Thực tiễn hoạt động bán hàng đa cấp ở các nước thế giới cũng như ở Việt Nam trong thời gian qua đã chứng minh rằng phương thức bán hàng này chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, vì nó ma
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐOÀN VĂN BÌNH
MỘT sồ VẤN DỂ PHÁP LÝ
VÊ BÁN HÀNG ĐA CẤP ở VIỆT NAM
Chuyên ngành' Luật kinh tế
Trang 31.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của phương thức bán hàng đa cấp 4
1.1.3 Những ưu điểm và nhược điểm của bán hàng đa cấp 141.1.4 Nhận diện hành vi bán hàng đa cấp bất chính - mô hình “kim tự tháp” 20
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về bán hàng đa cấp 231.2.2 Pháp luật về bán hàng đa cấp trên thế giới 25 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP Ở VIỆT NAM 27
2.1 Khái lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật về bán đa 27
cấp ở Việt Nam 2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam 28
2.2.2 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp và vấn đề trách nhiệm của bên 32
trong hợp đổng tham gia bán hàng đa cấp2.2.3 Điều kiện và thủ tục đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp 402.2.4 Tạm ngừng và chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp 462.2.5 Xử lý vi phạm hành chính đối với doanh nghiêp bán hàng đa cấp và 47
người tham gia bán hàng đa cấp
2.2.6 Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp 49
Chương 3 VẤN ĐỂ THỰC THI PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ MỘT s ố 51
KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM
3.1 Vấn đề thực thi pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam 51 3.2 Một sô kiến nghị nhằm năng cao hiệu quả thực thi pháp luật vể 60
bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng trực tiếp trong đó hàng hoá được bán từ cá nhân tới cá nhân, không thông qua địa điểm bán lẻ cố định mà thông qua mạng lưới người tham gia độc lập gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau Bán hàng đa cấp là phương thức bán hàng khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Song ở Việt Nam phương thức này mới du nhập từ những năm 1998-1999 và hiện vẫn là một phương thức bán hàng còn rất mới và thậm chí là xa lạ đối với nhiều cơ quan quản lý nhà nước, thương nhân cũng như người tiêu dùng ở Việt Nam Thực tiễn hoạt động bán hàng đa cấp ở các nước thế giới cũng như ở Việt Nam trong thời gian qua đã chứng minh rằng phương thức bán hàng này chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, vì nó mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, người tham gia vào mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp bán hàng đa cấp và cả xã hội Tuy nhiên để bảo đảm sự hài hoà về lợi ích giữa các đối tượng trên, hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam cần có một mối trường pháp lý rõ ràng, phù hợp, điều chỉnh có hiệu quả và ngặn chặn được những nguy cơ tiền
ẩn của hoạt động bán hàng đa cấp bất chính Chính vì vậy, Luật cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004 (có hiệu lực vào này 1/7/2005) đã có quy định về việc ngãn cấm hành vi bán hàng đa cấp bất chính và ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp Với mong muốn được tìm hiểu môi trường pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn
đề tài: Một sổ vấn đề pháp lý về bán hàng đa cấp ở Việt Nam làm luận văn thạc sỹ luật học của mình Đây thực sự là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đồng thời còn có tính thời sự rất cao
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng mới xuất hiện ở nước ta Vì vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp với tính chất là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng này cũng mới hình thành ở nước ta mà thôi Mặc dù vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp lại là một lĩnh vực pháp luật nhanh chóng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà pháp lý và kinh tế Tuy nhiên, phạm vi của những nghiên cứu của các công trình đó hoặc là còn quá hẹp, phần lớn mới chỉ dừng lại ở hình thức các
Trang 5bài viết trên báo hoặc là các tài liệu kinh tế được dịch từ tài liệu của nước ngoài Một
công trình nghiên cún toàn diện và công phu Một s ố vấn đề pháp lý cơ bản về bán hàng
đa cấp ở Việt Nam thì đến nay hầu như chưa có Đây chính là cơ hội tốt để tác giả đi
vào tìm hiểu và phân tích đề tài, nhưng đổng thời cũng là một khó khăn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu vì kế thừa được rất ít thành quả của những người đi trước
3 Phạm vi nghiên cứu của để tài
Bán hàng đa cấp và pháp luật về bán hàng đa cấp là những lĩnh vực mới ở Việl Nam nên có rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần luận giải Tuy nhiên, trong khuôn khổ bản luận văn này, tác giả không có tham vọng đi vào tìm hiểu tất cả các quy định
về bán hàng đa cấp cũng như phương thức kinh doanh đa cấp mà chỉ đi vào nghiên cứu một số vấn đề pháp lý cơ bản, khái quát nhất về bán hàng đa cấp ở Việt Nam Với phạm vi nghiên cứu như vậy thì nhiều vấn đề về kinh doanh đa cấp trong đó có cả vấn
đề cung ứng dịch vụ đa cấp sẽ không thuộc phạm nghiên cứu của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật và sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, gắn lý luận với thực tiễn để giải quyết các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt ra
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu khái quát hoạt động bán hàng đa cấp, thực Irạng pháp luật về bán hàng đa cấp và trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi lĩnh vực pháp luật này
Xuất phát từ mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác định là:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp và pháp luật về bán hàng đa cấp;
- Phân tích thực trạng của pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam;
- Phân tích một số biểu hiện về bán hàng đa cấp ở Việt Nam để làm tiền để cho việc đặt ra những yêu cầu trong quá trình thực thi pháp luật bán hàng đa cấp và từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam
2
Trang 66 Những đóng góp mới của luận vãn
Đây là luận văn thạc sỹ luật học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống Một
s ố vấn để pháp lý về bán hàng đa cấp ở Việt Nam Luận văn đã có những đóng góp sau
đày:
- Phân tích và đánh giá được tương đối đầy đủ và có hệ thống những vấn đề lý luận
cơ bản về bán hàng đa cấp và pháp luật về bán hàng đa cấp;
- Đánh giá và chỉ ra được những nội dung cơ bản của pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam
- Phân tích và rút ra được một số biểu hiện của hoạt động bán hàng đa cấp ở ViệtNam;
- Nêu ra được một số yêu cầu xác đáng đặt ra trong quá trình thực thi pháp luật
về bán hàng đa cấp ở Việt Nam và một số kiến nghị có giá trị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả thực thi lĩnh vực pháp luật này
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương I : Một số vấn đề lý luận vé bán hàng đa cấp và pháp luật về bán hàng đa cấp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Chương 3: Vấn đề thực thi pháp luật về bán hàng đa cấp và một số kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam
3
Trang 7Chương ỉ
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP
VÀ PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP 1.1 MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP
1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của phương thức bán hàng đa cấp [26]
Ông Karl Renborg (1887-1973), người Mỹ, có khoảng 20 năm sống và làm việc tại Trung Quốc Giữa thập niên 1920-1930, ông và một số người nước ngoài khác bị bắt vào tù khi chính quyền nhân dân thuộc về tay lực lượng cách mạng của Tưởng Giới Thạch Trong điều kiện sống trong tù rất thiếu thốn, ông đã thực hiện nhiều kiểu ăn kiêng khác nhau và đã nhận thấy thực tiễn giá trị rất lớn của các chất dinh dưỡng cần thiết đối với sức khoẻ con người Tuy nhiên, ở trong tù thì lấy ở đâu ra các chất dinh dưỡng như các vitamin và các khoáng chất, ví dụ như sắt? Ông K.Renborg đã cạo từng
ít chất sắt từ những chiếc đinh rỉ để cho vào khẩu phần ăn dành cho người tù kèm theo một ít các loại rau cỏ khác nhau xin được từ người cai ngục Vì vậy, ông và một số người làm theo phương pháp này còn sức đề kháng và sống sót được đến tận ngày trở
về nước Mỹ, còn đa số những người khác đều bị chết
Năm 1927, ông K.Renborg về được Mỹ và bắt đầu chế biến các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng-một loại cỏ có chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều thành phần có ích khác Mới đầu ông đề nghị những người quen của mình sử dụng sản phẩm miễn phí nhưng không ai dám dùng thử vì họ không muốn làm người thử nghiệm do còn nghi ngờ về chất lượng của sản phẩm Sau nhiều lần cố gắng liên tục mà không đem lại kết quả, ông hiểu ra rằng chẳng ai chịu đánh giá tốt những thứ cho không, vì vậy, ông đã đề nghị các bạn của mình giới thiệu với những người quen của họ về sản phẩm Nếu người quen của họ mua, thì họ sẽ được nhận hoa hồng Ông cũng quyết định trả hoa hồng cho những người quen của bạn mình nếu họ truyền bá sản phẩm đến người khác Kết quả là thông tin về sản phần ngày càng được truyền bá rộng rãi, doanh số bán hàng càng lúc càng tăng Từ đó phương thức bán hàng
đa cấp bắt đầu ra đời Năm ]934, ông sáng lập ra công ty “Vitamin Califomia” và nhờ vào phương thức bán hàng kiểu mới này, khi người tiêu dùng cũng trở thành người iruyền bá sản phẩm (nhà phân phối), công ty của ông đã nhanh chóng đạt doanh số 7 triệu USD mà không hề mất một đồng nào dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại
4
Trang 8như quảng cáo, khuyến mại Nhờ sự tiết kiệm được từ các chi phí dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại cũng như các khâu trung gian nên những người tham gia vào
