Khái quát quá trình phát triển kinh tế, đối ngoại của nước Mỹ từ sau 1945 – 2000+ Nhận thức vai trò cường quốc của nước Mỹ trong quan hệ quốc tế.+ Khái quát quá trình phát triển kinh tế, đối ngoại của các nước Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhận thức được quá trình phát triển kinh tế, đối ngoại của Nhật sau chiến tranh thế giới II. Trình bày được vai trò kinh tế quan trọng của Nhật Bản là một trung tâm kinh tế khoa học kĩ thuật của thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Lý giải được sự phát triển thần kì của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới II, khảng định vị trí về kinh tế, đối ngoại của 3 trung tâm lấn nhất thế giới
Trang 1CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA NĂM……
5 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
6 Tiến trình dạy học chuyên đề
B NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I Kinh tế Mỹ, Tây Âu, Nhật 1945- 2000
Trang 2- Nhận thức được quá trình phát triển kinh tế, đối ngoại của Nhật sau chiến
tranh thế giới II
- Trình bày được vai trò kinh tế quan trọng của Nhật Bản là một trung tâm
kinh tế khoa học kĩ thuật của thế giới, đặc biệt là ở châu Á
- Lý giải được sự phát triển thần kì của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới
II, khảng định vị trí về kinh tế, đối ngoại của 3 trung tâm lấn nhất thế giới
2 Kỹ năng:
- Rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh, nhất là tư duy có
tính khái quát khi xem xét các vấn đề của khu vực, phục vụ ôn tập cho kỳ thi
THPTQG 2020
3 Về thái độ
- Biết được sự phát triển của 3 trung tâm kinh tế tài chính lớn thế giới Từ đó giúpcác em ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với công cuộc hiện đại hoá đất nước
- Khả năng hợp tác phát triển trên cơ sở cùng tồn tại hoà bình, các bên cùng có lợi
- Qua bài học chúng ta thấy được ý chí và nghị lực của người dân Nhật Bản
trước những khó khăn Từ những đổ nát hoang tàn sau ngày bại trận, họ đã xây
dựng đất nước trở thành một siêu cường kinh tế đứng thứ 2 thế giới sau Mĩ
- Được bồi dưỡng tình cảm, tinh thần đoàn kết hữu nghị trên cơ sở hiểu
được giữa nước ta và nhiều nước Tây Âu có những liên hệ trong lịch sử Ngày nay
mối quan hệ giữa nước và Liên minh châu Âu cũng như nhiều nước Tây Âu ngày
càng phát triển và hợp tác có hiệu quả
-Từ sau chiến tranh lạnh, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã bước sang một
thời kì mới Ngày nay Nhật Bản đã trở thành một đối tác chiến lược trong công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta
- Được bồi dưỡng tình cảm hữu nghị, tinh thần hợp tác quốc tế trên cơ sở
hiểu mối quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản đã bước sang một thời kỳ mới với
những tầm cao mới sau thời kỳ chiến tranh lạnh
Trang 34 Định hướng các năng lực hình thành:
Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề,
năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực chuyên biệt:
- Năng lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng tư liệu, tranh ảnh lịch sử…
- So sánh, phân tích nguyên nhân phát triển kinh tế Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản
sau 1945
- Xác định được mối quan hệ, ảnh hưởng của ba trung tâm kinh tế - tài chính
Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản đến tình hình thế giới
5 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
* Giáo viên:
- Sử dụng tư liệu về Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Lịch sử 12 chương trình cơ bản và nâng
cao, lịch sử thế giới hiện đại - quyển 2, Lịch sử quan hệ quốc tế
- Tài liệu luyện thi đại học, cao đẳng (Thạc sĩ Trương Ngọc Thơi)
- Chuyên đề ôn tập và luyện thi môn Lịch sử 12
- Bộ đề thi lịch sử ( Thạc sĩ Trương Ngọc Thơi)
- Hướng dẫn học và ôn thi môn Lịch sử lớp 12 ( Trần Bá Đệ chủ biên)
- Chuẩn kiến thức và kỹ năng môn Lịch sử 12
- 1 số tài liệu tải từ mạng Internet
* Học sinh: Sưu tầm tranh ảnh minh hoạ về thành tựu phát triển của các nước Mĩ,
Tây Âu, Nhật Bản
Trang 4B NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
Tiết 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC MỸ, NHẬT, TÂY ÂU TỪ NĂM 1945 - 2000
1 Giai đoạn 1945-1973:
a Nước Mỹ : phát triển mạnh mẽ
- Giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Mĩ chiếm hơn một nửa công nghiệp thế
giới (56,5%) (1948)
- Giá trị sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng 2 lần giá trị tổng sản lượng nông nghiệp
của 5 nước Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản (1949)
- 50%tàu bè đi lại trên mặt biển là của Mĩ, 3/4 dự trữ vàng của thế giới tập trung ở
Mĩ (1949)
- Mĩ chiếm gần 40% giá trị tổng sản phẩm kinh tế thế giới.
