Đó là: "Đạo luật mẫu về thương mại điện tử' của u ỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế UNCITRAL, "Luật mẫu về Chữ ký điện tử' của u ỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại qu
Trang 2PH Í M Ạ N H CƯỜNG
MỘT SÔ VẤN ĐỂ PHÁP LÝ
VỂ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ TRONG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Trang 3Lời nói đ ầ u 3
Chương I Những vấn để lý luận cơ bản về chữ ký điện tử trong thương mại điện t ử 10
1.1 Khái quát về thương mại điện tử 10
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 10
1.1.1.1 Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng 10
1.1.1.2 Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa h ẹ p 12
1.1.2 Đặc trưng của thương mại điện t ử 13
1.1.2.1 Các giao dịch trong thương mại điện tử có tính gián tiếp 13
1.1.2.2 Trong thương mại điện tử, thị trường không biên g iớ i 14
1.1.2.3 Chủ thể tham gia vào thương mại điện tử 14
1.1.2.4 Trong thương mại điện tử, thị trường là mạng lưới thông tin 15 1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử 16
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp 16
1.1.3.2 Đối vói người tiêu dùng 18
1.1.3.3 Đối với Nhà nước 19
1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử bằng pháp luật 20
1.1.4.1 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 22
1.1.4.2 Vấn đề bản g ố c 23
1.1.4.3 Giá trị chứng cứ của văn bản điện tử 24
1.2 Một số nhận thức cơ bản về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử 27 1.2.1 Khái niệm chữ ký điện tử 27
1.2.2 Đặc điểm của chữ ký điện t ử 28
1.2.3 Những vấn đề pháp lý cơ bản của chữ ký điện tử 29
Chương II Những quy định chủ yếu của pháp luật hiện hành về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử 33
2.1 Quy định của pháp luật một số nước về chữ ký điện tử trong thương mai điên t ử 33
Trang 42.1.4 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 42
2.1.5 Dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử 44
2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử trong thương mại điện t ử 49
2.2.1 Khái niệm chữ ký điện tử 49
2.2.2 Điều kiện bảo đảm an toàn cho chữ ký điện tử 50
2.2.3 Nguyên tắc sử dụng chữ ký điện t ử 50
2.2.4 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 51
2.2.5 Dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử 52
Chưcmg III Một số k Lên nghị nhằm thực hiện có hiệu quả quy định của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử 55
3.1 Những rủi ro đối với chữ ký điện tử 55
3.1.1 Mất tính xác thực 55
3.1.2 Lộ khoá bí m ật 56
3.2 Một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả các quy định về chữ ký điện t ử 58
3.2.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ - kỹ th u ậ t 59
3.2.2 Cơ sở hạ tầng pháp lý 60
3.2.3 Nguồn nhân lực 65
3.2.4 Nhận thức xã hội 66
Kết luận 67
Danh muc tài liêu tham khảo 69
Trang 5Ngày nay, công nghệ thông tin đã và đang thâm nhập sâu, hỗ trợ mạnh
mẽ cho quá trình toàn cầu hoá Trong lĩnh vực thương mại, việc sử dụng công nghệ thông tin trong các giao dịch đã làm nảy sinh một hình thức kinh doanh mới, đó là thương mại điện tử Tuy mới ra đời không lâu, nhưng sự phát triển của thương mại điện tử lại rất mạnh mẽ và tiềm năng của nó là vô cùng to lớn Thương mại điện tử đã trở thành một xu thế phát triển tất yếu trên thế giới và làm biến đổi sâu sắc các phương thức kinh doanh Thương mại điện tử còn được dự đoán sẽ có những đóng góp to lớn hơn nữa đối với mọi mặt của đời
sống xã hội trong tương lai Điều này được thể hiện ở chỗ, hầu hết các tổ chức
thương mại trên thế giới đều có những khuyến cáo đối với các thành viên của mình hoặc đã có những cam kết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của thương mại điện tử
Thực hiện chủ trương và đường lối của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có những cam kết ứng dụng và phát triển thương mại điện tử: Trong Hiệp định khung E-ASEAN ngày 24 tháng 10 năm 2000, Việt Nam đã cam kết thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển thương mại điện tử; Trong khuôn khổ APEC, Việt Nam đã cam kết phấn đấu thực hiện thương mại phi giấy tờ vào năm 2010 và thực hiện Chương trình hành động của APEC
về thương mại điện tử nhằm tăng cường năng lực về thương mại điện tử của các nền kinh tế thành viên APEC; Trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác kinh tế
Á - Âu (ASEM), Việt Nam đã cam kết tham gia Chương trình hành động Thuận lợi hoá thương mại, trong đó thương mại điện tử là một trong những nội dung được ưu tiên cao của Chương trình
Trang 6- Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam (18/04/2006) đã khẳng định:
+ "Phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta phải phù hợp với xu th ế
phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học - công nghệ trên th ế giới C ố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một s ố lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế "[4]
+ "Về khoa học và công nghệ chúng ta phấn đấu đến năm 2010, năng lực
khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một s ố lĩnh vực quan trọng."[4]
- Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị có chỉ thị số 58-CT/TW về Đẩy mạnh úng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
- Ngày 20/11/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg về Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm
- Ngày 20/2/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2001/QĐ-TTg bổ sung sản phẩm máy vi tính vào danh mục các sản phẩm công nghiệp trọng điểm
- Ngày 24/05/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động triển khai Đề án tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2005 với mục tiêu đến cuối năm 2005 đưa hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ vào hoạt động
- Ngày 23/08/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2001/NĐ-CP
về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet
Trang 7- Ngày 17/07/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg về phê duyệt kế hoạch ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005 trong đó Bộ Thương mại được giao xây dựng dự án Tổ chức triển khai và phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
- Ngày 15/09/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện
tử giai đoạn 2006-2010
- Ngày 09/12/2005 Chủ tịch nước đã ký lệnh số 23/2005/L-CTN về việc công bố Luật Giao dịch điện tử
- Ngày 09/06/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP
về Thương mại điện tử
Chính sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đã bước đầu tạo được các điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử phát triển tại Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển thương mại điện tử đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn như: Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin và viễn thông còn kém; nguồn nhân lực còn rất mỏng về số lượng, thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về thương mại điện tử; cơ sở hạ tầng pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ; hệ thống thanh toán điện tử chưa được đồng bộ Ngoài ra, còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ trong quảng đại quần chúng nhân dân và lề lối làm việc cũng như cách thức mua bán hàng hoá vẫn theo tập quán cũ Đa số dân chúng vẫn giữ thói quen giao dịch bằng giấy tờ, mua hàng phải được nhìn thấy và sờ thử
Trong những khó khăn kể trên thì sự chưa đồng bộ của cơ sở hạ tầng pháp lý là một rào cản rất lớn đối với sự phát triển thương mại điện tử của Việt Nam trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng thương mại điện tử trong kinh doanh
đã bắt đẩu xuất hiện tại Việt Nam Thay vì việc các doanh nghiệp phải găp gỡ nhau để trao đổi, đàm phán thì họ có thể trao đổi với nhau thông qua các phương tiện điện tử như: Internet, thư điện tử, điện thoại ; thay vì việc phải
Trang 8chủ yếu còn mang tính chất phong trào.
