Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường Việt Nam. quy luật giá trị . Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đời sống tinh thần và vật chất của con người trong xã hội đó ngày một ổn định, phong phú nhưng để có được một xã hội như vậy không phải tự nhiên mà có. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng khó khăn, đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên trường quốc tế. Muốn thực hiện điều đó thì nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị. Vì sao lại nói quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất? Và đối với nước ta hiện nay nền kinh tế thị trường liệu có chịu ảnh hưởng của quy luật này? Nếu trả lời được câu hỏi trên hay nói cách khác là nghiên cứu quy luật giá trị thì ta nhận định được thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay từ đó có được những lý luận chung về những tồn tại, những tiến bộ cũng như hướng phát triển. Mặt khác, tác dụng của quy luật giá trị tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất XHCN và vào khả năng nhận thức vận dụng và tổ chức các hoạt động kinh tế thực tiễn của Nhà nước. Hơn nữa, tác dụng của quy luật giá trị là tác dụng khách quan, khả năng con người nhận thức và vận dụng quy luật sẽ quy định tính chất tiêu cực hay tích cực mà việc vận dụng quy luật giá trị một cách khoa học hiệu quả tận dụng một cách tối ưu nhất những ưu điểm của nó khi tham gia vào nền kinh tế đất nước chính là mục đích của chúng em khi chọn đề tài này với vai trò là một thành viên tương lai của nền kinh tế Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu bản chất và vai trò của quy luật giá trị và nội dung quy luật. Nghiên cứu cụ thế sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta, các đặc trưng và cấu trúc thị trường cùng nền kinh tế ở nước ta. Đối tượng nghiên cứu: Quy luật giá trị Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Thực tế xã hội. Trên đây là tất cả những vấn đề mà nhóm chúng em sẽ tập trung nghiên cứu trong bài viết của mình, những nội dung đó sẽ được đề cập trong hai chương bao gồm: + Chương I: Lý luận chung về quy luật giá trị + Chương II: Thực tế vấn đề đó ở Việt Nam. Cuối cùng, chúng em xin cảm ơn thầy cô giáo đã ra đề tài và đã hướng dẫn cho chúng em nghiên cứu đề tài này một cách khoa học và nghiêm túc. Tuy nhiên đây là một đề tài hết sức bao quát và tổng hợp nhiều kiến thức vì vậy bài viết của chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Chúng em rất mong có được sự chỉ bảo và giúp đỡ của thầy cô. Chúng em xin chân thành cảm ơn.
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ 4
1.1 Nội dung của quy luật giá trị 4
1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị 4
1.1.2 Nội dung của quy luật giá trị 4
1.2 Tác động của quy luật giá trị 5
1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa 5
1.2.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm 6
1.2.3 Phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa 7
1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hóa 7
CHƯƠNG II: SỰ BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 11
2.1 Kinh tế thị trường và sự cần thiết phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam .11 2.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường 11
2.1.2 Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 11
2.2 Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường Việt Nam 12
2.2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam trong quá trình tiến lên XHCN 12
2.2.2 Thực trạng vận dụng vào từng lĩnh vực 14
2.3 Những ưu điểm và các mặt còn tồn tại 15
2.3.1 Những ưu điểm 15
Trang 22.3.2 Các mặt còn tồn tại 16 2.4 Một số giải pháp 16 KẾT LUẬN 18
Trang 4Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đời sống tinh thần và vật chất của con người trong xã hội đó ngày một ổn định, phong phú nhưng để có được một xã hội như vậy không phải tự nhiên mà có Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng khó khăn, đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên trường quốc tế Muốn thực hiện điều đó thì nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị Vì sao lại nói quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất? Và đối với nước ta hiện nay nền kinh tế thị trường liệu có chịu ảnh hưởng của quy luật này? Nếu trả lời được câu hỏi trên hay nói cách khác là nghiên cứu quy luật giá trị thì ta nhận định được thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay từ đó có được những lý luận chung về những tồn tại, những tiến bộ cũng như hướng phát triển Mặt khác, tác dụng của quy luật giá trị tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất XHCN và vào khả năng nhận thức vận dụng và tổ chức các hoạt động kinh tế thực tiễn của Nhà nước Hơn nữa, tác dụng của quy luật giá trị là tác dụng khách quan, khả năng con người nhận thức và vận dụng quy luật sẽ quy định tính chất tiêu cực hay tích cực mà việc vận dụng quy luật giá trị một cách khoa học hiệu quả tận dụng một cách tối ưu nhất những ưu điểm của nó khi tham gia vào nền kinh tế đất nước chính là mục đích của chúng
em khi chọn đề tài này- với vai trò là một thành viên tương lai của nền kinh tế Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu bản chất và vai trò của quy luật giá trị và nội dung quy luật
- Nghiên cứu cụ thế sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta, các đặc trưng và cấu trúc thị trường cùng nền kinh tế ở nước ta
Đối tượng nghiên cứu:
- Quy luật giá trị
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 5- Thực tế xã hội.