hệ thống bán hàng của ông có thể được nhận hoa hồng rất cao Cuối năm 1939, ông đã đổi tên công ty của mình là “Vitamin Califomia” thành công ty “Nutrilite Products” theo tên sản phẩm và vẫn giữ nguyên phương thức bán hàng Đây chính là công ty áp dụng phương thức bán hàng đa cấp đầu tiên trên thế giới Theo phương thức bán hàng này, những cộng tác viên của công ty tự tìm người mới, giới thiệu cho họ đầy đủ thông tin về sản phẩm và dạy cho họ phương pháp xây dựng mạng lưới bán hàng bắt đầu từ những người quen của mình Công ty đảm bảo cho tất cả các nhà phân phối độc lập có
đủ sản phẩm và trả hoa hồng không chỉ cho lượng sản phẩm họ bán ra mà còn trả hoa hồng cho cả lượng sản phẩm được bán ra của những người do họ trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng của công ty
Lịch sử phát triển của công ty “Nutrilite Products” gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên là Rich De Vos và Jey Van Andel Năm 1949, hai ông trở thành công tác viên của công ty “Nutrilite Products” Trong vòng 10 năm, họ đã xây dựng được mạng lưới bán hàng rộng khắp nước Mỹ Trong khoảng thời gian này, bộ phận sản xuất do công ty “Nutrilite Products” sở hữu hoàn toàn độc lập với hệ thống phân phối Nhận thấy được điều này, họ đã không ngừng cảnh báo bộ phận sản xuất về việc thiếu sản phẩm và doanh thu bị mất Vì không đạt được thoả thuận chung với “Nutrilite Products”, hai ông đã quyết định thành lập công ty riêng để tạo ra sản phẩm của riêng mình là “American Way Corporation”, viết tắt là Amway Ngay sau đó, Amway mua lại luôn công ty “Nutrilite Products” Hiện nay, Amway đã trở thành công ty hàng đầu thế giới về bán hàng đa cấp với hệ thống chi nhánh có mặt trên 125 nước trên toàn thế giới
Sự thành công ngoạn mục của Amway đã tạo ra sức bật mới cho phương thức bán hàng đa cấp phát triển Tuy nhiên, công ty này lại không kiểm soát được việc nhà phân phối của họ có tuân thủ các hành vi chuẩn mực trong phương thức bán hàng đa cấp hay không Một số nhà phân phối đã điều chỉnh phương thức bán hàng đa cấp theo hướng cho phép họ lừa đảo những người không muốn lao động nhưng muốn hưởng lợi nhiều Chính những biến tướng này đã sản sinh ra mô hình “kim tự tháp” - một kiểu bán hàng đa cấp bất chính, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến những công ty kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp chân chính Vì vậy, vào những năm 1970, phương thức bán hàng đa cấp bị phản đối mạnh mẽ Năm 1975, Uỷ ban Thương mại Hoa Kỳ
5
Trang 9cho ràng bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàn? bất chính, nên đã khởi kiện công ty Amway Suốt bốn năm liền hầu toà, cuối năm 1979, Toà án thương mại liên bang Hoa Kỳ đã chính thức công nhận phương thức bán hàng của Amway là chân chính, chứ không phải là “kim tự tháp” Từ đó, bán hàng đa cấp có những bước phát triển rất nhanh.
Theo cuốn “Làn sóng thứ ba-kỷ nguyên của kinh doanh đa cấp”, tác giả Richard Poe, phóng viên của báo Success - một tờ báo nổi tiếng của Hoa Kỳ, đã chia thành một số giai đoạn phát triển chính của phương thức bán hàng đa cấp này:
- Giai đoạn I (1940-1979): đây là giai đoạn bắt đầu hình thành của phương thức bán hàng đa cấp Giai đoạn này có khoảng 30 công ty kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp ra đời tại Hoa Kỳ
- Giai đoạn II (1979-1990): đây là giai đoạn bùng nổ của phương thức bán hàng
đa cấp Mỗi ngày có hàng trăm công ty kinh doanh theo phương thức bán hàng này được thành lập với đủ các loại sản phẩm
- Giai đoạn III (1990-nay): Nhờ sự tiến bộ của cách mạng thông tin, giai đoạn này, phương thức bán hàng đa cấp đã có những phát triển vượt bậc Người tham gia vào các mạng lưới phân phối có thể đơn giản hoá công việc của mình nhờ điện thoại, điện đàm, hội thảo vô tuyến, internet và nhiều phương tiện khác Hàng ngàn công ty kể cả những công ty nổi tiếng đã áp dụng phương pháp bán hàng truyền thống như Ford, Colgate, Canon, Coca-cola cũng đã bắt đầu áp dụng phương thức bán hàng đa cấp để tiêu thụ những mặt hàng độc đáo của mình
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp
Mua bán hàng hoá là lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại Hoạt động này
là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của các thương nhân Khi tiến hành hoạt động mua bán hàng hoá trên thị trường, thương nhân có thể lựa chọn nhiều phương thức bán hàng khác nhau Phương thức bán hàng truyền thống được các thương nhân áp dụng rộng rãi, phổ biến để tiêu thụ sản phẩm của mình là phương thức bán hàng thông qua việc thương nhân xáy dựng hệ thống các tổng đại lý, các đại lý bán buôn, bán lẻ và hỗ trợ rất nhiều cho các chương trình xúc tiến thương mại như khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bầy giới thiệu hàng hoá, tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại Theo phương thức bán hàng truyền thống này, để hàng hoá đến tới
6
Trang 10người tiêu dùng phải trải qua rất nhiều khâu trung gian Mỗi khâu trung gian là một hoạt động kinh doanh của một thương nhân và để thu được lợi nhuận thì các thương nhân này phải tăng giá qua mỗi khâu Bên cạnh đó nhà sản xuất, cũng như các thương nhân trung gian muốn tiêu thụ được sản phẩm, họ còn phải tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại để giới thiệu, quảng bá, khuyến khích việc mua hàng và tìm kiếm cơ hội bán hàng cũng như muốn xây dựng một hình ảnh đẹp về chính họ Với phương thức bán hàng này sẽ khiến cho giá thành của một sản phẩm mà người tiêu dùng phải trả bị đẩy lên cao hơn rất nhiều so với chi phí sản xuất ra sản phẩm đó - đây chính là một hạn chế của phương thức bán hàng truyền thống Chính hạn chế này đã khiến nhiều người tiêu dùng, dù muốn nhưng cũng không thể mua được một món hàng với giá thành cao, điều này đồng nghĩa với việc cơ hội bán hàng của thương nhân (nhà sản xuất) bị suy giảm Nhận thức rõ được những hạn chế này, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong những năm gần đây nhiều thương nhân đã sử dụng phương thức bán hàng trực tiếp để tiêu thụ sản phẩm Lúc đầu nhân viên tiếp thị bán lẻ sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng và hưởng hoa hồng trên số lượng sản phẩm tiêu thụ được Hình thức bán hàng này được gọi là hình thức bán hàng đơn cấp [25] Dần dần để mở rộng thị trường các nhân viên tiếp thị vừa bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng vừa tuyển thêm nhân viên tiếp thị khác làm nhà phân phối cho mình và được hưởng hoa hồng trên số sản phẩm do chính mình và nhà phân phối của mình bán được Đây chính là hình thức bán hàng đa cấp Vậy bán hàng đa cấp là gì?
Dưới góc độ pháp lý, bán hàng đa cấp đã được pháp luật của nhiều nước trên thế
giới chính thức có những quy định điều chỉnh và ở những văn bản pháp luật đó đều đưa
ra định nghĩa về bán hàng đa cấp Chẳng hạn, theo Khoản 8 Điều 2, Luật bán hàng tận cửa của Hàn Quốc, thì bán hàng đa cấp là một nhà phân phối bán hàng hoá thông qua một hệ thống bán hàng đa cấp được tổ chức bởi một số người giao hàng theo chuỗi và theo cấp (các cấp của những người giao hàng có liên kết với nhau và ít nhất có từ ba cấp trở lên), thông qua việc chào hàng cho một người để đổi lại những người giao hàng
có thể hưởng những lợi ích cụ thể từ một số hoạt động sau:
Thứ nhất, người nhận chào hàng sẽ mua hàng do nhà phân phối mời, sau đó bán
hàng cho người tiêu dùng; và
7
Trang 11Thứ hai, người nhận giấy mời sẽ liên kết với toàn bộ hoặc một phần người tiêu
dùng như đã nêu ở trên để những người này sau khi mua hàng lại làm người bán lại
hàng cho người tiêu dùng
Theo Điều 3, Đạo luật bán hàng và marketing trực tiếp của Thái Lan, bán hàng
trực tiếp (bán hàng đa cấp), được hiểu là việc marketing hàng hoá bằng cách bán hàng
trực tiếp đến người tiêu dùng tại nhà hoặc nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc của
các đối tượng khác, hoặc tại các địa điểm khác không phải là nơi làm việc thông
thường, bất kể thông qua các đại lý bán hàng trực tiếp, hoặc người bán hàng đơn cấp
hoặc đa cấp, trừ các hoạt động pháp lý được ghi trong các quy định cấp Bộ
ở Việt Nam hoạt động bán hàng đa cấp đã xuất hiện từ năm 1998 [31] Tuy
nhiên khi mới du nhập vào Việt Nam thì phương thức bán hàng này đã bị một số doanh
nghiệp lợi dụng làm biến tướng bản chất đúng đắn và ưu điểm của nó Nguyên nhân là
do chúng ta chưa có khung pháp luật để điểu chỉnh Nhận thức rõ được tầm quan trọng
phải luật hoá hoạt động bán hàng này nhằm tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng, phù
hợp, điều chính có hiệu quả và ngặn chặn được những nguy cơ tiền ẩn của hoạt động
bán hàng đa cấp bất chính, ngày 3/12/2004, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 6 đã thông
qua Luật cạnh tranh Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc pháp luật về bán hàng đa cấp của
nhiều nước phát triển trên thế giới đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt
Nam, khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh (2004) dã định nghĩa:
Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị đ ể bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điêu
kiện sau đây:
-Thứ nhất, việc tiếp thị đ ể bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới
người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
-Thứ hai, hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không
phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
- Thứ ba, người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh t ế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia
bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được
doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.
