ Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư,thiết bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn ;
+ Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết vớicác doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất, diện tích mặt nước, sau đó
hộ được sản xuất trên diện tích đó hoặc cho thuê và bán lại sản phẩmcho doanh nghiệp tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ và doanh nghiệp
- Hợp đồng miệng (thoả thuận miệng): Là các thoả thuận khôngđược thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiệnmột số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được hai bênthống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm Cơ sở củahợp đồng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa cáctác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữacác tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, anh em ruột thịt, bạn bè,…)hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanhvới nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện nguồn lực tài chính,khả năng tổ chức và trách nhiệm, giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên,
Trang 14hợp đồng miệng thường chỉ là các thoả thuận trên nguyên tắc về số lượng,giá cả, điều kiện giao nhận hàng Hợp đồng miệng cũng có thể hoặc không
có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư, cũng như các hỗ trợ giám sát kỹthuật So với hợp đồng văn bản thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và có tính chấtpháp lý thấp hơn
Các hoạt động hỗ trợ thị trường được nhiều hiệp hội doanh nghiệpthực hiện nhằm khắc phục một số kiếm khuyết của thị trường như tăngcường các hoạt động phối hợp giữa các doanh nghiệp, cơ sở tiêu thụ và hộnông dân qua đó dung hòa các mối quan hệ trong sản xuất và ra quyết địnhđầu tư
* Nguyên tắc liên kết:
Quá trình liên kết kinh tế của các doanh nghiệp nói chung, của liên kếtsản xuất và thương mại nói riêng đều phải tuân theo các nguyên tắc sau:
Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát
triển và có hiệu quả ngày càng tăng
Xuất phát từ mục tiêu nói trên dù tiến hành liên kết kinh tế dướihình thức và mức độ nào đi nữa thì yêu cầu của hoạt động liên kết kinh tế ấyphải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của từng doanh nghiệp nóiriêng, của doanh nghiệp liên kết với nhau nói chung không ngừng phát triển,doanh thu ngày càng tăng, công nhân viên chức có nhiều việc làm, thunhập ngày một tăng, năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao Liênkết kinh tế phải nâng cao được trình độ công nghệ, mở rộng mặt hàng, sảnxuất ngày càng phù hợp với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, tiết kiệmphí lưu thông, đem lại nhiều lợi nhuận cho các doanh nghiệp trên cơ sở giábán và chất lượng sản phẩm mà người tiêu dùng chấp nhận
Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện giữa các bên tham gia liên
kết Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đượcthực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiệu quảcao chỉ có thể diễn ra khi các doanh nghiệp tự nguyện tìm đến với nhau, tự
Trang 15thỏa thuận quan hệ hợp tác, liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinhthần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm đến cùng về các thành công cũng nhưthất bại rủi ro Tất cả các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế, các tổ chức liênkết kinh tế được thiết lập trên cơ sở những ý đồ không xuất phát từnguyên tắc tự nguyệ n, từ những liên hệ tất yếu về phương diện kinh tế,nghĩa là tiến hành trên cơ sở gò bó gượng ép bắt buộc đều hoạt độngkhông thành công, kém hiệu quả.
Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên
tham gia liên kết
Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kếtvới nhau, là chất kết dính các bên lại với nhau trong quá trình liên kết.Các bên tìm đến với nhau chỉ vì họ tìm thấy, nhìn thấy ở nhau những mốilợi nếu làm ăn với nhau lâu dài Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hòa lợiích giữa các bên tham gia liên kết sẽ tạo nên chất kết dính bền vững cảu tổchức liên kết đó Khi lợi ích kinh tế của một hoặc một số thành viên nào đó
bị xâm phạm hoặc thiếu sự công bằng, thống nhất hài hòa sẽ tạo ra sự rạnnứt của mối liên hệ bền vững, dẫn đến phá vỡ tổ chức liên kết, mối quan
hệ liên kết đã được thiết lập F.Ăng – ghen cũng đã từng nhận xét rằng: ”Ởđâu không có sự nhất trí về lợi ích, ở đó không thể có sự thống nhất vềhành động” Sự phân chia lợi nhuận, phân bổ thiệt hại rủi ro, các tính toán
về giá cả, chi phí cần phải được tiến hành thỏa thuận, bàn bạc một cáchcông khai, dân chủ, bình đẳng và đảm bảo sự công bằng trên cơ sở nhữngđóng góp của các bên liên kết
Bốn là, phải được thực hiện trên cơ sở những ràng buộc pháp lý
giữa các bên tham gia liên kết và thông qua hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điềukhoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia làm
ăn với nhau, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Trong nền kinh tế thịtrường và Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến
Trang 16hành trên cơ sở pháp luật Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo
hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau Cho nên để cónhững căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranhchấp giữa các quan hệ kinh tế với nhau đều phải “có khế ước” hay “hợpđồng kinh tế” được ký kết theo đúng pháp luật quốc tế (nếu quan hệ làm ăngiữa các bên vượt ra ngoài khuôn khổ một nước) Nước ta đang trong quátrình chuyển đổi nền kinh tế sang vận động theo cơ chế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền cho nên mọihoạt động kinh tế, mọi mối quan hệ làm ăn giữa các doanh nghiệp muốn pháttriển lâu dài, cần phải thực hiện theo đúng pháp luật, phải thông qua hợpđồng kinh tế Có như vậy Nhà nước mới có đủ căn cứ pháp lý để giải quyếtnhững tranh chấp, bất đồng nếu xảy ra giữa các bên Đối với hoạt động liênkết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lạicàng cần phải được tiến hành thông qua “Hợp đồng kinh tế” Nó còn lànhững căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng,tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ liên kết ngày càngbền chặt hơn Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi chocác bên tham gia liên kết thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh củamình
Năm là, đối với các tổ chức liên kết kinh tế, cấn phải được tiến
hành hoạt động thông qua “điều lệ” của tổ chức liên kết kinh tế đó
“Điều lệ” là những qui định về tôn chỉ mục đích, nội dung và cơchế hoạt động của một tổ chức được tự nguyện sáng lập giữa các thànhviên Nó qui định những quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ củacác thành viên gia tổ chức, những điều được phép và không được phép đểđảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích chung của các thành viên và sự tồn tạilâu dài, phát triển của tổ chức Có thể nói, nó là cơ sở pháp lý để ràng buộccác thành viên tham gia tổ chức lại với nhau Vì vậy, các tổ chức liên kếtkinh tế muốn tồn tại và phát triển lâu dài cần phải tiến hành xây dựng và
Trang 17thực hiện thông qua “điều lệ” của tổ chức của mình ðiều lệ phải được thảoluận một cách công khai, dân chủ, tính đến lợi ích lâu dài và sự tồn tại pháttriển của tổ chức của tổ chức liên kết kinh tế, giữa các thành viên tham giasáng lập và được điều chỉnh sửa đổi thích hợp với điều kiện tình hình củatừng giai đoạn, phải tuân thủ pháp luật của quốc gia và đăng ký với Nhànước, chính quyền địa phương sở tại để được phép hoạt đông công khai vàđược Nhà nước bảo hộ.
