Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy là một Hà Nội của những câu chuyện nho nhỏ, be bé, rất đời thường, đôi khi vớ va vớ vẩn như “xe máy tiếu ngạo”, “Forum nước chè”, “Phố vẫy đủ m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
TRỊNH THỊ HÀO
HÀ NỘI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên– 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
TRỊNH THỊ HÀO
HÀ NỘI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔN THẢO MIÊN
Thái Nguyên– 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám
hiệu, Khoa sau đại học, Khoa báo chí Truyền thông và Văn học, Trường Đại Học
Khoa Học, Đại Học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ
trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn
PGS,TS Tôn Thảo Miên đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác
giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động
viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hào
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Những bài viết và công trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Trương Qúy 3
2.2 Những công trình nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Qúy 5
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
4.2.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp 8
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử 8
4.2.3 Phương pháp so sánh - thống kê 8
4.2.4 Phương pháp cấu trúc 8
4.2.5 Phương pháp liên ngành 8
5 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN 10
CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 10
1.1 Khát quát về thể loại Tản văn 10
1.1.1 Khái niệm tản văn 10
1.1.2 Đặc trưng thể loại tản văn 11
1.1.3 Phân loại tản văn 14
1.1.4 Mối liên hệ tản văn và kí 16
1.2 Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam 18
1.2.1 Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam hiện đại 18
Trang 61.2.2 Hà Nội qua những cuốn tiểu thuyết, tản văn, và khảo cứu viết về Hà Nội 20
1.3 Tản văn của một kiến trúc sư – Nguyễn Trương Qúy 25
1.3.1 Nguyễn Trương Quý – nghiệp đời, nghiệp văn 25
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến ngòi bút Nguyễn Trương Qúy 29
1.3.3 Hà Nội đối tượng nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Trương Quý 33
1.3.4 Tấm căn cước của không gian sống trong tản văn Nguyễn Trương Qúy 34
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HÀ NỘI NHÌN TỪ GÓC NHÌN: 40
KIẾN TRÚC - VĂN HÓA - ÂM NHẠC 40
2.1 Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn của một Kiến trúc sư Nguyễn Trương Qúy 40
2.1.1 Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn kiến trúc 40
2.1.2 Đời sống thị dân Hà Nội nhìn từ góc nhìn của một kiến trúc sư 48
2.2 Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn văn hóa 59
2.2.1 Đời sống văn hóa Hà Nội trong phạm vi trung tâm Hà Nội. 59
2.2.2 Đời sống văn hóa Hà Nội khi ra khỏi phạm vi trung tâm Hà Nội. 64
2.2.3 Đời sống văn hóa Hà Nội ở cự li 1000 cây số và xa hơn thế. 66
2.3 Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn âm nhạc 69
2.3.1 Từ trong ca khúc Hà Nội diễm lệ và kì ảo 70
2.3.2 Từ trong ca khúc người Hà Nội lịch lãm, duyên dáng 73
2.3.3 Nhạc sĩ, nhạc sư và ca sĩ hát về Hà Nội tài hoa, lãng mạn 75
CHƯƠNG 3: VĂN PHONG CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ TRONG TẢN VĂN VIẾT VỀ HÀ NỘI 79
3.1 Cách đặt “tựa” cho từng bài tản văn viết về Hà Nội 79
3.2 Giọng văn dí dỏm và trần trụi trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy 85
3.3 Tính thời sự trong tản văn Nguyễn Trương Qúy 88
3.4 Kết cấu và “thủ thuật” trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy 93
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Thăng Long – Hà Nội luôn là niềm tự hào và thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam, niềm tin yêu đối với bạn bè quốc tế Đây là thành phố ngàn năm tuổi với nhiều trầm tích văn hóa, kết tinh văn minh của Việt Nam Cho nên “hiếm thấy một thành phố nào mà tốn văn, tốn chữ, tốn nhạc, của nhạc sĩ, thi sĩ, nhà văn như Hà Nội
Có nhiều tác phẩm văn học viết về thành phố ngàn năm tuổi này đã đi vào lòng người yêu sách, vậy nhưng mỗi tác phẩm đều phác họa cho ta thấy những Hà Nội rất khác nhau”[49] Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy là một Hà Nội của những câu chuyện nho nhỏ, be bé, rất đời thường, đôi khi vớ va vớ vẩn như “xe máy tiếu ngạo”, “Forum nước chè”, “Phố vẫy đủ mười khúc ngâm”, của những người vô danh, những người thích tụ bạ ở quán nước chè vạ vật từ ngày này qua tháng khác chỉ để đánh dăm con đề và nói chuyện phiếm về cuộc đời, … Nhưng từ những câu chuyện dung dị, đời thường đó Nguyễn Trương Qúy đã phác họa một Hà Nội sống động như một thực thể sống cùng thời đại chúng ta Cứ như vậy, tác giả Nguyễn Trương Qúy đã góp cho Hà Nội thêm “duyên”, thêm “toàn bích” hơn Đây cũng là một nỗ lực đóng góp của nhà văn khi viết về Hà Nội, một trong những đề tài tưởng như không còn
Trang 8cũng là đóng góp của tác giả - nhà văn Nguyễn Trương Qúy về thể loại tản văn mà chúng tôi muốn hướng tới làm rõ trong khuôn khổ luận văn này
1.3 Khi nghiên cứu đề tài này, chúng ta có thêm một cái nhìn về nghiệp văn chương của mỗi nhà văn Đúng vậy, văn chương không chỉ dành cho những nhà văn, nhà thơ được đào tạo bài bản mà còn dành “đất” cho bất cứ đối tượng nào Chỉ cần họ
có tâm hồn của một người nghệ sĩ và có một tấm lòng trải rộng với đời… Mà trường hợp Nguyễn Trương Qúy được xem là điển hình Nhà văn Nguyễn Trương Qúy sinh năm 1977, tốt nghiệp Đại học kiến trúc nhưng lại chọn nghề “viết văn”: “Anh đã mang chiếc bút chì cũ của mình, trở thành kẻ “tay ngang” bước vào văn chương và “biên niên” Hà Nội thị dân bằng những rung động của gã 7X dường như là duy nhất còn sót lại ở đất này” Chỉ hơn mười năm “gã tay ngang 7X” đã cho xuất bản sáu cuốn tản
văn: Tự nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008), Hà Nội là
Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013); và một tập truyện “Dưới cột đèn đường rót một ấm trà” (gồm 14 truyện ngắn và một truyện vừa,
xuất bản năm 2013) – đều là những tản văn viết về con người và phố thị Hà Nội Ngoài ra, Nguyễn Trương Qúy cũng tham gia dịch sách Một số tác phẩm anh tham
gia dịch gồm: Hà Nội và Rumba Cửu Long – Câu chuyện âm nhạc Việt Nam của Jason Gibbs (2008), Chuyến tàu mang tên dục vọng của Tennesse William (2011),
Năm 2016, tản văn của anh nằm trong danh sách những tác phẩm được đề cử nhận giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội Chúng tôi cho rằng, đây là một thành công đáng ghi nhận của kiến trúc sư, họa sĩ, nhà văn Nguyễn Trương Qúy Đặc biệt, mỗi cuốn tản văn của Nguyễn Trương Qúy đều nhận được sự chờ đón, yêu mến của bạn đọc trong và ngoài nước: Có những cuốn tản văn của anh được tái bản 5 – 7 lần:
Tự Nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008), Xe máy tiếu ngạo (2012) Riêng cuốn “Xe máy tiếu Ngạo” của nhà văn còn được Jacob O Gold,
Đại học Michigan, Mỹ dịch sang Tiếng Anh như một cuốn tài liệu để sinh viên Mỹ, Việt kiều ở Mỹ đọc và hiểu thêm một nét văn hóa riêng của người Hà Nội nói riêng, thành phố Hà Nội nói chung
Nghiên cứu Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy, chúng ta sẽ thấy một
bức tranh Hà Nội với đầy đủ sắc thái, khi thì dưới góc nhìn kiến trúc, góc nhìn văn
Trang 9hóa, lúc lại là những con người sống trong đô thị với đủ mọi thói tật và hành vi…qua lối viết tung tẩy, dí dỏm, vừa đủ, lối dẫn dắt khi nào cũng từ chuyện xưa đến chuyện hiện đại ngày nay, nhịp nhàng và rất có duyên
1.4 Gần đây, sách giáo khoa ở cấp học phổ thông có dành một số lượng đáng
kể cho những bài viết thuộc thể loại kí Tuy nhiên, nguồn tài liệu làm cơ sở khám phá thể loại này còn ít Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn thúc đẩy sự quan tâm nghiên cứu, đồng thời vạch ra những định hướng tiếp cận thể loại tản văn nói riêng, thể kí nói chung ở mảng văn học trong nhà trường
Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy” Một mặt, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng rõ thêm tài năng văn
chương của một nhà văn trẻ ở thể loại tản văn, mặt khác chúng tôi cũng đưa ra cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về giá trị tác phẩm của nhà văn này Qua đó thấy được những đóng góp của nhà văn đối với thể loại tản văn viết về đề tài Hà Nội nói riêng, thể loại tản văn nói chung trong thế kỷ XXI này
2 Lịch sử vấn đề
Khảo sát đề tài “Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy” chúng tôi tìm
hiểu và sắp xếp lại những bài viết, những công trình nghiên cứu của những người đi trước theo các ý sau:
2.1 Những bài viết và công trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Trương Qúy
Nguyễn Trương Qúy chuyển ngang từ một kiến trúc sư, họa sĩ vẽ màu nước sang viết văn từ năm 2002 đến nay Những tác phẩm của nhà văn chưa nhiều, tuy nhiên nhà văn cũng nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của báo chí, truyền thông, bạn văn và bạn đọc trong và ngoài nước Xoay quanh hiện tượng văn học này cũng có nhiều ý kiến đánh giá đáng lưu ý:
Tại chương trình Khách mời quán văn Nguyễn Trương Qúy (Thứ 7,ngày 13/10/2012), trong bài viết của nhà báo Xuân Thủy có trích dẫn phần nhận xét của nhà văn Đỗ Bích Thúy: “Người yêu Hà Nội thì rất nhiều, người viết về Hà Nội cũng nhiều, nhưng cách viết của Nguyễn Trương Qúy hấp dẫn ở chỗ: Từ những điều dung dị nhất,
ai cũng có thể hình dung ra một Hà Nội của thế kỉ 21 – một Hà Nội ồn ào, đông đúc, chật chội, pha tạp bên cạnh một Hà Nội trầm tĩnh, kín đáo, tự trọng
Trang 10Giọng văn thông minh, quan sát tinh tế, tư duy mạch lạc, khả năng liên tưởng phong phú, óc hài ước, có kiến thức hệ thống trong nhiều lĩnh vực… là những yếu tố
để Nguyễn Trương Qúy níu bạn đọc ở lại với cuốn tản văn Xe máy tiếu ngạo
Cách nhìn của Nguyễn Trương Qúy còn dễ được đồng cảm ở chỗ người viết đại diện cho một lớp công dân mới của thủ đô, đi nhiều, biết nhiều, nhưng vẫn lặng lẽ yêu
