1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Lúa gạo 2018 KHCN với sản phẩm chủ lực vùng ĐBSCL

8 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KH&CN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN VÀ TÁI CƠ CẤU SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Vùng ĐBSCL với 13 tỉnh, thành phố không chỉ là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, trá

Trang 1

KH&CN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN VÀ TÁI CƠ CẤU SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Vùng ĐBSCL với 13 tỉnh, thành phố không chỉ là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, trái cây, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản của Việt Nam chúng ta, mà còn được xác định là vùng nông sản lớn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, ngoài ra Vùng này còn có tiềm năng, thế mạnh phát triển công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến thực phẩm, phát triển du lịch và dịch vụ hậu cần đường thủy

Hiện nay, ĐBSCL đóng góp khoảng 55% sản lượng lúa, 70% lượng thủy sản, trên 35% lượng trái cây, cung cấp 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu và 65% sản lượng thuỷ sản xuất khẩu của cả nước Tuy nhiên hiện nay có hai thách thức khách quan lớn đối với ngành nông nghiệp ĐBSCL đó là (1) tác động ngày càng trầm trọng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng dẫn đến diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản bị xâm nhập mặn, hạn hán ngày càng gia tăng và (2) yêu cầu của thị trường đối với nông sản Việt ngày càng khắt khe, nhất là thị trường ở các nước phát triển Ngoài ra các khó khăn, tồn tại nội tại của sản xuất nông nghiệp nước ta như: diện tích canh tác manh mún, quản lý chất lượng sản phẩm kém, vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm; sản phẩm xuất khẩu thô là chủ yếu; công nghệ chế biến lạc hậu, thất thoát sau thu hoạch lớn, giá trị gia tăng thấp; cơ cấu các ngành hàng còn nhiều bất hợp lý cũng là những thách thức không nhỏ đối với ngành sản xuất nông nghiệp – thủy sản hiện nay

Để giải quyết được những khó khăn, thách thức trên, Chính phủ đã xác định phải tích cực triển khai tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả của chuối giá trị sản xuất các sản phẩm chủ lực của Vùng Một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất chính là giải pháp đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu KH&CN, để có thể làm thay đổi phương thức sản xuất mạnh mẽ nhất, từ đó hỗ trợ có hiệu quả cho tái cấu trúc nông nghiệp và phát triển bền vững nông nghiệp của Vùng

Báo cáo này tập trung vào phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; thực trạng phát triển các sản phẩm chủ lực; các khó khăn thách thức trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thay đổi của thị trường nông sản; những giải pháp để thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất cảu các sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long

I KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

II HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Lúa gạo

Bảng 1: Tình hình sản xuất lúa ở vùng ĐBSCL phân theo tỉnh năm 2016

Trang 2

Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản lượng

(nghìn tấn)

1 Long An 527,4 53,4 2.816,3

2 Tiền Giang 215,5 58,8 1.268,1

3 Bến Tre 58,2 27,7 161,0

4 Trà Vinh 234,2 47,7 1.116,7

5 Vĩnh Long 176,4 53,3 941,0

6 Đồng Tháp 551,4 61,6 3.396,7

7 An Giang 669,0 60,8 4.068,7

8 Kiên Giang 766,0 54,3 4.161,6

9 Cần Thơ 240,0 58,2 1.397,8

10 Hậu Giang 202,3 60,9 1.231,0

11 Sóc Trăng 357,3 59,4 2.123,2

12 Bạc Liêu 177,2 58,4 1.034,6

13 Cà Mau 120,3 42,4 509,9

Cả vùng 4.295,2 56,4 24.226,6

Cả nước 7.790,4 56,0 43.609,5

% so với cả nước 55,1 100,7 55,6

Nguồn: Niên giám thống kê toàn quốc 2017

Nhờ vào lợi thế tự thiên mà sản xuất lúa ở ĐBSCL có thể xem là nghề truyền thống và giữ vị trí chiến lược của vùng Hiện nay, ĐBSCL trở thành “vựa lúa” không những của Việt Nam mà còn của thế giới với sản lượng xuất khẩu chiếm 90% cả nước, giúp Việt Nam đứng thứ hai trong các nước xuất khẩu gạo của thế giới Trong những năm gần đây diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên Diện tích lúa của vùng đã tăng từ 3.826,3 nghìn ha (2005) lên 4.295,2 nghìn ha (2016) – tăng 12,3% Năm 2016, ĐBSCL chiếm 55,1% diện tích và 55,6% sản lượng lúa cả nước; Năng suất lúa trung bình của cả vùng đạt 56,4 tạ/ha, cao hơn năng suất bình quân của cả nước