+ Trong khoảng 20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ trở thành trung tâmkinh tế – tài chính duy nhất trên thế giới
+ Những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế Mĩ:
- Lãnh thổ nước Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú Khí hậu khá thuậnlợi
- Có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kĩ thuật cao
- Mĩ tham gia chiến tranh thế giới thứ hai muộn hơn, tổn thất ít hơn so với nhiềunước khác; hơn nữa, Mĩ còn lợi dụng chiến tranh để bán vũ khí thu nhiều lợi nhuận
- Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại; áp dụng thànhcông những tiến bộ khoa học – kĩ thuật để nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sảnphẩm và điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất
- Trình độ tập trung tư bản và sản xuất rất cao, các tổ hợp công nghiệp – quân sự,các công ti và các tập đoàn tư bản lũng đoạn Mĩ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và hiệuquả ở cả trong và ngoài nước
- Các chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước có vai trò quan trọng thúc đẩykinh tế Mĩ phát triển
Trang 5+ Mĩ là nước đã khởi đầu cuộc Cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai của toànnhân loại, nổ ra vào giữa những năm 40 của thế kỉ này và Mĩ cũng là một trong mấy nướcđạt được những thành tựu kì diệu nhất trong tất cả các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật.
+ Mĩ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuấtmới (máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động, ), vật liệu mới (pôlime,vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch, tên lửa đạn đạo),chinh phục vũ trụ (đưa người lên Mặt Trăng năm 1969, thám hiểm sao Hỏa), đi đầu cuộccách mạng xanh trong nông nghiệp, cách mạng trong giao thông và thông tin liên lạc vàtrong sản xuất vũ khí hiện đại (tên lửa chiến lược, máy bay tàng hình, bom khinh khí, )
- Những thành tựu trên không chỉ thúc đẩy nền kinh tế Mĩ phát triển nhanh chóng
và đời sống, vật chất tinh thần của nhân dân Mĩ có nhiều thay đổi khác trước mà còn cóảnh hưởng lớn trên toàn thế giới
b Các nước Tây Âu
+ Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu đều bị tàn phá nặng nề.Nhiều thành phố, nhà máy, bến cảng, khu công nghiệp, đường giao thông bị tàn phá.Hàng triệu người chết, mất tích hoặc bị tàn phế Nước Đức bị lực lượng đồng minh chiếmđóng và chia cắt Ở pháp năm 1945 sản xuất công nghiệp chỉ bằng 38% và nông nghiệpchỉ bằng 50% so với năm 1938 Italia tổn thất khoảng 1/3 tài sản quốc gia Sau chiếntranh, với sự cố gắng của từng nước và sự viện trợ của Mĩ trong khuôn khổ của “Kếhoạch Mác-san”, tới năm 1950 nền kinh tế các nước Tây Âu cơ bản được khôi phục
+ Từ đầu những năm 50 đến đầu những năm 70 (thế kỷ XX), nền kinh tế các nướcTây Âu ổn định và phát triển nhanh Nước Đức trở thành nước công nghiệp thứ ba, Anhtrở thành nước công nghiệp thứ tư, Pháp trở thành nước công nghiệp thứ năm trong hệthống tư bản chủ nghĩa (sau Mĩ và Nhật Bản) Từ đầu thập kỉ 70, Tây Âu đã trở thànhmột trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới
– Những nhân tố của sự phát triển nền kinh tế Tây Âu là:
+ Áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại đểnâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm
+ Vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc quản lí và điều tiết, thúc đẩy nềnkinh tế
+ Tận dụng tốt cơ hội bên ngoài cho sự phát triển của đất nước như nguồn viện trợ
Mĩ, tranh thủ giá nguyên liệu rẻ từ các nước đang phát triển, sự hợp tác có hiệu quả trongCộng đồng châu Âu (EC)
c Nhật Bản
Giai đoạn 1945 – 1952
- Sự thất bại của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai để lại cho Nhật Bản hậuquả hết sức nặng nề (3 triệu người chết và mất tích; cơ sở vật chất bị phá huỷ nặng nề; 13triệu người thất nghiệp); thảm hoạ đói rét đe doạ cả nước; là nơi Mĩ đóng quân từ năm
1945 đến năm 1952
– Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh (SCAP) thực hiện ba cuộc cải cách lớn:1- Thủ tiêu chế độ kinh tế tập trung
2- Cải cách ruộng đất
Trang 63- Dân chủ hoá lao động.