1.3 Vai trò của liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây
1.3.1 Vai trò các tác nhân trong mối liên kết
Liên kết là hình thức hợp tác đảm bảo đem lại lợi ích chắc chắn chocác bên liên quan Liên kết giữa hộ nông dân với nhà khoa học giúp cho sảnphẩm nông nghiệp có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường,bảo đảm sức khoẻ cho người tiêu dùng, giảm chí phí sản xuất, tăng giábán của hàng hóa nông sản Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến
và hộ nông dân cho phép xoá bỏ độc quyền đối với các doanh nghiệp trongviệc ép cấp, ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân Khác với mọiliên kết lỏng lẻo trước đây liên kết kinh tế thông qua hợp đồng loại bỏ vaitrò của các tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ được ngườisản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm Mặt khác, thực hiện liênkết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến cónguồn cung cấp nguyên liệu ổn định để phấn đấu giảm giá thành sản phẩm,nâng cao được khả năng cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thịtrường trong nước và quốc tế
Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến, xuấtkhẩu có điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động do có sự đảm bảo ổn định về sốlượng, chất lượng và tiến độ của nguyên liệu nông sản cung cấp cho sản xuất
Việc tăng khả năng tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật mới còn giúp ngườinông dân giải phóng sức lao động, cho phép giảm giá thành và tăng khả năng
cạnh tranh của hàng nông sản Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng cho
Trang 18hàng triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện để tích luỹ đất đai, cóđiều kiện áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, đồng thời cũng là chìa khoá mởlối thoát cho thị trường nông lâm sản Việt Nam.
Việc chuyển tổ chức sản xuất từ liên kết ngang (người sản xuất/người thugom/người chế biến/người kinh doanh xuất khẩu ) sang hình thức liên kết dọctheo ngành hàng (sản xuất – chế biến – tiêu thụ), đã đem lại tác dụng to lớn sau:
+ Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công
ty kinh doanh sang cho người sản xuất trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyênliệu
+ Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được nhiều hộ sản xuất tiểu nôngnhỏ lẻ thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với chất lượng đồng đều và
ổn định
+ Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang các cơ
sở chế biến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nông nghiệp chỉcòn chịu rủi ro trong khâu sản xuất nguyên liệu, hạn chế tối đa rủi rotrong thị trường giá cả
+ Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sảnxuất, nhờ đó sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng,
vệ sinh an toàn thực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng cườngkhả năng cạnh tranh và nâng cao được giá trị sản phẩm
+ Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh dịch vụvới địa bàn kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tếnông nghiệp nông thôn theo hướng đa dạng hoá, công nghiệp hoá, thúcđẩy liên kết nông nghiệp – công nghiệp phát triển
+ Thông qua liên kết các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗtrợ, giúp đỡ cho các nhóm hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năngphát triển năng lực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh
tế - xã hội cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển
1.3.2 Vai trò của từng nhà trong mối liên kết 4 nhà thể hiện như sau
Trang 19+ Vai trò của nhà nông: Trước hết phải xác định đây là mắt xích quan
trọng trong việc tạo ra sản phẩm theo định hướng của doanh nghiệp , nhưngcũng cần nói rõ là nhà nông là đối tượng được hưởng lợi nhất trong mốiliên kết này Do đó, nhà nông cần liên kết với các nhà khác để mang lại lợiích cao nhất Nhà nông liên kết với nhà khoa học để nhận được sự hỗ trợ kỹthuật, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm Nhà nông và doanh nghiệp đềurất cần liên kết với nhau một cách lâu bền trong việc bán và mua nông sản.Doanh nghiệp chế biến nông sản cần có nguồn cung cấp hàng hóa ổn định,cung ứng nông sản nguyên liệu thường xuyên đạt chất lượng, giá cả hợp lývới số lượng theo yêu cầu của công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ.Nhà nông cần phải biết chắc chắn nông phẩm do mình làm ra được tiêuthụ hết với giá cả hợp lý để yên tâm sản xuất Mặt khác, 3 vấn đề lớn màtừng nhà nông không thể giải quyết được đó là (1) thị trường tiêu thụ vàthương hiệu (2), công nghệ mới (3), vốn đầu tư Chỉ có doanh nghiệp chếbiến - tiêu thụ nông sản mới có thể giải quyết tốt 3 vấn đề này Giải quyết 3vấn đề này không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nông mà cho cả doanh nghiệpchế biến - tiêu thụ khoai tây
+ Vai trò của doanh nghiệp: Để thành công các doanh nghiệp chế
biến – Tiêu thụ khoai tây không chỉ giải quyết các vấn đề công nghệ chế biến,bảo quản mà cả các vấn đề sản xuất nông phẩm của nông dân, để khôngngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất Nhờ đó, sự liên kếtgiữa doanh nghiệp, nhà nông với các nhà khoa học được thiết lập ngày càngvững chắc trên qui mô lớn
+ Doanh nghiệp vì lợi ích của mình, không chỉ đầu tư áp dụng cáccông nghệ mới trong khâu chế biến - bảo quản - tiêu thụ khoai tây, mà cònđầu tư giúp nhà nông áp dụng công nghệ mới trong sản xuất
+ Vai trò của nhà khoa học: Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng
trong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các côngnghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất,
Trang 20tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Ngoài ra, hoạt động khuyếnnông làm cầu nối giữa các nhà khoa học và nhà nông, đóng vai trò quyết địnhtrong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và góp phần phát triển vùng sản xuất hànghóa tập trung qui mô lớn trong nông nghiệp.