Có 10/13 tỉnh trong vùng có sản lượng trên 1 triệu tấn/năm, trong đó dẫn đầu là Kiên Giang và An Giang với sản lượng đạt trên 4 triệu tấn Đồng Tháp, Hậu Giang và

An Giang là ba địa phương có năng suất lúa đạt trên 60 tạ/ha, trong đó Đồng Tháp là địa phương dẫn đầu về năng suất lúa của vùng, đạt 61,6 tạ/ha

Trong những năm qua, nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa đã được triển khai áp dụng tại vùng ĐBSCL mang lại những kết quả tích cực Một số kỹ tiến bộ kỹ thuật nổi bật trong các lĩnh vực như:

+ Tiến bộ kỹ thuật về giống:

- Giống lúa cực ngắn ngày: bao gồm các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ

85-90 ngày, nhờ nhóm giống lúa ngắn ngày đã giúp bà con nông dân vùng ĐBSCL làm tăng thêm vụ thứ 3 với diện tích trên 600.000ha, sản lượng tăng thêm khoảng 3 triệu tấn mỗi năm Một số giống lúa trong nhóm này có nhiều đặc tính ưu việt có thể thay thế được cho giống lúa IR50404 là OM5451 là một trong các giống chủ lực của các tỉnh ĐBSCL (với diện tích phát triển trong sản xuất từ năm 2010 đến năm 2012 là

Trang 3

618.000 ha); một số giống mới như OM10417; OM10424; ĐTM192; ĐTM126; chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, diện tích phát triển của giống trong sản xuất tại các tỉnh ĐBSCL trong năm 2011 và 2012 là gần 9.000 ha;

- Giống lúa ngắn ngày phục vụ xuất khẩu: bao gồm các giống lúa có thời gian

sinh trưởng từ 90-100 ngày (giống lúa nhóm A1), có năng suất cao, chất lượng gạo đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, có khả năng chống chịu được các sâu bệnh hại chính Điển hình là các giống lúa: VNĐ99-3; VN121; VN124; VND95-20; OM2517, OM2717, OM4498, OM5930, OM4900, OM6073 OM6161, OM4218, OM4088, OMCS2009, OM5981, OM5629, OM6600, OM6377, OM6071, OM5954, OM4488, OM5953, OM7348 Trong đó, đặc biệt giống OM4900 là giống lúa giống lúa thơm, chất lượng cao được ưa chuộng vì cho năng suất cao, có tính thích nghi rộng và có khả năng chịu được phèn mặn nên đã trở thành một trong những giống lúa chủ lực của ĐBSCL

- Giống lúa chịu mặn: Gồm các giống lúa có TGST từ 85-110 ngày (giống lúa

nhóm Ao, A1 và A2 ), đã và đang được đưa vào sản xuất và khảo nghiệm ở 6 tỉnh ven biển và bán đảo Cà Mau (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre và Kiên Giang) Điển hình hiện nay là các giống: OM5464, OM5166, OM9916, OM9921, OM9584, OM9577 và OM9579 Các giống này đều có khả năng chịu mặn trong điều kiện nhân tạo ở nồng độ muối 4‰- 6‰ (tưong đương và cao hơn giống chuẩn kháng quốc tế Pokkali), năng suất cao, phẩm chất gạo tốt (đạt tiêu chuẩn xuất khẩu) và khả năng chịu khô hạn tốt (OM5464) Trong thực tế sản xuất các giống này cho năng suất cao hơn một số giống chịu mặn cũ đang được nông dân trồng phổ biến trên vùng đất nhiễm mặn (OM2517, OM1490, OM576)