Trên đây là tất cả những vấn đề mà nhóm chúng em sẽ tập trung nghiên cứu trong bài viết của mình, những nội dung đó sẽ được đề cập trong hai chương bao gồm: + Chương I: Lý luận chung về quy luật giá trị
+ Chương II: Thực tế vấn đề đó ở Việt Nam
Cuối cùng, chúng em xin cảm ơn thầy cô giáo đã ra đề tài và đã hướng dẫn cho chúng em nghiên cứu đề tài này một cách khoa học và nghiêm túc Tuy nhiên đây là một đề tài hết sức bao quát và tổng hợp nhiều kiến thức vì vậy bài viết của chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Chúng em rất mong có được sự chỉ bảo và giúp đỡ của thầy cô Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 6BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ
đánh giá Nhóm đánh giá Cá nhân kí tên
Trang 7CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1 Nội dung của quy luật giá trị
1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất của sản xuất và trao đổi hàng hóa Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì chừng đó còn quy luật giá trị
1.1.2 Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
- Quy luật giá trị không phải là quy luật kinh tế chung của mọi nền sản xuất xã hội Nó cũng không phải là quy luật kinh tế riêng của bất kỳ nền sản xuất xã hội nào Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa Ở đâu và khi nào có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị còn là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hoá
- Nội dung của quy luật: Sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở giá trị của
nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết
- Yêu cầu đối với sản xuất: Trong thực tế sản xuất, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí cá biệt của mình Tuy nhiên, giá trị hàng hóa không phải do hao phí lao động cá biệt mà do hao phí lao động xã hội quyết định Do vậy, muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và tiến tới có lãi thì người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vì trong nền sản xuất hàng hóa, vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không Để có thể bán được thì hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa của các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được Mức hao phí càng thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh, thu được nhiều lợi nhuận, ngược lại sẽ bị thua lỗ, phá sản…
► Qua đây, ta thấy được tác động của quy luật giá trị là buộc người sản xuất phải điều chỉnh quá trình sản xuất của mình sao cho phù hợp nhất
- Yêu cầu đối với lưu thông: Trao đổi, lưu thông hàng hóa cũng phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là trao đổi phải thực hiện theo nguyên tắc
Trang 8ngang giá Điều này có nghĩa là, hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng có lượng giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau
bình đẳng giữa những người sản xuất hàng hóa Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo yêu cầu đòi hỏi của nó thông qua “mệnh lệnh” của giá cả thị trường Tuy nhiên trong thực
tế do sự tác động quá nhiều quy luật kinh tế, nhất là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hóa thường xuyên tách rời giá trị
► Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Giá trị là cơ sở của giá cả nên giá cả phụ thuộc vào giá trị theo hướng: hàng hoá nào có giá trị cao thì giá cả cao và ngược lại Tuy nhiên, trên thị trường, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời so với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động của giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
1.2 Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Điều tiết sản xuất:
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả thị trường do tác động trực tiếp của cung cầu Điều này thể hiện qua hai trường hợp sau:
- Thứ nhất, nếu hàng hóa nào đó có cung nhỏ hơn cầu dẫn đến giá cả lớn hơn giá trị, hàng hóa đó có khả năng bán chạy và thu lãi cao, những người sản xuất sẽ đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động để mở rộng quy mô sản xuất Không những thế, những người sản xuất đang hoạt động ở lĩnh vực khác cũng có thể chuyển qua sản xuất mặt hàng này Do đó, quy mô ngành này càng được mở rộng
- Thứ hai, đối với những mặt hàng hóa có cung lớn hơn cầu kéo theo giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa đó sẽ không bán được và người sản xuất sẽ phải thu hẹp quy mô, thậm chí đóng cửa xí nghiệp sản xuất mặt hàng này Một số người sẽ không sản xuất loại hàng hóa đó nữa mà chuyển sang sản xuất loại
Trang 9hàng hóa có lãi nhiều Kết quả là các yếu tố của sản xuất của ngành giảm đi
do đã bị chuyển sang ngành sản xuất khác
- Thứ ba, đối với hàng hóa mang cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị Tuy nhiên trường hợp này ít xảy ra
Điều tiết lưu thông:
giá cả trên thị trường Sự biến động giá cả trên thị trường có tác dụng thu hút luồng hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, nơi có thể thu nhiều lãi Qua đó, quy luật giá trị có tác động điều tiết, phân phối các nguồn hàng hóa một cách hợp lý hơn giữa các vùng, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hóa trong xã hội
Trong kinh tế thị trường hiện nay, ngoài vai trò điều tiết của thị trường, nhà nước cũng có tác động mạnh mẽ đến điều tiết sản xuất, lưu thông thông qua các công cụ của kế hoạch
► Vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng đầy đủ hơn, phù hợp hơn nhu cầu của xã hội