8
Trang 12Như vậy, phù hợp với thông lệ của nhiều quốc gia, pháp luật Việt Nam đã không định nghĩa trực tiếp bán hàng đa cấp là gì mà thay vào đó là đưa ra các điều kiện để xác định ranh giới “chân chính” hay là “bất chính”, tức là xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạt động bán hàng này Nếu hoạt động bán hàng đa cấp đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 11, Điều 3 Luật cạnh tranh nêu trên thì các thương nhân được phép sử dụng để áp dụng vào chiến lược kinh doanh của mình và nhà nước sẽ bảo
hộ hoạt động đó Dựa trên các điều kiện đã được pháp luật quy định có thể định nghĩa bán hàng đa cấp như sau:
Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng trực tiếp theo đó doanh nghiệp bán hàng hoá thông qua mạng lưới những người tham gia ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó người tham gia s ẽ nhận được tiên hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh t ế khác từ kết quả bán hàng hoá của mình và của người tham gia khác do mình tổ chức ra và được doanh nghiệp chấp thuận.
Theo đó, người tham gia vừa bán hàng vừa xây dựng hệ thống người tham gia Doanh nghiệp trả hoa hồng, trả thưởng cho người tham gia khi họ hoặc hệ thống người tham gia cấp dưới của họ bán được hàng hoá Điều này ghi nhận trong chính sách trả hoa hồng, trả thưởng của doanh nghiệp bán hàng đa cấp Giả sử một doanh nghiệp bán hàng đa cấp trả hoa hồng, trả thưởng cho người tham gia đến cấp thứ 6 thì người tham gia sớm nhất vào mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp, sẽ dược doanh nghiệp trả 15% tiền hoa hồng, tiền thưởng trên tổng doanh số mà cá nhân họ trực tiếp bán được hàng và giới thiệu người mua hàng Và nếu người tham gia sớm nhất vào mạng lưới bán hàng này giới thiệu được 5 người tham gia vào mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp, họ còn được doanh nghiệp trả cho hoa hồng quản lý cấp 1 là 6% trên tổng doanh số của cá nhân mà 5 người này đạt được do trực tiếp bán hàng và giới thiệu người mua hàng, đến lượt 5 người tham gia mới này mỗi người lại giới thiệu thêm được 5 người nữa, thì người tham gia sớm nhất lại được hưởng hoa hồng quản lý cấp 2 là 5% trên tổng doanh số của cá nhân mà cấp này đạt được do trực tiếp bán hàng và giới thiệu người mua hàng, cứ thế tiếp tục đến cấp thứ 6, người tham gia sớm nhất sẽ được hưởng hoa hồng quản lý là 1% trên tổng doanh số
cá nhân của cấp này đạt được do trực tiếp bán hàng và giới thiệu người mua hàng (còn bản thân những người ở mỗi cấp, họ sẽ được hưởng 15% tiền hoa hồng, tiền thưởng trên tổng doanh số mà cá nhân họ trực tiếp bán được hàng và giới thiệu người mua hàng và tiền hoa
9
Trang 13hồng, tiền thưởng lương tự như người tham gia sớm nhất được hướng) Với chính sách trả hoa hổng như trên đã thể hiện đặc trune của bán hàng đa cấp, cụ thể là:
Thứ nhất, doanh nghiệp bán hàng hoá thông qua người tham gia.
Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải có Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật và các doanh nghiệp này được gọi là doanh nghiệp bán hàng đa cấp Mục đích của doanh nghiệp bán hàng đa cấp là bán hàng hoá trên thị trường
Người tham gia là các cá nhân có đủ điều kiện tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật Họ hoàn toàn độc lập tham gia vào mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp, tuỳ từng doanh nghiệp mà người tham gia được gọi là nhà phân phối độc lập, nhân viên tiếp thị bán lẻ trực tiếp, đại lý, trực tiêu viên Theo quy định, người muốn tham gia bán hàng đa cấp sẽ ký một hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp để được công nhận là người tham gia Mục đích của việc tham gia là các khoản hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác
Về tư cách pháp lý của người tham gia, họ tiến hành các hoạt động hoàn toàn độc lập Tức là họ nhân danh chính mình, tự mình quyết định mọi việc và tự mình gánh chịu trách nhiệm Tư cách pháp lý độc lập của người tham gia thường được ghi nhậfi trong hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp hay trong chính sách của doanh nghiệp bán hàng đa cấp với nội dung như: người tham gia là nhà phân phối độc lập, không phải là nhân viên hay người đại diện cho doanh nghiệp với bất kỳ mục đích nào Do đó, doanh nghiệp bán hàng đa cấp không phải chịu trách nhiệm về những hành vi quảng cáo gian dối, sai sự thật, lừa đ ảo .của người tham gia vì người tham gia không có quyền nhân danh doanh nghiệp trong hoạt động của mình
Thứ hai, người tham gia xây dựng mạng lưới bán hàng bằng cách giới thiệu
người tham gia khác
Bên cạnh việc bán hàng hoá, người tham gia được giới thiệu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp Nếu tham gia, người được giới thiệu trở thành một thành viên trong hệ thống của người giới thiệu và người do họ giới thiệu sau này cũng được xem là người trong hệ thống của người giới thiệu ban đầu (người tham gia sớm nhất)
10
Trang 14Mặc dù việc giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp được thực hiện bởi người mới với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, nhưng người mới đó vẫn được xem là cấp dưới của người giới thiệu Điều này cho phép người giới thiệu được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ hiệu quả làm việc của người được giới thiệu.
Thứ ba, người tham gia ở nhiều cấp khác nhau.