- Giống lúa chịu hạn: Gồm các giống lúa có TGST từ 85-110 ngày (giống lúa

nhóm Ao, A1 và A2 ) có khả năng chịu điều kiện khô hạn từ cấp 1-cấp 3 (ở giai đoạn

mạ và giai đoạn trổ), năng suất cao, phẩm chất gạo tốt (đạt tiêu chuẩn xuất khẩu) và còn có khả năng chịu phèn mặn tốt Điển hình là các giống lúa: OM7347, OM5464, OM6162, OM7398, OM7364, OM8928 và OM6677 (đã được Bộ công nhận giống và cho phép phát triển ra sản xuất) Trong đó, đặc biệt hai giống OM6162 và OM7347 là giống lúa thơm, chất lượng cao, ngoài khả năng chịu hạn tốt còn có khả năng chịu được phèn mặn

- Bộ giống lúa giàu vi chất dinh dưỡng: Gồm các giống lúa có TGST từ 85-110

ngày (giống lúa nhóm Ao và A1) có có hàm lượng sắt trong hạt gạo cao hơn các giống hiện nay đồng thời có năng suất và chất lượng cao để phục vụ sản xuất lúa nói chung, trong đó góp phần cải thiện dinh dưỡng, đặc biệt cho nhóm người nghèo dùng gạo là nguồn thực phẩm chính Điển hình là các giống lúa: OM6976, OM5451, OM5472, OM3995, OM6561 (đã được Bộ công nhận giống và cho phép phát triển ra sản xuất) Các giống lúa này đều có hàm lượng sắt trong gạo cao tương đương như giống lúa giàu sắt quốc tế IR68144 (hàm lượng sắt trong hạt gạo trắng 6,99 - 7,01 mg/kg, trong gạo lức 15,55 - 15,60 mg/kg), đạt năng suất cao và phẩm chất gạo tốt Giống OM6976 được

Trang 4

ưa chuộng vì cho năng suất rất cao, có tính thích nghi rộng và có khả năng chịu mặn nên đã trở thành giống lúa chủ lực của ĐBSCL

+ Tiến bộ kỹ thuật về phân bón và canh tác:

Nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả phân bón đã được áp dụng trong vùng như sử dụng phân urê có phối trộn với chất ức chế bay hơi (Agrotain), sử dụng phân lân phối trộn với chất ức chế quá trình cố định lân (Avail) do Fe++, Al+++, Ca++ và Mg++ Các giải pháp trên được áp dụng trên nền tưới nước theo phương pháp khô ngập xen kỹ

đã giảm được chi phí nước tưới, không ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất, mặt khác còn hạn chế lượng CH4 phát thải

+ Mô hình quản lý chất lượng của Công ty cổ phần bảo vệ thực

vật An Giang:

- Từ năm 2006, bắt đầu triển khai chương trình “Cùng nông dân ra đồng”: lực lượng kỹ sư nông nghiệp “3 cùng”, để hướng dẫn, giúp đỡ người nông dân nâng cao kỹ thuật trồng lúa cho năng suất và chất lượng vượt trội

- Bắt đầu từ năm 2010, đầu thực hiện chiến lược hoàn thiện “Chuỗi sản xuất lúa gạo theo qui trình bền vững”: xây dựng những vùng nguyên liệu trồng lúa chất lượng cao khắp vùng đồng bằng Sông Cửu Long; quản lý chặt chẽ quá trình canh tác cây lúa

từ khâu chọn giống đến chế biến và tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc giống lúa cùng với qui trình canh tác tiên tiến; xây dựng 5 nhà máy gạo trên khắp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, mỗi nhà máy có công suất 200.000 tấn/năm góp phần nâng cao chất lượng

và giá trị sản xuất gạo trong vùng

Mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng sản xuất lúa của vùng ĐBSCL trong thời gian qua vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:

(1) Sản xuất lúa gạo hiệu quả thấp:

Việt Nam đang là nước sản xuất và xuất khẩu gạo lớn, với diện tích thu hoạch năm 2015 là 7.835 ngàn ha, sản lượng 45,2 triệu tấn thóc, xuất khẩu 6.997 ngàn tấn gạo với kim ngạch 2.852 triệu USD, chiếm trên 17% thị phần gạo xuất khẩu toàn cầu Tuy nhiên, nhiều năm qua Việt Nam hướng vào sản xuất số lượng So với các nước sản xuất gạo chủ lực thì trong 35 năm qua năng suất lúa trung bình của Việt Nam tăng 36,8 tạ/ha, tương đương 169,6%, gấp 3 lần trung bình thế giới Trong khi các nước xuất khẩu gạo khác lại hướng vào gạo chất lượng cao, không quá chú trọng vào tăng năng suất Với Ấn Độ, sau 35 năm, năng suất chỉ tăng có 0,8 tạ/ha, Pakistan tăng 9 tạ/ha và Thái Lan tăng 6,4 tạ/ha (Bảng 2)