– Dựa vào viện trợ Mĩ, Nhật Bản nỗ lực khôi phục kinh tế, đạt mức trước chiếntranh
Giai đoạn 1952 – 1973
– Từ năm 1953 đến năm 1960 có bước phát triển nhanh, từ năm 1960 đến năm
1973, kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển “thần kì”, tốc độ tăng trưởng caoliên tục, nhiều năm đạt tới hai con số (1960 – 1969 là 10,8%) Nhật Bản trở thành mộtsiêu cường kinh tế (sau Mĩ)
– Tới năm 1968, vươn lên là vương quốc kinh tế tư bản thứ hai sau Mĩ Từ đầunhững năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớnnhất thế giới (cùng Mĩ và Liên minh châu Âu)
– Nguyên nhân của sự phát triển kinh tế:
+ Coi trọng yếu tố con người: được đào tạo chu đáo, có ý thức tổ chức kỉ luật,được trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù và tiết kiệm, ý thức cộng đồng…; được xem
là vốn quí nhất, là “công nghệ cao nhất”, là nhân tố quyết định hàng đầu
+ Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước và các công ty Nhật Bản(như thông tin và dự báo về tình hình kinh tế thế giới; áp dụng các tiến bộ khoa học,
kĩ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hàng hóa, tín dụng…)
+ Các công ty của Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lý tốt nên có tiềm lực
và sức cạnh tranh cao
+ Luôn áp dụng các thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại, không ngừng nâng caonăng suất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm
+ Chi phí cho quốc phòng ít nên có điều kiện tập trung cho phát triển kinh tế
+ Tận dụng tốt các điều kiện bên ngoài như nguồn viện trợ Mĩ, các cuộc Chiếntranh Triều Tiên (1950 – 1953) và Việt Nam (1954 – 1975) để làm giàu
2 Giai đoạn 1973 – 2000:
a Nước Mỹ:
Giai đoạn 1973-1991: suy thoái.
- Năm 1973, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, kinh
tế Mĩ lâm vào khủng hoảng, suy thoái kéo dài đến năm 1982 Năng suất lao động giảm,
hệ thống tài chính bị rối loạn năng xuất lao động trung bình hàng năm từ năm 1974 đếnnăm 1981 giảm xuống còn 0,43% Tỉ lệ lạm phát năm 1973- 1974 từ 9% lên 12% và đếnnăm 1976 là 40%, đồng đô la đã phải phá giá 2 lần
- Năm 1983, nền kinh tế bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại , nhưng cũng chỉ ởtốc độ trung bình so với Tây Âu và Nhật Bản
- Tuy vẫn là nước đứng đầu thế giới về kinh tế – tài chính, nhưng tỷ trọng kinh
tế Mĩ trong nền kinh tế thế giới giảm hơn so với trước Cuối những năm 80, Mĩ chỉchiếm 23% tổng sản phẩm kinh tế thế giới Các nghành công nghiệp như luyện thép, dệt
bị suy thoái, nghành công nghiệp ô tô bị chao đảo vì cuộc cạnh tranh với các công ty chếtạo ô tô của Nhật Bản
Giai đoạn 1991 – 2000:
- Phát triển xen kẽ suy thoái ngắn, nhưng vẫn là nước đứng đầu thế giới
- GDP của Mĩ năm 2000 là 9765 tỉ USD, bình quân GDP đầu người là 34600USD
Trang 7- Mĩ tạo ra được 25 % giá trị tổng sản phẩm trên toàn thế giới và có vai trò chiphối hầu hết các tổ chức kinh tế – tài chính quốc tế như Tổ chức thương mại thế giới(WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF).