Theo ví dụ ở trên, người tham gia sớm nhất vào mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp được xem là ở cấp cao nhất so với những người vào sau họ
Người tham gia cấp 1 (so với người tham gia sớm nhất): là những người được người tham gia sớm nhất trực tiếp giới thiệu Số lượng người tham gia cấp 1 là không hạn chế, tuỳ thuộc vào khả năng của người tham gia sớm nhất Trong ví dụ nêu trên, người tham gia sớm nhất giới thiệu được 5 người tham gia vào cấp 1
Người tham gia cấp 2 (so với người tham gia sớm nhất): là nhũng người được người tham gia cấp 1 trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Trong
ví dụ nêu trên, mỗi người tham gia cấp 1 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Như vậy, cấp 2 sẽ có 25 người
Người tham gia cấp 3 (so với người tham gia sớm nhất): là những người được người tham gia cấp 2 trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Trong ví dụ ncu trcn, mỗi người tham gia cấp 2 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Như vậy, cấp 3 sẽ có 125 người Khi đó những người được giới thiệu ở cấp này là cấp 1 của người tham gia cấp 2
và là cấp 2 của người tham gia cấp 1
Người tham gia cấp 4 (so với người tham gia sớm nhất): là những người được người tham gia cấp 3 trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Trong ví dụ nêu trên, mỗi người tham gia cấp 3 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Như vậy, cấp 4 sẽ có 625 người Khi đó người được giới thiệu là cấp 1 của người tham gia cấp 3 và là cấp 2 của người tham gia cấp 2 và là cấp 3 của người tham gia cấp 1
Người tham gia cấp 5 (so với người tham gia sớm nhất): là những người được người tham gia cấp 4 trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Trong ví
dụ nêu trên, mỗi người tham gia cấp 4 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng
11
Trang 15lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Như vậy, cấp 5 sẽ có 3.125 người Khi đó nhũng người được giới thiệu là cấp 1 của người tham gia cấp 4 và là cấp 2 của người tham gia cấp 3
và là cấp 3 của người tham gia cấp 2 và cấp 4 của người tham gia cấp 1
Người tham gia cấp 6 (so với người tham gia sớm nhất): là những người được người tham gia cấp 5 trực tiếp giới thiệu vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Trong
ví dụ nêu trên, mỗi người tham gia cấp 5 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Như vậy, cấp 6 sẽ có 15.625 người Khi đó những người được giới thiệu là cấp 1 của người tham gia cấp 5 và là cấp 2 của người tham gia cấp 4 và là cấp 3 của người tham gia cấp 3 và cấp 4 của người tham gia cấp 2 và cấp 5 của người tham gia cấp 1
Quá trình như trên được thực hiện liên tục làm cho số cấp trong hệ thống không những tăng lên, số người tham gia cũng không ngừng tăng lên Giả sử đến cấp 10, mỗi người tham gia cấp 9 đã giới thiệu được 5 người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng
đa cấp của doanh nghiệp thì số người tham gia đã là 9.765.625 Khi đó những người được giới thiệu là cấp 1 của người tham gia cấp 9 và là cấp 2 của người tham gia cấp 8
và là cấp 3 của người tham gia cấp 7 và cấp 4 của người tham gia cấp 6 và cấp 5 của người tham gia cấp 5 và cấp 6 của người tham gia cấp 4 và cấp 7 của người tham gia cấp 3 và cấp 8 của người tham gia cấp 2 và cấp 9 của người tham gia cấp 1 Việc phân định giữa cấp cao và cấp thấp như trên chỉ có ý nghĩa về mặt tổ chức và trả thưởng, hoa hồng cho người giới thiệu Nghĩa là người vào sau thì ở cấp thấp hơn so với người vào trước trong cùng mạng lưới, nhưng không có nghĩa là chịu sự quản lý hay ràng buộc của người vào trước Họ hoàn toàn độc lập với nhau về mặt pháp lý Người vào sau hoàn toàn có thể đạt được doanh thu và hưởng hoa hổng cao hơn so với người vào trước nếu họ làm việc hiệu quả hơn
Thứ tư, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế
khác từ kết quả bán hàng hoá của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận
Theo chính sách trả hoa hồng, trả thưởng như ví dụ đã phân tích ở trên, người tham gia sớm nhất được nhận hoa hồng, tiền thưởng cá nhân từ kết quả bán hàng trực tiếp của mình và được nhận hoa hồng quản lý từ kết quả bán hàng của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức ra
12
Trang 16Giả sử doanh thu cá nhân của mỗi người là 100.000 đồng/tháng và mỗi người giới thiệu được 5 người, mạng lưới bán hàng đa cấp được doanh nghiệp chấp thuận trả hoa hồng quản lý cho cấp cao nhất đến cấp thứ 6 Trong tháng đó, người tham gia sớm nhất được nhận hoa hồng từ kết quả bán hàng của mình là 15.000 đồng (15%/ doanh thu cá nhân) Đồng thời trong tháng đó, nếu người tham gia xây dựng được đủ 6 cấp dưới thì họ có thể được nhận hoa hổng quản lý từ kết quả bán hàng của người tham gia cấp dưới theo bảng minh hoạ dưới đây:
13
Trang 17sẽ không quan tâm đến việc bán hàng mà chỉ quan tâm đến việc xây dựng hệ thống cấp dưới và chờ hưởng lợi ích từ kết quả bán hàng của cấp dưới Giả sử vẫn ví dụ nêu trên, nếu doanh nghiệp trả hoa hồng đến cấp 10 cho người tham gia là 1% trên tổng doanh thu của cấp này thì số tiền hoa hổng mà họ được hưởng là một con số rất lớn:
C ấp Sô người tham gia Tổng doanh thu
cá nhân
% hoa hồng Tiền Hoa hồng
1.1.3 Những ưu điểm và nhược điểm của bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và hiện nay đang phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Sự phát triển này khẳng định tính chất un việt và tiến
bộ của nó so với phương thức bán hàng truyền thống Tuy nhiên có một điều cũng phải nhận thấy rằng, khi mới bắt đầu du nhập vào một quốc gia nào đó, thì bán hàng đa cấp thường bị các doanh nghiệp lợi dụng để lừa đảo khách hàng Nguyên nhân một phần là các quốc gia chưa có cơ chế chính sách để quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, một phần là do người tiêu dùng chưa cảnh giác và quá hám lợi trước những lời giới thiệu, quảng cáo “hốt ngay ra bạc” Chính nguyên nhân này khiến nhiều người tiêu dùng sau khi phát hiện mình bị lừa đã phản ứng gay gắt, các cơ quan ngôn luận vào cuộc và không ít các thông tin xấu về bán hàng đa cấp bị thổi phồng, không nhìn nhận đúng bản chất của nó Điều này đã khiến cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành không khỏi lúng túng, là cấm hay không cấm bán hàng đa cấp
Một ví dụ của Trung Quốc, cách đây 7-8 năm, bán hàng đa cấp đã bùng nổ tại quốc gia này và kéo theo hàng loạt những vụ lừa đảo Vì thế, tháng 4/1998, Chính phủ Trung Quốc đã cho đóng cửa các công ty bán hàng đa cấp, với lý do là dựa vào điều luật “ Đầu cơ dẫn đến tình trạng xáo trộn kinh tế xã hội” Tuy nhiên, chưa đầy 2 tháng sau các công ty bán hàng đa cấp đã có thể hoạt động trở lại (sau khi đã điều chỉnh hệ thống phân phối sản phẩm) Từ đó đến nay, bán hàng đa cấp đã và đang phát triển mạnh mẽ ở nước này, đặt dưới sự điều chỉnh chặt chẽ bởi những quy định của Chính phủ [31]
Sự thực bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng chứa đựng cả hai mặt: mặt tốt (ưu điểm) và mặt xấu (nhược điểm) Trong một nền kinh tế hội nhập và mở cửa, các
14
Trang 18quốc gia không thể ngăn cấm hoạt động bán hàng đa cấp, chỉ vì lý do là một vài doanh
nghiệp có các hoạt động bán hàng đa cấp không chân chính, lừa đảo khách hàng
Nhiệm vụ quan trọng là phải nhìn nhận đúng được các mặt tốt để không ngừng phát
huy và tạo hành lang pháp lý cho nó hoạt động và ngăn chặn được những mặt xấu, để
tránh gây những thiệt hại cho xã hội nói chung và người tiêu dùng nói riêng
* N h ữ n g ưu điểm.
(1) Đỏi với doanh nghiệp bán hàng đa cấp
- Thứ nhất, tiết kiệm được nhiều chi phí bán hàng, khiến giá thành của hàng hoá giảm đi đáng kể
Bán hàng đa cấp là phương thức bán hàng trực tiếp không thông qua các đại lý
bán lẻ, do đó, so với phương thức bán hàng truyền thống, doanh nghiệp bán hàng đa
cấp có thể loại bỏ được nhiều khâu trung gian bán hàng như các tổng đại lý, các đại lý,
các cửa hàng bán lẻ Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã giảm được rất
nhiều giá thành của hàng hoá do không phải chi cho các khâu trung gian đó Đồng thời
do đặc trưng của bán hàng đa cấp là bán hàng theo kiểu “mách nhau”, “truyền miệng”,
được xây dựng trên cơ sở khai thác mối quan hệ giữa con người với con người, nên
doanh nghiệp cũng tiết kiệm thêm được rất nhiều chi phí dành cho các hoạt động xúc
tiến thương mại như các hoạt động khuyến mại, quảng cáo Đây là những khoản chi
phí không nhỏ mà các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức bán hàng truyền
thống thường xuyên phải bỏ ra trong cuộc cạnh tranh khốc liệt để dành giật thị trường
Sơ đồ bán hàng dưới đây sẽ phản ánh được điều này:
* Sơ đồ bán hàng theo phương thức truyền thống [26]:
Trang 19Theo sơ đồ 1, hàng hoá nào cũng được xuất xưởng từ một nhà máy, từ đó được phân phối đến các đại lý khu vực-đại lý bán buôn-đại lý bán lẻ Người tiêu dùng ắt phải mua tại các cửa hàng đại lý bán lẻ Để kiếm được lợi nhuận thì các thương nhân thường tăng giá ở các khâu trung gian Thông thường chi phí dành cho các khâu này chiếm từ 30-40% giá bán ra của hàng hoá Bên cạnh đó người tiêu dùng còn phải gánh chịu một khoản chi phí khác nữa, đó là chi phí dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại Khoản chi phí này chiếm khoảng 40% giá bán ra của hàng hoá Ví dụ như chi phí dành cho hoạt động quảng cáo hàng hóa trên đài truyền hình Việt Nam vào giờ cao điểm với khoảng thời gian quảng cáo 30 giây là hơn 20 triệu đồng Theo các nhà tâm lý thì một đúp quảng cáo mẫu muốn tạo được ấn tượng cho người tiêu dùng thì thường xuyên phải được quảng cáo từ 4-10 lần trong ngày và kéo dài liên tục trong nhiều tháng Như vậy chí phí dành cho quảng cáo cũng như các hoạt động xúc tiến thương mại khác cộng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy giá tăng lên 70-80%, trong khi đó giá thành sản xuất ra một đơn vị hàng hoá tại nhà mày thường chỉ chiếm 20-30% mà thôi Vậy
mà người tiêu dùng luôn phải mua với 100% giá thành, cho dù muốn hay không muốn cũng vẫn phải chịu các khoản chi phí này Xin đơn cử một ví dụ cụ thể là 1 chai nước ngọt Coca-cala sản xuất tại nhà máy, giá thành sản xuất thực chất chỉ khoảng 400-500 đồng, nhưng đến tay người tiêu dùng phải là khoảng 2000-3000 đồng Sự chênh lệch giá cao như vây là do hãng này phải bù đắp các chi phí cho các khâu trung gian và các hoạt động xúc tiến thương mại
* Sơ đồ bán hàng đa cấp [26]:
( Sơ đồ 2)
Theo sơ đồ 2, hàng hoá cũng được sản xuất từ một nhà máy, sau đó được phân phối bởi một doanh nghiệp bán hàng Từ doanh nghiệp này hàng hoá sẽ được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng không qua bất cứ một khâu trung gian nào, cũng không phải dành các khoản chi phí cho các hoạt động xúc tiến thương mại Điều này khiến giá thành hàng hóa đến với người tiêu dùng giảm đi rất nhiều Hàng hóa với giá
16
Trang 20rẻ chính là cơ hội rất tốt để cho doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá, thúc đáy người tiêu dùng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp.
