Ngược lại, các quy định về “văn bản’, “bản gốc”, “chữ ký tay” của pháp luật quốc gia hoặc các công ước quốc tế điều chỉnh các giao dịch thương mại truyền thống lại tạo nên không ít những
Trang 1n»
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO • • • BỘ Tư PHÁP•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HẢI ANH
MỘT SỐ KHÍ A CẠNH PHÁP LÝ VỂ
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p lý về th ư ơ n g mại điện tứ
' M Ụ C L Ụ C
LỜI M Ở Đ Ầ U 3
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM TH Ư Ơ N G MẠI ĐIỆN TỬ VÀ MỘT s ố VẤN ĐỂ PH ÁP LÝ TRONG TH ƯƠ NG MẠI ĐIỆN T Ử ' ' 9
I S ự PH Á T TRIỂN CỦA CÔ NG N G H Ệ THÔNG TIN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA N Ó TỚI HOẠ T DỘNG THƯƠNG M ẠI. 9
// KH ÁI NIỆM THƯƠNG M ẠI ĐIỆN TỬ 12
1 Thương mại Điện tủ theo nghĩa r ộ n g 12
2 Thương mại điện tử theo nghĩa h ẹ p 14
III P H Â N LO Ạ I THƯƠNG M Ạ I ĐIỆN T Ử 17
1 Theo chủ thê tham gia 17 2 Thương mại điện tứ trực tiếp L)à thương mại diện tứ gián tiếp 18
IV NHỮNG THUẬN L Ợ I [/À K H Ó K H Ă N CHO s ự PH Á T TRIẼN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1 9 1 Thuận lợ i 19
2 Khó k h â n 22
ự NHỮ NG VẤN ĐỂ P H Á P L Ý TRONG GIA o DỊCH THƯƠNG M ẠI ĐIỆN TỬ 23
1 Sự an toàn uà độ tin cậy cho các giao dịch thương mại điện t ủ 24
2 Đảm bảo bí m ột cho thông tin cá nhân của người sử d ụ n g 25
3 Bảo vệ người tiêu d ù n g 25
4 Các vấn đề về luật hợp đ ồ n g 26
5 Chứng c ứ 31
6 Trách nhiệm của các cơ quan trung g ia n 32
7 T h u ế và hải quan 33
8 Giải quyết tranh c h ấ p 34
CHƯƠNG II: THƯƠNG MẠI ĐIỆN T Ử TRONG PH Á P LUẬT Q U Ố C TẾ VÀ PH ÁP LUẬT MỘT S Ố N Ư Ớ C 3 6 / PH ÁP L U Ậ T VỂ THƯƠNG M ẠI DIỆN TỬ Ở M Ộ T S Ố NƯ Ớ C. 36
1 Pháp Luật về Thương mại diện tủ ở Singapore 36
2 Pháp luật về Thương mại diện tử ở Châu  u 41
3 Pháp luật về thương mại diện tử Ở Hoa k ỷ 4 5 II LUẬT MẪU CỦA ƯỶ BAN LU Ậ T THƯƠNG MẠI QUỐC T Ế CỦA LIÊN HỢP QU Ố c (UNCITRAL) VẾ THƯƠNG M ẠI DIỆN TỬ. 4 9 1. v ể khái niệm Thương mại diện tủ và phạm ui áp d ụ n g 50
2 Áp dụng các ỵêu cầu pháp lý cho m ột tệp dữ liệu 51
3 Trao đổi tệp dữ liệu 5 7 4 Thương mại diện tử trong các lĩnh uực cụ th ể. 62
Trang 4M ộ t s ố khía cạnh p h á p lỷ ưề thương mại điện tử
CH Ư Ơ NG III : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỂ PH ÁP LÝ CẦN GIẢI Q U Y Ế T 6 5
/ S ự T Ấ T YẾU CỦA P H Á T TRỈẺN THƯƠNG MẠI ĐIỆN T Ử Ở VIỆT N A M 6 5
1 Sự phát triển của công nghệ thông tin ờ Việt N a m 6 5
2 Nền kinh tế phát triển theo hướng xuất khẩu 6 5
3 Việc hội nhập uào các tổ chức khu uực và toàn cẩu 6 6
4 S ự phát triển Internet ớ Việt N am 6 7
5 Các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về thương mại điện t ử 6 7
II M Ộ T S Ố VẤN ĐỂ PH ÁP L U Ậ T TRONG THƯƠNG M ẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM: 6 9
D A N H MỤC TÀI LIỆU THAM K H A O 91
/V T à i liệu Tiếng V iệt 91
B /T à i liệu Tiếng nước ngoài: 9 2
Trang 5M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p lý về thương mại điện tủ
Lời m ỏ đẩu
mạng vể công nghệ thông tin với sự ra đời của máy tính cá nhân, các phương tiện truyền thông điện tử hiện đại và đặc biệt là sự kết nối các máy tính cá nhân thành mạng lưới Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã có những tác động và ảnh hưởng quan trọng tới cuộc sống của con người trên toàn trái đất nói chung cũng như tới sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Sự ra đời của Phương thức Trao đổi Dữ liệu Điện