Trong thương mại điện tử, chữ ký điện tử là một vấn đề hết sức phức tạp nhưng vô cùng quan trọng Chữ ký điện tử có khả năng xác thực chủ thể đã thực hiện giao dịch và xác thực sự chấp thuận của chủ thể thực hiện giao dịch đối với nội dung của giao dịch Do đó, chữ ký điện tử là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với nhau Điều này đặc biệt quan trọng trong thương mại điện tử vì trong thương mại điện tử, các bên tham gia giao dịch thậm chí còn chưa biết mặt nhau Chính vì vậy, các vấn đề pháp lý về chữ ký điện tử cần phải được quan tâm một cách thoả đáng khi Việt Nam muốn phát triển thương mại điện tử
Trước những vấn đề đã được nêu ở trên, việc nghiên cứu nhằm góp phần
xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về chữ ký điện tử trong thương mại điện
tử đang là một đòi hỏi cấp bách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này và thực tế
đã xây dựng được các văn bản pháp lý cho thương mại điện tử nói chung và
chữ ký điện tử nói riêng Đó là: "Đạo luật mẫu về thương mại điện tử' của u ỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), "Luật mẫu về
Chữ ký điện tử' của u ỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế
(UNCITRAL), các đạo luật mẫu về giao dịch điện tử và chữ ký điện tử của
một số nước như: Mỹ, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc , ''Tài
liệu tham khảo về khuôn khổ pháp ìỷ của thương mại điện ĩử' của Ban thư ký
ASEAN, "Các yêu cầu pháp ìỷ về vấn đề an toàn và thực hiện các giao dịch
Baker&McKenzie [ 151
Trang 9Ớ Việt Nam, thương mại điện tử vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ Chính vì vậy, có rất ít các đề tài nghiên cứu về thương mại điện tử nói chung
và đặc biệt là vấn đề pháp lý của thương mại điện tử Hiện nay mới chỉ có một
số tài liệu nghiên cứu về thương mại điện tử nhưng chủ yếu dưới góc độ kinh
tế và kỹ thuật Dưới góc độ pháp lý của thương mại điện tử có thể kể đến các
công trình nghiên cứu sau đây: Luận văn Thạc sĩ Luật học "Một sốkhía cạnh
pháp lý về thương mại điện tử' của tác giả Vũ Hải Anh ; chuyên đề "Bàn về cơ
sở pháp lý của thương mại điện tử ở Việt Nam'' của tập thể tác giả thuộc Viện
nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Ngoài ra còn một số bài viết trong
các tạp chí chuyên ngành như bài viết "Một s ố vấn đề pháp lý của thương mại
điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam" của tác giả Mai Hồng Quỳ trong tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 2/2000 ; bài viết "Những vấn đề pháp ỉý vê thương
mại điện tử ở Việt Nam" của tác giả Bùi Bích Liên trong tạp chí Luật học số
6/2000 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chủ yẽu tập trung nghiên cứu tổng quan về thương mại điện tử và các yêu cầu pháp lý đối với thương mại điện tử nói chung Còn các vấn đề pháp lý về chữ ký điện
tử trong thương mại điện tử thì cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu hay một bài viết nào đề cập đến
Qua nghiên cứu, bản thân em nhận thấy việc nghiên cứu làm sáng tỏ một
số vấn đề pháp lý về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử là một vấn đề có tính thời sự cao nhằm góp phần vào việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các giao dịch điện tử, qua đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề pháp lý về chữ ký điện
tử trong thương mại điện tử Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu những vấn đề pháp lý chủ yếu có liên quan trực tiếp đến chữ ký điện tử nhằm làm sáng tỏ những yêu cầu pháp lý cần thiết để thực hiện có hiệu
Trang 10Cơ sở phương pháp luận của luận văn dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và Pháp luật Đồng thời, luận văn vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới kinh tế trong giai đoạn hội nhập hiện nay Đây là những tư tưởng lý luận chủ đạo định hướng cho việc triển khai các nội dung của luận văn Phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử được nhìn nhận là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu luận văn Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, đối chiếu và phương pháp so sánh luật học để giải quyết các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt ra.
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu là đưa ra những phương hướng nhằm thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là tập trung làm sáng tỏ một số vấn
đề pháp lý về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Đây là luận văn thạc sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện chế độ pháp lý về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử Những luận giải, kết quả phân tích và kiến nghị trong luận văn là những quan điểm khoa học, thể hiện sự quan tâm và cầu thị trong việc nghiên cứu khoa học pháp lý của tác giả Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
vấn đề lý luận cơ bản về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử
Trang 11- Đưa ra một vài kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả quy định của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử.
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu của đề tài Ngoài phần lời nói đầu, kết luận cơ cấu của luận văn
bao gồm:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chữ ký điện tử trong thương
mại điện tử
Chương //: Những quy định chủ yếu của pháp luật hiện hành về chữ ký
điện tử trong thương mại điện tử
Chương III: Một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả quy định của
pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử trong thương mại điện tử
Nhìn chung, vấn đề chữ ký điện tử trong thương mại điện tử là vấn đề
còn mới tại Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý Do trình độ và thời
gian nghiên cứu về lĩnh vực này có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi
những hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
giáo, cô giáo, các nhà nghiên cứu và của bạn đọc nhằm hoàn thiện đề tài
nghiên cứu này
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Duy Nghĩa - Khoa Luật
trường Đại học Quốc Gia đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
hiện luận văn Em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà
Nội; các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Mỏ - Địa Chất; gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Trang 12CHƯƠNGI NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Có nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử như: “Thương mại trực tuyến” (Online-Trade), “Thương mại điều khiển học” (Cyber-Trade), “Kinh doanh điện tử” (Electronic-Business) nhưng phổ biến nhất vẫn là thuật ngữ “thương mại điện tử” (Electronic-Commerce)
Hiện nay, khi nói đến thương mại điện tử nhiều người sẽ có liên hệ ngay đến Internet và cho rằng thương mại điện tử gắn liền với Internet Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau vể thương mại điện tử, nhưng tựu trung lại có hai quan điểm về thương mại điện tử là: Thương mại điện tử được hieu theo nghĩa rộng và thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa hẹp
1.1.1.1 Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Đạo luật mẫu
về thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế
(UNCITRAL): “Đạo luật này có hiệu lực áp dụng đối với mọi loại thông tin
dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mc,r[5] Trong đó, “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhân hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện íử, quang học hoặc các phương tiện tương tự và bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, trao đổi dữ liệu điện tử {EDI), thư điện íừ, điện tín, điện báo hoặc fa x ” [5].
Uỷ ban Châu Au đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau:
“thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh Cịiia các
Trang 13phương tiện điện tử Nỏ dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng íext, âm thanh và hình ánh” [6].
Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch về thương mại nào nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại;
uỷ thác hoa hổng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ[9] Như vậy, thương mại điện tử gồm nhiều hành vi như: Hoạt động mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dụng kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, tài nguyên trên mạng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng Thương mại điện
tử có thể được thực hiện đối với thương mại hàng hoá (hàng tiêu dùng, các thiết bị, vật tư ), thương mại dịch vụ (dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính ); đối với các hoạt động truyền thống (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục ) cũng như các dịch vụ mới (các dịch vụ gia tăng trên mạng, siêu thị ảo ) Có thể thấy rằng phạm vi áp dụng thương mại điện tử rất rộng, nó bao quát hầu hết các lĩnh vực trong hoạt động kinh tế Trong đó, hoạt động trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ chỉ là một trong rất nhiều lĩnh vực áp dụng có thể
áp dụng được thương mại điện tử
Tóm lại, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử bao gồm các
giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange); chuyển tiền điện tử (Electronic
Trang 14Fund Transíer) và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng (Electronic Credit card).