-T h ứ hai, hàng hoá của doanh nghiệp bán hàng đa cấp là hàng hoá có chất lượng cao.
Do tiết kiệm được nhiều chi phí không phải trả cho các khâu trung gian cũng như dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại, nên doanh nghiệp có nhiều điều kiện dành những chi phí tiết kiện đó cho việc cải tiến trang thiết bị, dây chuyền, máy móc, nhà xưởng và nghiên cứu nâng cao chất lượng hàng hoá Do đó hàng hoá được sản xuất
ra thường có chất lượng rất tốt, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Mà hàng hoá có chất lượng tốt thì tự bản thân nó lại là một sự quảng cáo siêu việt nhất Người tiêu dùng là quan toà phán xét có nên dùng hàng hoá đó hay không chứ không phải là quảng cáo Ở một khía cạnh khác, bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng siêu quảng cáo chứ không phải là không quảng cáo Bởi vì, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp sử dụng chính người tiêu dùng làm người quảng cáo và vì vậy để tồn tại, phát triển và chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải sản xuất được những hàng hoá có tính năng ưu việt, độc đáo, chất lượng tốt và giá thành lại hạ
- Thứ ba, thu hút được một lượng khách hàng rất lớn.
Doanh nghiêp bán đa cấp dễ dàng thu hút được một lượng khách hàng rất lớn Giả sử ban đầu doanh nghiệp chỉ có một khách hàng, người này giới thiệu cho doanh nghiệp được 5 khách hàng nữa 5 người này, mỗi người lại tìm cho mình 5 khách hàng nữa, như vậy đã có 25 khách hàng ở cấp thứ 2 Mỗi khách hàng ở cấp thứ 2 lại tìm thêm
5 khách hàng nữa thì ở tầng thứ 3 đã có 125 người, cứ như vậy tiếp tục đến tầng thứ 10
đã có 9.765.625 khách hàng Tổng cộng sau 10 cấp, doanh nghiệp đã có hàng chục triệu khách hàng Hơn nữa những khách hàng này, họ không chỉ là những khách hàng đơn thuần mà còn là những nhà phân phối hàng hoá cho doanh nghiệp Một doanh nghiệp bán hàng theo phương thức truyền thống khó có thể xây dựng được một hệ thống nhà phân phối lớn như vậy Chính nhờ tính chất đa cấp này mà doanh thu hàng nám của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp trên thế giới khoảng vài chục tỷ đô la Mỹ với mức tăng trưởng hàng năm khoảng 30% [26]
(2) Đối với người tiêu dùng
-Thứ nhất, được tiếp cận và sử dụng hàng hoá với giá rẻ, chất lương tốt.
ĨR Ư Ò N G Đ A IH O C l ÚẢTHA NÔI PHÒNG DỌC _ Ẩ Ì Ế íị
Trang 21Nhờ phương thức bán hàng đa cấp-phương thức bán hàng trực tiếp tới tay người
tiêu dùng, người tiêu dùng có nhiều cơ hội hơn để được tiếp cận và sử dụng hàng hoá
có chất lượng tốt với giá cả phải chãng Người tiêu dùng dù là ai, ở đâu và làm nghề gì, khi đã là khách hàng của doanh nghiệp thì được được doanh nghiệp đối xử bình đẳng trên toàn thế giới
- Thứ hai, người tiêu dùng có thể trở thành nhà kinh doanh
Nhờ phương thức bán đa cấp, người tiêu dùng không chỉ có quyền sở hữu hàng hoá mà mình đã mua của doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà họ còn có thể trở thành nhà kinh doanh, khi họ giới thiệu người khác vào mạng lưới bán hàng của mình Công việc kinh doanh này đòi hỏi vốn khởi nghiệp không đáng kể, đặc biệt đối với những doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính, họ không yêu cầu người tiêu dùng phải mua một
số lượng hàng hoá bắt buộc là bao nhiêu mà chỉ cần người tiêu dùng mua hàng hoá cần thiết cho nhu cầu sử dụng của mình Công việc kinh doanh này cũng không mất nhiều thời gian, thậm chí có thể làm ngoài giờ hành chính, tức là một nghề làm thêm ngoài công việc chính và ai cũng thể làm công việc này (ngoại trừ đối tượng bị cấm theo quy định của pháp luật)
Tóm lại, đây là công việc kinh doanh-bán hàng đa cấp-mà người tiêu dùng có được là một công việc kinh doanh không cần nhiều vốn, không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, không phân biệt giàu nghèo, nghề nghiệp, hoàn toàn tự do, chỉ cần thời gian rảnh, có tinh thần quan tâm tới cộng đồng, có quan hệ rộng, tin yêu hàng hoá (bằng cách tự sử dụng hoặc theo dõi đánh giá qua người thân), luôn có ý muốn chia xẻ thông tin cho người khác và đặc biệt, nghề này không có rủi ro, chỉ có thành công (nhanh hay chậm) hoặc bỏ cuộc chứ không hề thất bại Một khi đã thành công thì người tiêu dùng sẽ có một nguồn thu nhập cao, ổn định và qua đó nâng cao được chất lượng cuộc sống của bản thân và cộng đồng
(3) Đối với x ã hội và môi trường kinh doanh
- Thứ nhất, do loại bỏ được các khâu trung gian bán hàng nên bán hàng đa cấp
tiết kiệm cho doanh nghiệp đồng thời cũng là tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại như chi phí dành cho quảng cáo, khuyến mại Xét về một mặt nào đó, những chi phí khổng lổ này đối với người tiêu dùng và xã hội là không có nhiều ý nghĩa Tự nhiên xã hội phải tốn một số tiến rất lớn cho các hoạt
18
Trang 22động quảng cáo chỉ để nhắc nhở người tiêu dùng biết đến một loại hàng hoá nào đó Nhũng chi phí này sẽ có ích hơn rất nhiều nếu được doanh nghiệp sử dụng vào mục
đích nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm giá thành sản phẩm hoặc vào các mục đích
phúc lợi khác
- Thứ hai, huy động được nguồn vốn và sức lao động nhàn rỗi hoặc dư thừa trong
xã hội Giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là những người sắp hết độ tuổi lao động và nhũng người không có điều kiện xin việc làm do trình độ, tay nghề hoặc sức khoẻ Qua đó, góp phần nâng cao mặt bằng mức sống xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống
- Thứ ba, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội Hàng
năm, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã đóng góp hàng tỷ đổng cho ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập của các nhà phân phối, thuế môn bài và tài trợ nhiều chương trình nhận đạo vì người nghèo, vì học sinh bất hạnh, vì người già cô đơn
- Thứ tư, bán hàng đa cấp sẽ tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
làm cho môi trường cạnh tranh sôi động hơn và hấp dẫn, thúc đẩy phát triển nền kinh tế nhanh hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
* N hững nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm như đã phân tích ở trên, bán hàng đa cấp cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ‘bất chính” Đây chính là nhược điểm của phương thức bán hàng này Nguyên nhân là do:
- Thứ nhất, bán hàng đa cấp sử dụng phương tiện quảng cảo chủ yếu thông qua
“mách nhau”, “truyền miệng”, do đó dễ bị lợi dụng để quảng cáo gian dối, đặc biệt, gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo Mặc dù, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp luôn cấm người tham gia quảng cáo gian dối, nhưng họ thường không có cơ chế thích hợp xử lý hành vi đó và nhiều trường hợp họ cũng không muốn
xử lý triệt để những hành vi quảng cáo gian dối có lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá Bên cạnh đó, người tham gia lại có nhiều động cơ quảng cáo gian dối về công dụng, chất lượng hàng hoá lên thật tốt để dễ bán, thổi phồng sự thật về khả năng thu nhập khi tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp để lôi kéo thêm nhiều người tham gia Thêm vào đó bán hàng đa cấp là phương thức tiêu thụ hàng hoá dựa nhiều vào quan hệ giữa cá nhân-
19
Trang 23cá nhân, nên người tham gia thường quảng cáo với người thân, người quen của mình
nên không sợ bị tố giác hoặc do thiếu kiến thức về chuyên môn nên họ quảng cáo