+ Vai trò của Nhà nước: Giữ vai trò quan trọng hơn cả trong liên kết
“4 nhà” phải kể đến là Nhà nước Nhà nước cần có chính sách ưu đãi vềvốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp thu mua nông sản để đảm bảo tiêuthụ cho nông dân ngay cả khi giá thị trường biến động xấu Hiện nay,Quyết định 80 đã có, nhiều nơi chưa quan tâm nên chỉ còn liên kết 3 nhàhoặc 2 nhà khiến doanh nghiệp không yên tâm đầu tư cho nông dân Nhànước đóng vai trò hướng dẫn điều tiết quá trình nhập khẩu nhằm đảm bảo lợiích cho người sản xuất Nhà nước hỗ trợ xúc tiến thương mại, việc này chỉ cóNhà nước mới làm được chứ bản thân các doanh nghiệp không thể làm Nhànước có định hướng trên cơ sở thông tin về thương mại, khuyến cáo ngườisản xuất, như thế người sản xuất sẽ chủ động có giải pháp xử lý khi có khókhăn Nhà nước cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn để tạo rasản phẩm hàng hóa Nhiều ý kiến cho rằng việc quy hoạch cần gắn với nộidung liên kết 4 nhà Còn nếu 4 nhà vẫn rời rạc như hiện nay, thì nông sảnvẫn sẽ chỉ là sản phẩm thô và điệp khúc được mùa mất giá vẫn sẽ tiếp diễn
1.3.3 Các hình thức liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm
Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệkinh tế - kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanhnghiệp chế biến và nông dân Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết vàbảo vệ thì mới có cơ sở để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảmquyền lợi và nghĩa vụ của hai bên tham gia liên kết Vì vậy, quan hệ liên kết
đó phải được thực hiện dưới một hình thức pháp lý nhất định, làm cơ sở đểràng buộc trách nhiệm giữa hai bên liên kết và được pháp luật bảo vệ (HồQuế Hậu, 2008)
Trang 21Mục đích của sản xuất tiêu thụ sản phẩm là bên bán mong muốn bánđược nhiều hàng và thu được lợi nhuận cao, còn bên mua mong muốnmua được hàng tốt, giá cả phù hợp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùnghoặc nhu cầu của các quá trình sản xuất - kinh doanh tiếp theo Tiêu thụ sảnphẩm là quá trình gắn kết sản xuất với tiêu dùng, giữa vùng nguyên liệuvới người sản xuất chế biến và tiêu thụ, giữa người mua và người bán.
Liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm là cách thức tổ chức phân công laođộng xã hội, trong đó các hộ, các doanh nghiêp phối hợp, gắn bó, phụthuộc lẫn nhau thông qua các cam kết, các thỏa thuận điều kiện sản xuất -tiêu thụ sản phẩm nhằm đem lại lợi ích cho các bên
Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố kinh tế, kĩ thuật, chính trị, xã hội khác nhau Về mặtkinh tế, yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ sởhữu và cơ chế vận hành nền kinh tế Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chếbiến và nông dân còn bị chi phối bởi trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Liên kết kinh tế còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, sản phẩm
và nguyên liệu cụ thể
Nếu dựa theo vai trò thì quan hệ kinh tế giữa các tác nhân từ sảnxuất đến tiêu dùng, ta có thể phân ra các phương thức liên kết là liên kếtdọc và liên kết ngang
Liên kết theo chiều dọc (Liên kết giữa các tác nhân trong cùngmột ngành hàng mà trong đó mỗi tác nhân đảm nhận một bộ phận hoặcmột số công đoạn nào đó) là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâucủa quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm).Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sảnxuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm
Trong mối liên kết này, thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa cóvai trò là khách hàng của tác nhân kề trước đó, đồng thời bán sản phẩm chotác nhân kế tiếp của chuỗi hàng Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên
Trang 22chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vậnchuyển, chi phí cho khâu trung gian Liên kết theo chiều ngang (Liên kếtdiễn ra giữa các tác nhân hoạt động trong cùng một ngành) là hình thức liênkết giữa các chủ thể nhằm mục đích làm chủ thị trường sản phẩm Hìnhthức này được tổ chức dưới nhiều dạng, có thể thông qua các hội nghềnghiệp hoặc hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội Mía đường… Các cơ sở liên kếtvới nhau là những cơ sở độc lập nhưng có quan hệ với nhau và thông quamột bộ máy kiểm soát chung Với hình thức liên kết này có thể hạn chế được
sự ép giá của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường Như vậy liên kếtkinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh, thu hút sự thamgia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế vàkhông bị giới hạn bởi phạm vi địa lý, mỗi loại hình liên kết có những đặcđiểm riêng cũng như những ưu điểm riêng của nó
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây
1.4.1 Các yếu tố từ hộ sản xuất
Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, vềhợp đồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn cái lợi trước mắt mà khôngnhìn lâu dài Họ sợ sự ràng buộc veefmawtj pháp luật khi ký kết hợp đồng
Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù đã ký hợp đồng tiêu thụvới doanh nghiệp nhưng nơi nào mua giá cao hơn họ vẫn bán, thậm chímột số hộ nhiều nông dân trên cùng một diện tích và sản lượng lại ký hợpđồng tiêu thụ dẫn đến tình trạng phá vỡ hợp đồng, làm các công ty khôngchủ động được nguyên liệu
Một yếu tố ảnh hưởng nữa là mặc dù công ty đã tạo điều kiện chongười nông sản xuất bằng cách ứng vốn, mua phân bón,chuyển giaokhoa học kỹ thuật, thu mua với giá ổn định, vậy mà vẫn có những trườnghợp nông dân không “chung thủy” với công ty, sẵn sàng bán cho ng tykhác khi họ trả giá cao hơn
Trang 23Một thực tế khó khăn ảnh hưởng đến sự liên kết giữa công ty và hộ sảnxuất đó là hộ sản xuất luôn muốn chất lượng hàng hóa của mình là cao trongkhi đó thực tế lại không đạt như vậy Vì vậy,dẫn đến tình trạng xảy ra các mâuthuẫn trong thu mua giữa công ty và hộ sản xuất không bán theo hợp đồngvới công ty mặc dù công ty đã đầu tư ban đầu.