* Khoa học kỹ thuật:
- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới nên từ 1973 – 1991 kinh
tế Mĩ lâm vào khủng hoảng và suy thoái kéo dài Năng suất lao động giảm còn 0.43%,lạm phát tăng, đồng đô la mất giá
- Từ 1983 kinh tế dần phục hồi và phát triển trở lại nhưng chỉ đạt tốc độ trung bình
- Mĩ vẫn đứng đầu thế giới về kinh tế - tài chính nhưng tỉ trọng đã giảm sút , cuốinhững năm 80 chiếm khoảng 23% tổng sản phẩm kinh tế TG
- Khoa học kĩ thuật tiếp tục phát triển nhưng bị Tây Âu và Nhật cạnh tranh
- Các nước Tây Âu và Nhật đã vươn lên thành đối thủ cạnh tranh nguy hiểm với
Mỹ về mọi mặt Thế giới đã hình thành 3 trung tâm kinh tế - tài chính là Mỹ, Tây Âu vàNhật Bản
- Tuy phát triển nhanh nhưng kinh tế Mỹ không ổn định, thường xuyên xảy ranhững đợt suy thoái kinh tế (từ 1945 đến năm 2000, đã diễn ra 8 lần suy thoái)
- Vì tập trung chạy đua vũ trang và quân sự hoá nền kinhtế cho nên sản xuất côngnghiệp dân dụng của Mĩ ngày càng trở nên sút kém so với Tây Âu, Nhật bản, hàng hoátiêu dùng của Mĩ không cạnh tranh nôỉ với hàng hoá của Tây Âu, Nhật Bản ngay cả trongthị trường nội địa của Mĩ
- Việc tăng cường chạy đua vũ trang với những chi phí khổng lồ đã làm suy giảmtiềm lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ
- Sự phân cực giàu nghèo lớn là nguồn gốc bất ổn về kinh tế và chính trị, xã hội.-> Mỹ phải tập trung giải quyết những khó khăn trên để nền kinh tế có thể lấy lạisức mạnh của mình
b Các nước Tây Âu
Từ năm 1973 đến năm 1991
– Đến đầu thập kỉ 90, kinh tế Tây Âu lâm vào tình trạng không ổn định, suy thoáikéo dài.Từ năm 1973 đến năm 1992, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm ởPháp thực tế giảm xuống còn 2,4% đến 2,2%, năm 1991 kinh tế Anh tăng trưởng âm( -1,8%) Số người thất nghiệp ở Italia năm 1983 là 2,5 triệu người (chiếm hơn 10% lựclượng lao động) và ở cộng hòa Liên Bang Đức năm 1989 là 3 triệu người
Trang 8– Tuy vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới, nhưngkinh tế Tây Âu gặp không ít khó khăn: suy thoái, khủng hoảng, lạm phát và thất nghiệp.Quá trình liên hợp hóa trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu (EC) vẫn còn nhiều khókhăn trở ngại.