1.1.1.2 Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa hẹp
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “thương mại điện tử bao
gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữii hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.[ 15]
Khái niệm về thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
của Liên hợp quốc (OECD) đưa ra: “thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ
là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thong như 1nternet”.[15]
Theo các khái niệm trên, có thể thấy rằng nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thổng qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex Theo quan điểm này, thương mại điện tử sẽ bị hạn chế trong phạm vi các giao dịch với khách hàng và thực hiện thanh toán thông qua mạng Internet
Thông qua nghiên cứu các quan điểm về thương mại điện tử, có thể thấy rằng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay và đạt tới doanh số hàng tỷ đô-la Mỹ (USD) mỗi ngày Còn theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử mới chỉ tồn tại được vài năm gần đây nhưng đã đạt được những kết quả rất đáng quan tâm Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “thương mại điện tử”, đồng thời cũng chính Internet là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử
Trang 151.1.2 Đặc trưng của thương mại điện tử
Nếu so với hoạt động thương mại truyền thống thì thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
1.1.2.1 Các giao dịch trong thương mại điện tử có tính gián tiếp
Trong thương mại truyền thống, để tiến hành giao dịch các bên thường trực tiếp gặp gỡ nhau để tiến hành thoả thuận nhằm thống nhất nội dung của giao dịch Các giao dịch được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động như: chào hàng, đặt hàng, chuyển tiền, séc, hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo Các phương tiện viễn thông như: điện thoại, fax, telex chỉ được sử dụng một cách hạn chế để nhằm trao đổi các thông tin liên quan đến quá trình giao dịch Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống cũng chỉ để chuyển tải các thông tin một cách trực tiếp giữa các chủ thể trong cùng một giao dịch
Từ khi xuất hiện mạng máy tính mở toàn cầu (Internet) thì việc trao đổi thông tin thương mại không chỉ giới hạn giữa các chủ thể trong cùng một giao dịch mà hoạt động trao đổi thông tin thương mại đã mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng chủ thể tham gia ngày càng tăng Những chủ thể tham gia hoạt động trao đổi thông tin có thể là bất kỳ ai, cá nhân hoặc doanh nghiệp; có thể đã gặp nhau hoặc hoàn toàn chưa từng gặp nhau
Trên mạng Internet, các thông tin được số hoá thành các byte, được lưu giữ trong các máy vi tính và được truyền qua mạng với tốc độ ánh sáng Chính điều này đã tạo ra những khả năng làm thay đổi thói quen tiêu dùng và thói quen mua bán của con người Trong thương mại điện tử, người bán và người mua có thể giao dịch với đối tác ở mọi nơi trên thế giới mà không cần qua bất
kỳ khâu trung gian nào Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia hoạt động thương mại không kể họ ở các vùng xa xôi hẻo lánh hay các khu vực đô thị lớn Thương mại điện tử đã tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở
Trang 16khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu mà không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết nhau từ trước.
1.1.2.2 Trong thương mại điện tử, thị trường không biên giới
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, máy vi tính cá nhân (có kết nối mạng Internet) đã trở thành cánh cửa để cho doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường của mình ra khắp thế giới Trong thương mại điện tử, không chỉ các doanh nghiệp hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận những thị trường quốc tế mới, mà ngay cả đối với một doanh nghiệp có quy mô nhỏ vừa mới khởi sự cũng có thể tiếp cận các thị trường mới trên thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện Với thương mại điện tử, một doanh nghiệp dù mới thành lập đã hoàn toàn có thể thực hiện hoạt động kinh doanh ở bất kỳ thị trường nào trên thế giới, một công việc trước kia trong thương mại truyền thống phải mất nhiều năm
Sang thế kỷ XXI, bất cứ ai cho dù là người tiêu dùng, các nhà kinh doanh nhỏ hay các doanh nghiệp lớn đều sẽ có thể mở rộng giao dịch của mình tới những nơi xa xôi nhất trên thế giới Toàn cầu hoá, tự do mậu dịch là con đường nhanh chóng đưa các quốc gia và các doanh nghiệp thay đổi theo hướng cạnh tranh quốc tế trên phạm vi toàn cầu, kể cả việc giành lấy các thị trường nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và các đối tác thương mại nước ngoài
1.1.2.3 Chủ th ể tham gia vào thương mại điện tử
Cũng giống như trong thương mại truyền thống, các chủ thể tham gia vào thương mại điện tử bao gồm: Chính phủ (Goverment), doanh nghiệp (Business) và người tiêu dùng (Customer)
Tuỳ thuộc các chủ thể tham gia vào từng giao dịch cụ thể mà thương mại điện tử có các mô hình sau: Mô hình giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (Business to Customer) viết tắt là (B2C), giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
Trang 17(Business to Business) viết tăt là (B2B), giữa doanh nghiệp với Chính phủ (Business to Goverment) viết tắt là (B2G), giữa người tiêu dùng với Chính phủ (Customer to Goverment) viết tắt là (C2G), giữa các cơ quan của chính phủ với nhau (Goverment to Goverment) viết tắc là (G2G) Trong các mô hình trên thì mô hình B2B là mô hình phổ biến và phát triển mạnh nhất của thương mại điện tử Nếu xét về doanh số thì mô hình B2B chiếm tới 70% tổng doanh thu của thương mại điện tử.
Trong thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba Đó
là các nhà cung cấp dịch vụ, tổ chức chứng thực đây là những người tạo ra các điều kiện cho thương mại điện tử được thực hiện một cách thuận lợi và an toàn Các nhà cung cấp dịch vụ và tổ chức chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong các giao dịch thương mại điện tử
1.1.2.4 Trong thương mại điện tử, thị trường là mạng lưới thông tin
Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn trong thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường
Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình dịch vụ mới được hình thành Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các trung gian ảo làm dịch vụ môi giới, trọng tài cho giới kinh doanh và người tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên mạng máy vi tính
Theo một số chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng
dễ sử dụng và hình thức vui mắt, dễ hiểu của các trang Web dành cho thương mại điện tử là những yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo.com, Google.com, Amazon.com, Abaa-
Trang 18booknet.com, Bigbook.com đóng vai trò như các trang Web gốc với vô số Ihông lin Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng tại các cửa hàng ảo ngày càng cao.
Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng Chẳng hạn, một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua mạng Internet) rồi sau một thời gian nhất định khách hàng sẽ nhận được quần áo theo đúng yêu cầu của mình
Các chủ cửa hàng, các doanh nghiệp nhỏ ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Internet bằng cách mở cửa hàng ảo
1.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp
tin đầy đủ và kịp thời.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tình hình biến động của thị trường diễn ra hết sức nhanh chóng và phức tạp Chính vì vậy, việc nắm bắt thông tin của thị trường một cách đầy đủ và kịp thời là việc vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp Chủ thể tham gia thương mại điện tử có thể thu thập được rất nhiều thông tin về thị trường, về đối tác một cách dễ dàng và nhanh chóng Chính khả năng này của thương mại điện tử đã giúp cho doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả trong hoạt động giao dịch, tiếp thị của mình thông qua đó doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ kinh doanh; tạo dựng, củng cố và phát triển quan hệ với các bạn hàng Với việc nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể xây dựng được chiến lược kinh doanh không chỉ thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước mà còn phù hợp với tình hình biến động của thị trường quốc tế
Trang 19Lợi ích này của thương mại điện tử đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi vì nếu thực hiện hoạt động thương mại theo cách thức truyền thống thì các doanh nghiệp này khó có đủ khả năng về tài chính và nhân lực để có thể thu thập thông tin của thị trường một cách đầy đủ
và kịp thời Điều này càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang được nhiều nước quan tâm và được coi là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế.