Bảng 2 Năng suất lúa Việt Nam và Thế giới

Quốc

gia/Vùng

Năng suất, tạ/ha 2015 so 1980

1980 2015 Năng suất tăng Tăng trung bình,

%/năm

Trang 5

Thế giới 27,5 44,3 16,8 61,1 1,75

http://ricestat.irri.org:8080/wrsv3/entrypoint.htm

Xét về hiệu quả, các nghiên cứu cho thấy thu nhập của người trồng lúa rất thấp Theo số liệu điều tra VHLSS (2010), nếu người dân có dưới 1ha lúa/hộ thì sản xuất lúa gạo chỉ đáp ứng được 19% tổng thu nhập Tương ứng mức thu nhập tăng lên 26%; 36%

và 68% khi hộ nông dân có tương ứng 1-2ha;2-3ha và >4ha, mà trên 90% hộ nông dân

có diện tích trồng lúa nhỏ hơn 1 ha

Nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế (Bảng 3) so sánh hiệu quả sản xuất lúa gạo tại một số nước cũng cho thấy hiệu quả sản xuất chủ yếu liên quan đến giá bán Giá bán 1kg lúa tại Cần Thơ là thấp nhất so với các điểm điều tra ở các nước khác với mức 0.195USD/kg, tương đương 4.290 đồng/kg Trong khi đó giá 1kg lúa ở Ấn Độ là 5.192đ; 8.404đ ở Indonesia, 8.889đ ở Thái Lan và 7.700đ ở Philippin Chính điều này làm cho thu nhập thuần từ sản xuất lúa gạo của Việt Nam là thấp nhất, chỉ đạt 419USD/1 ha (9,2 triệu đồng), bằng khoảng 65% so với Thái Lan, 54% so với Philippines, Trung Quốc và Indonesia

Chi phí đầu vào trong sản xuất còn cao, đặc biệt là chi phí giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật

Bảng 3 Hiệu quả so sánh sản xuất lúa tại một số nước

Khu vực điều tra

Chỉ tiêu

Zhejiang, Tamil Tây Java, Suphan Thơ, Cần Nueva

Trung Nadu, Indonesia Buri, Thái Nam Việt Ecija,

Chi phí sản xuất:

Chia ra: USD/ha

- Lao động 1231,26 299,91 1001,98 207,65 161,02 765,74 Giá thành, USD/kg 0,244 0,147 0,235 0,206 0,134 0,249

Trang 6

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, dẫn theo S.Mohanty, 2015 (2) Thu nhập nông dân thấp trong chuỗi giá trị:

Thu nhập thực tế của người dân chiếm tỉ lệ rất thấp nhất trong chuỗi giá trị Theo nghiên cứu của Đại học Cần Thơ thì người dân chỉ có lợi nhuận 240 USD/năm, trong khi người thu gom có 25.000 USD; xay sát 48.400 USD và xuất khẩu hưởng lợi tới 2,22 triệu USD/năm (Bảng 4) Nghiên cứu của IPSARD (2014) cũng cho thấy, phân phối lợi nhuận (và rủi ro) không công bằng giữa các đối tác tham gia chuỗi lúa gạo Tính trên đơn

vị xuất khẩu thì lợi nhuận người nông dân nhận được chiếm 52% tổng lợi nhuận, nhưng chi phí họ bỏ ra chiếm 83%, trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu gạo được 30% lợi nhuận trong khi chỉ phải bỏ ra 4% chi phí

Bảng 4 Chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL

Người sản xuất Lợi nhuận, đ/kg % Khối lượng, tấn/năm Tổng lợi nhuận, 1.000 USD

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ; dẫn theo Steven Jaffee, 2012 (3) Bộ giống lúa phong phú nhưng chưa có bộ giống chủ lực phục vụ xuất khẩu:

Bộ giống lúa tuy phong phú, đủ chủng loại nhưng chưa xác định được bộ giống chủ lực phục vụ xuất khẩu, sử dụng quá nhiều giống khác nhau, những giống năng suất cao nhưng chất lượng thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao (điển hình như giống IR50404 vẫn chiếm tới >20% diện tích gieo trồng năm 2014) Những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn tới chất lượng và giá gạo xuất khẩu