Từ 1991 đến năm 2000
– Đầu thập niên 90 (thế kỉ XX), Tây Âu lâm vào cuộc suy thoái ngắn Tốc độ tăngtrưởng kinh tế của Anh năm 1991 là – 1,8%, năm 1992 là – 0,8%, Italia năm 1993 là -0,9%, Cộng hòa Liên Bang Đức năm 1993 là – 1,6%
– Từ năm 1994, nền kinh tế bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại Năm 2000 mứctăng trưởng kinh tế Pháp là 3,8%, Đức là 2,9%, Italia 3,0%
– Tây Âu là một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn nhất thế giới Đến giữathập niên 90 (thế kỷ XX), 15 nước thành viên EU đã chiếm 1/3 tổng sản phẩm côngnghiệp toàn thế giới với gần 50% giá trị xuất khẩu và hơn 50% các nguồn tư bản Có nềnkhoa học – kĩ thuật hiện đại
c Nhật Bản
Giai đoạn 1973 -1991
- Cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới năm 1973 đã tác động mạnh đến nền kinh tếNhật Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản đã tiến hành cải cách kinh tế theo chiềusâu: giảm chi phí vật liệu và nhiên liệu đến mức thấp nhất, tăng cường sức cạnh tranh,nhờ đó đã ra khỏi khủng hoảng và từ nửa sau những năm 80 tiếp tục phát triển nhanhchóng vươn lên là siêu cường tài chính số 1 thế giới, trở thành chủ nợ lớn nhất thế giới
Giai đoạn 1991 – 2000
Tuy là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới nhưng nền kinh tế Nhật đã bộc lộ nhiều
sự mất ổn định Trong thập kỷ 90, nền kinh tế Nhật Bản hầu như chìm đắm trong suythoái kéo dài Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á 1997 -1998 lại giáng một đònnặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản Từ năm 1998 nền kinh tế được phục hồi, sau đó tiếptục phát triển Năm 2000 GDP của Nhật Bản là 4746 tỷ USD , bình quân đầu người
37408 USD, chiếm 1/10 tổng sản phẩm thế giới
* Những thách thức đối với nền kinh tế Nhật Bản:
- Lãnh thổ Nhật Bản không lớn, dân số đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn,thường xảy ra thiên tai ( động đất, núi lửa, ), nền công nghiệp hầu như phụ thuộc hoàntoàn vào các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nhập khẩu
- Cơ cấu vùng kinh tế của Nhật Bản thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào ba trungtâm lớn là Tô-ki-ô, Ô-xa-ca và Na-gôi-a với số dân trên 60 triệu người, trong khi cácvùng khác được đầu tư phát triển rất ít, giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự mất cânđối
Trang 9Tiết 2: TÌNH HÌNH ĐỐI NGOẠI NƯỚC MỸ, NHẬT, TÂY ÂU
TỪ NĂM 1945 - 2000
1 Giai đoạn 1945 – 1973:
a Nước Mỹ
- Với tiềm lực về kinh tế và quân sự to lớn, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ
đã triển khai chiến lược toàn cầu với tham vọng bá chủ thế giới:
+ Tháng 3 – 1947 trong diễn văn đọc trước Quốc hội Mĩ, Tổng thống H Tru-man
đã công khai nêu lên Sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng của chủnghĩa cộng sản
+ Chiến lược toàn cầu của Mĩ được triển khai qua nhiều học thuyết cụ thể như:Học thuyết Tru-man và chiến lược Ngăn chặn, Học thuyết Ai-xen-hao và chiến lược Trảđũa ồ ạt, Học thuyết Ken-nơ-đi và chiến lược Phản ứng linh hoạt, Học thuyết Ních-xơn
và chiến lược Ngăn đe thực tế,
- Mặc dù các chiến lược cụ thể mang những tên gọi khác nhau nhưng chiến lượctoàn cầu của Mĩ nhằm thực hiện ba mục tiêu chủ yếu sau:
+ Ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới.+ Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc
tế, phong trào chống chiến tranh, vì hòa bình, dân chủ thế giới
+ Khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ
- Để thực hiện các mục tiêu trên, chính sách cơ bản của Mĩ là dựa vào sức mạnh,trước hết là sức mạnh quân sự và kinh tế:
+ Mĩ đã khởi xướng cuộc chiến tranh lạnh trên phạm vi thế giới, dẫn đến tình trạngđối đầu căng thẳng và nguy hiểm với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
+ Mĩ trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc chiến tranh và bạo loạn, lật đổ ởnhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975) và dínhlíu vào cuộc chiến tranh ở Trung Đông
- Tuy là nước tư bản phát triển, là trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới, khoahọc – kĩ thuật phát triển, mức sống của người dân được nâng cao nhưng xã hội Mĩ vẫnchứa đựng nhiều mâu thuẫn giai cấp, xã hội, sắc tộc,
Trang 10+ Từ năm 1945 đến 1973, kinh tế Mĩ đã trải qua ít nhất là 7 lần khủng hoảng hoặcsuy thoái Thâm hụt ngân sách, nợ nần, lạm phát, phá sản, thất nghiệp, phân hóa giàunghèo, vẫn là những vấn đề k không dễ khắc phục.