không chính xác Chính đặc trưng này của bán hàng đa cấp, nhiều trường hợp đã gây ra
những hậu quả xã hội nghiêm trọng
- Tliứ hai, bán hàng đa cấp còn dễ bị lợi dụng cho các mục đích kinh doanh bất
chính vì bán hàng đa cấp có một điểm gống với “kim tự tháp” (một phương thức bán
hàng lừa đảo) như hàng hoá chủ yếu được lưu thông trong các cấp người tham gia; thu
nhập của người vào trước chỉ có thể dựa trên sự đóng góp của người vào sau; giá bán
hàng hoá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực tế hoặc giá bán trên thị trường gây thiệt
hại cho người tiêu dùng nhưng họ vẫn mua vì mất cảnh giác trước những lời hứa hẹn về
các khoản thu nhập khổng lồ khi tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp
1.1.4 Nhận diện hành vi bán hàng đa cấp bất chính - mô hình “ kim tự tháp”
Nhận thức được những ưu điểm của bán hàng đa cấp nên ngày càng nhiều doanh
nghiệp áp dụng phương thức bán hàng này để tiêu thụ hàng hoá Phương thức này cũng
được nhiều người tiêu dùng đón nhận và ủng hộ nhiệt thành nhưng cũng không ít người
ra sức phản đối Nguyên nhân là do có sự lẫn lộn giữa bán hàng đa cấp và “kim tự
tháp”-một hình thức bán hàng lừa đảo bị cấm ở tất cả các nước trên thế giới Sự lầm lẫn
này là khó tránh khỏi vì bán hàng đa cấp và “kim tự tháp” đều có dạng cấu trúc hình
tháp, mỗi người tham gia đều có quyền giới thiệu người khác [26] Để tránh được
nhũng lẫn lộn đó, cần phải nhận diện được “kim tự tháp”
“Kim tự tháp” là cấu trúc hình học có chóp nhọn càng về đáy càng được mở
rộng Đối với bán hàng đa cấp, một người tham gia sớm nhất giới thiệu được nhiều
người vào mạng lưới bán hàng đa cấp, mỗi người này lại giới thiệu được nhiều người
khác tham gia, làm cho số lượng người tham gia không ngừng tăng lên Giả sử mỗi
người tham gia giới thiệu được 5 người, thì hệ thống có dạng hình tháp như sau:
Trang 24Người tham gia
15251256253.12515.62578.125390.625 1.953.125 9.765.625 48.828.125244.140.625 1.220.703.1256.103.515.625 (Tương đương dân số thế giới)
“Kim tự tháp” là cấu trúc hình tháp không bền vững, vì những yếu tố cấu thành nó không
có cơ sở hợp lý Biểu hiện cụ thể:
vì có khả năng người tham gia sẽ bị mất khoản đầu tư đó Ngay cả trường hợp doanh
nghiệp có chính sách mua lại hàng hoá đã bán thì khả năng rủi ro đối với người tham gia
vẫn cao vì thông thường doanh nghiệp sẽ không hoàn lại 100% số tiền ban đầu hoặc nếu
có hoàn lại 100% thì doanh nghiệp cũng đã chiếm dụng được khoản vốn đầu tư của
người tham gia trong một thời gian nhất định
21
Trang 25- Thứ hai, hàng hoá chủ yếu được lun thông trong hệ thống người tham gia ở các
cấp khác nhau Điều này có thể bị xem là “kim tự tháp” vì:
+ Đây là dấu hiệu cho thấy người tham gia là đối tượng mua hàng hoá của doanh nghiệp, cho dù phần lớn trong số họ không có nhu cầu tiêu dùng mà chỉ có nhu cầu tìm kiếm tiền thưởng, tiền hoa hồng từ việc giới thiệu người khác mua hàng của doanh nghiệp nên bằng cách này hay cách khác doanh nghiệp sẽ tìm cách dồn hàng cho họ
+ Đây là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp không quan tâm tới việc bán hàng hoá tới tay người tiêu dùng cuối cùng mà không phải là người tham gia
- Thứ ba, hàng hoá chỉ có giá trị “ảo” (chỉ có giá trị tạm thời trong nội bộ “kim tự
tháp” hoặc không có giá trị gì), cũng có thể có giá trị nhưng rất nhỏ và không tương xứng với số tiền mà khách hàng bỏ ra mua (cao hơn rất nhiều so với giá thị trường), nên thông thường doanh nghiệp không có cam kết mua lại hàng hoá đã bán cho người tham gia
* Về cách thức trả tiền hoa hồng, tiền thưởng
- Thứ nhất, tiền hoa hổng, tiền thưởng mà người tham gia nhận được chỉ từ hoặc
chủ yếu từ việc giới thiệu, dụ dỗ người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp (người vào sau), chứ không dựa trên kết quả bán bất kỳ hàng hoá nào trên thị trường Điều này dẫn đến thực trạng, người tham gia muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, tức là để được hướng tiền hoa hồng, tiền thưởng, họ không phải làm gì ngoại trừ việc lôi kéo, dụ
dỗ người khác tham gia
- Thứ hai, với cách thức trả tiền hoa hồng, tiền thưởng như trên thì những người
tham gia trước (người vào sớm) luôn được hưởng lợi (dù là bất chính), nhưng đại đa số người vào sau có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro mất một khoản đầu tư (tiền mua hàng, tiền đặt cọc ) mà họ đã bỏ ra để tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Người vào sau phải cố gắng lôi kéo người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng để họ nhanh chóng tiến gần hơn đến chóp của kim tự tháp (trở thành cấp trên) và để thu hồi số tiền đầu tư đổng thời được hưởng lợi do doanh nghiệp trả tiền hoa hổng, tiền thưởng Ngay cả khi người vào sau nhận thức được đây là một thủ đoạn bán hàng lừa đảo, họ cũng vãn phải cố gắng lôi kéo người mới nhằm sớm gỡ gạc được khoản tiền đã đầu tư Điều này
dẫn tới số nạn nhân tăng lên nhanh chóng và thường gây ra nhũng hậu quả xã hội
nghiêm trọng
22
Trang 26Như vậy là chính tham vọng nhanh chóng muốn giàu có, đổi đời của những người tham gia đã bị các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính lợi dụng để lừa đảo Số tiền
mà người tham gia nhận được chỉ từ hoặc chủ yếu từ việc thuyết phục, dụ dỗ người khác tham gia là không hợp lý, nó không dựa trên cơ sở bán bất kỳ hàng hoá nào trên thị
trường mà chỉ lấy tiền của nhiều người vào sau trả cho một vài người vào trước, nhung
đến khi không thể giới thiệu thêm người vào sau nữa hay thì toàn bộ những điểm bất hợp
lý trong “kim tự tháp” sẽ bộc lộ “Kim tự tháp” sụp đổ, hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người bị thiệt hại
Tóm lại, “kim tự tháp” là một dạng biến tướng của bán hàng đa cấp chân chính
“Kim tự tháp” không quan tâm đến việc bán hàng hoá hoặc việc bán hàng hoá chỉ là phụ, quan trọng hơn là lôi kéo được nhiều người tham gia Để được tham gia người mới phải có một khoản đầu tư nhất định để có quyền bán hàng hoá và được nhận tiền hoa hổng, tiền thưởng chỉ từ hoặc chủ yếu từ việc giới thiệu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng
Để ngăn cấm “kim tự tháp”, Điều 48, Luật cạnh tranh quy định: Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhầm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu
từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia
Những quy định ngăn cấm trên đây chính là những dấu hiệu để nhận diện hành
vi bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam
1.2 PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp, như đã phân tích, là một phương thức bán hàng có rất nhiều ưu điểm và một phương thức bán hàng tất yếu sẽ phát triển trong nền kinh tế thị trường
23
Trang 27Tuy nhiên, phương thức bán hàng này cũng rất dễ bị các doanh nghiệp lợi dụng đê thu lợi nhuận bất chính Vì vậy, để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp chân chính đồng thời ngăn chặn các hiện tượng bán hàng đa cấp bất chính - “kim tự tháp”, nên nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này Tổng hợp các văn bản pháp luật đó tạo thành hệ thống pháp luật về bán
hàng đa cấp Nói cách khác, pháp luật vê bán hàng đa cấp là tổng lư/p các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ x ã hội pháp sinh trong hoạt động bán hàng đa cấp.