Sản xuất của hộ vẫn tự phát, không tập trung, quy mô kinh tế của hộ rấtnhỏ, diện tích manh mún, không mang tính tập trung, sản xuất hàng hóa Đãthế, tư tưởng thay đổi phương thức sản xuất của hộ rất ít, hầu như hộ khôngdám mạnh dạn đầu tư trong sản xuất của mình, sợ ảnh hưởng quyền lợi mà họđang có, sợ rủi ro trách nhiệm khi tham gia liên kết
Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý dochính trên là làm cho việc liên kết còn hạn chế và để liên kết trong sản xuấtcủa hộ được hiệu quả hơn càn giải quyết tốt hơn các lý do ảnh hưởng trên
1.4.2 Các yếu tố từ doanh nghiệp
Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còntình trạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo chonông dân, trong khi mua còn gây khó dễ cho nông dân nhất là vào thời điểmchính vụ nông sản
Chế tài mà công ty đưa ra để sử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệulực chưa cao, mới chỉ dừng lại là phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫnxảy ra nhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá thị trường
Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất quy hoạch vùngnguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương, với hộnông dân chưa cao
1.4.3 Các yếu tố từ nhà khoa học
Sự tham gia của các nhà khoa học , nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnhhưởng đến sự gắn liền đất sản xuất của hộ Tổ chức khoa học giữ vai trò rấtquan trọng trong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứngdụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản
Trang 24phẩm, làm giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và sức cạnh tranh của hànghóa.
Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủđộng đưa định hương liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai cácchương trình, dự án nghiên cứu Ngay cả những hợp đồng được ký kết thôngqua hoạt động liên kết thì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học haycác nhà khoa học cũng chưa được xác định rõ ràng
1.4.4 Các yếu tố từ Nhà nước
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sảnxuất, thu mua, các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọngtài để giải quyết
Vai trò chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp cònhạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền nhất là chính quyền cấp cơ
sở đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết cácvấn đề ảnh hưởng đến liên kết Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để tự cơ
sở chế biến và hộ sản xuất tự thỏa thuận với nhau trong quá trình liên kết
Chưa xác định rõ về sự ràng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bêntham gia liên kết nên dẫn đến phá vỡ quy trình này, nhất là khi cơ sở chế bến
vi phạm hợp đồng
Chính sách chưa thật sự đi sát với người sản xuất nông sản, còn ởdạng chung chung khiến cho hộ nông dân gặp khó khăn trong khi vận dụngvào liên kết
Trên đây là những yếu tố ảnh hưởng cơ bản của các bên khi tham gialiên kết và chính các yếu tố này đã ảnh hưởng đến quá trình liên kết bền vữngtrong sản xuất nông sản và muốn có 1 quá trình liên kết bền vững thì cần giảiquyết tốt những yếu tố ảnh hưởng trên
Trang 251.5 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển các mối quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Đảng ta đã xác định kinh tế muốn phát triển được thì các gia đình
cũng phải phát triển ‘Dân có giầu thì nước mới mạnh’
Thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước kinh tế hộ nông dân đã gópphần to lớn, tạo sức mạnh mới cho sự nghiệp nông nghiệp hóa kinh tế nôngthôn,phát huy phát triển các mô hình trồng khoai tây, cần được đầu tư vốn,
kỹ thuật và trình độ quản lý cao hơn mở rộng quy mô , nâng cao năng xuất
và hiệu quả cạnh tranh của thị trường
- QĐ 80/2002/TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ vềchính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợpđồng.QĐ số 80 và việc liên kết “4 nhà” là một chử trương chính sách nhằmthúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, là thực hiện côngnghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tiến tới nền sản xuất hànghóa quy mô lớn, hiện đại
- Chỉ thị 25/2008/TTg về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sảnthông qua hợp đồng
- Thông tư số 77/2002/TT-BNN ngày 28/8/2002 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản
- Thông tư số 04/2003/TT- BTC về việc hướng dẫn một số vấn đề về tàichính, thực hiện quyết định số 80/2002/TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 củaChính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông quahợp đồng Hỗ trợ về đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, về tín dụng đầu
tư phát triển nhà nước, hỗ trợ tài chính vùng khó khăn, hỗ trợ chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật và công nghệ, về chính sách thuế, hỗ trợ xuất khẩu và xúc tiếnthương mại
1.6 Kinh nghiệm trong nước và trên thế giới
1.6.1 Kinh nghiệm về quan hệ liên kết của môt số nước trên thế giới trong sản xuất và tiêu thụ
Trang 26Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm giữa các tác nhân có thểdiễn ra trong nhiều ngành nông nghiệp Thực tế của các nước trên thế giới cho thấyđây là mô hình đem lại lợi ích cho các bên tham gia, đặc biệt là hộ nông dân và môhình này đã lan rộng ở các nước đang phát triển, điển hình như là ở Trung Quốc.