+ Mĩ có khoảng 400 người có thu nhập hàng năm từ 185 triệu USD trở lên, tươngphản với 20 triệu người sống dưới mức nghèo khổ
+ Nhiều vụ bê bối chính trị lớn xảy ra như vụ ám sát Tổng thống Ken-nơ-đi(1963), vụ tiết lộ Tài liệu mật Lầu năm góc (1971), vụ Oatơghết buộc Tổng thống Ních-xơn từ chức (1974),
- Trong bối cảnh đó, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các cuộc đấutranh vì hòa bình, dân chủ và dân sinh vẫn diễn ra mạnh mẽ Đảng Cộng sản Mĩ đã cónhiều hoạt động đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động:
+ Năm 1955, Đại hội các tổ chức nghiệp đoàn trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức AFL
và CIO với 15 triệu đoàn viên đã tạo thêm sức mạnh đấu tranh với giới chủ trong việc kíkết các hợp đồng tập thể
+ Năm 1963, phong trào đấu tranh của người da đen chống phân biệt chủng tộcbùng lên mạnh mẽ thu hút 25 triệu người tham gia, lan rộng ra 125 thành phố (mạnh nhất
là ở Đi-tơ-roi )
+ Từ 1969 đến 1973, những cuộc đấu tranh của người da đỏ vì quyền lợi cũng diễn
ra mạnh mẽ Đặc biệt, phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược của Mĩ ở ViệtNam đã làm cho nước Mĩ bị chia rẽ sâu sắc
- Phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ là một trong những nguyên nhân buộcchính quyền Mĩ phải có những nhượng bộ có lợi cho quần chúng Trước thắng lợi củanhân dân Việt Nam và chịu sức ép của phong trào phản chiến ở Mĩ, chính quyền Ních-xơn phải kí Hiệp định Pa-ri ( 1973 ) chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hầuhết quân về nước
b Các nước Tây Âu:
- Sau chiến tranh thế giới II, các nước Tây Âu thực hiện liên minh chặt chẽ với Mỹ
- Nhiều nước Tây Âu tìm cách trở lại thuộc địa của mình: Pháp ở Đông Dương,Anh ở Miến Điện, Mã Lai…
- kết quả cuối cùng các nước thực dân này đã thất bại, phải trao trả độc lập cho cácthuộc địa
- 1949 trong hoàn cảnh của chiến tranh lạnh, nhiều nước Tây Âu như Anh,Pháp,Italia, Hà Lan… gia nhập NATO nhằm chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủnghĩa
- 1949 nước Đức bị chia thành 2 quốc gia: CHLB Đức và CHDC Đức, trở thànhtâm điểm của sự đối đầu ở Châu Âu giữa Mĩ và Liên Xô
Giai đoạn 1950- 1973:
- Một mặt liên minh chặt chẽ với Mỹ, mặt khác cố gắng đa phương hóa quan hệ
đối ngoại
Trang 11+ Một số nước Tây Âu ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ủng
hộ Ixraen trong cuộc chiến tranh chống các nước Ả rập
+ Pháp có động thái khác: Phản đối việc trang bị vũ khí hạt nhân cho CHLB Đức,phản đối việc Mĩ xâm lược Việt Nam, 1966 P rút khỏi Bộ chỉ huy NATO
- 1950 – 1973: nhiều thuộc địa Anh, Pháp, Hà Lan… tuyên bố độc lập, mở ra thời
kỳ “phi thực dân hóa” trên thế giới
- Với hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật (1951), Nhật trở thành căn cứ chiến lược của
Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, chống các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giảiphóng dân tộc
Giai đoạn 1953 – 1973:
- NB vẫn liên minh chặt chẽ với Mĩ, HƯ an ninh M-N được kéo dài vĩnh viễn
- 1956 NB bình thường hóa quan hệ với LX, đồng thời gia nhập LHQ
- Phong trào đấu tranh vì hòa bình dân chủ, phản đối chiến tranh VN của Mĩ diễn
- Từ giữa những năm 80, Mĩ và Liên Xô đều điều chỉnh chính sách đối ngoại Xuhướng đối thoại và hòa hoãn ngày càng chiếm ưu thế trên thế giới
- Tháng 12 – 1989, Mĩ và Liên Xô đã chấm dứt tuyên bố chấm dứt chiến tranhlạnh, mở ra thời kì mới trên chiến trường quốc tế Cùng điều đó, Mĩ và các nước phươngTây cũng ra sức tác động vào quá trình khủng hoảng, dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở cácnước Đông Âu và Liên Xô ( 1989 – 1990 ) Mĩ cũng giành được thắng lợi trong cuộcchiến tranh cùng Vịnh chống I-rắc (1990 – 1991 )
Trang 12• Mĩ vẫn lãnh đạo và chi phối khôi quân sự NATO.