Pháp luật về bán hàng đa cấp là một bộ phận của hộ thống pháp luật thương mại, pháp luật về cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các hành vi bán hàng đa cấp bất chính, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp chân chính, qua đó bảo vệ được lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, người tham gia, người tiêu dùng và của xã hội
Trước hết, pháp luật về bán hàng đa cấp là một cộng cụ hữu hiệu chống lại các hành vi bán hàng đa cấp bất chính- những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm duy trì một nền thương mại công bằng và bình đẳng.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh thị trường, khách hàng nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Lợi nhuận lại chính là mục tiêu, là động lực và là phương tiện tồn tại của họ Để đạt được mục tiêu này, nhiều doanh nghiệp lại không dựa vào năng lực kinh doanh của chính mình mà họ sử dụng các thủ đoạn bất chính để làm giảm khả năng cạnh tranh của các đối thủ khác và dành phần thắng lợi về phía mình Có bao nhiêu cách tối đa hoá lợi nhuận là có bấy nhiêu thủ đoạn bất chính trong cạnh tranh và một trong những thủ đoạn như vậy là bán hàng đa cấp bất chính Dưới góc độ kinh tế và pháp lý, rõ ràng bán hàng đa cấp bất chính luôn gây ra những tác động tiêu cực và cần phải ngăn cấm triệt để Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều ban hành pháp luật về bán hàng đa cấp nhàm mục đích duy trì và bảo vệ một nền thương mại công bằng và bình đẳng, tạo một hành lang pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp chân chính phát triển
24
Trang 28Thứ hai, pháp luật vê bán hàng đa cấp còn lả một công cụ hữu hiệu góp phần bào vệ quyền và lợi ích chính đúng của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính, của người tham gia, người tiêu dùng và toàn xã hội.
Pháp luật luôn có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội Pháp luật về bán hàng đa cấp cũng không phải là một ngoại lệ Nếu không có pháp luật về bán hàng đa cấp, thì nhiều doanh nghiệp sẽ lợi dụng phương thức bán hàng này
để thực hiện các hành vi bất chính nhằm lừa đảo người tham gia, người tiêu dùng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cộng đổng xã hội Nói cách khác, các doanh nghiệp đó đã lợi dụng sự yếu kém hoặc chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để thực hiện các hành vi bất chính đó Tuy nhiên, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại, pháp luật về cạnh tranh nói chung và pháp luật về bán hàng đa cấp nói riêng sẽ góp phần ngăn chặn các hiện tượng bất chính đó Bởi lẽ, pháp luật về bán hàng đa cấp sẽ chỉ ra cái ranh giới “bất chính” và “chân chính” của phương thức bán hàng này, cho dù đây
là một vấn đề rất khó khăn Nếu doanh nghiệp thực hiện các hành vi bán hàng đa cấp không thuộc vào ranh giới “bất chính” thì pháp luật không những không ngãn cấm mà còn tạo hàng lang pháp lý cho nó phát triển Điều này xuất phát từ quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp Tuy nhiên, khi doanh nghiệp có các hành vi “vượt rào”, phạm vào ranh giới “bất chính” thì pháp luật về bán hàng đa cấp sẽ có các biện pháp chê tài nghiêm khắc để ngăn chặn và qua dó sẽ răn đe các doanh nghiệp có các hành
vi bán hàng đa cấp “bất chính”, kịp thời bảo vệ được lợi ích của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính, người tham gia, người tiêu dùng và toàn xã hội
1.2.2 Pháp luật về bán hàng đa cấp trên thê giới.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động bán hàng đa cấp là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của pháp luật về bán hàng đa cấp Hoạt động bán hàng đa cấp đã xuất hiện hơn 60 năm qua và có mặt ở trên 100 quốc gia Từ đầu những năm
1980, bán hàng đa cấp đã phát triển mạnh mẽ tại các nước Âu-Mỹ như Mỹ, Canada, Mexico, Brazil, Anh, Pháp, Đức, Thuỵ Đ iển đến đầu những năm 1990, bán hàng đa cấp cũng đã xâm nhập và phát triển mạnh ở nhiều nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Indoneisa, Thái Lan H ịên nay trên thế giới
có hàng chục nghìn công ty áp dụng phương thức bán hàng đa cấp với doanh thu hàng
tỷ USD mỗi năm Tính riêng ở nước Mỹ, doanh thu của các công ty trong Hiệp hội các công ty bán hàng trực tiếp (Direct Selling Association) năm 2001 lên đến 27 tỷ USD,
25
Trang 29năm 2002 lên đến 28,7 tỷ USD, với hệ thống nhân viên tiếp thị đến 13 triệu người [25]
Ớ Hàn Quốc, doanh thu của các công ty bán hàng trực tiếp năm 2002 đạt khoảng 4,62
tỷ USD với hệ thống nhân viên tiếp thị khoảng 3 triệu người [24] Những con số trên
đã phản ánh được những tác động tích cực, những un điểm của phương thức bán hàng
đa cấp Nó cổ vũ cho các doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính và nhũng người tham gia tuân thủ đầy đủ những quy định của pháp luật Ngược lại, nó sẽ tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội, đặc biệt là cuộc sống của hàng nghìn, hàng vạn người tham gia
Để tránh nhầm lẫn giữa bán hàng đa cấp thông thường và bán hàng đa cấp bất chính, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ có luật thừa nhận bán hàng đa cấp thì đều
có các văn bản pháp lý để cấm phương thức kinh doanh theo mô hình kim tự tháp, đồng thời để quản lý chặt chẽ phương thức bán hàng đa cấp Tuy nhiên, do bị chi phối bởi các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội cũng như quan điểm và kỹ thuật lập pháp nên có nước và vùng lãnh thổ quy định về bán hàng đa cấp trong luật cạnh tranh, luật thương mại, luật hình sự hoặc có văn bản hướng dẫn riêng Có nước lại có luật riêng điều chỉnh bán hàng đa cấp và bán hàng trực tiếp C hẳng hạn như [24]:
Tên nước V àn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp
Mỹ Đạo luật cấm kế hoạch tiếp thị theo mô hình kim tự tháp (2003)Anh Luật về kinh doanh đa cấp (1990)
Đài Loan Quy chế giám sát việc bán hàng đa cấp (1999)
Hàn Quốc Luật bán hàng tận cửa (1995)
Trung Quốc Quy tắc quản lý kinh doanh đa cấp (1997)
Thái Lan Đạo luật bán hàng và marketing trực tiếp (2002)
Singapore Luật tiếp thị đa cấp và cấm bán hàng theo mạng (2000)
Autralia Luật thương mại
Đan Mạch Luật hình sự
26
Trang 30Chưong 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP • • •
Ở VIỆT NAM 2.1 KHÁI LƯỢC VỂ S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẺN c ủ a p h á p l u ậ t
VỂ BÁN HÀNG ĐA CÂP Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, bán hàng đa cấp xuất hiện từ cuối những năm 1990 và hiện nay cũng đang phát triển mạnh Thực tiễn hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam cũng giống như ở các nước trên thế giới đều cho thấy đây là phương thức bán hàng chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, vì nó mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, người tham gia vào mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp bán hàng đa cấp và toàn xã hội Tuy nhiên, phương thức này dễ bị các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính lợi dụng
để lừa đảo người tiêu dùng Vì vậy, để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng bán hàng đa cấp bất chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, rõ ràng cho hoạt động bán hàng đa cấp chân chính, những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động có liên quan bán hàng đa cấp như:
- Vấn đề thành lập, đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp do Luật doanh nghiệp (1999), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996, sửa đổi bổ sung năm 2000)
hê thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh (nay là Luật doanh nghiệp (2005))
- Vấn đề giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp do Bộ luật dân sự (1995), Luật thương mại (1997) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh (nay là
Bộ luật dân sự (2005))
- Vấn đề quảng cáo hàng hoá do Luật thương mại (1997) (nay là Luật thương mại (2005)), Pháp lệnh quảng cáo (2002) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh
- Vấn đề giá bán hàng hoá do Pháp lệnh giá (2002) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh
- Vấn đề chất lượng hàng hoá do Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (2000) và hệ
thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh
- Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng do Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (1999) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh
27
Trang 31Những văn bán pháp luật nói trên đã điều chỉnh các khía cạnh hoạt động của bán hàng đa cấp, tuy nhiên với thực trạng đó cho thấy, chúng ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật thống nhất nào điều chỉnh hoạt bán hàng đa cấp Nói cách khác, các quy định liên quan đến bán hàng đa cấp được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật đó mang tính rời rạc và nhiều vấn đề mới phát sinh từ hoạt động bán hàng đa cấp vẫn chưa được điều chỉnh kịp thời và có hiệu quả Do đó, việc ban hành một văn bản pháp luật thống nhất điều chính vấn đề này là hết sức cần thiết Chính vì lẽ đó, ngày 3/12/2004, Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật cạnh tranh, trong đó
có quy định về việc ngăn cấm các hành vi bán hàng đa cấp bất chính (Điều 48) và ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, Bộ thương mại đã ban hành thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005
2.2 NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỂ BÁN HÀNG ĐA CẤP
Ở VIỆT NAM
2.2.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh (2004) đã định nghĩa: “ Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đày: (a) Việc tiếp thị
để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau; (b) Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia; (c) Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận” Và tiếp đến Điều 48 quy định: Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: (a) Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; (b) Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại; (c) Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tề khác chủ yếu từ việc dụ dỗ
28
Trang 32người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; (d) Cung cấp thông tin gian dối về lợi
ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công
dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia
Thông qua những quy định cụ thể ở trên, Luật cạnh tranh đã chính thức thừa
nhận hoạt động bán hàng đa cấp chân chính ở Việt Nam Đây chính là lý do Chính phủ
phải ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động
bán hàng đa cấp Theo Điều 1 Nghị định này thì phạm vi điều chỉnh của Nghị định là