Nếu so với thương mại truyền thống thì việc thu thập các thông tin của thị trường trên mạng Internet đã giúp cho doanh nghiệp giảm được đáng kể các chi phí trong việc thu thập thông tin Ngoài ra thương mại điện tử còn giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều; bên cạnh đó, chi phí tìm kiếm, chuyển giao tài liệu đã giảm đi nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như bỏ hẳn) Theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, việc ứng dụng thương mại điện tử
đã tiết kiệm được 30% chi phí văn phòng so với thương mại truyền thống Ngoài ra, thương mại điện tử cũng giúp cho doanh nghiệp giảm được các chi phí trong hoạt động bán hàng và tiếp thị Thông qua Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với nhiều khách hàng, catalogue điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên được cập nhật so với catalogue in ấn.
c ố quan hệ với các đối tác.
Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan
hệ giữa các chủ thể Thông qua mạng Internet các chủ thể tham gia (người tiêu dùng, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước) có thể giao tiếp trực tiếp (liên lạc trực tuyến) và liên tục với nhau Chính điều này đã làm cho các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại không có cảm giác ^á-khQầng cácjĩ ểịa-ịý
Trang 20gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và quản lý được tiến hành một cách nhanh chóng, liên tục; các đối tác mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng không chỉ trên phạm vi của một quốc gia mà còn trên toàn thế giới.
Bên cạnh các lợi ích như đã nêu ở trên, thương mại điện tử còn có thể đem lại một lợi ích khác, đó là nhân viên trong các doanh nghiệp có ứng dụng thương mại điện tử sẽ được giải phóng khỏi nhiều công việc mang tính sự vụ
để có thể tập trung vào xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp Chính điều này sẽ đem đến cho doanh nghiệp những lợi ích
to lớn và lâu dài
Như vậy, có thể thấy thương mại điện tử có một vai trò quan trọng đối
với các doanh nghiệp mà đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này càng có ý nghĩa đối với một nước như Việt Nam khi mà tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới gần 90% tổng số các doanh nghiệp
1.1.3.2 Đ ôi với người tiêu dùng
Thương mại điện tử không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp mà đối với người tiêu dùng thì thương mại điện tử cũng đem lại không ít lợi ích chẳng hạn, người tiêu dùng sẽ không phải mất thời gian và chi phí để đi đến cửa hàng; đồng thời, phạm vi lựa chọn mặt hàng rộng hơn vì có thể truy cập vào nhiều Website, tiếp cận trực tiếp với nhiều nhà cung cấp hàng hoá khác nhau; vì bỏ qua được các khâu trung gian nên người tiêu dùng có thể mua hàng với giá rẻ nhất Ngoài ra, thông qua mạng Internet người tiêu dùng còn
có nhiều cơ hội để tiếp xúc với kho tàng văn hoá, kiến thức rộng lớn của thế giới nhằm nâng cao trình độ và cải thiện cuộc sống
Thương mại điện tử đặc biệt có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng tại các vùng biệt lập, xa xôi, ít có cơ hội giao dịch, thiếu thông tin, thiếu đối tác thì chỉ với một số trang thiết bị
Trang 21được nối mạng và nhân sự cần thiết họ có thể dễ dàng tiếp xúc với thị trường rộng lớn trong nước cũng như ngoài nước.
1.1.3.3 Đối với Nhà nước
Thương mại điện tử giúp cho các cơ quan nhà nước tinh giản bộ máy hành chính, giảm các chi phí hành chính, công tác báo cáo và thống kê chính xác hơn, nhanh hơn và đầy đủ hơn Bên cạnh đó, tốc độ lưu chuyển văn thư sẽ giảm nhanh từ một vài ngày như hiện nay xuống còn vài giây, điều này sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước có thể kịp thời chỉ đạo, giải quyết nhiều việc ở các vùng xa xôi
Trong giao dịch giữa cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp (G2B), thương mại điện tử sẽ giúp các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp có điều kiện giao tiếp và hợp tác với nhau nhiều hơn Các chính sách mới của các cơ quan nhà nước được đưa lên mạng Internet sẽ nhanh chóng hướng dẫn kịp thời cho các doanh nghiệp và ngược lại các cơ quan nhà nước cũng có thể nhanh chóng nhận được những phản hổi từ phía doanh nghiệp giúp cho việc xây dựng chính sách khoa học hơn và sát với thực tiễn hơn
Trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với người dân (G2C): Việc công khai đưa lên mạng các chính sách, quy định của các cơ quan nhà nước sẽ giúp cho người dân nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt được và qua đó giảm bớt được những phiền hà, tiêu cực trong bộ máy nhà nước, làm tăng thêm lòng tin của dân chúng đối với cơ quan nhà nước
Ngoài ra hình thức giao dịch giữa Chính phủ với Chính phủ giúp cho Chính phủ các nước có thể trao đổi thông tin với nhau một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác hơn và với chi phí ít hơn nhiều so với trước đây
Sự phát triển của thương mại điện tử trong nhũng năm gần đây cho thấy
rõ tiềm năng và những lợi ích của nó Giá trị thương mại điện tử luôn tăng gấp đôi hàng năm từ con số rất nhỏ vào giữa thập niêm 90 Cho đến năm 1999, giá trị thương mại điện tử trên thế giới đã ở mức 1.000 tỷ USD
Trang 22Theo eMarketer, một công ty chuyên nghiên cứu thị trường, thống kê
trên mạng Internet, ước tính doanh số mang lại trong giao dịch B2B ở Châu Á
- Thái Bình Dương năm 2004 là hơn 300 tỷ đô-la, ước tính doanh số mang lại
trong giao dịch B2C ở Châu Á - Thái Bình Dương năm 2004 là khoảng 38 tỷ
đô-la, chiếm gần 9% của toàn thế giới
B2C E Commerce ttevenuas in the A$!a-Pacífíc Regioỉi,
2000-2004 (in billlorts and as a % ỡf revenues
wor)dwide)
m Slì (S.1M
m nrktm , XXX)
628 Ê-commeree Revenues In the Asia-Pacỉtìc Region,
Các bảng trên cho thấy, tốc độ phát triển về doanh số của cả B2B và B2C
ở ở Châu á - Thái Bình Dương từ năm 2000 đến 2004 là không dưới 30% mỗi
năm
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đặt chúng ta trước những vận hội và
thách thức mới Công nghệ thông tin đã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, điều này đã làm thay đổi sâu sắc toàn bộ đời sống kinh tế-xã
hội của không chỉ một quốc gia mà là của tất cả các nước trên thế giới Những
lợi thế không thể phủ nhận của thương mại điện tử đòi hỏi phải có sự thích
ứng nhanh chóng của nền kinh tế các nước trên thế giới trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế Tuy nhiên, do những đặc trưng của thương mại điện tử nên