• Mĩ cùng Liên hợp quốc và các cường quốc khác bảo trợ cho tiến trình hòa bình ởTrung Đông nhưng vẫn có sự thiên vị đối với I-xra-en
• Mĩ ủng hộ việc kí kết Hiệp định hòa bình Pa-ri về Cam-pu-chia (1991)
• Bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (1995)
• Nhưng Mĩ vẫn duy trì các căn cứ quân sự và quân đội ở Nhật Bản và Hàn Quốccũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới
- Với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học – kĩ thuật của mình, trong bối cảnh Liên
Xô tan rã, Mĩ có tham vọng thiết lập một trật tự thế giới mới đơn cực trong đó Mĩ là siêucường duy nhất đóng vai trò chi phối lãnh đạo
Tuy nhiên, thế giới không chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt Vụkhủng bố ngày 11 – 9 – 2001 cho thấy bản thân nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủnghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến những thay đổi quan trọng trongchính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ khi bước vào thế kỉ XXI
b Các nước Tây Âu
Giai đoạn 1973 – 1991:
- 1/1972: ký Hiệp định về những cơ sở quan hệ giữa hai nước Đức làm quan hệhai nước hòa dịu 1989, Bức tường Berlin bị xóa bỏ và nước Đức thống nhất (3.10.1990)
- Ký Định ước Helsinki về an ninh và hợp tác châu Âu (1975)
- 1991, 12 nước Tây Âu kí Hiệp ước Maxtrich chuyển từ Cộng đồng Châu Âu sangLiên minh Châu Âu
Giai đoạn 1991 – 2000:
- Có sự điều chỉnh quan trong trong bối cảnh “Chiến tranh lạnh” kết thúc, trật tựhai cực Ianta tan rã : Anh vẫn duy trì liên minh chặt chẽ với Mỹ thì Pháp và Đức đã trởthành những đối trọng đáng chú ý với Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế quan trọng
- Mở rộng quan hệ với các nước đang phát triển ở Á, Phi, Mỹ La-tinh, các nướcthuộc Đông Âu và SNG
Liên minh Châu Âu (EU):
Quá trình thành lập:
- Nguyên nhân (hoàn cảnh) :
+ Một là, sáu nước Tây Âu đều có chung một nền văn minh, có một nền kinh tếkhông cách biệt và từ lâu đã liên hệ mật thiết với nhau Sự hợp tác là hết sức cần thiếtnhằm mở rộng thị trường, nhất là dưới của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và còngiúp các nước Tây Âu tin cậy nhau hơn về chính trị, khắc phục những nghi kị, chia rẽ đãxảy ra nhiều lần trong lịch sử
+ Hai là, từ năm 1950, do nền kinh tế bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, cácnước Tây Âu ngày càng muốn thoát dần khỏi sự lệ thuộc vào Mĩ; các nước này cần phảiliên kết cùng nhau trong các cuộc cạnh tranh với các nước ngoài khu vực
- Ngày 18-04-1951, 6 nước Tây Âu (Pháp, Tây Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luc-xămbua (Lucxemburg) thành lập “Cộng đồng than – thép châu Âu” (ECSC)
Trang 13- Ngày 25-03-1957, 6 nước ký Hiệp ước Roma thành lập “Cộng đồng năng lượngnguyên tử châu Âu” (EURATOM) và “Cộng đồng kinh tế châu Âu” (EEC)
- Ngày 1-7-1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành “Cộng đồng châu Âu” (EC)
- 07-12-1991: Hiệp ước Maxtrích (Hà Lan) được ký kết => 1-1-1993: EEC thànhLiên minh châu Âu (EU)
- Từ 6 nước thành viên năm 1995 EU đã phát triểnvới 15 nước thành viên.1973 kếtnạp thêm Anh, Đan Mạch, Ai Len, 1981 Hi Lạp, 1986 Bồ đào Nha, Tây ban Nha, 1995