1.2.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất là một chủ thể độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Và mỗi người có điều kiện sản xuất khác nhau nên mức hao phí lao động cá biệt của họ khác nhau, sản xuất mặt hàng này Tuy nhiên, trên thị trường, các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy, người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội sẽ thu được lãi và ngược lại Để dành được lợi thế trong cạnh tranh và tránh khỏi nguy cơ vỡ nợ, phá sản, các chủ thể kinh tế phải luôn luôn phấn đấu hạ thấp giá trị cá biệt sao cho bằng hoặc thấp hơn giá trị xã hội
Muốn vậy, người sản xuất phải:
Tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng các thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất
Cải tiến hiệu quả tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh, cải tiến các biện pháp lưu thông, bán hàng để tiết kiệm chi phí lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng
- Thực hiện tiết kiệm chặt chẽ các yếu tố đầu vào nhằm nâng cao năng suất lao động
Trang 10- Cải tiến chất lượng, mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người
1.2.3 Phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa
Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ tay nghề cao, có kiến thức, trang bị kỹ thuật tốt, có vốn nên hạ thấp được mức hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, thuê thêm lao động, mở rộng sản xuất kinh doanh và trở thành ông chủ
Ngược lại, những người không có điều kiện sản xuất thuận lợi, làm ăn kém cõi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh sẽ có mức hao phí lao động cá biệt cao, khi bán hàng sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản và trở thành người làm thuê
Tác động phân hóa giàu nghèo của quy luật giá trị cũng chính là một trong những nguyên nhân, cơ chế làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản Bởi vì nó đã tạo điều kiện tập trung một khối lượng tiền lớn vào tay một số người và đồng thời cũng tạo ra lực lượng lao động làm thuê bán sức lao động kiếm sống
► Qua đây, ta có thể thấy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Một mặt, quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế phải sàng lọc, lưu giữ các yếu tố có tác dụng tích cực đến hiệu quả sản xuất, gạt bỏ những yếu
tố lạc hậu Mặt khác, nó phân hóa xã hội thành giàu nghèo, gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội
nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực của quy luật giá trị
Cụ thể, nhà nước có thể vận dụng quy luật giá trị trong điều tiết vĩ mô để thúc đẩy hoặc không khuyến khích một số ngành sản xuất phát triển, bên cạnh đó là các chính sách điều tiết, chính sách xã hội để hạn chế sự phân hóa trên Đặc biệt, đối với Việt Nam, trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, điều đó càng được thực hiện đúng mức
1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hóa
Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản thành quy luật giá cả sản xuất (giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và
Trang 11thành quy luật giá cả độc quyền (giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền) Nó tiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta
Ta xét mối quan hệ giữa giá cả, giá thị trường, giá độc quyền với giá trị hàng hóa:
Giá cả: là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Giá trị là cơ sở của giá cả Khi
quan hệ cung cầu cân bằng, giá cả hàng hóa cao hay thấp là ở giá trị của hàng hóa quyết dịnh
Trong điều kiện sản xuất hàng hóa, giá cả hàng hóa tự phát lên xuống xoay quanh giá trị tùy theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền Sự hoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thị trường Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị, mặc dầu nó thường xuyên tách rời giá trị Điều đó có thể hiểu theo hai mặt:
Không kể quan hệ cung cầu như thế nào, giá cả không tách rời giá trị xã hội
Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trọn một thời gian dài thì thấy tổng số giá cả bằng tổng số giá trị, vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù vào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường Giá cả thị trường là giá cả sản xuất giữa người mua và người bán thỏa thuận với nhau)
Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị, nó bằng chi phí sản xuất của hàng hóa cộng với lợi nhuận bình quân
Trong giai đoan tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân nên hàng hóa không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất
Giá trị hàng hóa chuyển thành giá cả sản xuất không phải phủ nhận quy luật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó:
Tuy giá cả sản xuất của hàng hóa thuộc ngành cá biệt có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị, nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hóa của tất cả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra
Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị Giá trị hàng hóa giảm xuống, giá
cả sản xuất giảm theo, giá trị hàng hóa tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên
Trang 12Giá cả độc quyền: Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng
giá hàng hóa lên trên giá cả sản xuất và giá trị Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bình quân
Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sản xuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độc quyền mua của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền
Giá cả độc quyền không xóa bỏ giới hạn của giá trị hàng hóa, nghĩa là giá cả độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư do xã hội sản xuất