những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình giao dịch của thương mại điện tử
không thể chỉ được khắc phục bằng các giải pháp mang tính công nghệ, kỹ
thuật mà đòi hỏi cần phải hình thành được khung pháp lý đầy đủ Kinh nghiệp
Trang 23của các nước đi trước đã cho thấy rằng, để thúc đẩy thương mại điện tử, Nhà nước phải giữ vai trò tiên phong trên cả hai lĩnh vực: cung ứng dịch vụ điện tử
và xây dựng hệ thống văn bản đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh các quan hệ thương mại điện tử Nếu thiếu các quy phạm pháp luật thì các doanh nghiệp, người tiêu dùng buộc phải gánh chịu nhiều rủi ro, thiếu sự an toàn trong giao dịch, điều này đã làm cho những ưu thế rõ nét về thời gian, về tính tiện lợi, về chi phí của thương mại điện tử sẽ không được phát huy một cách đầy đủ
Như đã đề cập ở trên, thương mại điện tử được thực hiện dựa trên các giao dịch điện tử mà không dùng đến giấy tờ như hoạt động thương mại truyền thống Tính chất không dùng giấy của thương mại điện tử đã đặt ra van
đề pháp lý về hình thức của giao dịch và của hợp đồng đối với hầu hết các quốc gia (trừ một số lượng nhỏ các quốc gia đã ban hành các quy định cần thiết để giải quyết vấn đề này) Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ việc pháp luật các quốc gia này thường quy định hình thức giao dịch và hợp đồng phải là “văn bản”, phải được “ký” và phải là “bản gốc” Yêu cầu này đặt ra vấn đề về giá trị pháp ]ý và khả năng được đảm bảo thực hiện của các giao dịch điện tử Trong thương mại truyền thống, một văn bản được coi là xác thực khi văn bản đó được các bên liên quan trực tiếp ký vào nhằm xác định được chủ thể ký kết và thể hiện sự chấp nhận của các chủ thể đối với nội dung của văn bản Yêu cầu về xác thực này là không phù hợp với thương mại điện
tử bởi vì các giao dịch thương mại điện tử được thực hiện trên mạng và các chủ thể tham gia thể hiện ý chí của mình thông qua các thông điệp dữ liệu Do
đó, để cho thương mại điện tử có thể phát triển thì các nhà lập pháp cần phải tìm ra được giải pháp để vượt qua được rào cản này nhằm chứng minh được tính xác thực của các giao dịch thương mại điện tử Điều này chỉ có thể được Ihực hiện bằng cách công nhận phương pháp xác thực, theo đó, một người có thể sử dụng một mã bí mật, chỉ mình người này biết nhờ vào các phương tiện
Trang 24kỹ thuật, để giúp người khác xác định được mình và thể hiện ý chí của mình đối với các giao dịch trong thương mại điện tử Bên cạnh đó cũng phải thừa nhận các thông điệp dữ liệu cũng là một hình thức văn bản Việc ghi nhận giá trị pháp lý của các hình thức thông tin điện tử có thể được thực hiện bằng hai cách:
- T h ứ nhất, đưa ra khái niệm văn bản điện tử và quy định quy chế riêng
với những đặc trưng của loại văn bản này.
tương đương văn bản viết (văn bản giấy truyền thống), nếu văn bản điện tử
đảm bảo được các yếu tố:
+ Chứa thông tin; thông tin có thể lưu giữ và tham chiếu lại khi cần thiết;
Nếu quy đỉnh theo cách thứ hai thì sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể ứng dụng thương mại điện tử có thể áp dụng ngay các văn bản quy phạm pháp luật
khái niệm văn bản điện tử mang tính tổng quát, dễ hiểu và dễ áp dụng.
Cùng với sự ghi nhận văn bản điện tử có giá trị như văn bản viết, thì một
số vấn đề pháp lý được đặt ra:
1.1.4.1 Giá trị ph áp lý của chữ ký điện tử
Chữ ký là phương thức phổ biến để ghi nhận tính xác thực của thông tin
được chứa đựng trong văn bản Hai đặc trưng cơ bản của chữ ký được đề cập
đến là:
+ Chữ ký nhằm xác định tác giả văn bản;
+ Chữ ký thể hiện sự chấp thuận của tác giả với nội dung thông tin chứa trong văn bản.
Trong giao dịch thương mại thông qua các phương tiện điện tử, yêu cầu
về đặc trưng của chữ kv tay có thể đáp ứng bằng hình thức chữ ký điện tử Chữ
Trang 25ký điện tử trở thành một thành tô' quan trọng trong văn bản điện tử Yêu cầu đặt ra về mặt công nghệ và pháp lý là chữ ký điện tử phải đáp ứng được sự an toàn và thể hiện rõ ràng ý chí của các bên về thông tin chứa đựng trong văn bản điện tử Trên thế giới, nhiều công nghệ và quy trình đã được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi nhằm nhận dạng và chứng thực các cá nhân Những công nghệ này bao gồm công nghệ số và mật lệnh nhận dạng, dấu hiệu hoặc thẻ thông minh, sinh trắc học, dữ liệu điện tử đơn giản, chữ ký kỹ thuật số và các kết hợp của những công nghệ này Luật pháp điều chỉnh lĩnh vực này sẽ tập trung vào việc đặt ra các yêu cầu về nhận dạng chữ ký điện tử để có thể cho phép các bên không có hoặc có ít thông tin về nhau vẫn có thể xác định được chính xác chữ ký điện tử của bên đối tác Trong trường hợp này, người ta trù liệu hình thành một cơ quan trung gian nhằm chứng thực tính xác thực và đảm bảo độ tin cậy của chữ ký điện tử Cơ quan này được hình thành nhằm cung cấp một dịch vụ mang nhiều ý nghĩa về mặt pháp lý hơn là về mặt công nghệ.
1.1.4.2 Vấn đê bản gốc
Bản gốc là sự thể hiện tính toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản Trong môi trường giao dịch qua mạng, thì vấn đề bản gốc được đặt ra gắn liền với việc sử dụng chữ ký điện tử Như vậy, chữ ký điện tử không những chỉ xác định người ký mà còn nhằm xác minh cho tính toàn vẹn của nội dung thông tin chứa trong văn bản Việc sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc
mã hoá tài liệu được ký kết
Việc giải quyết trọn vẹn về mặt pháp lý ba vấn đề có liên hệ mật thiết với nhau: “văn bản”, “chữ ký”, “bản gốc” trong môi trường giao dịch thông qua các phương tiện điện tử, đã đưa lại cho văn bản điện tử những tính chất tương ứng như văn bản viết truyền thống Điều đó dẫn đến hệ quả là: văn bản điện tử
và văn bản viết truyền thống có giá trị ngang nhau về mặt pháp lý
Trang 261.1.4.3 Giá trị chứng cứ của văn bản điện tử
Việc công nhận giá trị chứng cứ của văn bản điện tử đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử Kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy, khi giá trị của văn bản điện tử không được đặt ngang hàng với văn bản viết truyền thống trong quan hệ tố tụng, thì các doanh nghiệp và người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn văn bản viết khi tiến hành giao kết hợp đồng Tuy nhiên, khi xác định một văn bản điện tử có giá trị chứng cứ thì các thẩm phán phải có trách nhiệm kiểm định độ tin cậy của hệ thống bảo mật, mã hoá văn bản điện tử, đảm bảo yêu cầu về tính nguyên vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản.