Ở Trung Quốc, sản lượng chè chiếm 25% sản lượng chè của thế giới.Tại Trung Quốc, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm phát triểnrất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này đã khuyến khích các thànhphần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằm thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất- chế biến và tiêu thụnông sản Trung Quốc gọi là “kinh doanh sản nghiệp hóa nông nghiệp” Đây
là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó nhà nước phốihợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trướcsản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằmhướng vào thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thực hiện nhất thểhóa sản xuất- chế biến- tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theohướng quy mô hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa
Có bốn hình thức của sản nghiệp hóa:
- Hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là doanh nghiệptìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức ký hợp đồng, khếước, cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong đódaonh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướng sản xuất chonông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho danh nghiệp sản xuất Nhànước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanhnghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yêntâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất
- Hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp tác nông dânđứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn vị kinh doanhnông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất, họ đóng vai trò như chiếccầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ vơi nông dân
Trang 27- Hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức chia sẻthông tin, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ giữa các hộ gia đìnhtrên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
- Hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này hạt nhântrung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các chợcông ty này tác động hướng nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ đó hìnhthành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình
1.6.2 Kinh nghiệm về liên kết “4 nhà” ở Việt Nam trong sản xuất và tiêu thụ
Sau khi thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp nước
ta không ngừng khởi sắc Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu về sản xuất lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu Tổng giá trị các loại nông sản hàng hóa xuất khẩu ngày càngtăng lên Nông nghiệp đã thật sự đóng vai trò nền tảng để tiến hành côngnghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
Trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, chúng ta đã đạtđược nhiều thành tích xuất sắc nhưng cũng bộc lộ nhiều nhược điểm yếu kémcần khắc phục góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tếnông nghiệp nói riêng Nhiều địa phương đã phát huy tốt các tiềm năng thếmạnh của mình trong phát triển nông nghiệp nhưng cũng có những địaphương chưa khai thác hết các điều kiện của địa phương về đất đai, lao động
và cơ sở hạ tầng nên sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, cơ cấu kinh tếchậm đổi mới
Để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa thì vấn
đề mấu chốt là phải có sự phối hợp giữa nông dân với các nhà doanh nghiệp với
tư cách là người sản xuất và người cung cấp dịch vụ đầu vào/tiêu thụ sản phẩmnông nghiệp Ngoài ra, các nhà khoa học cũng cần vào cuộc để tạo ra các giốngcây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, các qui trình sản xuất tiêntiến để vừa phát triển sản xuất vừa bảo vệ môi trường và tuân thủ các qui định về
Trang 28vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn VietGap và GlobalGap Nhà nước với
tư cách là bà đỡ và hoạch định chính sách có vai trò cực kỳ quan trọng trong quihoạch các vùng sản xuất và tạo cơ chế gắn bó giữa nhà nông với nhà khoa học
và các doanh nghiệp, ngoài ra Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ công nhưkhuyến nông, khuyến lâm, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nôngnghiệp Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất lúa chất lượng cao tại xã ThạnhPhú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Thạnh Phú là một xã vùng sâu của huyện Cầu
Kè, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 32,6%, kinh tế nông nghiệp chiếm hơn 63% Trongnhững năm qua, sản xuất lúa nơi đây thường xuyên bị sâu bệnh, năng suất lúathấp, chất lượng sản phẩm kém, sản phẩm lúa khó tiêu thụ dẫn tới thu nhập củangười nông dân thấp
Để nâng cao chất lượng hạt lúa, khâu hỗ trợ chuyển giao tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất từ: Chọn giống, lịch thời vụ, kỹ thuật sạhàng, bón phân đúng kỹ thuật,… được xác định là yếu tố ban đầu, quyếtđịnh 50% hiệu quả kinh tế Ngoài ra, đối với người nông dân, việc gắn kếtdoanh nghiệp, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) từ lâu cũng luôn làmột trở ngại Hiểu được những khó khăn của nhà nông, dự án IMPP-TV đãxây dựng mô hình sản xuất “liên kết bốn nhà” theo Quyết định80/2002/QĐ-TTg của Chính phủ Dự án hỗ trợ hình thành tổ chức liên kết
“Cộng đồng trồng lúa” gồm 108 hộ với diện tích canh tác 91,7 ha, đồng thời
hỗ trợ kinh phí cho các nhà khoa học Chi cục Trồng trọt Bảo vệ thực vậtchuyển giao kỹ thuật theo phương pháp 3 giảm 3 tăng, kết hợp phương phápkhử lẫn Trung tâm giống nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp hợp đồng tiêu thụ sảnphẩm
Sau khi thực hiện mô hình tại vụ lúa đông xuân, kết quả vượt xa
sự mong đợi của nông dân và các nhà khoa học: Thời gian sinh trưởng rútngắn 5-10 ngày, năng suất thực tế bình quân 6,92 tấn/ha, cao hơn 0,5-1,5tấn/ha Mô hình này giúp giảm chi phí sản xuất 8,24%, tăng năng suất bìnhquân từ 30-42% so với vụ trước và chất lượng sản phẩm tăng trên 30% Với
Trang 29diện tích canh tác 91,7 ha, vụ lúa đông xuân 2008-2009, nông dân thu nhậpgần 3,3 tỉ đồng, lợi nhuận hơn 2 tỉ đồng Bình quân 1 ha canh tác nông dânthu lãi hơn 20 triệu đồng Đây là năm đầu tiên hiệu quả kinh tế từ trồng lúađạt cao nhất từ trước đến nay.