Hà Nội theo cách riêng của mình cho dù cuộc sống đang trôi đi gấp gáp”[52]
Trong trang bìa sau của cuốn Tự nhiên như người Hà Nội, nhà thơ Thụy Anh lại
có nhận xét: Đọc Qúy, độc giả được thỏa mãn nhiều điều: Nhận được kiến thức về Hà Nội cổ và Hà Nội bây giờ (đều dồi dào không kém gì nhau, thể hiện một năng lực tổng hợp và khiếu quan sát tuyệt vời), nhận được sự đồng cảm trong những vấn đề đang nóng của xã hội… Và nữa là được cười Mỉm cười, rồi cười phá lên, hoặc có thể khúc khích cười rõ lâu …”[27]
Trong trang bìa sau của cuốn Hà Nội là Hà Nội, Nguyễn Trương Qúy có dẫn lời của Jacob O.Gold, Đại học Michigan, Mỹ: Nguyễn Trương Qúy thuộc về thế hệ giao điểm của sự chuyển đổi kinh tế xã hội rộng lớn của Việt Nam Anh đủ già để nhớ những điều xảy ra trước đó và đủ trẻ để hứng khởi với những điều tương lai dự báo ở
Hà Nội
Góc nhìn lịch sử trung gian của Qúy giúp anh có thể cân đo và so sánh phần nào quá khứ và hiện tại: một mặt nếm trải những sự bằng lòng giản đơn của đời sống thiếu thốn vật chất những năm tháng cũ, trong khi mặt khác lại châm chích thói tiêu thụ phù phiếm hời hợt dường như đang ngự trị trong các tầng lớp giàu mới ngày nay
Thêm vào đó đây không phải là một tập hợp của những hình mẫu xã hội được biếm họa Nguyễn Trương Qúy là một bậc thầy trong việc truyền tải những tấn kịch đời thường nho nhỏ nhưng sắc sảo về quan hệ trong gia đình và nơi công sở"[28]
Như vậy, hầu hết các ý kiến đều tập trung phản ánh những đặc sắc trong văn chương của Nguyễn Trương Qúy: quen mà lạ, vừa cổ kính rêu phong vừa hiện đại, vừa đầy màu sắc lôi cuốn về một thời đại mới, thời đại mà chúng ta đang cùng hít thở một bầu không khí
Trang 112.2 Những công trình nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Qúy
Hiện tại, Nguyễn Trương Qúy đã ra mắt bạn đọc 6 cuốn tản văn, nội dung trọng tâm viết về Hà Nội Có thể nói, các tác phẩm của anh đã cho thấy: Anh là tác giả có những quan sát tinh tế về cuộc sống đô thị với con mắt của “nhà quy hoạch”, bằng tư duy của người đang sống với thời đại của mình Câu dài hay câu ngắn trong sáng tác của anh đều đi từ những chất liệu đời sống đương diễn ra Vì vậy mà tản văn của anh hầu hết đều nhận được những lời khen ngợi từ độc giả và những đánh giá tích cực từ những bạn văn, nhà phê bình văn học Cho đến nay, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tản văn Nguyễn Trương Quý nhưng mới đi vào một khía cạnh nội dung nào đó, hoặc nghiên cứu tản văn của anh với các nhà văn khác như Luận văn viết về đề
tài Đô thị hiện đại trong các sáng tác của các nhà văn viết về Hà Nội (Qua sáng tác của Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn và Nguyễn Trương Qúy) của Lê Ngọc Hà - học viên
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, chuyên ngành lí luận, năm 2015 Nhưng lại chưa có một công trình nghiên cứu nào đi
sâu nghiên cứu về Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy Tuy vậy, vẫn có nhiều ý
kiến từ các nhà phê bình nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn, nhà báo đã có những nhận xét đánh giá về tản văn của Nguyễn Trương Qúy
Trên trang bìa cuốn tản văn Ăn phở rất khó thấy ngon, nhà văn trích dẫn nhận xét của Nguyễn Vĩnh Nguyên: Nguyễn Trương Qúy không chỉ dừng lại ở việc mô tả cho ra những câu chuyện tếu táo nghe để mà biết nhưng anh dẫn dắt người đọc từ cái nhìn tự trào, hóm hỉnh của người trong cuộc, tinh tế, giàu liên tưởng đời sống thú vị trong bức tranh tâm thế của dân công sở thời mới Trăm thứ bệnh: ngáo ngơ, quan liêu, bốc phét đơn điệu, hình thức, phung phí, sĩ diện, nhiễu sự tám vặt và cả những phút lãng mạn, tình thương mến thương nhất của dân văn phòng được viết dưới giọng văn đầy chất châm biếm, hóm hỉnh nhưng cũng đầy dằn vặt về thành phần "phức tạp
về nghĩ ngợi" nhất trong xã hội Cuốn tản văn đáng đọc nhất trong vài năm trở lại đây, nếu bạn là dân văn phòng"[24]
Trong bài viết "lời giới thiệu cho bản dịch Xe máy tiếu ngạo" Jacob O Gold, UIC có viết: Mỗi bài tản văn như một cuộc du ngoại được dẫn dắt qua không gian của hoài niệm, của ghi chép về xã hội, của những tham chiếu văn hóa sâu xa và những
Trang 12sáng tạo hài ước pha cay đắng Những cuốn sách của anh đưa chúng ta đến với Hà Nội, cho chúng ta có được cơ hội trở nên thông thạo nơi này cùng một trong những nhà quan sát sắc sảo nhất của nó"[30]
Trên trang cá nhân Facebook của thầy Lê Phạm Hùng, giáo viên chuyên văn
trường Amsterdam có viết: “Tản văn của Qúy trong Mỗi góc phố một con người
đang sống nói về những điều nhỏ nhặt mà không mấy người biết, hoặc biết mà chưa
chắc chắn đã biết đúng, hiểu đúng Qúy nói với những người chưa hiểu nhiều về Hà Nội rằng: Những ai quen với bộ mặt tươi cười, giọng nói ngọt ngào êm ái của những người làm nghề dịch vụ ở những miền khác, gặp phải bộ mặt lạnh lùng khó đăm đăm của người bán hàng Hà Nội, dễ sốc Nhưng có sống quen mới biết, ở Hà Nội vẫn có những công việc mà người phục vụ ân cần hơn cả mong đợi.”
Jason Gibbs (Jason Michael Gibbs, sinh năm 1960, làm công tác thư viện ở Thư viện công cộng Francisco, California, Mỹ, chuyên về âm nhạc) trong bài viết Lời giới thiệu cho cuốn tản văn Còn ai hát về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy có bày tỏ suy nghĩ: “Những bài ca Hà Nội này được người Việt khắp thế giới xem như vật yêu dấu đem theo, là nhu cầu của một văn hóa xa xứ Còn những người ở lại Hà Nội thuở nào cũng giữ chật những tà áo bay, những mùa thu lá vàng rơi trong kí ức nội tâm Mặc
dù là người yêu Hà Nội xưa, Nguyễn Trương Qúy cũng viết đến nhạc Hà Nội thời chiến, thời bao cấp, thời hội nhập một cách rất chu đáo và tận tụy Hà Nội hoài niệm
và hiện thực đều sống hòa thuận với nhau”[25,tr.20]
Trong bài viết “Để ngàn năm không còn là vô nghĩa” nhân dịp nhà văn cho ra tập sách mới, nhà thơ Thụy Anh đã đánh giá “Có cảm tưởng như Trương Qúy có thể viết mãi không dừng, vì với tài quan sát của anh thì bất kỳ hiện tượng gì cũng là đề tài
để viết Từ to tát vĩ mô như chuyện quy hoạch thành phố, văn hóa công viên, bàn về kiến trúc, cho đến cái vi mô là cái chợ nhỏ chợ to, chuyện ngập lụt, chuyện oi nực không lãng mạn chút nào của đời sống Thủ đô, rồi lại bàn cả vòng hai của gái ba mươi, chuyện tình online, chuyện lễ tết, chuyện chùa chiền đức tin Đang bàn đến món ăn tinh thần người Hà Nội, thoắt cái lại "tám" về món ăn quốc hồn quốc túy đang khiến nhiều người "khó thấy ngon" là Phở ”[34]
Trang 13Nhìn chung, khi bàn về tản văn của Nguyễn Trương Qúy, các ý kiến đều thống nhất ở chỗ: Cách tiếp cận hiện thực trong tản văn Nguyễn Trương Qúy linh hoạt, tinh
tế, lối dẫn dắt nhẹ nhàng nhưng rất có duyên từ chuyện nhỏ đến những chuyện to tát:
có khi từ góc nhìn của nhà kiến trúc, có khi lại nhìn cuộc sống từ những sắc màu lôi cuốn của những chuyến đi để tô tỉa đậm nhạt bức tranh về Hà Nội như một bức bích họa của một tay họa sĩ Nhưng đa số vẫn là điểm nhìn trung gian giữa Hà Nội xưa và nay, cũ và mới mà bắt đầu đều là những cái xưa cũ, rồi mới đến những cái ở hiện tại, tiếp theo là hình dung trong tương lai gần, tương lai xa ; mới đọc tưởng như là chuyện tám gẫu, chuyện phiếm nhưng khi đọc xong rồi mới thấy được những day dứt trăn trở trong lòng người đọc, với câu hỏi cho riêng mỗi người “Hà Nội ơi, làm sao để ngàn năm không là vô nghĩa”
Những tư liệu trên đây tuy còn ít ỏi song đó là những gợi ý quan trọng để chúng tôi hoàn thành luận văn này
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc sắc của đề tài Hà Nội trong sáu cuốn tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy, chúng tôi hi vọng
sẽ chỉ ra được những sáng tạo mới mẻ của nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy khi viết về
đề tài Hà Nội – một đề tài dường như “không còn đất để khai thác” nữa Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn cùng bạn đọc thấy được một Hà Nội mang hơi thở đương đại, từ góc nhìn hiện đại, góc nhìn kiến trúc, văn hóa và âm nhạc của nhà văn được xem là gã
“tay ngang” bước vào làng văn chương Nguyễn Trương Qúy Đây cũng chính là nét làm nên sự khác biệt của nhà văn Nguyễn Trương Qúy với các nhà văn khác
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung khảo sát những nội dung của tản văn Nguyễn Trương Qúy
về đề tài Hà Nội, chỉ ra những sáng tạo của nhà văn ở đề tài quen thuộc này
Trang 14- Làm rõ những hiệu quả của "thủ thuật", thủ pháp, biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để xây dựng hình tượng Hà Nội trong tản văn
- Bước đầu đánh giá những đóng góp của nhà văn Nguyễn Trương Qúy đối với thể loại tản văn trong văn học Việt Nam đương đại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp những nội dung, đặc sắc nghệ thuật trong tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Tìm hiểu tiểu sử, con người Nguyễn Trương Qúy để có cơ sở hiểu hơn về sáng tác của nhà văn, nhất là tản văn, thể loại đòi hỏi tính chân thực, bộc lộ “cái tôi” cá nhân của nhà văn
4.2.3 Phương pháp so sánh - thống kê
So sánh tản văn của Nguyễn Trương Qúy với các tản văn viết về Hà Nội của những người đi trước và cùng thời với nhà văn Đối chiếu tản văn ở mỗi thời điểm sáng tác khác nhau để thấy được những đặc sắc riêng của nhà văn
Đọc và thống kê các từ mới, cách đặt các câu hỏi được sử dụng trong tản văn để thấy được văn phong riêng của nhà văn
Trang 15- Ăn phở rất khó thấy ngon (2008)
- Hà Nội là Hà Nội (2010)
- Xe máy tiếu ngạo (2012)
- Mỗi góc phố một con người đang sống (2013)
- Còn ai hát về Hà Nội (2013)
Truyện ngắn Dưới cột đèn đường rót một ấm trà, và những bài trả lời phỏng
vấn, bài viết trên Blog TQ, bài viết đăng báo của Nguyễn Trương Qúy chỉ được đề cập khi làm tư liệu so sánh
6 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ
thống và toàn diện tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy về đề tài Hà Nội Từ đó góp phần khẳng định đóng góp của nhà văn đối với thể loại tản văn trong văn học đương đại; cả những đóng góp của nhà văn trong dòng văn học viết về đề tài Hà Nội
- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ là tài liệu cần thiết và bổ ích góp phần vào
việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về tản văn Nguyễn Trương Qúy, ngoài ra còn có ý nghĩa định hướng gợi mở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu nét đặc sắc trong sáng tác văn xuôi của nhà văn nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về thể loại tản văn và tản văn của Nguyễn Trương Qúy Chương 2 Bức tranh Hà Nội từ những góc nhìn: Kiến trúc, văn hóa và
âm nhạc
Chương 3 Văn phong của Nguyễn Trương Qúy trong tản văn viết về Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN
CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 1.1 Khát quát về thể loại Tản văn
1.1.1 Khái niệm tản văn
Tản văn – một thể loại tưởng như không có thời hưng thịnh, tưởng như người đọc chẳng có lúc nào phải đắn đo, và cũng chẳng đến nỗi có lúc phải đưa ra bàn tán, ấy thế mà đã đến lúc mọi việc đều đã thay đổi và người đọc đã phải tìm đến những cuốn tản văn, và những trang tản văn cũng đeo đuổi bám rễ và làm trắc ẩn những suy nghĩ trong tâm hồn người đọc Tuy vậy, cho đến nay cách gọi tản văn vẫn chưa thống nhất
Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm 1997 là cuốn
duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa là một thể loại văn
học có những đặc trưng riêng biệt: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả”[11,Tr 329]
Trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến quan niệm “Tản văn
là một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình,
tự sự hoặc nghị luận, thường có mấy thứ đan quyện vào nhau”[14,Tr.32]
Trần Đình Sử trong bài viết “Tản văn hiện đại Việt Nam – Một thể loại bị lãng
quên” - lời giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam có viết: “Tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật Đó có thể là những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể”[47]
Trang 17Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả
Có lẽ cũng vì vậy, nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy đã lựa chọn tản văn để chuyển tải những cái tứ của đời sống Tản văn cho phép tác giả thoải mái mổ xẻ và đưa ra quan niệm riêng của mình
1.1.2 Đặc trưng thể loại tản văn
Gần đây, Tiến sĩ Lê Trà My đã có những công trình nghiên cứu về thể loại tản văn Theo Tiến sĩ Lê Trà My thì tản văn có nhiều yếu tố tương đồng với những thể loại như tạp văn, tạp bút… nhưng về cơ bản, tản văn vẫn có những đặc trưng riêng để phân biệt với các thể loại khác của văn học
1.1.2.1 Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng ngắn, hàm súc và không có cốt truyện Tản văn chủ yếu chú trọng vào chi tiết nên có thể coi đây là một thể loại văn xuôi không đòi hỏi cốt truyện Người viết tản văn thường lựa chọn vài ba nét từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó để bày tỏ thế giới nội tâm cũng như cảm xúc của mình về thế giới Ví như từ một cành hoa mận mà gợi nhớ bao kí ức tuổi thơ êm
đềm, đầy ắp những kỉ niệm ngọt ngào thời thơ ấu bên gia đình (Một loài hoa thương nhớ - Đỗ Bích Thúy); chỉ là chuyện đi làm công sở cũng thành chuyện: “Tại sao khi
mới đi làm chúng ta ai cũng hăm hở? “Tưởng như bầu nhiệt huyết đang sôi sục trong người chỉ chờ có cơ hội là được bộc lộ Vậy mà chỉ sau vài ngày đi làm ở công sở, chúng ta cứ chuội dần đi…”[24] Và thấy cái gì cũng như ngày càng có vẻ chậm hơn… Tất cả những điều tưởng chừng như tủn mủn, lặt vặt ấy đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời “Vấn đề còn lại chỉ là sức cảm, sức nghĩ, là độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết mà thôi Nói gọn lại, tản văn là phải tạo ra “một cái gì đó” có ý nghĩa tiếp sau cái cớ ban đầu kia; “một cái gì đó”, nói kiểu công thức “chạm vào trái tim và khối óc người đọc” theo một cách riêng của văn chương”[24,tr.40] Với công phu tinh lọc như vậy, các chi tiết xuất hiện trong tản văn thường rất hàm súc, giàu sức gợi Có thể coi tản văn như là “thơ tứ tuyệt” của văn xuôi
1.1.2.2 Tản văn là loại tác phẩm được cấu tứ Về phương diện kết cấu, tản văn
là loại tác phẩm trữ tình biểu lộ thế giới tinh thần của chủ thể Nó không coi trọng
Trang 18thông tin, sự kiện mà cốt là ở cách nhìn, cách lí giải sự kiện Kết cấu tác phẩm tản văn dựa trên sự liên tưởng kết nối các sự kiện, nhân vật, hình ảnh, chi tiết vào với nhau Các chi tiết trong tản văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống mang tính khách quan như trong các tác phẩm tự sự mà chúng chỉ là những tín hiệu bộc lộ chủ thể nhà văn bởi nghệ thuật tản văn như đã nói là nghệ thuật biểu hiện Giả Bình
Ao nói nghệ thuật tản văn là “nghệ thuật của biểu hiện chứ không phải đòi bạn tái hiện” Do vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác phẩm Cấu
tứ trong tản văn chủ yếu dựa trên sự liên tưởng này Tản văn có thể coi là thể loại có
vẻ dễ viết nhưng khó hay Muốn tạo ra những tác phẩm tản văn hay đòi hỏi trình độ người viết phải tạo ra một cấu tứ, một tổ chức mang tính nghệ thuật cao, một vốn kiến thức đa ngành, liên ngành; cả nghệ thuật chơi chữ, mặc dù chỉ là tiểu xảo nhưng lại có khả năng điểm xuyến làm sinh động ý tưởng
1.1.2.3 Tản văn bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác Xét một cách khách quan, ở thể loại văn học nào thì cái tôi nghệ sĩ của tác giả cũng ít nhiều in dấu trong tác phẩm Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn ẩn mình vào những hình tượng nhân vật Ở thơ, cái tôi nhà thơ có phần bộc lộ rõ hơn so với truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn ẩn mình dưới hình tượng nhân vật trữ tình Ở tản văn, nhà văn trực tiếp cất lên tiếng nói, như nói trực tiếp câu chuyện, quan điểm của chính mình Ở tản văn, người viết văn công khai với tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật và biến mình trở thành hình tượng nhân vật Nhà tản văn nổi tiếng người Trung Quốc Tiền Cốc Dung có từng viết về đặc trưng của tản văn như sau: “Vốn dĩ mọi tác phẩm văn học đều in dấu tính tình, phẩm cách của tác giả nhưng ở thơ, tiểu thuyết, kịch, tác giả thường ẩn mình đi, bọc mình lại khiến bạn đọc không dễ gì thấy ngay được diện mạo thật của họ Còn tản văn thì không thế Tác giả của chúng không hề tô điểm, trang sức mà cứ trần trụi ra trong mắt bạn đọc Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình, không một chút giả dối, điểm tô Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm sự với người quen cũ lâu ngày không gặp lại Qua tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được con người họ, thấy ngay được bản sắc, bản tướng của họ Cho nên
Trang 19tản văn là tác phẩm thấy được tính tình tác giả rõ nhất, do vậy dễ viết nhất mà cũng khó viết nhất Những ai không thực sự có tính tình, hoặc không thực sự có lời muốn ngỏ thì tốt nhất là không nên viết tản văn”[17] Dựa trên nguyên tắc tự biểu hiện, người viết tản văn thường có xu hướng lấy ngay chính cuộc sống của mình ra làm chất liệu để xây dựng tác phẩm Do đó, sức mạnh của tản văn trước hết là nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm bút
1.1.2.4 Tản văn có cách thức biểu hiện đa dạng: Tản văn được xem là thể văn
tự do và phóng túng nhất Vì “Tất cả các yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức tự do, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện”[47] Có nhiều phong cách viết tản văn khác nhau có cách viết nghiêm túc, có khi là cười cợt,trữ tình, chính luận, triết lí Cách viết tản văn cũng rất đa dạng: tự sự, trữ tình, hoặc nghị luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau Giả Bình Ao từng nói:
“Tản văn là nghệ thuật bay, nghệ thuật bơi, nó tự do thoải mái” Tản văn là thể văn
cho phép người viết thỏa sức khai thác đề tài ở mọi lĩnh vực đời sống, không hạn định
bởi một khuôn mẫu nào Trần Đình Sử trong Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại
bị lãng quên có viết: “Tản văn nói được bao điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ ”[47] Tính tự do của tản văn khiến tản văn có thể kết hợp nhiều kiểu loại chi
tiết từ chi tiết xác thực đến chi tiết hư ảo, hoang đường Có thể nói, chưa có thể loại nào đạt tới sự ngẫu hứng, phong phú và đa dạng như tản văn
1.1.2.5 Giọng điệu tản văn: Tản văn được coi là thể loại văn ngẫu hứng, văn chơi nên giọng điệu thường nhẩn nha, trò chuyện, tâm sự Có người nói đọc tản văn như “nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân quanh bàn trà, điếu thuốc” Người viết tản văn có tâm thế nhàn tản, cái nhàn của con người biết thoát khỏi những
o ép đời thường, tìm tới sự thấu triệt sâu sắc của lẽ đời Tản văn thích hợp với sự ngâm ngợi, chiêm nghiệm, điềm tĩnh mà đằm sâu Thủ thỉ đấy, nhẩn nha đấy nhưng thâm trầm sâu sắc và đầy triết lí
1.1.2.6 Theo tác giả Nguyễn Đức Dũng “Ngôn ngữ tản văn bóng bẩy, trong sáng, súc tích, tươi mới, tự nhiên Tản văn không lấy hiệu quả ở tình tiết, cũng không lấy nhân vật để khắc họa sự hiểu biết, đồng thời cũng không yêu cầu có tình cảm đặc
Trang 20biệt mãnh liệt như thơ, đề tài của tản văn tuy rộng nhưng cái rộng lớn đa dạng của nó
là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suy nghĩ, mong muốn, xúc động từ cuộc sống thường nhật cho đến những hiện tượng khác Loại nội dung và yêu cầu thể loại nhàn nhã tự tại của nó rất hợp với ngôn ngữ tự nhiên, tươi mới, gọn gàng, bóng bẩy Tản văn miêu tả nhân vật phải sinh động như cuộc sống, rõ ràng như đang hiện ra trước mắt, truyền đạt âm thanh phải giống hệt; tình cảm biểu hiện thì phải chân thực thiết tha, tế nhị; thuyết lí nghị luận phải vừa trang trọng vừa hài hước, thú vị, không cần kiểu cách mất tự nhiên, không cần che đậy, tất cả phải lên xuống tự do như mạch đập của con người, như tiếng nước chảy trong khe núi”[38] Có thể nói tác giả Nguyễn Đức Dũng đã có những nhận định tiêu biểu về ngôn ngữ của tản văn