Ngoài ra, sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của thương mại điện
tử đã tạo ra các mối quan ngại về các vấn đề thuế Các cơ quan thuế thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định các căn cứ tính thuế Đối với các sản phẩm có thể được số hoá và truyền trên ni «ig thì nó đã vượt qua khái niộm về sự tồn tại của biên giới lãnh thổ Trong trường hợp này, cơ quan hải quan của các quốc gia sẽ hoàn toàn bất lực trong việc thu thuế nhập khẩu vì những hàng hoá này không hề “đi qua” các cơ quan hải quan mà trực tiếp đến tay người nhận.
Bên cạnh đó, một khối lượng lớn đối tượng của thương mại điện tử là các sản phẩm trí tuệ mà đặt biệt là các sản phẩm có thể số hoá (phần mềm máy tính, nhạc phẩm, phim ảnh ) Với các khả năng về mặt kỹ thuật hiện hữu trên mạng Internet có thể cho phép các chủ thể tham gia nhân bản không hạn chế
số lượng của các sản phẩm đó với chất lượng tương đương bản gốc Đồng thời,
nó cũng cho phép các chủ thể tham gia có thể chuyển/gửi không hạn chế số lượng các bản đó đến một số lượng không hạn chế các chủ thể khác trên phạm
vi toàn thế giới chỉ trong khoảng thời gian tính bằng phút Thực tế này đặt ra một thách thức lớn đối với các nhà làm luật, một mặt vừa phải bảo vệ được quyền lợi và khuyên khích đối với chủ sở hữu, người tạo ra sản phẩm trí tuệ;
Trang 27m ật khác phải đảm bảo việc bảo vệ đó không làm ngăn cản sự phát triển của
th ương mại điện tử Ngoài ra, thương mại điện tử còn đặt ra nhiều vấn đề pháp
lý đối với việc bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu thương mại, cạnh tranh không lành mạnh
Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử đã làm gia tăng số lưụng các vụ tranh chấp phát sinh từ các giao dịch điện tử Sự gia tăng này đòi hỏi phải có các cơ chế thích hợp để có thể giải quyết các tranh chấp này một cách có hiệu quả về mặt thời gian, chi phí đồng thời phải phù hợp với các đặc trưng của thương mại điện tử Tranh chấp phát sinh trong thương mại điện tử nhiều khi diễn ra giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau và trong nhiều trường hợp hàng hoá trong tranh chấp lại được cung cãp ở một nước thứ ba Việc lựa chọn luật áp dụng, cũng như địa điểm và cơ quan có thẩm quyền giải qiayết tranh chấp là vô cùng khó khăn vì điều này động chạm đến các vấn đề phức tạp nhất của luật tư pháp quốc tế như nơi diễn ra giao dịch hay nơi có hàng hoá mà các yếu tố này nhiều khi lại gần như không tồn tại trong thương
m ại điện tử
Những vấn đề kể trên không chỉ tổn tại ở các nước đang phát triển như ở
V iệt Nam mà còn được đặt ra đối với bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển thương mại điện tử nhưng Chính phủ của họ chưa đưa ra được các chính sách, câc quy định của pháp luật phù hợp đối với các đặc trưng của thương mại điện tử' Sự phát triển của thương mại điện tử đòi hỏi một môi trường pháp lý linh hoạt tương ứng với những nguyên tắc, chuẩn mực khác với thương mại truyền tbống
Việc xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hộ thương mại điện
tử phái đáp úng những nguyên tắc cơ bản sau:
Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận được thì những thách thức và rủi ro trong các giao dịch của thương mại điện tử cũng làm cho những nhà
Trang 28hoạch định chính sách phải tỏ ra lo ngại Quan điểm đó dễ dẫn đến tình trạng các quy phạm pháp luật được ban hành không phát huy những ưu thế vốn có của các giao dịch điện tử Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi Nhà nước phải
có những quy định phù hợp với các đặc trưng của thương mại điện tử Mục đích của nguyên tắc này là tránh sự xơ cứng trong khung pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử, cũng như tránh việc buộc các chủ thể sử dụng thương mại điện tử phải tuân thủ quá nhiều thủ tục phiền hà Sự đòi hỏi quá cao trong quản lý sẽ làm cho các doanh nghiệp mất lợi thế trong các giao dịch quốc tế, cũng như ngăn cản việc tiếp cận các cơ hội của thương mại điện tử
- Cân bằng giữa lợi ích của Nhà nước và phát triển thương mại điện tử.
Lợi ích của Nhà nước thể hiện ở việc quy định chính sách thuế, hải quannhưng đây là những vấn đề rất nan giải trong điều kiện hoạt động thương mại điện tử không biên giới Áp lực của chính sách đánh thuế công bằng như đối với thương mại truyền thống có thể đưa đến hậu quả là các quy định về thuế quan sẽ trở nên quá chi tiết hoặc rơi vào tình trạng đánh thuế hai lần, gây cản trở cho sự phát triển của thương mại điện tử Chính vì vậy, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử không những phù hợp với các đặc trưng của thương mại điện tử để tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển mà còn phải chú ý đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội
- Bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng
Trong một môi trường giao dịch mới mẻ như thương mại điện tử, việc tạo niềm tin và an toàn cho người sử dụng là một yêu cầu hết sức quan trọng Một thị trường rất rộng lớn, đa dạng đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có nhiều
cơ hội để lựa chọn cho phù hợp với nhu cầu của mình nhưng đồng thời cũng phải chịu nhiều rủi ro hơn so với thương mại truyền thống Thương mại điện
tử có thể phát triển được hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào lòng tin của người tiêu dùng đối với hình thức giao dịch này
Trang 291.2 MỘT SỐ NHẬN THỨC c ơ BẢN VỀ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.2.1 Khái niệm chữ ký điện tử
Chữ ký và các hình thức thể hiện ý chí khác trong các giao dịch luôn
đỏng vai trò quan trọng trong thương mại nói chung và thương mại điện tử nói
riông Việc thiết lập một quy chế pháp lý cụ thể về vấn đề này là hết sức quan
trọng đối với quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử
Nhìn chung, trong thương mại điện tử chúng ta thường thấy có hai thuật
ngữ để chỉ “chữ ký” được sử dụng trong các giao dịch điện tử: chữ ký điện tử
(electronic signture) và chữ ký số (digital signture) Đôi khi chúng được sử
dụng hoán đổi cho nhau trong các văn bản và sách báo Tuy nhiên, hai thuật
ngữ này không đổng nhất
Chữ ký điện tử là một thuật ngữ kỹ thuật trung gian đặc biệt nhằm chỉ ra
các phương thức khác nhau mà một người có thể “ký” trên một bản lưu trữ
điện tử Theo định nghĩa của ƯNCITRAL, chữ ký điện tử là: “Thông tin dưới
dạng điện tử gắn hoặc kèm một cách logic với một dữ liệu điện tử nhằm xác
lập mối liên hệ giữa người ký và nội dung của dữ liệu điện tử đó, đồng thời
khẳng định người ký đã chấp nhận nội dung thông tin dữ liệu điện t ử \
Tất cả các chữ ký điện tử đều được mã hoá dưới dạng một dãy số 0 và 1
Tuy nhiên, chúng có thể được thể hiện ra bên ngoài dưới nhiều hình thức và
được xác lập bởi nhiều loại công nghệ, kỹ thuật khác nhau Ví dụ, chữ ký điện
tử có thể là một cái tên được đánh ở cuối một bức thư hay hình tượng bằng kỹ
thuật số được đính kèm với văn bản điện tử (đôi khi được xác lập thông qua kỹ