Thành công của chương trình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất lúa CLCtại Thạnh Phú, Cầu kè, Trà Vinh đó là nhờ thực hiện tốt từ khâu tư vấn kỹ thuậtđến việc tìm thị trường tiêu thụ lúa thương phẩm nên lợi nhuận của nông dântăng thêm Sự thành công của mô hình mở ra cung cách làm ăn mới, tư duy mớicho nông dân trong canh tác lúa hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ Một khâuhạn chế cố hữu của nông dân từ trước đến nay…
Mô hình liên kết kinh tế “Hiệp hội mía đường Lam Sơn Thanh Hóa”:
“Hiệp hội mía đường Lam Sơn” tỉnh Thanh Hóa là một trong những mô hìnhliên kết kinh tế tiêu biểu giữa doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước với các
hộ nông dân góp phần tích cực thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triểntheo hướng sản xuất hàng hóa lớn trên địa bàn khá rộng Trung tâm của
mô hình liên kết kinh tế này là Công ty đường Lam Sơn, một doanhnghiệp công nghiệp nhà nước Tiền thân của Công ty là Nhà máy đườngLam Sơn thành lập năm 1986, công suất thiết kế 200 nghìn tấn míacây/năm, sản xuất 2 vạn tấn đường thô Nhà máy được xây dựng trên mộtvùng đất phía tây tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên khá rộng tới trên 7vạn ha đất canh tác có khả năng thích hợp cho cây mía, nhưng nhiều nămtrước đây hoạt động không hết công suất vì thiếu nguyên liệu Từ năm
1992, với quyết tâm đổi mới, Công ty đường Lam Sơn đã chủ động thiếtlập quan hệ thân thiết với 3 nông trường trồng mía, Ngân hàng NN&PTNTViệt Nam, các hộ nông dân trồng mía thông qua đại diện là các hợp tác
xã nông nghiệp và có sự bảo lãnh ủng hộ của chính quyền địa phương Môhình liên kết bởi doanh nghiệp công nghiệp chế biến với nông trường – hộsản xuất nông nghiệp – ngân hàng đầu tư – tổ chức kinh doanh dịch vụthương mại đã ra đời và hoạt động tích cực đem lại hiệu quả đáng kể Tháng
Trang 303 năm 1995 Chính phủ ra quyết định thành lập Hiệp hội mía đường Lam Sơnvới các chức năng chủ yếu:
Hỗ trợ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả của từng thành viên trong hiệphội (người trồng mía, chế biến, người cung cấp và tiêu thụ sản phẩm)
Bảo vệ và điều hòa lợi ích cộng đồng cũng như của từng thành viên.Cùng nhau tìm biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro thiên tai, diễn biến bất lợicủa thị trường
Với chức năng nhiệm vụ rõ ràng, lợi ích của mỗi thành viên cả ngườinông dân, nhà máy đường được đảm bảo, sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến
và tiêu thụ chặt chẽ được sự quan tâm chỉ đạo của đảng bộ và chính quyền địaphương, nhờ đó hiểu quả và tác dụng của Hiệp hội ngày càng tăng Hiệp hộithông qua công ty đường Lam Sơn đã đầu tư tới 50 tỷ đồng cho vay vốn hỗ trợnông dân trồng mía Xây dựng 6 trạm chuyển giao kỹ thuật ở các khu vực đểhuấn luyện kỹ thuật trồng mía cho nông dân Công ty đã cho 15 kỹ sư xuốngtận địa bàn các hợp tác xã, hộ nông dân trồng mía để trực tiếp hướng dẫn nôngdân xử lý các vấn đề kỹ thuật phát sinh
Nhờ duy trì phát triển các mối quan hệ tác động đó, sau 10 nămđổi mới, diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng mía đều tăng, đápứng được nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chế biến đường
1.6.3 Bài học kinh nghiệm từ nghiên cứu trong nước và nước ngoài
Thông qua việc tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc về liên kết “bốnnhà” nói riêng và phát triển nông nghiệp hàng hóa nói chung, có thể rút ramột số bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và thúcđẩy sản xuất cuãng như tạo sợi dây liên kết một cách bền vững giữa các chủthể trong chuỗi giá trị hàng nông sản từ sản xuất chế biến và tiêu thụ; đặc biệttrong các nền sản xuất nông nghiệp phân tán lạc hậu
Trang 31Thứ hai, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đóng vai trò là hạt nhân quyếtđịnh sự thành công của hình thức sản xuất theo hợp đồng và liên kết bốn nhà.
Thứ ba, xây dựng các tổ chức của nông dân nhằm tạo cầu nối giữanông dân với nhà nước, doanh nghiệp và nhà khoa học
Thứ tư, sự thành công của các mô hình sản xuất theo hợp đồng tùythuộc vào những điều kiện vật chất nhất định và đặc điểm của chủng loạihàng hóa
Từ các mô hình liên kết trên, có thể rút ra một số bài học cho địaphương như sau:
- Trước hết, các mô hình liên kết thành công ddeuf xuất phát từ nhu cầuliên kết thực tế trong quá trình phát triển sản xuất Nhà nông cần liên kết vớinhau và với nhà kinh doanh hàng nông sản để có thể tạo ra từng vùng chuyêncanh hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều và đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật
về vệ sinh an toàn thực phẩm để cung cấp cho thị trường quốc tế Mặt khácmột số nông sản có sản lượng lớn phải thông qua chế biến để xuất khẩu, nôngdân cần bán cho doanh nghiệp, khó tiêu thụ bằng con đường bán lẻ, nếu sự liênkết chỉ là hình thức thì các điều khoản của hợp đồng rất khó có thể thực hiệnnghiêm túc
- Để thực hiện thành công mối liên kết “bốn nhà”, phải xác định chứcnăng, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi hưởng thụ cho thật phân minh
- Nhà nước là người cầm cân nẩy mực thông qua việc xây dựng cácchính sách thích hợp nhằm khuyến khích và thúc đẩy liên kết “bốn nhà” pháttriển bền vững
- Để có những sản phẩm chất lượng tốt, năng suất cao, doanh nghiệp
và cả nông dân cần gắn kết với các nhà khoa học với những cơ chế chínhsách về lợi ích kinh tế thích hợp, rõ ràng
-Chủ thể sản xuất (nông dân) của các mô hình liên kết thành công chủyếu là các hợp tác xã, nhóm hộ nông dân, trang trại, là nơi có quy mô sản
Trang 32xuất tương đối lớn hoặc là nơi sản xuất những loại hàng hóa đặc thù, ít tiêudùng phổ biến trên thị trường, sản phẩm đòi hỏi phải đạt được những tiêuchuẩn quy cách nhất định, người sản xuất khó tiêu thụ nơi khác nên việc tuânthủ hợp đồng tương đối cao.