Trên đây là những đặc trưng của tản văn Cũng căn cứ vào đặc trưng thể loại tản văn chúng ta nhận thấy: Không thể nói tản văn như một thể loại thuần khiết, trong đó
có nhiều sự pha trộn, sự giao thoa của nhiều thể loại khác nhau Cho nên bản chất của tản văn là rất tự do, đường biên của nó có sự giãn nở tùy theo nhu cầu sáng tạo của nghệ sĩ
1.1.3 Phân loại tản văn
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào thống nhất quan điểm của các nhà nghiên cứu về phân loại tản văn Bất kể từ góc độ nào, căn cứ nào cũng có thể chia tản văn thành nhiều chủng loại khác nhau Cũng như tác giả Nguyễn Đức Dũng đã căn cứ vào “đối tượng và hình thức thể hiện để chia tản văn thành ba loại: tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận
Tản văn tự sự vẫn lấy sự kiện, nhân vật, cảnh vật làm nội dung biểu đạt chủ yếu, lấy sự trần thuật miêu tả làm phương thức biểu đạt chủ yếu Nó chú trọng kể việc, ghi người, tả cảnh nhưng cũng không giống như kể việc ghi người tả cảnh trong tiểu thuyết Kể chuyện trong tản văn chỉ là trần thuật một số phiến đoạn của sự kiện; ghi người chỉ là ghi một số mặt quan trọng của nhân vật, tả cảnh chỉ là tả một số phương diện nào đó của cảnh vật; hơn nữa, những sự việc, con người, cảnh vật này đại đa số chỉ là những sự việc, con người, cảnh vật mà tác giả đã tiếp xúc qua, tác giả thường lấy nhân xưng ngôi thứ nhất “Tôi” làm sợi dây liên kết những phiến đoạn của sự kiện,
Trang 21những mặt nào đó của nhân vật, phương diện nào đó của cảnh vật; thủ pháp miêu tả thường là vận dụng lược thuật và phác họa, ngôn ngữ ít ỏi cốt chỉ vẽ ra tình trạng của
sự kiện, thần thái của nhân vật, đặc sắc của cảnh vật Tản văn tự sự chia thành: tản văn
kí sự, tản văn ghi người, tản văn tả cảnh
Tản văn trữ tình là tản văn lấy sự bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả làm chủ đạo, điều căn bản của nó là bộc lộ tình cảm Trữ tình ở đây đã chỉ ra nội dung chủ yếu của nó là tình cảm, đồng thời cũng chỉ ra thủ pháp biểu hiện chủ yếu của nó là trữ tình
“Tình” trong tản văn trữ tình chiếm vị trí vô cùng quan trọng Tản văn trữ tình ưu tú phải lấy “tình” làm sợi dây sắp đặt kết cấu, tính chủ quan của nó đặc biệt mãnh liệt Ở phương diện này, tản văn trữ tình và thơ trữ tình có điểm giống nhau, nhưng tản văn trữ tình khác với thơ trữ tình ở chỗ không trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mà phần nhiều là sự việc nảy sinh tình cảm, mượn cảnh nói tình, lấy vật để nói chí, “tình” của nó phải có cái dựa vào, tình thấm vào trong cảnh và vật rồi bộc lộ ra, tình cảm chủ quan và cảnh vật khách quan nhập vào làm một Ngoài ra tình cảm trong tản văn trữ tình không tập trung như thơ trữ tình, nó thường là sự trải rộng của tư tưởng tình cảm trong một tổ chức, sắp xếp hết sức công phu của tài liệu Ngôn ngữ tản văn khác ngôn ngữ thơ trữ tình là điều đã quá rõ ràng
Tản văn nghị luận là tản văn lấy việc nói rõ đạo lí, biểu đạt điều mình nhìn thấy làm nội dung chủ yếu, lấy nghị luận làm thủ pháp biểu hiện cơ bản Tản văn nghị luận bám chắc vào sự kiện, nhân vật, hiện tượng có ý nghĩa điển hình phong phú trong đời sống, lấy sự đồng tình của bản thân nhà văn và những tư tưởng, kiến giải, chủ trương làm cơ sở lập luận, dùng ngôn ngữ sinh động giàu tính văn học, dùng cách viết trong sáng rõ ràng để khái quát đặc điểm, chỉ rõ bản chất, làm nổi bật quy luật, do đó, tản văn nghị luận có tính khuynh hướng tư tưởng rõ ràng và sắc thái tình cảm mãnh liệt Tản văn nghị luận bao gồm tạp văn, văn tiểu phẩm, tùy bút….”[38]
Ngoài ra, căn cứ theo đề tài,người ta cũng có thể chia tản văn thành các nhánh : tản văn phong tục tập quán; tản văn sản vật, địa danh; tản văn sinh hoạt, thế sự; tản văn chân dung, tản văn triết học; tản văn về các vấn đề văn học nghệ thuật …
Khi căn cứ vào phương diện nội dung, chủ đề thì tản văn lại có nhiều loại hình khác nhau: Tản văn triết luận, tản văn hồi tưởng và tản văn cảm thời Trong đó, Tản
Trang 22văn triết luận thường là tác giả dùng thủ thuật phân thân để đối thoại với bạn đọc về một vấn đề bàn luận nào đó Lúc này tác giả nêu ra ý kiến của mình sau đó chờ bạn đọc phản hồi và cùng đi đến những quan điểm thống nhất Nhà văn Nguyễn Trương Qúy có sử dụng thủ thuật này trong tản văn của mình ví dụ như khi nhà văn nói về vấn
đề thời tiết nóng ở Hà Nội chẳng hạn Tác giả đã có sự thống kê những tác phẩm văn chương đề cập đến thời tiết nắng nóng ở Hà Nội Hay là những thống kê về những biện pháp chống nóng ở Hà Nội Lúc khác lại bàn tới việc khách du lịch đến Hà Nội đúng vào cái dịp không may nhất “nắng – nóng” và họ đã có những hành vi, thái độ như thế nào về vấn đề “nóng cháy mặt đường, rát mặt người” ở Hà Nội Tản văn hồi tưởng thường đậm màu sắc trữ tình với những hoài niệm về quá khứ Điểm này có thể thấy rõ trong tản văn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến hoặc nhà văn Trần Chiến, Đỗ Phấn Họ là những nhà văn đã từng đi qua cái thời Hà Nội tuy có diện tích không lớn, cuộc sống không giàu sang như bây giờ nhưng cảnh Hà Nội thanh bình, lãng mạn; người Hà Nội có nghèo nhưng vẫn có cốt cách, có cái sang mà mấy ai có được Hai nhà văn trẻ Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Qúy lại thiên về tản văn cảm thời thường
là những suy ngẫm về những vấn đề thời cuộc, mang mầu sắc thế sự
1.1.4 Mối liên hệ tản văn và kí
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên) là cuốn từ điển duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi
còn có nghĩa dùng hiện nay là một thể loại văn học có đặc trưng riêng biệt: “Nghĩa đen
là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi Nếu văn xuôi theo nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu phẩm, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các thể loại truyện hư cấu”[11,Tr 293] Cuốn sách cũng chỉ ra các đặc điểm riêng của nó nhằm phân biệt với các thể loại khác: “Tản văn là loại văn xuôi gọn nhẹ, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản
Trang 23văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp
tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả”[11,Tr 294]
Công trình nghiên cứu “Nghìn năm ký, tản văn về Thăng Long – Hà Nội”
(Nguyễn Đăng Điệp chủ biên) cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn diện về Ký – Tản văn Hà Nội qua các thời kỳ Công trình này cũng cho thấy văn học Thăng Long – Hà Nội, trong đó có tản văn đã phát triển liên tục, góp phần khẳng định vị trí trung tâm văn hóa, văn học của nước Việt ngàn năm văn hiến
Từ thế kỉ X – XV: Thành tựu và vẻ đẹp riêng, độc đáo Trong năm thế kỉ đầu, tản văn Thăng Long đã thể hiện vẻ đẹp độc đáo của văn hóa lịch sử đương thời và đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc của thể loại trong các giai đoạn tiếp theo
Thế kỷ XVI – cuối thế kỷ XI: Giai đoạn này tản văn không có nhiều thành tựu nổi bật nhưng đã tạo được một số tiền đề cho các giai đoạn sau tiếp tục kế thừa và phát huy Bắt nguồn từ cuộc sống đầy xáo trộn của chốn king thành Thăng Long dưới thời Trịnh – Nguyễn phân tranh Các nhà văn bắt đầu ý thức được rằng không thể không phản ánh thế sự bể dâu bằng cái nhìn thế sự Các tác phẩm thuật về những điều tai nghe mắt thấy của xã hội đoạn trường, những biến đổi sâu sắc về giá trị, trong các trang văn, ta vẫn thấy hình ảnh một đế đô Thăng Long hào hoa, thanh lịch
Từ đầu thế kỷ XX đến 1945: Đậm chất trữ tình và đầy chất hiện thực Giai đoạn nay văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp và văn minh Châu Âu, văn hóa Việt Nam từng bước hội nhập nhưng không hòa tan Tản văn viết về Thăng Long giai đoạn này phân hóa thành hai nguồn cảm hứng: trữ tình và hiện thực
Giai đoạn 1945 – 1975: Là giai đoạn văn học phản ảnh thời kỳ độc lập dân tộc,
tụ do sau bao nhiêu năm tháng sống trong cảnh xiềng xích nô lệ Ngay sau niềm vui Thủ Đô Hà Nội được giải phóng, tản văn Hà Nội đã tập trung miêu tả vẻ đẹp của cuộc sống mới, con người mới.Tản văn giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật với đội ngũ tác giả, nhà văn đông đảo và những tác phẩm phản ánh đúng không khí thời đại như:Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân Tuy vậy,Tản văn Hà Nội giai đoạn này bên cạnh âm hưởng hào hùng, phơi phới niềm tin, vẫn vương nét u buồn
Ký, tản văn Thăng Long – Hà Nội từ 1975 đến nay: Giai đoạn này, Thủ đô Hà
Nội cũng nhân dân cả nước hân hoan ngày đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp Cả
Trang 24nước bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước theo hướng hiện đại hóa, đồng thời khắc phục những hậu quả chiến tranh Trong văn học thì cảm hứng thế sự đã nhương chỗ cho cảm hứng thế sự đời tư Trong khi đó thể lạo tản văn ngắn gọn, xúc cảm… phù hợp để ghi lại những phút suy cảm đầy ưu thời mẫn thế của cuộc sống nhà văn Những gương mặt nhà văn nổi bật trong giai đoạn này là Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Nguyễn Bắc Sơn, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Mai Ngữ, Mai Thục, Băng Sơn, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Qúy… Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử, rất nhiều thế hệ nhà văn đã gửi tình yêu và niềm tự hào về Thăng Long - Hà Nội qua những trang ký – tản văn tài hoa và tinh tế của họ
Nguyễn Trương Qúy là một nhà văn trẻ, là người đại diện cho thế hệ nhà văn của thế kỷ XXI, viết tiếp những suy cảm về Hà Nội nghìn năm văn hiến Bằng cái nhìn thế sự Nguyễn Trương Quý vừa cho thấy một Hà Nội phát triển mạnh mẽ, với nhiều sự thay đổi đến choáng ngợp, vừa là một Hà Nội ồn ào, xô bồ, với đầy đủ mọi thói hư tật xấu Đối tượng mà ngòi bút Nguyễn Trương Qúy len lỏi đi sâu phản ánh là quy hoạch kiến trúc ở Thủ đô Hà Nội, Phương tiện đi lại, những thói quen tiêu dùng, hành vi của người Hà Nội… Bên cạnh đó Nguyễn Trương Qúy cũng cần mẫn đi tìm lại những câu hát về Thăng Long Hà Nội mà cho đến nay người trẻ còn mấy ai biết tới Có thể nói, mọi hình ảnh, trạng thái của Hà Nội đều được Nguyễn Trương Qúy quan sát và tỉ mỉ