thuật sinh trắc học được gọi là chữ ký động - signture dynamics, chẳng hạn
như máy quét vân tay, ánh mắt) hay mật khẩu dưới dạng số hoặc PIN code
(như thẻ rút tiền tự động ATM và thẻ tín dụng) để xác định người gửi và người
nhận, một thoả thuận “click-through” trong ứng dụng mạng Internet hoặc
phần mềm vi tính
Trang 30Chữ ký số là thuật ngữ chỉ một loại chữ ký điện tử sử dụng kỹ thuật đặc
khoá dài tối thiểu tới 1024, 2048 bit để “ký” trên tập tin điện tử Tuy nhiên, đây chính là loại chữ ký điện tử được quan tâm nhất và là đối tượng chủ yếu của các văn bản pháp quy
1.2.2 Đặc điểm của chữ ký điện tử
Về mặt lý luận, một chữ ký trong các giao dịch cho dù được thực hiện trên giấy hay dưới phương thức điện tử, thì trước hết phải là biểu tượng thể hiện mong muốn của các bên Vì thế định nghĩa “được ký” từ góc độ pháp lý phải được hiểu là việc sử dụng các biểu tượng được công nhận bởi các bên (trong giao dịch; nham thể hiện mong muốn xác thực văn bản thoả thuận cùa
họ Vấn đề trọng tâm ở đây chính là “mong muốn xác thực thoả thuận”, vì đó
là điểm khác biệt giữa chữ ký trong các giao dịch với một chữ ký thông thường Tất nhiên, bản chất của các mong muốn sẽ khác nhau trong từng giao dịch và trong đa số các trường hợp nó chỉ có thể được xác định khi được xem xét kèm với nội dung của văn bản có chữ ký
Ngoài việc thể hiện mong muốn của các chủ thể, chữ ký còn thể hiện hai
mục tiêu khác Thứ nhất, nó có thể được sử dụng để xác định người ký; Thứ
hai, chữ ký có thể được sử dụng làm bằng chứng cho tính toàn vẹn của một
văn bản, chẳng hạn như trong một hợp đồng dài, chữ ký xuất hiện không chỉ
ớ trang cuối cùng, mà còn xuất hiện trong các trang trước đó - điều này có ý nghĩa bảo đảm hợp đồng là một thể thống nhất, chống lại sự thay đổi ở bất cứ phần nào trong hợp đồng, qua đó bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản
Đối với các giao dịch điện tử, các chức năng xác thực và bảo đảm sự toàn vẹn là vấn đề mấu chốt Đặc biệt trong bối cảnh chúng ta tự động hoá các giao dịch điện tử và điều khiển chúng ở một khoảng cách lớn bằng các kỹ thuật công nghệ nên nó rất dễ bị sửa đổi Chính vì vậy, việc có một cách thức bảo đám nhận dạng người khởi tạo và sự toàn vẹn của văn bán là rất quan trọng
Trang 31Khác với thương mại truyền thống - chỉ yêu cầu văn bản được ký nhằm mục đích thể hiện một người đã được xác định (trong quá trình đàm phán) đã đưa
ra một lời hứa cụ thể, thì trong hoạt động của thương mại điện tử, yêu cầu xác thực dữ liệu điện tử bằng chữ ký không chỉ phục vụ chức năng này, mà còn nhằm mục đích nhận dạng người đưa ra lời hứa trong thông điệp điện tử Chức năng bổ sung này rất quan trọng bởi có rất ít cách thức khác có thể xác định nguồn gốc của một thông điệp điện tử
N hư vậy, trong khi đa số các trường hợp chữ ký tay chỉ phục vụ để xác
định ý chí của người ký, thì chữ ký trong giao địch điện tử phải thực hiện ba chức năng: xác định người khởi tạo (thông điệp điện tử), xác định ý chí của người khởi tạo (được ràng buộc bởi các nội dung của giao dịch) và bảo đảm sự
to àn vẹn của văn bản được ký
1.2.3 Những vấn đề pháp lý cơ bản của chữ ký điện tử
Có hai vấn đề pháp lý được đề ra khi các chủ thể trong giao dịch thương mại sử dụng văn bản điện tử thay thế văn bản trên giấy, lấy phương tiện điện
tủ làm công cụ để trao đổi và sử dụng chữ ký điện tử để xác nhận nội dung
gi ao dịch của họ:
- Pháp luật về hợp đồng luôn đòi hỏi hình thức hợp đổng bằng văn bản phải được “lưu giữ trên giấy” và phải “được viết” Có nhiều quan điểm cho rằng, quy định đó như một đòi hỏi hợp đồng phải được viết bằng mực trên giãy tờ, từ đó họ lý giải giao dịch điện tử không thoả mãn yêu cầu pháp lý đối vỡi chữ ký và sẽ không thể có hiệu lực pháp lý
- Người nhận được những dữ liệu phải có cơ sở tin vào nội dung của tập tin (từ góc độ pháp lý), để có thể hành động dựa trên các yêu cầu của văn bản điện tử Các dấu hiệu của sự an toàn gắn liền với các giao dịch trên giấy (chẳng hạn, các văn bản trên giấy tờ được lý bằng “chữ ký có mực” và được chuyển bởi một bên thứ ba có uy tín (như công ty bưu chính quốc gia) lại không có trong các giao dịch điện tử Thêm vào đó, sự dễ dàng trong việc sửa
Trang 32đổi nội dung của các thông điệp (do giao dịch điện tử được thực hiện trên mạng - không qua cơ chế bảo đảm thông thường) làm gia tăng khả năng rủi
ro, gian lận trong các giao dịch điện tử Như vậy, vấn đề pháp lý quan trọng tiếp theo chính là sự an toàn của chữ ký điện tử
Từ trước tới nay, pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn đòi hỏi các hợp đồng bằng văn bản phải được thực hiện trên “giấy tờ” và “được ký” Vấn
đề đặt ra ở đây là, một hợp đồng được xác lập bằng phương thức điện tử chứ không phải bằng văn bản trên giấy có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên hay không? Hay cụ thể hơn, liệu một chữ ký điện tử có được bảo đảm như một chữ ký được thể hiện trên văn bản không? Và nếu như được công nhận thì cái
gì có thể được coi là một chữ ký?
Trong số các vấn đề được nêu trên, vấn đề giá trị pháp lý của chữ ký điện
tử là vấn đề cơ bản nhất bởi vì nó sẽ giải quyết các câu hỏi liên quan đến hiệu lực của các giao dịch trong thương mại điện tử Hơn thế, việc xác định tính pháp lý của nó không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện các giao dịch cụ thể mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển của các hoạt động thương mại điện tử nói chung
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, quy định về hợp đồng bằng “văn bản viết” không chỉ giới hạn trong phạm vi “giấy tờ”, mà thực chất nó đòi hỏi hợp đồng phải được giao kết dưới dạng hữu hình Thực tế, từ những năm 1870, pháp luật của nhiều quốc gia đã công nhận giá trị pháp lý của các hợp đồng bằng điện tín Sau đó cả hợp đồng ký kết thông qua telex và fax cũng được công nhận Vì thế, vấn đề ở đây chính là dữ liệu điện tử sẽ bảo đảm yêu cầu pháp lý của dữ liệu trên văn bản và sẽ được bảo vệ về mặt pháp lý nếu nó được lưu trữ dưới hình thức hữu hình Và từ đó cũng có thể công nhận giá trị pháp
lý của chữ ký điện tử ngang bằng với chữ ký viết thông thường nếu nó được lưu giữ và truy cập dưới hình thức hữu hình
Trang 33Quan điểm công nhận giá trị pháp lý chữ ký điện tử trong giao dịch thương mại điện tử đã dần được phổ biến tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trên bình diện quốc tế, ủ y ban của Liên hiệp quốc về thương mại quốc tế (ƯNCITRAL) đã công bố Luật khung về thương mại điện tử vào năm 1996 Tất cả các văn bản này đều xác định chữ ký điện tử có giá trị như chữ ký được ký bằng tay (chữ ký tay) và một khi được sử dụng để ký trong hợp đồng (gắn kèm với dữ liệu điện tử), thì nó được coi có giá trị xác thực nội dung của thoả thuận trong hợp đồng (dữ liệu trong hợp đồng được coi là không bị sửa đổi từ thời điểm có chữ ký điện tử gắn kèm và người ký đã chấp nhận nội dung của dữ liệu điện tử đã gửi, trừ khi có những chứng cứ rõ ràng chứng minh rằng đó không phải là chữ ký của người đó).