Áo, phần lan, 2004 10 nước Đông Âu
- 2007: có 27 thành viên thêm Bungari và Rumani
Mục tiêu:
- Liên minh chặt chẽ về kinh tế, tiền tệ và chính trị như xác định luật công dânchâu âu, chính sách dối ngoại và an ninh chung, hiến pháp chung,
Hoạt động:
- Tháng 6/1979: bầu cử Nghị viện châu Âu đầu tiên
- Tháng 3/1995: 7 nước EU hủy bỏ việc kiểm soát đi lại của công dân qua biêngiới của nhau
- 01/01/1999, đồng tiền chung châu Âu được phát hành 1-1-2000 đồng EUROđược đưa vào sử dụng
- Hiện nay là liên minh kinh tế - chính trị lớn nhất hành tinh, chiếm ¼ GDP củathế giới
- 1990, quan hệ Việt Nam – EU được thiết lập và phát triển trên cơ sở hợp tác toàndiện
- Tháng 7/1995 EU và VN ký Hiệp định hợp tác toàn diện
Khó khăn phải giải quyết khi tiến tới một châu Âu không biên giới:
- Tuy nhiên, con đường dẫn tới châu Âu thống nhất còn là quá trình lâu dài vàđầy khó khăn trước những diễn biến phức tạp của châu Âu và thế giới
- Nhiều vấn đề đã nảy sinh sau khi xoá bỏ kiểm soát biên giới giữa các nước:buôn lậu, ma tuý, mafia, di cư và nhập cư, mâu thuẫn giữa quyền lợi dân tộc với quyềnlợi chung của khối EU
Quan hÖ ViÖt Nam - EU
- 1990 : quan hệ VN – EU chinh thức được thiết lập
- 1995: EU vµ VN kÝ hiÖp íc hîp t¸c toµn diÖn (kinh tÕ, x· héi, khoa häc kÜ thuËt)
- EU: cã ch¬ng tr×nh hîp t¸c víi VN (§µo t¹o nh©n lùc; chuyÓn giao c«ng nghÖtrong s¶n xuÊt thÐp, xi m¨ng, mÜ phÈm; ng©n hµng)
Trang 14- VN: EU lµ thÞ trêng lín cña VN vÒ dÖt may, thùc phÈm, thñ c«ng mÜ nghÖ.
c Nhật Bản
Giai đoạn 1973 – 1991:
- Tiếp tục liên minh với Mĩ
- Mặt khác NB cố gắng đưa ra chính sách đối ngoại của mình:
+ 1973 thiết lập quan hệ ngoại giao với VN, bình thường hóa quan hệ với TQ
+ Để thể hiện vai trò của mình đối với các nước thuộc khu vực đông nam Á8/1977, tại hội nghị các nước ASEAN (họp ở Manila, thủ đô Philipines) thủ tướng NhậtPhukuda) đã trình bày khá toàn diện chính sách đối ngoại của Nhật (sau gọi là họcthuyết Phukuda) gồm 3 nội dung :
Nhật Bản không bao giờ trở thành cường quốc quân sự
Nhật Bản cố gắng thiết lập quan hệ hợp tác và hữu nghị với cácnước Đông Nam Á
Nhật hợp tác với các nước ASEAN để góp phần vào việc giữ gìnhoà bình và thịnh vượng chung ở ĐNA
+ Trong điều kiện và tình hình mới, học thuyết Phukuda được tiếp tục bởi họcthuyết kaiphu (1999) rồi sau đó là học thuyết Hasimôtô (1997)
- Quan hệ hợp tác kinh tế với NICs và ASEAN
=> Như vậy, trong vài thập niên gần đây, Nhật Bản đã trở thành đế quốc kinh tế,dựa vào sức mạnh kinh tế để xâm nhập mở rộng thế lực ra thế giới, nhất là khu vựcĐông Nam Á
* Mối quan hệ VN – NB:
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và trong cuộc xây dựng ñất nước, ðảng Cộng sản
và nhân dân lao ñộng Nhật Bản ủng hộ và giúp ñỡ Việt Nam Những năm gần ñây quan hệViệt - Nhật ngày càng tốt ñẹp
- 1973 2 nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
- NB là một trong những nước có nguồn đầu tư trực tiếp (FDI) và nguồn viện trợ(ODA) lớn của VN.Nhiều liên doanh Việt - Nhật ra đời, các buổi tổ chức, giao lưu văn hoáViệt - Nhật làm nhân dân hai nước hiểu biết, gần gũi nhau hơn Những năm vừa qua NhậtBản là bạn hàng số một của Việt Nam