ghi chép lại qua mỗi cuốn tản văn: Tự nhiên như người Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon, Hà Nội là Hà Nội, Xe máy tiếu ngạo, Còn ai hát về Hà Nội, Mỗi góc phố một con người đang sống…
1.2 Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam
1.2.1 Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam hiện đại
Trong hai mươi năm đầu thế kỉ XX, xu hướng của các nhà văn là phản ánh trực diện cuộc sống và con người Hà Nội Văn học giai đoạn này hình thành hai khuynh hướng rõ nét là khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực
Ở khuynh hướng lãng mạn, các nhà văn viết về Hà Nội với cái nhìn sâu sắc về những thay đổi tinh vi trong tâm hồn, tình cảm, tâm trạng của con người Người đọc
có thể cảm nhận được rõ thông qua các tiểu thuyết thuộc nhóm các tác giả Tự lực văn
đoàn như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Nửa chừng xuân của Khái Hưng Ở thể loại
Trang 25truyện ngắn Hoa vông vang của Đỗ Tốn, Hoa tigôn của Thanh Châu, Ba, Thả thia lia
của Đỗ Đức Thu Đặc biệt là hai tác giả Thạch Lam và Nguyễn Tuân - hai cây bút đương thời tiêu biểu nhất cho thái độ trân trọng, nâng niu những nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội cổ xưa
Ở khuynh hướng văn học hiện thực, các nhà văn đã tập trung miêu tả Hà Nội trong cuộc vật lộn, đấu tranh với hai tầng áp bức thực dân và phong kiến, do đó hiện lên trên những trang văn là một Hà Nội đầy khổ đau và bát nháo Tiếp cận Hà Nội dưới cái nhìn hiện thực, tiêu biểu là truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài Mỗi nhà văn có cách tiếp cận về Hà Nội ở những khía cạnh khác nhau song tất cả đều hướng đến phê phán hiện thực xã hội đương thời
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam mới Diện mạo đất nước thay đổi và văn học viết về thủ đô Hà Nội cũng có những thay đổi lớn lao.Văn xuôi viết về Hà Nội trong khoảng thời gian mươi mười lăm năm sau kháng chiến chống Pháp là những trang viết
đi sâu vào bộc lộ niềm thương nhớ mảnh đất Hà thành Trong đó, phải kể đến các tác
giả Nguyễn Tuân với một loạt tùy bút: Phở, Làng hoa, Con hồ Hà Nội, Lũy hoa, Giò lụa, Cốm, Phố Phái
Sau 1975, hoàn cảnh đất nước thay đổi, kéo theo đó là sự thay đổi của đời sống văn học Các nhà văn đã đi sâu vào cảm hứng thế sự - đời tư Tất cả mọi người đều phải đối mặt với một xã hội mới với đời sống kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và hội nhập quốc tế, xuất hiện những xung đột, những mâu thuẫn giữa các thế hệ về đạo đức, lối sống làm nảy sinh nhiều bi kịch trong đời sống Các nhà văn đã lột trần bộ mặt đen tối của xã hội và con người đương thời Trong giai đoạn này, tập trung nhiều cây bút của nhiều thế hệ như Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp,
Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh
Ở khuynh hướng lãng mạn, các nhà văn viết về Hà Nội với cái nhìn sâu sắc về những thay đổi tinh vi trong tâm hồn, tình cảm, tâm trạng của con người Người đọc
có thể cảm nhận được rõ thông qua các tiểu thuyết thuộc nhóm các tác giả Tự lực văn
đoàn như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Nửa chừng xuân của Khái Hưng Ở thể loại
Trang 26truyện ngắn Hoa vông vang của Đỗ Tốn, Hoa tigôn của Thanh Châu, Ba, Thả thia lia
của Đỗ Đức Thu Đặc biệt là hai tác giả Thạch Lam và Nguyễn Tuân - hai cây bút đương thời tiêu biểu nhất cho thái độ trân trọng, nâng niu những nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội cổ xưa
Trong cuốn tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Việt Hà đã viết những lời cay đắng về
Hà Nội, đó là những trang văn mà Hà Nội hiện lên thật xấu xí, nhốn nháo Nhà văn
viết về một hiện thực “Ba ngôi của người Hà Nội bây giờ thì buồn quá, nó không quá nghèo nhưng vô đạo và ít học” hay “Thành phố đang loay hoay tha hóa” Qua đó bộc
lộ thái độ xót xa của nhà văn trước những nét đẹp đã bị mất
Trong văn Bảo Ninh nổi bật một Hà Nội thời hậu chiến Với Khắc dấu mạn thuyền, Thời tiết của ký ức, Hà Nội lúc không giờ,…truyện ngắn của Bảo Ninh hầu hết
viết về Hà Nội, vì tình yêu Hà Nội, một Hà Nội “cũ xưa” chưa bị chiến tranh phạt ngang, một Hà Nội đau đớn thời hậu chiến
Đọc các tác phẩm viết về Hà Nội phần nào cho độc giả hiểu rõ và sâu sắc hơn
về vẻ đẹp của đất và người Hà Nội trải qua các thời kì hưng vong của lịch sử Thật tự hào khi Thủ đô Hà Nội từ lâu đã trở thành cảm hứng bất tận cho các văn nhân nghệ sĩ
để cho ra đời những tác phẩm xuất sắc, góp phần làm đa dạng, phong phú hơn đề tài văn học về Thăng Long - Hà Nội
1.2.2 Hà Nội qua những cuốn tiểu thuyết, tản văn, và khảo cứu viết về Hà Nội
Hà Nội thời nào cũng vậy, luôn đóng vai trò là trái tim của cả nước, là trung tâm văn hóa kinh tế cũng là nơi khơi nguồn cảm hứng cho các nhà văn nhà thơ, nghệ
sĩ, nhạc sĩ sáng tác Đã có nhiều tác phẩm viết về Hà Nội đi vào lòng người yêu sách như những tác phẩm của nhà văn Băng Sơn, Đỗ Phấn, Nguyễn Ngọc Tiến, Trần Chiến, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Qúy… Mỗi tác giả viết về một Hà Nội ở những góc nhìn khác nhau nhưng đều chan chứa tình yêu tha thiết, cháy bỏng đối với mảnh đất này
Trước hết, nói về tản văn viết về Hà Nội của nhà văn Băng Sơn.Tác giả có
nhiều tập sách viết về Hà Nội như tùy bút Thú ăn chơi người Hà Nội (1993), Đường vào Hà Nội (1997), Dòng sông Hà Nội, Phập phồng Hà Nội, Hà Nội 36 phố phường, mới đây nhất nhà văn cho ra mắt bạn đọc tập tản văn Hà Nội rong ruổi quẩn quanh
Trang 27(2013) Nhìn vào những cống hiến này của nhà văn Băng Sơn viết về Hà Nội người đọc
đủ hiểu tình yêu với Hà Nội trong nhà văn đằm thắm, ân tình biết bao nhiêu Chỉ có yêu Hà Nội thì nhà văn mới có thể viết say sưa, viết nhiều về Hà Nội đến vậy Đến nay chúng ta cũng không thấy làm lạ khi chính tác giả khẳng định “mình quá hiểu Hà Nội lắm rồi” Có thể nói tất thảy những gì thuộc về Hà Nội gần như đã nằm trọn trong khối
óc và trái tim của nhà văn Băng Sơn Cũng vì vậy mà chỉ một câu chuyện, sự vật hay chuyển động nhỏ của Hà Nội cũng làm trái tim ông rung động mà nhả hồn chữ về mảnh dất này Từ những món ăn quan thuộc gần gũi như bún , phở, bánh cuốn món quà sáng của người Hà Nội Những gia vị của các món ăn cũng đi vào trang văn của tác giả Rồi thú uống trà, dòng sông, con phố, cây xanh, những địa danh lịch sử cũng
ẩn hiện trong văn của nhà văn Băng Sơn bằng tình yêu máu thịt Gần đây, tập tản văn
Hà Nội rong ruổi quẩn quanh như một minh chứng tiêu biểu, điển hình nhất cho sự
gắn bó sâu đậm của tác giả với Hà Nội Chỉ bằng 200 trang sách nhưng nhà văn đã dẫn dẵn người đọc vào một tour du lich văn hóa Thủ đô đầy chân thực: Từ những địa danh lịch sử, những con phố, cây xanh đến những câu chuyện “phiền toái” sẵn có ở Hà Nội nay là ùn tắc giao thông, khói bụi ô nhiễm …
Tác giả Băng Sơn đại diện cho những người sống ở thành phố ngàn năm tuổi này giới thiệu một “Hà Nội vừa tha thiết u trầm chất phương Đông, vừa náo nức đua chen xô bồ hối hả một chất phương Tây” qua những tác phẩm của ông
Nhà báo, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến sinh ra và lớn lên tại Hà Nội Là tác giả được đánh giá là người viết nhiều về Hà Nội nhất, mỗi tác phẩm đều thể hiện tình yêu với Hà Nội chân thành và sâu đậm Người đọc dễ dàng cảm nhận tình cảm này của nhà
văn Nguyễn Ngọc Tiến qua những ấn phẩm: những tập tản văn, khảo cứu như 5678 bước chân quanh Hồ Gươm, Đi dọc Hà Nội, Đi Ngang Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội, Mong Manh
Một tập tản văn là mỗi góc nhìn cũng như nỗi niềm mà nhà văn muốn gửi đến
bạn đọc Theo chia sẻ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến trên trang báo điện tử Đời sống
và pháp luật, do phóng viên Lạc Thành thực hiện: “Các tác phẩm của tôi viết về Hà
Nội khác với các tác giả khác vì tôi thiên về mảng đời sống thị dân, những thay đổi
hiện nay của người Hà Nội Ở cuốn 5678 bước chân quanh Hồ Gươm, tôi kể về những
Trang 28chuyện “lặt vặt” nhưng “rất Hà Nội”, “lặt vặt” từ khi hồ có tên Lục Thủy đến khi mang tên Hồ Gươm Chuyện về con người, cảnh vật quanh con hồ thẫm đẫm huyền thoại và lịch sử Thêm vào đó là những chuyện tôi biết, trải nghiệm về Hà Nội theo cái nhìn cá nhân Tôi không nhìn Hà Nội theo con mắt đạo đức mà theo hiện thực xã hội Hà Nội với tôi là những thứ gần gũi thân thương”[49] Qủa đúng như vậy, chỉ có tình yêu chân thành tha thiết với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng thể xác và tâm hồn nhà báo, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến nên nơi đâu cũng ghi dấu những kỉ niệm với tác giả Những gì nhỏ nhặt, vụn vặt tác giả cũng muốn nâng niu chân trọng Tình yêu không cần tìm ở nơi đâu mà chính là tìm về với những sự vật, sự việc đang ngày ngày hiện hữu xung quanh mỗi chúng ta
Hai cuốn sách Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội được tác giả viết dưới dạng kí -
khảo cứu Tác giả dẫn dắt người đọc đến với những câu chuyện nhạy cảm ít ai đề cập
đến như ,Tư sản Hà Nội, Xẩm Hà Nội, Thú chơi đĩa than ở Hà Nội, Câu chuyện về chiếc xe đạp, Những giai thoại dân gian, Những bài văn vần về dất Hà Thành…; hoặc dẫn người đọc đi dọc theo tiến trình lịch sử của Hà Nội: từ câu chuyện Ai là người xây Tháp Rùa, Đào Nhật Tân, Kẻ cắp chợ Đồng Xuân,… Hai cuốn sách này của nhà báo,
nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến được nhận giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội năm 2012
Đi xuyên Hà Nội là cuốn tản văn mới ấn hành gần đây của nhà báo, nhà văn
Nguyễn Ngọc Tiến, qua lời văn tài hoa, đôn hậu nhà văn giúp người đọc hiểu hơn về
văn hóa, thói quen, nếp sống của người Hà Nội từ góc nhìn đối sánh xưa và nay Đi xuyên Hà Nội cũng là tiếng lòng của tác giả khi nghĩ vè những truyền thống nghìn năm