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của xã Thạch Sơn
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thạch Sơn là xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Sơn Động.Trung tâm xã cách trung tâm huyện là 35 km Xã có địa giới hành chính rõràng, ổn định, địa giới hành chính của xã tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp Trường bắn Quốc gia TB 1 (TT huấn luyện Cấm Sơn)
- Phía Đông Bắc giáp xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông Nam giáp xã Vân Sơn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Phía Nam giáp xã Vĩnh Khương huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Phía Tây giáp xã Phúc Thắng huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Xã Thạch Sơn có vị trí địa lý không thuận lợi, xa đường Quốc lộ, phíaBắc và Tây Nam chủ yếu là rừng núi Có đường quốc phòng chạy qua vớichiều dài 9 km theo hướng từ phía Tây sang Bắc qua trung tâm xã
Theo số liệu thống kê đất đai đến 01/01/2016 tổng diện tích tự nhiêncủa xã Thạch Sơn là 2.052,18 ha, được chia làm 3 thôn bản với 132 hộ, 546khẩu, 8 dân tộc anh em chung sống trên địa bàn, các thôn sống không tậptrung dải đều trên địa bàn xã trong đó dân tộc ít người chiếm 90% dân sốcủa cả xã
Xã Thạch Sơn là xã miền núi được chia thành 3 khu dân cư Là vùngđất lâu đời với các dân tộc anh em cùng sinh sống Mang nét đặc trưng riêngcủa xã miền núi phía Bắc với các phong tục văn hóa, các điểm dân cư chủ yếutập trung ven các trục đường Tỉnh lộ và các trục đường chính trong xã Ngườidân có tinh thần cần cù, sáng tạo, đoàn kết, yêu thương và truyền thống yêunước Đây là một nguồn tài nguyên quý giá, cần giữ gìn và phát huy
Trang 342.1.1.2 Địa hình
Xã Thạch Sơn có địa hình miền núi bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớnchính từ Đông Bắc xuống Tây Nam, do vậy chênh lệch về độ cao thấp theođịa hình có nhiều biến đổi mang đặc thù của xã miền núi Bắc Bộ Địa hìnhkhông đồng đều, đồi núi phân bố rộng khắp trên phạm vi toàn xã Do đặcđiểm như vậy, đất sản xuất nông nghiệp nhỏ chủ yếu là hệ thống ruộng bậcthang hẹp nằm ven tuyến đường trục chính của xã, có con sông lớn và nhỏ lẻxen kẽ ở các thung lũng núi, việc bố trí cây trồng gặp nhiều khó khăn đặc biệt
là cây trồng không đủ nước tưới vào mùa khô, năng suất cây trồng giảm đáng
kể, cơ cấu cây trồng đơn điệu chủ yếu là cây lúa, sắn, đậu đỗ và cây ăn quả
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2016 của xã Thạch Sơn có diện tích2932,5 ha diện tích đất tự nhiên, bao gồm 3 nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 807,26 ha; chiếm 39,34 % tổngdiện tích đất tự nhiên
- Nhóm đất phi nông nghiệp chiếm diện tích nhỏ nhất là 33,72 ha;chiếm 1,64 % tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 35- Nhóm đất chưa sử dụng có diện tích lớn nhất là 1.211,20 ha, chiến59,02 % tổng diện tích đất tự nhiên
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất toàn xã Thạch Sơn năm 2016
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại HNK 6,77 0,84
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa DNT 2,00 5,93
2.5 Đất sông suối và mặt nước DSS 21,50 63,76
Nguồn: Văn phòng TK UBND xã, 2016
* Nhận xét đánh giá về cơ cấu sử dụng đất:
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.052,18 ha, trong đó diện tích đã đưavào sử dụng chiếm 41%
Diện tích đất nông nghiệp của xã 807,26 ha, chiếm 39,34% tổng diệntích tự nhiên, trong đó:
- Đất trồng lúa: 17,11 ha, chiếm 2,12% tổng diện tích đất nông nghiệp
- Đất trồng cây hàng năm còn lại: 6,77 ha, chiếm 0,84% tổng diệntích đất nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm: 30,56 ha, chiếm 3,79% tổng diện tích đất NN
Trang 36- Đất lâm nghiệp: 752,82 ha, chiếm 36,68 % tổng diện tích đất NN.Tổng diện tích đất phi nông nghiệp: 33,72 ha, chiếm 1,64% tổng diện tíchđất tự nhiên, trong đó:
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: 0,11 ha, chiếm0,33% tổng diện tích đất phi nông nghiệp
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 2,00 ha, chiếm 5,93% tổng diện tích đấtphi nông nghiệp
- Đất sông suối: 21,50 ha, chiếm 63,76% tổng diện tích đất phi nôngnghiệp
- Đất phát triển hạ tầng: 5,62 ha, chiếm 16,67% tổng diện tích đấtphi nông nghiệp
- Đất ở tại nông thôn: 4,49 ha, chiếm 13,32% tổng diện tích đất phinông nghiệp
Tổng diện tích đất chưa sử dụng:1.211,20 ha,chiếm 59,02% tổng diệntích TN
Những năm qua các loại đất đều có sự biến động, đất nông nghiệp tănglên do áp dụng tiến bộ khoa học, đưa cây giống có năng suất chất lượng caovào để cải tạo diện tích đất chưa sử dụng, đất phi nông nghiệp tăng phù hợp vớiquy luật của xã hội nhằm phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhândân làm cho bộ mặt của nông thôn có nhiều thay đổi Tuy nhiên những năm tớicùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đấtcho các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, nhà ở sẽtăng mạnh, yêu cầu đặt ra là phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để vừabảo vệ nghiêm ngặt vùng đất lúa năng suất cao vừa đáp ứng yêu cầu sử dụngđất vào mục đích khác cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất
2.1.1.4 Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2016 tài nguyên rừng của xã có752,82 ha gồm đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất và đất trồng rừng sảnxuất Cây trồng chủ yếu là các loại cây bản địa và các loài cây lấy gỗ như
Trang 37Keo, Thông, Bạch Đàn Trong vài năm gần đây xã đang thực hiện các chủtrương của Đảng và Nhà nước về giao đất giao rừng đến từng hộ gia đình cánhân.để phủ xanh đất trống đồi trọc phát triển kinh tế rừng và tạo nên hệ độngthực vật rừng phong phú đa dạng
2.1.1.5 Tài nguyên nước
Nguồn nước ngầm chưa được điều tra thăm dò trên phạm vi toàn xãnên chưa có số liệu, nhưng tại khu vực trung tâm xã đã được khoan thăm dò
và được
đánh giá chất lượng và trữ lượng đảm bảo để cung cấp nước sạch chongười dân tại khu trung tâm và các xóm lân cận sử dụng trong sinh hoạt vàsản xuất
2.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã Thạch Sơn không có tài nguyên khoáng sản quý hiếmchỉ có khối lượng than đá khá lớn nhưng chưa đủ tuổi để đưa vào khai thác
2.1.1.7 Đặc điểm khí hậu- thủy văn
Do địa hình chi phối nên khí hậu diễn biến phức tạp và thuộc vùng khíhậu nhiệt đới gió mùa
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,70C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối là37,210C vào tháng 7, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 2,60C vào tháng 2
- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.400mm tập trung từ tháng 5 đếntháng 9 chiếm 75% lượng mưa cả năm, số ngày mưa trung bình là 131ngày/năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
- Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1.581,8 giờ/năm, tháng có số giờnắng cao từ tháng 5 đến tháng 12, số ngày dông trung bình 49 ngày/năm
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 83,0%, độ ẩm không khí thấpnhất trung bình năm là 62%
Nhìn chung khí hậu của Thạch Sơn với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm,khá thuận lợi trong sản xuất nông lâm nghiệp với thế mạnh là cây hàng năm,chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên do lượng mưa phân bố không đều, tập
Trang 38trung vào một số tháng mùa mưa gây ra úng lụt với những chân ruộng trũng,tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất vùng đồi Nhiệt độ xuống thấp vào mùađông, thiếu ánh sáng, lại ít mưa gây hạn hán cho cây trồng vụ Đông, Xuân vàđời sống của nhân dân.