hoạt động bán hàng đa cấp và quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên lãnh thổ nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quy định này đã loại hoạt động cung ứng dịch
vụ đa cấp và quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ đa cấp ra khỏi phạm vi điều chỉnh của
Nghị định Nói cách khác, không phải mọi hoạt động kinh doanh đa cấp đều do Nghị
định này điều chỉnh mà Nghị định này chỉ điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp và
quản lý hoạt động bán hàng đa cấp mà thôi Phù hợp với tinh thần này, Điều 5 Nghị
định 110 đã quy định về hàng hoá được kinh doanh theộ phương thức bán hàng đa cấp
Theo đó, tất cả hàng hóa đều được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp Tuy
nhiên, thực tiễn hoạt động bán hàng đa cấp của những doanh nghiệp bán hàng đa cấp ở
Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy hàng hoá được tiêu thụ đa cấp chủ yếu
liên quan tới sức khoẻ con người nên đang nẩy sinh sự mập mờ giữa thực phẩm dinh
dưỡng và thuốc chữa bệnh Có nhiều sản phẩm được đăng ký tại Cục quản lý vệ sinh an
loàn thực phẩm - Bộ Y tế là thực phẩm dinh dưỡng nhưng lại được quảng cáo như “thần
dược” có tác dụng chữa bệnh gây nhầm lãn cho người tiêu dùng Tương tự tình trạng
mập mờ giữa dụng cụ bảo vệ sức khoẻ và dụng cụ y tế, chữa bệnh cũng đang bị lợi
dụng phổ biến [24] Để tránh tình trạng nhầm lẫn đó qua đó kịp thời bảo vệ lợi ích
của người tiêu dùng, bảo vệ lợi ích của những doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân
chính, Điều 5 Nghị định 110 đã quy định một số hàng hoá bị cấm kinh doanh theo
phương thức bán hàng đa cấp và quy định cụ thể điều kiện để hàng hoá được kinh
doanh theo phương thức bán hàng đa cấp như sau:
- Thứ nhất, những hàng hoá sau đây không được kinh doanh theo phương thức
bán hàng đa cấp:
(a) Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông, Danh mục hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu theo quy định của pháp luật;
29
Trang 33(b) Hàng hoá là thuốc phòng chữa bệnh cho người; các loại vắc xin, sinh phẩm; trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; các loại hoá chất độc hại
và sản phẩm có hoá chất độc hại theo quy định của pháp luật
- Thứ hai, hàng hoá được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp phải đáp
ứng các điều kiện sau đây:
(a) Đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật;
(b) Đảm bảo rõ ràng, hợp pháp về nguồn gốc, xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hóa;
(c) Có nhãn hàng hóa theo đúng quy định của pháp luật
Với phạm vi điều chỉnh như vậy, đối tượng áp dụng của Nghị định 110 là tất cả các doanh nghiệp bán hàng đa cấp và những người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp (Điều 2)
- Về doanh nghiệp bán hàng đa cấp
Để phân biệt với các doanh nghiệp không kinh doanh theo phương thức bán hàng
đa cấp và để quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp đươc goi là doanh nghiệp bán hàng đa cấp Tên gọi này không biểu hiện một loại hình doanh nghiệp mới trong nền kinh tế ở nước ta mà chỉ khẳng định thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Còn về thực chất doanh nghiệp bán hàng đa cấp có thể tổn tại dưới các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp (1999) bao gồm công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH có hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; có thể tồn tại dưới loại hình là công ty nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước (2003) và
có thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996
và được sửa đổi, bổ sung năm 2000) Từ ngày 1/7/2006, các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ được điều chỉnh thống nhất bởi Luật doanh nghiệp (2005)
- Về người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp
Ngoài doanh nghiệp bán hàng đa cấp, người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp cũng là nhóm thuộc đối tượng áp dụng của pháp luật về bán hàng đa cấp Theo
30
Trang 34Điều 4 Nghị định 110, người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp phải là các cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, trừ những cá nhân sau đây:
(a) Người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản;
(b) Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có Giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp
Việc cấm hai đối tượng trên là rất cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp bán hàng đa cấp và của người tiêu dùng, đồng thời còn bảo đảm cho hoạt động bán hàng đa cấp diễn ra lành mạnh và công bằng Bởi lẽ, người đang chấp hành hình phạt tù là đối tượng mà quyền tự do cá nhân nói chung và tự do kinh doanh nói riêng của họ bị chính họ ‘tước đoạt” hoặc là những đối tượng có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản Đây là những đối tượng ma mãnh, chộp giật, tư lợi, không có tư cách đạo đức trong kinh doanh Nếu cho họ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp thì có thể “ngựa quen đường cũ” Vì vậy, pháp luật cấm những đối tượng này tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp là rất hợp lý Bên cạnh đó, những đối tượng là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam cũng bị cấm tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Nguyên nhân là do những đối tượng đó có thể rời khỏi Việt Nam bất cứ khi nào mà không ai có thể quản lý được sau khi họ đã kiếm được một khoản tiền lớn từ hoạt động bán hàng đa cấp Điều này dẫn đến việc nhà nước không thu được thuế, hơn nữa để phòng ngừa một
số đối tượng chưa được cấp giấy phép lao động tại Việt Nam- tức là nhà nước chưa quản lý được lao động mà họ được tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp thì có thể
họ lợi dụng phương thức bán hàng này để truyền bá những tư tưởng phản động, chống phá Nhà nước
Tóm lại, mọi cá nhân đều có thể tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và doanh nghiệp bán hàng đa cấp
31
Trang 35- Điều kiện theo quy định của pháp luật đó là cá nhân phải có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự và không thuộc trường hợp bị cấm tham gia vào mạng lưới bán hàng da cấp Theo quy định, cán bộ, công chức không thuộc đối tượng bị cấm tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Quy định này đã mở rộng đối tượng tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp và có lẽ còn muốn tạo điều kiện cho cán bộ, công chức có thêm một công việc mới-một công việc có thể làm ở ngoài giờ hành chính để tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống vật chất Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lao động tại Việt Nam cũng không thuộc đối tượng cấm tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Nói cách khác, pháp luật Việt Nam không cấm triệt để mà vẫn để lối mở để khuyến khích người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Quy định này là hợp lý vì:
(a) Phù hợp với chính sách mở cửa, thu hút đầu tư của nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Điều này đã được minh chứng tại Luật doanh nghiệp (2005) và Luật đầu tư (2005)
(b) Phương thức bán hàng đa cấp mới được du nhập vào Việt Nam nên ngành bán hàng đa cấp vẫn còn non trẻ, lại phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng thuyết phục, kỹ năng bán hàng cá nhân Những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài ở các thị trường nước ngoài đã có rất nhiều kinh nghiệm và kỹ năng của họ rất tốt Nếu như họ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp và đào tạo cho người Việt Nam có những kỹ năng đó thì là một điều rất tốt và cần khuyến khích
- Bên cạnh đó, cá nhân muốn tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp còn phải đáp ứng điều kiện mà doanh nghiệp bán hàng đa cấp đặt ra bằng cách phải ký kết với doanh nghiệp bán hàng đa cấp một hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp để được chính thức công nhận là người tham gia
2.2.2 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp và vấn đề trách nhiệm của bên trong hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.
* K hái niệm và đặc điểm của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Quan hệ bán hàng đa cấp giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là họp đồng tham gia bán hàng đa cấp Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp có bản chất
32
Trang 36chung của họp đồng đó là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bán hàng đa cấp Nghị định 110, không đưa ra định nghĩa về hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, tuy nhiên dựa vào bản chất chung
của hợp đồng cũng như bủn chất của bán hàng đa cấp có thể hiểu: Hợp đồng tham gia
bán hăng đa cấp là sự thoả thuận giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp nhằm xác lập, thay đổi, châm dứt các quyền, nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ bán hàng đa cấp Đây chính là cơ sỏ phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động bán hàng đa cấp, cũng chính là cơ sở đ ể giải quyết tranh chấp có th ể s ẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.
Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ bán hàng đa cấp, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Trong quan hệ bán hàng đa cấp, tồn tại hai chủ thể quan trọng đó là doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Hợp đổng tham gia bán hàng đa cấp chính là sự thoả thuận của hai chủ thể này về nội dung của hoạt động bán hàng đa cấp Do bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng đặc thù,
vì vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp quy định chỉ có doanh nghiệp nào đáp ứng đầy đủ các điều kiên theo quy định của pháp luật mới được tổ chức kinh doanh theo phương thức bán hàng này Bên cạnh đó, người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp bị cấm tham gia bán hàng
đa cấp theo quy định của pháp luật
- Thứ hai, về hình thức của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận kết quả mà các bên đã thoả thuận với nhau Phương tiện này có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể Tuy nhiên với tính chất phức tạp của quan hệ bán hàng đa cấp, khả năng phát sinh iranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng này là rất lớn, nên hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp luôn phải được thể hiện dưới những hình thức đảm bảo rõ ràng nhất để giúp cho quá trình thực hiện cũng như giải quyết tranh chấp trở nên thuận lợi hơn Vì vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp của các nước hầu hết đều quy định hình thức của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp phải được xác lập bằng văn bản - đây là hình thức tồn tại minh bạch nhất của những thoả thuận giữa các bên
33