văn hiến đang dần phôi pha ở thực tại Bên cạnh đó, cũng là thái độ bình thản chấp nhận như một chuyển mình mang tính tất yếu của thời đại Ẩn sâu bên trong từng câu chữ vẫn là sự nuối tiếc, hoài nhớ về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng và tác giả vẫn “luôn mơ về một Hà Nội thơm phức như thế…”
Nhà báo, nhà văn Trần Chiến tác giải của hai cuốn sách viết về Hà Nội: tiểu
thuyết Cậu ấm và tản văn A đây rồi Hà Nội 7 món Cả hai tác phẩm của nhà văn đều
được đề cử nhận giả thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội, hạng mục tác phẩm Nội dung của hai tác phẩm vẫn hướng vào đời sống thị dân Hà Nội nhưng không phải
Trang 29là xã hội ở thế kỉ XXI, mà hướng về xã hội của thế kỉ XX Trước hết nói về tiểu thuyết
Cậu ấm, tác giả có chia sẻ những suy nghĩ của mình trên trang báo điện tử Thể thao và văn hóa do Nha Đam thực hiện “Những thay đổi trong cuộc sống của thị dân Hà Nội
đến cùng nhiều thay đổi thời cuộc Họ đã sống qua thời nho tàn, Tây học, Cách mạng, Kháng chiến, sau này là cải cách ruộng đất… Tất cả để lại dấu tích rõ ràng trong cuộc đời, trong tâm thức, trong lối sống của thị dân Hà Nội”[39] Những tâm sự này của nhà
văn đã gửi gắm trọn vẹn vào nhân vật Vận trong tiểu thuyết Cậu ấm Vận mang trong
mình đam mê cháy bỏng với ẩm thực Hà Nội nhưng vấp phải nhiều khó khăn từ gia đình, cuộc sống và xã hội nên Vận đành chôn vùi niềm đam mê đó Chiến tranh qua đi, hòa bình lấp lại ở Hà Nội, Vận đã có cơ hội để thực hiện đam mê của mình nhưng thật không thuận lợi như Vận nghĩ vì phải sống trong một nỗi e dè
Tản văn A đây rồi Hà Nội 7 món là một tản văn thể hiện tình yêu và tình thương
với mảnh đất kinh kỳ Thăng Long Hà Nội đã oằn mình trải qua bao biến cố của thời cuộc Với nhà văn tình yêu với Hà Nội thì luôn thường trực trong tâm trí vì nhà văn quan niệm “sống ở Hà Nội thì nên yêu Hà Nội Có tình yêu thì vẫn tốt hơn, đừng coi nơi đây như một chốn dừng chân” Cũng bởi vậy mà những gì thuộc về “đặc sản” của
Hà Nội cứ tự nhiên chảy tràn trên mỗi trang văn: những con phố gợi cảm, những kiến trúc cổ kính, nếp sống thanh lịch, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng tự nhiên duyên dáng của người Hà Thành đến những nhược điểm như “xét nét”, dè dặt trong cuộc sống cũng được nhà văn phản ánh chân thực Đằng sau tình yêu với Hà Nội là lòng thương cảm
về một Hà Nội càng ổn định, càng phát triển thì những giá trị nếp sống lại càng dần phôi pha Nỗi niềm đó được tác giả gửi gắm ít nhiều qua mỗi tản khúc nhưng rõ nét nhất là “Hà Nội đáng thương” Có lẽ vì vậy mà con mắt của nhà văn lúc nào cũng ẩn một nỗi u hoài
Gần đây trên các diễn đàn văn chương người ta nhắc nhiều đến hai nhà văn trẻ Nguyễn Việt Hà và Nguyễn Trương Qúy với tư cách là những người viết tiếp mảng văn học viết về Hà Nội Cùng là một cái nhìn trẻ về phố, đô thị và thị dân Hà Nội nhưng mỗi nhà văn lại có những thiên hướng khác nhau
Nhà văn Nguyễn Việt Hà dậm tô đậm về “người” trong “Con giai phố cổ” Mọi nếp sống, nếp nghĩ, nếp ăn, ở của đất Hà Thành đều phát lộ từ con người sống ở đó
Trang 30“Phải những ai từng sống đủ lâu ở Hà Nội mới thấm thía và như nhận thấy rõ hình bóng mình từ những câu chữ nhởn nhơ của Nguyễn Việt Hà: "Bọn họ thong thả ăn, tinh tế mặc, chầm chậm sống Có bọn họ, Hà Nội hôm nay mới có nổi dăm bảy hàng phở ngon, vài ba quán cà phê thị dân sâu lắng Bọn họ chẳng chịu là gì, sống bạc nhược nghệ sĩ nửa mùa, rồi trả ơn Hà Nội bằng cách quyết liệt tự nuôi cho mình những thói quen của bao đời Hà Nội"[35]
Nhà văn Nguyễn Trương Qúy lại có cái nhìn lạ, độc đáo và không kém phần chân thực về Hà Nội Hà Nội trong 6 cuốn tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy là một Hà Nội tồn tại như một thực thể sống động Nhà văn ít đề cập đến câu chuyện Hà Nội của quá khứ, có chăng cũng chỉ là mượn chuyện cũ để nói nay mà thôi Đô thị Hà Nội được tác giả quan sát qua lăng kính của nhà kiến trúc sư, đô thị ấy giờ đây là những lát cắt vỡ vụn, nham nhở không có một hình khối hay không gian cụ thể như vấn đề quy hoạch công viên ở Hà Nội Soi xét kĩ ở mọi góc cạnh thì công viên ở Hà Nội chỉ là gán ghép của những mảnh đất thừa mà các nhà quy hoạch không biết xây gì vào chỗ đó cho thỏa đáng, hợp lí cả Công viên cũng không thực hiện đúng vai trò và chức năng của một khu vui chơi giải trí văn minh, lành mạnh mà ngược lại là nơi thể hiện lối hành xử văn hóa thời hiện đại Khu phố cổ, trung tâm của Hà Nội tước kia được xem là phần linh hồn của phố thị Hà Nội thì nay cũng đã có những biến đổi méo
mó cả rồi Ngay cả “phở” được xem là “quốc hồn, quốc túy” của ẩm thực Hà Nội thì này cũng khó thấy ngon, mặc dù thời nay gia vị nhiều hơn, sẵn hơn xưa rất nhiều … Dường như chỉ còn lại những bài ca Hà Nội là vẫn vẹn nguyên giá trị: Hà Nội lãng mạn, kì diệu hơn khi đi vào những lời ca tiếng hát và cho đến nay vẫn còn nhiều người hát tiếp những bài ca Hà Nội này như ca sĩ Giang Trần chẳng hạn Ca sĩ Giang Trần là người đã cùng nhà văn Nguyễn Trương Qúy thực hiện chương trình Radio bài ca Hà Nội và được đề cử giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 9
Chỉ điểm qua một số tác giả, tác phẩm viết về Hà Nội người đọc cũng dễ thấy một Hà Nội toàn bích hơn khi được soi chiếu dưới mọi góc cạnh, góc quan sát và những xúc cảm riêng của các nhà văn Chúng ta cũng nhận thấy một Hà Nội phát triển theo chiều dài của lịch sử: Hà Nội xưa và nay Ở thời nào thì Hà Nội cũng có cái hay
và cái dở tuy vậy nhìn vào thực tại ngày hôm nay chúng ta đang sống thì Thủ đô Hà
Trang 31Nội đang có sự phát triển không đồng đều Kinh tế phát triển với tốc độ chóng mặt, đô thị cũng đi lên nhanh chóng nhưng những giá trị về văn hóa và tinh thần hình như lại tỉ
lệ nghịch với thời đại công nghiệp hóa Nghĩ về vấn đề này dường như ở trang văn của bất cứ nhà văn nào cũng đầy nỗi niềm ưu tư, chất vấn và trên hết là những thông điệp
mà mỗi nhà văn muốn gửi tới bạn đọc mọi thế hệ cùng thức tỉnh và cùng bảo vệ những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mĩ tục của người Hà Nội nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung
1.3 Tản văn của một kiến trúc sư – Nguyễn Trương Qúy
1.3.1 Nguyễn Trương Quý – nghiệp đời, nghiệp văn
Nguyễn Trương Qúy tên thật là Nguyễn Trung Qúy, sinh ngày 28 tháng 8 năm
1977 tại thành phố Hà Nội Anh sinh ra trong một gia đình bố mẹ là những người lao động, bố từng đi bộ đội thời chống Pháp, mẹ là công nhân Tuổi thơ của anh là những chuỗi ngày thiếu thốn của cả gia đình Bố từ chiến trường trở về, mang theo những kí
ức thời chiến, về sự ra đi của những người đồng đội … Sức khỏe của ông cũng không còn để tham gia làm những công việc nặng nhọc hay căng thẳng Tuy vậy ông lại là một người rất khéo tay, việc gì cũng làm được như một người vạn năng “sửa điện trong nhà, làm mộc, chữa xe đạp, may quần áo gia công, bán phở, mở quán nước chè
…[9,Tr.252] Nhà văn Nguyễn Trương Qúy đã thừa hưởng những nét tài hoa này từ người cha của mình Từ nhỏ anh cũng đã thích vẽ tranh màu nước và thường tự tập vẽ bên hồ Hoàn Kiếm hay Hồ Tây, công viên …
Trong cuốn nhật kí chuyên văn đã gợi ca tài năng văn chương của anh ‟Nguyễn Trương Qúy đã đĩnh đạc bước vào lớp chuyên văn Amsterdam Hà Nội với một giải Văn Toàn quốc Ở tuổi mười lăm anh đã nhạy cảm, tài hoa và tinh đời Ngay từ nhỏ anh đã mê mẩn nhạc tiền chiến, kiến trúc cổ điển, thích vẽ tranh màu nước và yêu văn chương”[49] Đây đều là những dấu hiệu của một tài năng trẻ
Con đường đến với văn chương của nhà văn cũng không được trải thảm đỏ mà ngược lại thật đây gian nan Anh học xong trung học phổ thông thì thi tuyển vào trường Đại học kiến trúc Hà Nội, khóa 1995 – 2000 Sau 4 năm học đại học anh ra làm việc và cũng trải qua nhiều công việc khác nhau, vị trí làm việc khác nhau Năm 2000 -2004, anh làm trưởng phòng thiết kế web tại công ty VietSofware Sau đó anh chuyển
Trang 32qua làm kiến trúc sư thiết kế cho công ty kiến trúc ADC Làm ở lĩnh vực nào Nguyễn Trương Qúy đều có những thành công nhất định và anh đều giữ cho mình thái độ làm
việc nghiêm túc, làm đến nơi đến chốn Sau đó, anh còn làm phóng viên cho Báo sinh viên Việt Nam; thư kí tòa soạn Tạp chí người đô thị Hiện nay anh làm biên tập viên
phụ trách truyền thông chi nhánh Hà Nội Ngoài ra, anh còn cộng tác với nhiều tờ báo khác nhau và sáng tác văn chương Năm 2015 - 2017 anh học thạc sĩ truyền thông Đại học Stirling, Anh Quốc và được nhận bằng xuất sắc Anh đã để lại nhiều ấn tượng với hội đồng bảo vệ tại Anh Quốc về tài năng, thái độ ham học hỏi, làm việc thì luôn tỉ mỉ từng chi tiết, khả năng sáng tạo vô cùng phong phú… Con đường học tập vẫn đang rộng mở ở tương lai và chúng ta tin rằng sự học của anh chưa dừng ở đây
Sau khi nhập môn nghiệp văn chương như kiểu ‟trời định mệnh cho anh” Anh đã làm việc như con ong chăm chỉ để góp mật cho đời, cũng là để bù lại những tháng ngày ‟lạc lối khỏi văn chương” Ngay từ ngày chắp bút Nguyễn Trương Qúy đã xây dựng cho mình một thương hiệu tản văn, với một văn phong độc đáo, lối viết tung tẩy dí dỏm chừng mực Miệt mài theo đuổi thể loại tản văn, đến nay, Nguyễn Trương Qúy đã
cho ra mắt công chúng 6 cuốn tản; cũng trong năm 2013 anh cũng cho xuất bản tập truyện ngắn Dưới cột đèn đường rót một ấm trà (2013); Tản văn Mỗi góc phố một con người đang sống (2015) – đều là những cuốn tản văn viết về con người và phố thị Hà Nội
Tập sách đầu tiên, Tự nhiên như người Hà Nội (2014), là những quan sát về
hình thái đô thị như một loại “hồ sơ kiến trúc ” Cuốn thứ hai “Ăn phở rất khó thấy ngon ”(2008), là chân dung về con người sống trong đô thị ấy, tập chung vào giới viên chức văn phòng với các thói tật và hành vi Cuốn thứ ba, Hà Nội là Hà Nội (2010), là
cuộc tìm kiếm những giá trị văn hóa mang những câu hỏi bao trùm hơn Cuốn thứ tư,
Xe máy tiếu ngạo (2012), là cuộc khảo sát văn chương về phương tiện xe máy của
nhân dân thành phố, cũng như ghi lại đậm nét thêm những hành vi và lối sống của người đô thị Ghi lại những gì quan sát và trải nghiệm về “đối tượng Hà Nội ” Cuốn