Trong khi quan điểm công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử ngang bằng với chữ ký viết đã được chấp nhận rộng rãi hơn, thì cho đến nay vẫn không có một quan điểm thống nhất về tiêu chuẩn chung cho chữ ký điện tử trôn phạm vi toàn cầu Vấn đề cái gì có thể được coi là một chữ ký điện tử hay chữ ký điện tử phải bảo đảm những yêu cầu kỹ thuật gì để được công nhận có giá trị pháp lý vẫn còn nhiều quan điểm mâu thuẫn Một số nước quy định chữ
ký điện tử phải thực hiện theo những điều kiện hạn chế, một số nước lại chọn xác lập hệ thống các chứng cứ suy đoán và các điều khoản về chống gian lận
mà các bên phải thoả thuận trước khi giao kết hợp đồng, trong khi một số nước lại chọn phương thức áp dụng một số công nghệ kỹ thuận nhất định và các yêu cầu về giấy phép
Một chữ ký điện tử có ý nghĩa xác thực ý chí của các bên trong giao dịch, không những thế, nó còn bảo đảm xác định người ký và sự toàn vẹn của văn bản đã được ký (nó phải luôn gắn liền với văn bản) Sự an toàn và tính xác thực của chữ ký là nền tảng cho niềm tin của các bên trong giao dịch Chính vì vậy, làm sao bảo đảm cho chữ ký điện tử hoàn thành chức năng của mình là một vấn đề pháp lý hết sức quan trọng
Trang 34Một chữ ký an toàn phải đảm bảo được 4 yếu tố: 1) Thể hiện mối liên hệ duy nhất với người ký; 2) Cho phép xác định người ký; 3) Người ký là người duy nhất được sử dụng chữ ký; 4) Có liên hệ trực tiếp tới các dữ liệu đến mức nếu nội dung dữ liệu thay đổi, thì chữ ký điện tử sẽ không còn giá trị nữa Nếu tấi cả những yêu cầu này được thoả mãn về mặt kỹ thuật, chữ ký điện tử sẽ được công nhận về tính an toàn và sẽ được pháp luật bảo vệ.
Tóm lại, thương mại điện tử là một lĩnh vực hết sức mới mẻ và pháp luật
về thương mại điện tử cũng chỉ mới được phát triển trong vài năm trở lại đây Trong khi hoạt động thương mại điện tử đã phát triển trên phạm vi toàn cầu thì cho tới nay khung pháp lý toàn cầu điều chỉnh các vấn đề trong thương mại diện tử nói chung và chữ ký điện tử nói riêng chưa được hình thành Ch khi nào một khung pháp lý toàn cầu như vậy được hình thành thì thương mại điện
lử mới có thể phát huy hết tiềm năng và lợi thế của nó
Trang 35CHƯƠNG II NHỮNG QUY ĐỊNH CHỦ YỂU CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỂ
CHỮ KÝ ĐIỆN TỦ TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT s ố NƯỚC VỀ CHỮ KÝ
Đ Ệ N TỬ TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1.1 Khái niệm chữ ký điện tử
Cũng giống như chữ ký tay và các hình thức thể hiện ý chí khác thì ý nghĩa của chữ ký điện tử chính là ở tính xác thực của nó Tính xác thực của chữ ký điện tử được thể hiện dưới hai phương diện, đó là xác định chủ thể ký kết và thể hiện ý chí chấp thuận của chủ thể ký kết với nội dung của tài liệu Chính vì vậy, trong các văn bản quy định về chữ ký điện tử thì tất cả các nước luôn đưa ra một định nghĩa thể hiện được tính xác thực của chữ ký điện tử đối với tài liệu điện tử Chẳng hạn như:
- Trung Quốc: Chữ ký điện tử được định nghĩa như sau:
“C/ỉí? ký điện tử được nêu trong Luật này là dữ liệu điện tử chứa đựng
trong thông điệp dữ liệu hoặc đính kèm với thông điệp dữ liệu và được sử dụng
đ ể nhận biết n ÍỊười ký và biểu thị sự tán thành của người ký với nội dung của thông điệp dữ ỉiệu.”[20]
Như vậy, theo Luật Chữ ký điện tử của Trung Quốc thì chữ ký điện tử chính là các dữ liệu điện tử chứa đựng trong thông điệp dữ liệu hoặc đính kèm với thông điệp dữ liệu Mặc dù trong Luật không quy định một cách trực tiếp thế nào là dữ liệu điện tử nhưng căn cứ vào các điều khoản khác trong Luật thì
dữ liệu điện tử có thể được hiểu là thông điệp dữ liệu [20]
Trong đó, “Thông điệp dữ liệu được nêu trong luật này là thông tin được
tạo ra, truyền đi, thu nhận hoặc hãi trữ bằng điện tử, quang học, từ tính hoặc phương tiện tương tự.” [20]
Trang 36- Malaysia
Khác với Trung Quốc, Malaysia không đưa ra định nghĩa về chữ ký điện
tử mà chỉ đưa ra định nghĩa về chữ ký số Ớ Malaysia, chứ ký số được định nghĩa như sau:
“Chữ ký s ố nghĩa là sử dụng kỹ thuật mậí m ã phi đối xứng làm biến đổi một thông điệp theo cách mà người nhận được thông điệp và cố khoá công khai của người kỷ có th ể quyết định một cách chỉnh xác:
(a) liệu sự biến đổi thông điệp có phải do sử dụng khoá bí mật thuộc cùng một cặp khoá với khoá công khai của người ký; và
(b) liệu thông điệp có bị thay đổi trong quá trình gửi k ể từ khi thông điệp được tạo ra ”[17]
Như vậy, Malaysia không chỉ đưa ra định nghĩa đảm bảo được tính xác thực của chữ ký số mà còn quy định cụ thể kỹ thuật để tạo ra chữ ký số
Trong đó, ‘7zệ thống mật mã phi đối xứng nghĩa là một thuật toán hoặc
một loạt các thuật toán đ ể cung cấp một cặp khoá an toàn;”[ \ l ] và “thông điệp nghĩa là thông tin dưới dạng điện /«■;”[ 17J
Như vậy, nếu so với Luật chữ ký số của Trung Quốc thì định nghĩa về chữ ký số được quy định trong Luật Chữ ký số của Malaysia đã có sự rõ ràng hơn và đặc biệt đã nêu được kỹ thuật để tạo ra chữ ký số, đó là sử dụng hệ thống mật mã phi đối xứng