Hệ thống thủy văn của xã chịu sự chi phối của sông Thác Cơ chảy quađịa bàn xã, chạy dọc từ Tây sang Đông Ngoài ra trên địa bàn xã còn rất nhiềucác khe nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh đồi đi về suối lớn Đây là nguồn nước đảmbảo cung cấp nước tưới phục vụ cho sản xuất và cho sinh hoạt của nhân dân.Tuy nhiên xã vẫn cần tiến hành kiên cố hóa hệ thống kênh mương nhằm nângcao hiệu quả tưới tiêu cho đồng ruộng để nâng cao hiệu quả sử dụng, tạo đàcho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm thâm canh tăng vụ, có thểchuyển đổi cơ cấu cây trồng để cho hiệu quả kinh tế cao hơn
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã
2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế của từng vùngcũng như của từng quốc gia Nhìn vào tình hình phát triển nguồn lao độngcũng như cơ cấu lao động trong từng ngành mà người ta có thể đánh giá đượctình hình kinh tế của một vùng hay một quốc gia Đối với một xã Thạch Sơn
là xã thuộc khu vực III, vùng cao miền núi thì đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhânlực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động như hiệnnay là một việc rất khó khăn Tình hình dân số và lao động được thể hiện:
Trang 39Nguồn: UBND xã Thạch Sơn, 2017
Nguồn lao động hiện nay trong toàn xã có 344 lao động chiếm tỷ lệ 61,2%
so với tổng số nhân khẩu trong toàn xã Nhìn chung lực lượng lao động của xãkhá dồi dào, song chất lượng lao động chưa cao, sự phân bố còn bất hợp lý với sựnghiệp phát triển kinh tế hiện nay Lao động ngành nông nghiệp chiếm phần lớnnhưng diện tích đất nông nghiệp ít, sản xuất mang tính thời vụ, các nghành nghềtiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển mạnh dẫn đến tình trạng lao độngthiếu việc làm theo mùa vụ khá phổ biện, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế,việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa cao
2.1.2.3 Điều kiện về y tế- giáo dục
Trang 40- Giáo dục đào tạo
Trường mầm non: Có 03 điểm trường thuộc thôn Non Tá, Đồng Băm
và thôn Đồng Cao Số học sinh: 69 học sinh, tỷ lệ trẻ đến lớp đạt 100%, sốgiáo viên là 9 và trường chưa đạt chuẩn Quốc gia mức độ I
Trường Tiểu học: Trường tiểu học có 02 điểm trường thuộc thôn Đồng
Băm và Đồng Cao Số giáo viên là 13 có 4 phòng học và 2 phòng chức năng.Trong đó trường chưa đạt chuẩn quốc gia
Trường THCS: Tổng số cán bộ, giáo viên 15 có 04 lớp học; 04 phòng hành
chính quản tri, 02 phòng chức năng cho học sinh, 01 phòng thư viện, 01 phòng đồdùng So với quy định cuả trường chuẩn Quốc gia thiếu một số phòng sau: Nhà đanăng học sinh: 300m2; phòng hoạt động Đội; phòng truyền thống
- Về Y tế
Trạm y tế: Nằm tại thôn Non Tá, tổng số cán bộ 04 người trong đó bác sĩ
01 người, y sĩ đa khoa 01 người, điều dưỡng viên 01, dược sĩ viên 01
Trong năm 2017 thực hiện vào các căn cứ kế hoạch của trung tâm y tếhuyện trạm y tế xã tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã đưa việc chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cho nhân dân vào nghị quyết để thực hiện, chỉ đạo ban chỉ đạo chămsóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và ngành chức năng triển khai thực hiện cácchương trình mục tiêu quốc gia trong các đợt chiến dịch như: kế hoạch tháng hànhđộng vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, kế hoạch tiêm AT cho phụ nữ trong
độ tuổi 15 – 35; kế hoạch thực hiện chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản, kếhoạch phòng chống sốt rét, kế hoạch tiêm phòng mở rộng, kế hoạch triển khaitiêm phòng bệnh viêm não nhật bản Chỉ đạo cán bộ trạm và nhân viên y tế thônbản tổ chức tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại cộng đồng, giám sát dịch, nhậnbáo dịch hàng ngày theo quy định
Công tác vệ sinh phòng bệnh trên địa bàn xã không xuất hiện bệnh dịchxảy ra Không có người bệnh ngộ độc thực phẩm, công tác truyền thông giáodục sức khỏe triển khai có hiệu quả