thứ năm, Còn ai hát về Hà Nội (2013), nhà văn mang đến cho bạn đọc một thống kê
hoàn hảo về các bài hát liên quan đến Hà Nội kể từ khi nền tân nhạc sơ khai hình
thành Cuốn Còn ai hát về Hà Nội gồm các ca khúc như một lí do để tác dẫn người đọc
tiếp cận thành phố nghìn năm tuổi này theo cách vừa riêng vừa sâu sắc Cuốn tản văn
Trang 33thứ 6, Mỗi góc phố một con người đang sống (2015), là cuốn tản văn mới nhất của nhà
văn Nguyễn Trương Qúy Cuốn tản văn này cho thấy sự “chín” hơn trong nghề viết văn, góc nhìn kiến trúc cũng dần dần không còn chi phối vào văn Như nhà văn Đỗ Bích Thúy khẳng định “chính anh đã làm một cuộc “li khai” nhỏ để rồi giờ đây anh làm chủ đôi mắt của mình Nó trở thành phương tiện để Nguyễn Trương Qúy ngó nghiêng cuộc đời và phơi bày cái tôi giữa những cái sặc sỡ của thế giới” “Mỗi bài tản văn như một cuộc du ngoại được dẫn dắt qua không gian của hoài niệm, của ghi chép
về xã hội, của những tham chiếu văn hóa sâu xa và những sáng tạo hài hước pha cay đắng Những cuốn sách của Nguyễn Trương Qúy đưa chúng ta đến với Hà Nội, cho chúng ta có được cơ hội trở nên thông thạo nơi này cùng một trong những nhà quan sát
sắc sảo nhất của nó”[30] Tập truyện ngắn Dưới cột đèn đường rót một ấm trà (2013),
nhân vật trong truyện ngắn của anh hầu hết là giới nhân viên văn phòng, trí thức trẻ thành thị Những nhân vật có họ có tên cụ thể, có gương mặt, có gia đình con cái, có yêu có ghét cụ thể Họ quen nhau qua mạng, họ ngoại tình, họ lãng đãng, họ vô tâm,
họ sĩ diện, họ hèn, họ tinh tế vặt… Với tập truyện ngắn này của nhà văn, chúng ta có thể thấy: Với nhiều người khác thì tản văn là một quãng nghỉ chân giữa các tiểu thuyết hay truyện ngắn Với Nguyễn Trương Qúy, ngược lại, truyện ngắn có thể lại là một quãng nghỉ chân giữa các tập tản văn Nhưng cũng có thể, chính tập truyện này lại mở
ra một hướng đi hoàn toàn khác Hiện nay anh đang thai ghén và hứa hẹn sẽ cho ra mắt bạn đọc hai tập truyện ngắn mới cũng viết về đề tài quen thuộc: Hà Nội
Mỗi tập tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy khi ra mắt bạn đọc đều nhận được sự yêu mến, đón đợi của bạn đọc Sự yêu mến này được thể hiện qua số lần tái bản
của mỗi tập tản văn: Tự nhiên như người Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon, đều tái bản lần thứ 7 Hà Nội là Hà Nội, tái bản lần thứ hai Xe máy tiếu ngạo và Mỗi góc phố một con người đang sống, tái bản lần thứ nhất Riêng tập tản văn Xe máy tiếu ngạo, được
Jacob O Gold, nghiên cứu sinh ngành nhân chủng học, Đại học Illinois dịch ra Tiếng Anh Như vậy, tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy đã vượt khỏi giới hạn biên giới trong nước và đến với bạn đọc nước ngoài Tôi cho rằng đây cũng là một thành công của
anh Tập tản văn Còn ai hát về Hà Nội, Mỗi góc phố một con người đang sống và truyện ngắn Dưới cột đèn đường rót một ấm trà tái bản lần thứ nhất
Trang 34Lại nói riêng về tập tản văn Còn ai hát về Hà nội, nội dung của cuốn tản văn
này được Nguyễn Trương Qúy cùng với ca sĩ Giang Trang và nhà sản xuất Vũ Đặng
Hùng (công ty Radio Việt – Mega Media) đã cùng nhau thực hiện chương trình Radio Bài ca Hà Nội, phát trên kênh FM 90MHz của đài phát thanh truyền hình Hà Nội
Chương trình gồm 150 số với tổng cộng 700 ca khúc về Hà Nội và nó được ví như là
“cẩm nang bằng âm nhạc về Thủ đô”, giúp người nghe có thể tìm thấy những vẻ đẹp của đời sống văn hóa lịch sử thông qua các bài hát có diễn biến theo các mốc thời gian,
từ thời Thăng Long Kẻ Chợ tới thời Đông Dương và sau giải phóng đến nay Nói về
chương trình này tác giả Huy Thông trên báo Thể thao và Văn hóa có viết “Fomat
chương trình xoay quanh cơ sở là giọng đọc cảm xúc đặc biệt của Giang Trang và những ghi chép của Nguyễn Trương Qúy về Hà Nội Mỗi một số là một chủ đề Hà Nội, xen kẽ giữa những câu chuyện là những bài hát có liên quan nội dung, hoặc cùng thời điểm lịch sử chủ đề hoặc có khi để dẫn mạch cảm xúc” Thành quả của bộ ba này cho bài ca Hà Nội được đề cử chính thức vào hạng mục Giải việc làm – Vì tình yêu Hà Nội thuộc giải thưởng Bùi Xuân Phái lần 9 của báo Thể thao & Văn hóa (TTXVN) Tài hoa của nhà văn Nguyễn Trương Qúy không dừng ở danh xưng Kiến Trúc sư hay nhà văn mà anh còn là họa sĩ vẽ màu nước cũng rất tinh tế Hầu hết những bức tranh anh vẽ đều làm nổi bật khung cảnh Hà Nội: Khi là cảnh hồ Gươm, khi là phong cảnh nơi công viên, khi lại là không khí đường phố hay cô gái Hà Nội thướt tha trong tà áo dài trắng yểu điệu trên chiếc xe đạp mi ni nữ tính… Như đã nói ở trên, ở lĩnh vực nào anh đều có những thành công đáng kể Trong vai trò là một họa sĩ vẽ màu nước tranh của anh có mặt ở một số phòng trưng bày tranh ở Hà Nội và cả Sài Gòn Ngoài ra những lúc rảnh rỗi anh còn mở lớp dạy vẽ tranh màu nước cho người Hà Nội có nhu cầu học vẽ Điều đặc biệt là, 4/7 cuốn sách đã xuất bản đều do anh thiết kế, tự vẽ bìa bằng màu nước hay kí họa
Không chỉ là một kiến trúc sư, sáng tác văn học, họa sĩ vẽ màu nước Nguyễn
Trương Qúy còn tham gia dịch sách Một số tác phẩm anh tham gia dịch bao gồm: Hà Nội và Rumba Cửu Long – câu chuyện âm nhạc của Jason Gibbs (2008), Chuyến tàu mang tên Dục vọng của Tennesse William (2011) và một số sách khác
Trang 35Hiện nay anh đang làm biên tập viên của NXB Trẻ, phụ trách truyền thông chi nhánh Hà Nội Ngoài ra anh còn cộng tác với nhiều báo, đài và các cơ quan văn hóa khác
Càng đi sâu nghiên cứu những sáng tác của nhà văn Nguyễn Trương Qúy, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trương Qúy có thể viết mãi không dừng, vì với tài quan sát của anh thì bất kỳ hiện tượng gì cũng là đề tài để viết Từ to tát vĩ mô như chuyện quy hoạch thành phố, văn hóa công viên, bàn về kiến trúc… cho đến vi mô là những cái chợ nhỏ, chợ to, chuyện gập lụt phải nằm co nhịn đói, chuyện oi bức không lãng mạn chút nào của đời sống Thủ đô, rồi lại bàn cả vòng hai của gái ba mươi, chuyện tình online, chuyện lễ, tết, chuyện chùa chiền đức tin… Đọc văn của anh rất khó thấy
“chán” vì chất hài hước nhẹ nhõm chạy trên những trang sách khiến người đọc thấy dễ chịu, không phải kiểu móc máy cay nghiệt, cười nhạt cười đểu mà là một nụ cười tủm tỉm một mình của một người lấy cái tự trào để hóa giải mọi điều chưa hợp lí, hay thậm chí vô lí vẫn tồn tại trong cuộc sống của những con người đang sống nơi đây Giọng văn giễu nhại, gần gũi với những chao chát phố xá, đậm chất tư liệu, biên khảo và càng ngày càng đậm màu chiêm nghiệm
Bạn đọc yêu mến và nể phục gọi nhà văn là nhà tâm lí Hà Nội học Anh đã viết
hộ tâm tình một thế hệ cư dân mới của đô thị mới đã lớn gấp ba lần về diện tích và gấp nhiều lần về dân số, ngoài ra gấp cả nhiều lần về khói bụi ô nhiễm và biết bao vấn đề đương đại khác Cũng vì vậy, mà nhà văn khó mà chọn cách viết nhẹ nhàng mùa thu hương cốm được Tuy vậy vẫn thấp thoáng của một tấm lòng hoài cổ
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến ngòi bút Nguyễn Trương Qúy
Thăng Long – Hà Nội, trái tim yêu thương, niềm tự hào của người dân Việt Nam Và trong mỗi chúng ta ai cũng có Hà Nội của riêng mình Người yêu Hà Nội vì nét đẹp rêu phong, cổ kính; người lại thích vẻ đẹp thanh lịch, nhã nhặn của những con người nơi đây; cũng có người mê mảnh đất này vì sức sống căng tràn của một thành phố trẻ… Chính vì thế đã có không ít vần thơ, lời ca, câu chuyện ca ngợi về mảnh đất kinh kì ngàn năm văn hiến Nhạc sĩ Phú Quang đã cảm nhận về Hà Nội mơ mộng, lãng mạn, đầy thi vị: “Em ơi, Hà Nội phố/ Ta còn em mùi hoàng lan/ Ta còn em mùi
hoa sữa/ Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ/ Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm” (Em ơi
Trang 36Hà Nội phố) Còn nhà thơ Tô Như Châu và nhạc sĩ Trần Quang Lộc lại khắc khoải
chờ đợi, tìm kiếm vẻ đẹp mong manh của mùa thu Hà Nội: “Tháng tám mùa thu lá khởi vàng chưa nhỉ/ Từ độ người đi thương nhớ âm thầm/ Có phải em là mùa thu Hà
Nội/ Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm …” (Có phải em mùa thu Hà Nội)
Không phải ngẫu nhiên Hà Nội lại có vị trí đặc biệt trong lòng mỗi người Có lẽ chiều sâu văn hóa và lòng hiếu khách của người Hà Nội đã tạo nên sức hút lớn như vậy Phải chăng Hà Nội giống như bức tranh đẹp, một bản đồ bí ẩn và ai cũng muốn được một lần khám phá và chinh phục Khi đã được trải nghiệm khám phá, họ phải thừa nhận Hà Nội là mảnh đất có nhiều chồng lớp văn hóa, lịch sử
Thăng Long – Hà Nội – Thủ đô có nhiều trầm tích văn hóa Với bề dày lịch sử ngàn năm tuổi, Hà Nội từ lâu đã trở thành biểu tượng cho các giá trị văn hóa của dân tộc Nhắc tới Hà Nội chúng ta nghĩ tới một thành phố thanh lịch, trang trọng, nhã nhặn Nếp sống, nếp sinh hoạt của những con người nơi đây đều toát lên vẻ lịch lãm, nền nã sang trọng Vẻ đẹp thanh tao ấy đã đi vào câu ca dân gian như một giá trị vĩnh hằng: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” Cốt cách người Hà Nội dường như “hữu xạ tự nhiên hương” và cũng rất tự nhiên đi vào những trang văn Chỉ là một cô hàng nước, nhưng từ cách ăn mặc cho đến điệu bộ
cử chỉ của cô Dần trong tác phẩm Hàng nước cô Dần của Thạch Lam đã làm toát lên
sự mộc mạc chân phương nhưng cũng rất đỗi thanh nhã lịch sự của người Hà Nội
Trong tác phẩm Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải, là hình ảnh bà Hiền
người Hà Nội gốc xưa luôn giữ ngọn lửa tin yêu với những nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội dẫu cho lịch sử đất nước có biến động thăng trầm thì người Hà Nội vẫn lịch lãm, tài hoa, thẳng thắn và giàu lòng tự trọng, song cũng rất khiêm tốn và rộng lượng Sự nền nã thanh lịch được chung đúc từ nhiều đời và trở thành biểu tượng đẹp mỗi khi nghĩ về người Hà Nội
Hà Nội còn giữ một vị trí đặc biệt, nằm trong vùng tam giác châu thổ sông Hồng, được phù sa màu mỡ bồi đắp, đất đai tươi tốt nên nơi đây cũng trở thành trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước Hà Nội như trái tim của cả nước, tiếp nhận những mạch huyết quản văn hóa từ mọi nơi hội tụ về rồi lại lan tỏa ngược lại ra các nơi khác