(4) Sản xuất lúa thiên về tiêu chí số lượng, chưa chú trọng đến chất lượng:

Sản xuất lúa vẫn thiên về tiêu chí số lượng: giống năng suất cao, tăng số vụ/năm,

… mà chưa thực sự chú trọng đến tiêu chí chất lượng nên mặc dù lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị xuất khẩu mang lại không cao, sức cạnh tranh trên thị trường thấp

(5) Tổn thất sau thu hoạch lớn:

Tổn thất sau thu hoạch là một vấn đề lớn của sản xuất lúa mà chưa có giải pháp đồng bộ, hiệu quả Theo chiến lược quốc gia sau thu hoạch của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tổn thất sau thu hoạch lúa vùng ĐBSCL khoảng 13,7%, nhất là vụ Hè Thu có lúc lên tới 30% (so với các nước ASEAN 10%, Nhật Bản 3,9-5,6%) Công nghệ sau

Trang 7

thu hoạch chưa được áp dụng đồng bộ, đặc biệt là công nghệ sấy, công nghệ bảo quản, tạm trữ và chế biến

(6) Chất lượng lúa gạo sản xuất trong nước đã được nâng lên, song công t ác dự báo thị trường, quảng bá sản phẩm chưa được chú trọng, chưa xây dựng được thương hiệu gạo mạnh cho vùng:

Theo các báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam thì gạo Việt Nam vẫn chủ yếu bán các thị trường truyền thống thuộc Châu Á (chiếm trên 65%), sau đến các thị trường châu Phi (chiếm 15-16%), Châu Mỹ (chiếm 7-10%), Châu Úc (4,5-5,0%); Trung quốc vẫn là nhà nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam (chiến 35-40% sản lượng gạo xuất khẩu) Tỷ lệ gạo xuất khẩu có chất lượng cao tăng lên (năm 2016 chiếm 21,65%, năm

2017 chiếm 24,33%) tỉ lệ gạo chất lượng thấp giảm xuống nhanh (năm 2106 là 7,27%, năm 2017 là 3,88%) Theo đó giá của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới cũng tăng đáng kể, thậm chí có lúc cao hơn cả gạo Thái Lan Có được các kết quả trên chính là do hiện nay cơ cấu trồng các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm, lúa Japonica đã tăng lên đáng kể Mặc dầu vậy, nhưng công tác dự báo thị trường và sản xuất gạo trên thế giới còn hạn chế, chưa hỗ trợ cho sản xuất dẫn đến xuất khẩu gạo của chúng ta còn bị động, thu động, thậm chí phụ thuộc; chưa chú trọng đúng mức công tác xây dựng thương hiệu gạo cho vùng cũng như công tác quảng bá sản phẩm

2.2 Cây ăn quả

III VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ XU THẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỐNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

IV GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MỘT SỐ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG ĐIỀU KIỆN BĐKH&NBD

4.1 Đối với ngành trồng trọt

4.1.1 Đối với lúa gạo:

- Tập trung đầu tư nghiên cứu chọn tạo bộ giống lúa chủ lực của vùng phục vụ xuất khẩu Trong đó ưu tiên nghiên cứu chọn tạo các giống thích ứng với biến đổi khí hậu (giống chịu mặn, chịu úng) và giống chất lượng cao

- Tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về phân bón, tiết kiệm nước, bảo vệ thực vật và cơ giới hóa trong sản xuất

- Chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao, thích ứng với

biến đổi khí hậu; Nghiên cứu để có thể chuyển đổi một tỉ lệ nhất định diện tích đất lúa sang các cây trồng khác, hoặc nuôi trồng thủy sản; Xác định bộ giống lúa tiêu chuẩn

Trang 8

cho vùng, theo hướng chuyển từ số lượng sang chất lượng, giống có khả năng chống chịu (chịu mặn, chịu úng); Nghiên cứu chuyển từ cơ cấu 3 vụ lúa với giống lúa ngắn ngày sang cơ cấu 2 vụ lúa với giống lúa dài ngày chất lượng cao để nâng cao chất lượng gạo, tạo ra giá trị gia tăng cao

- Tập trung xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm gạo của vùng

Ngày đăng: 11/04/2020, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w