Vì thế văn hóa Hà Nội là tổng hòa các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hòa, tiếp biến
Trang 37một cách cởi mở, linh hoạt để tạo nên bản sắc Thăng Long - Hà Nội, một vùng đất hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng Tất cả đã làm nên một thành phố Hà Nội tràn căng năng lượng sống Đây cũng chính là một trong những yếu
tố khơi nguồn cảm hứng cho nhà văn trẻ nghĩ và viết về Hà Nội
May mắn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thủ đô Hà Nội, Nguyễn Trương Qúy cũng như biết bao con người khác dành cho quê hương mình tình yêu cháy bỏng Yêu nên mới nhớ đến từng chi tiết, từng chuyển động của phố phường của con người, … Yêu thích thì cũng mới nói ra những xô bồ, bối rối trong những biến đổi của đời sống
đô thị, một cách tự trào mà sau rồi lại man mác buồn, lại phải nghĩ ngợi Nguyễn Trương Qúy vẫn ngược dòng thời gian nghĩ về tuổi thơ êm đềm bình dị của Hà Nội xưa và đối sánh với Hà Nội nay “… hồi đó thành phố vẫn còn “quê” Nơi tôi sống vẫn còn rất nhiều ao hồ, thậm chí nhiều khu vực mênh mông của quận Đống Đa, Ba Đình vẫn còn là ruộng vườn Hà Nội phố xá buôn bán chỉ có một chút ở những ngã tư đầu ô hay khu vực bờ hồ với những cửa hàng, cửa hiệu hay sáng đèn ”[26,tr.7] Trong miền
kí ức xa xôi thì Hà Nội ngày ấy như một miền cổ tích quá xa xôi kì ảo Dưới con mắt của một họa sĩ nhìn về những bức tranh Hà Nội của 40 năm trước trong khung cảnh ngăn nắp, toàn bích và giống chân dung bức ảnh các thành phố di sản khắp thế giới
“Những ngôi nhà nhỏ bé với mái gói lô xô vảy cá như đợt sóng, những nhà hát, bảo tàng, trụ sở …tất cả thành một quần thể dễ thương Một thành phố như thể sinh ra để người ta đến du lịch Nó bình yên, thơ mộng, cái gì cũng bé xinh, tỉ mỉ khiến bất cứ ai cũng yêu ngay được”[26,tr.8] Yêu Hà Nội bao nhiêu lại càng muốn viết về nó bấy nhiêu nhưng với Nguyễn Trương Qúy “tìm đến tình yêu Hà Nội không phải là hướng
về thành phố xa xưa ấy như một sự thoát ly thực tại ”[26,tr.9] Với anh quá khứ đã hoàn thành sứ mệnh của mình và nhiệm vụ của chúng ta “mang lại cho người đọc cái nhìn thẳng thắn và thực tế về bối cảnh sống của họ Nhà văn Nguyễn Trương Qúy đến với văn chương như “duyên tiền định” Nói về chặng đường này nhà văn Nguyễn Trương Qúy đã có dịp chia sẻ : Thuở nhỏ anh là dân văn, lớn lên thì mê vẽ vời Theo học vẽ một thời gian bỗng thấy sợ làm họa sĩ, vì văn nghệ sĩ thường hay trên gió trên mây, lại cứ tưởng tượng ra cảnh họa sĩ thì thường bị màu vẽ lấm lem, nhếch nhác Thế
là lại bỏ đam mê, chạy theo tiếng gọi rất lý trí – nghề kiến trúc sư mốt nhất lúc bấy
Trang 38giờ Nhưng tốt nghiệp xong Đại học Kiến trúc anh lại dứt áo với nó mà chạy theo tiếng gọi của văn chương Ban đầu là thích, yêu và bây giờ thì đã mê mẩn nghề viết lắm rồi[50]
Khi nghề kiến trúc vừa thời thượng, hợp mốt thì anh “dứt áo” xoay sang viết văn; trong khi tản văn bị coi là văn chương loại hai, là khúc nghỉ chân của các nhà văn thì nhà văn Nguyễn Trương Qúy lại chọn thể loại này để bước vào nghề Anh cho rằng tản văn phù hợp với cuộc sống đa mang, ôm đồm nhiều việc của anh Hơn nữa, anh thấy tản văn có khả năng càn lướt hiện thực ghê gớm, mà đó lại là mục đích anh muốn hướng tới
Khi bắt tay vào viết một bài tản văn, anh luôn đặt vấn đề mình viết để ai đọc và người ta đọc trong bối cảnh nào? Theo quan điểm của nhà văn thì “Tiểu thuyết có thể
là ngăn kéo, thơ có thể âm thầm giữ kín, còn tản văn phải giải quyết một nhu cầu giải tỏa, xét nghiệm hoặc giãi bày với xung quanh Dường như không có thể loại sáng tác nào lại tương tác mạnh với độc giả như tản văn”[40] Có thể nói, người viết tản văn giống như người dẫn dắt chương trình trên ‟các talkshow ngày nay, anh ta có thể nói trời nói biển” nhưng luôn biết rằng có một cử tọa đang theo dõi Thiếu yếu tố này tản văn như nhiều người e ngại, dễ trở thành thứ văn ‟thổ lộ cảm xúc, du dương co cụm và khó khiến người ngoài nhận thấy tác giả đang muốn chia sẻ với mình” Hơn nữa, theo nhà văn “viết tản văn thì cũng phải có luật chơi Người này cũng giống như một tổng biên tập, quyết định độc giả được đọc cái gì và dẫn dắt họ theo cách của mình Viết vì độc giả và không chiều ai cả, ngay cả bản thân người viết Viết tản văn mà lan man không tiết chế, rất dễ có những câu thừa và đi lạc chủ đề mà người viết theo đuổi”[39]
Để có được những hiểu biết và kinh nghiệm khi viết tản văn, tìm được cho mình một lối viết khác với những nhà văn khác là những ngày anh cần mẫn ghi chép, nghiên cứu, học tập, lắng nghe những chia sẻ của người đi trước đúc rút và chắp bút Anh đã viết đầy nhiệt huyết, tất cả sự đam mê và tất thảy tình yêu anh có về nơi anh đang sống: Hà Nội Để viết nhiều và hay như vậy về Hà Nội nhà văn Nguyễn Trương Qúy
đã trang bị cho mình rất nhiều kiến thức về Hà Nội từ nhiều góc nhìn khác nhau Đối với anh, Hà Nội nghìn năm tuổi và đi vào trong thơ văn từ ngàn đời nay Thế nhưng,
Hà Nội trong mắt anh là một Hà Nội rất chân thực, có hình ảnh, có trạng thái vận động
Trang 39mạnh mẽ, con người Hà Nội cũng từng ngày từng giờ hoạt động giao tiếp như một thực thể sống động và tràn căng sức sống Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy là một Hà Nội đang xảy ra những thứ rất có thể sẽ biến mất chỉ vài năm sau đó Mỗi cuốn tản văn theo một mạch chủ đề khác nhau, hoặc hình thái kiến trúc và cảnh quan nơi người ta đang sống, hoặc những mối quan hệ văn phòng công sở của dân Hà Nội, hoặc các cách ứng xử, hành vi, thói quen tiêu dùng của họ, rồi cách đi lại của người Hà Nội, hay là khám phá Hà Nội theo từng cột mốc cây số Hà Nội diễm lệ và kỳ ảo qua những
ca khúc viết về Hà Nội… Có thể nói, tản văn của anh chủ yếu là những quan sát trực diện của chính nhà văn trong suốt cuộc đời từ nhỏ cho tới lúc cầm bút viết Những tư liệu về Hà Nội thấm vào tư tưởng của anh qua nhiều kênh thông tin: đọc, học, xem, nghe, thấy… Ký ức và hiện tại cứ xoắn vào với nhau, hiện lên qua cách nhìn, quan sát, đánh giá của chính anh Tuy vậy, kí ức chỉ được nhà văn nói đến khi thật cần để nói chuyện hiện tại Đối với nhà văn Nguyễn Trương Qúy thì đề tài về Hà Nội vẫn còn nhiều khía cạnh để khai thác, phản ánh, là đề tài mà anh còn phải “bận tâm”
1.3.3 Hà Nội đối tượng nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Trương Quý
Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9 km2, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 7.130.000 người (thống kê của thành phố Hà Nội năm 2012) Mật độ trung bình 2.14 người/m2 Đến nay, theo đánh giá của các nhà quy hoạch thì Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang được xem là loại đặc biệt của Việt Nam Thủ đô Hà Nội đã đang có những bước chuyển mình mạnh
mẽ trong những năm gần đây Hà Nội phất triển mạnh mẽ đã đưa nên kinh tế nước ta lên một tầng phát triển mới Bên cạnh đó là những hệ lụy của một nên kinh tế phát triển không đồng đều như tắc đường kẹt xe, ô nhiễm khói bụi, ngập lụt… Mỗi bước phát triển ấy đều được ghi dấu trong mỗi tác phẩm văn chương Nhà văn Băng Sơn đã
có những tác phẩm ghi chép tỉ mỉ từ quang cảnh đến âm thanh, mùi vị của Hà Nội
như: Có một Hà Nội âm, Thú ăn chơi của người Hà Nội, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh… Hà Nội trong văn chương của Tế Hanh lại ngập tràn những màu sắc từ một
Hà Nội và hai ta, Gặp xuân ngoại thành đến Hồ Thiền Quang; Nhà văn Nguyễn Khải
lại viết về nếp sống, nếp nghĩ của con người Hà Nội, tình cảm này tác giả gửi gắm
trong cuốn Một người Hà Nội…
Trang 40Trong cùng mạch cảm xúc chung ấy Nguyễn Trương Quý nổi bật là cây bút có cái nhìn trẻ, mới lạ độc đáo về Thủ đô Hà Nội dưới trang viết của tác giả là một Hà Nội phát triển mạnh mẽ và chính sự phát triển mạnh mẽ đó mà đô thị Hà Nội đang kéo theo những giá trị khác đang ngày càng bị vỡ vụn ra
Nguyễn Trương Quý xuất phát điểm không phải là người theo sáng tác chuyên nghiệp, nhưng niềm đam mê và sự ám ảnh của văn chương đã thôi thúc anh bước vào thế giới văn học nghệ thuật Như vậy, Nhà văn Nguyễn Trương Qúy là “gã tay ngang” yêu văn chương và viết theo những “khoái cảm riêng của mình” cho nên anh có một cách nhìn rất mới về đối tượng mà tác giả theo đuổi Văn phong của anh cũng thật mới
mẻ và độc đáo từ cách anh đặt “tựa” cho mỗi bài tản văn đã rất “lạ|” Mỗi tên “tựa” là một phát hiện mới mẻ, thú vị, rất thời sự, gây nhiều bất ngờ hay như một cách dẫn dụ hay kích thích tính tò mò của người đọc Có thể nói, nhà văn Nguyễn Trương Quý là đại diện cho người trẻ sáng tác về Hà Nội với cách nhìn nhận mới, tư duy mới khác hẳn với các nhà văn đi trước Hà Nội là Thủ đô của một đất nước và là quê hương, là nơi anh sinh ra và lớn lên Hà Nội là thế giới xung quanh anh từ nhỏ đã vô cùng gần gũi, thân thương Người ở xa Hà Nội còn nghĩ về Hà Nội, yêu Hà Nội huống hồ Nguyễn Trương Qúy sống giữa lòng Thủ đô ngàn năm văn hiến những 41 tuổi xuân Hơn nữa anh lại là người nhạy cảm, ham mê đọc sách mà sách viết về Thăng Long Kẻ chợ đâu ít Cũng bởi vậy anh đã có tình cảm thiên vị, trăn trở, suy tư và muốn viết nhiều về mảnh đất này Đây cũng là cách mà nhà văn muốn chuyển tải tình yêu quê hương, đất nước đến cháy bỏng
Đề tài Hà Nội không phải là một đề tài mới nhưng với những quan sát tỉ mỉ, những ghi chép cụ thể của anh về một Hà Nội anh đã, đang và đương sống thì mảnh đất này vẫn còn nhiều điều đáng để bận tâm
1.3.4 Tấm căn cước của không gian sống trong tản văn Nguyễn Trương Qúy
Không gian sống của đô thị Hà Nội có nhiều thay đổi theo thời gian, theo từng nấc thang nhu cầu phát triển của đất nước Có lẽ vì vậy mà ngay từ lúc bắt tay vào nghiệp văn nhà văn Nguyễn Trương Qúy đã “muốn định dạng cho được tấm căn cước của không gian sống đô thị Hà Nội trong những trang viết của mình Một trong những