tử (EDI), thư điện tử (E-mail) và Internet không những làm thay đổi cách thức làm việc, học hành, giao tiếp của con người mà còn tác động mạnh mẽ tới cách thức tiến hành các giao dịch thương mại Các phương thức thông tin liên lạc điện tử thay thế cho các tài liệu trên giấy tờ ngày càng nhiều hơn và đến nay việc tiến hành các giao dịch/hoạt động mang tính thương mại thông qua các phương tiện điện tử (hay còn gọi là thương mại điện tử) đã trở nên phổ biến
Thời gian vừa qua, Thương mại điện tử chủ yếu phát triển trong hoạt động kinh doanh ở nhữhg mạng nội bộ hoặc mạng chuyên dùng của các doanh nghiệp và tổ chức như ngân hàng, các hãng hàng không Gần đây nó đang được mở rộng nhanh chóng, vươn tới hoạt động thương mại phức tạp
có phạm vi giao dịch trên toàn cầu với số người tham gia tăng nhanh chưa từng thấy Nó không chỉ có các doanh nghiệp mà còn có cả chính phủ các nước và các cá nhân, đã biết hoặc chưa biết nhau, tham gia vào các mạng mở toàn cầu như Internet
Các phương tiện thông tin liên lạc điện tử đem đến những cơ hội mới cũng như các thách thức mới trong kinh doanh Đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử về khuôn khổ pháp lý và công nghệ là những thách thức lớn đối với tất cả những người tham gia Để tất cả mọi người tham gia thu được lợi ích từ các cơ hội có được do thương mại điện tử đem lại thì cần phải có một khung pháp luật đầy đủ và phù hợp với khả năng
Trang 6M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p lý ưề th ươ n g mại điện tủ
dự báo các vấn đề sẽ nảy sinh trong một môi trường ảo Tuy nhiên, những tiến bộ về mặt công nghệ thông tin nêu trên đây lại hầu như chưa được ghi nhận và quy định đầy đủ trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng như pháp luật quốc tế
Pháp luật hiện hành, với những quy định dựa vào các tài liệu trên giấy
tờ truyền thống đã không thể hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động thương mại tiến hành thông qua các phương tiện điện tử Ngược lại, các quy định về “văn bản’, “bản gốc”, “chữ ký tay” của pháp luật quốc gia hoặc các công ước quốc
tế điều chỉnh các giao dịch thương mại truyền thống lại tạo nên không ít những trở ngại, khó khăn cho việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc điện tử trong hoạt động thương mại Trong nhiều trường hợp tệp dữ liệu điện
tử hay các bản ghi điện tử vẫn có thể không được chấp nhập là phương tiện thông tiên liên lạc có giá trị pháp lý Để đáp ứng được với nhu cầu thực tiễn thì vấn đề đặt ra là cần phải có một khung pháp lý chung để xoá bỏ nhữhg hạn chế trong pháp luật hiện hành đối với việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc điện tử trong thương mại
2 Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, Cộng đồng quốc tế và các cơ quan có thẩm quyền của các nước đã và đang làm việc rất tích cực để xây dựng nên một môi trường pháp lý phù hợp cho các hoạt động thương mại điện tử Một số nước đã ban hành hoặc đang trong quá trình chuẩn bị các quy định pháp luật điều chỉnh một số khía cạnh nhất đính của thương mại điện tử Các văn bản tài liệu quốc
tế mới ban hành gần đây đã có dự liệu trước cho các phương thức thông tin liên lạc thay thế cho phương thức trên cơ sở giấy tờ
Một số nước đang phát triển đã tìm cách đưa ra những hành lang pháp
lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử và đã đạt được những tiến triển trong vấn đề này Các nước đang phát triển chỉ mới bắt đầu quan tâm tới hệ thống pháp luật của mình và xem xét việc ban hành các quy định pháp luật có thể thúc đẩy thương mại điện tử Nếu không kịp thời tiến hành sửa đổi bổ sung và ban hành mới các quy định liên quan tới thương mại điện
Trang 7M ộ t s ố khía cạ n h p h á p lỷ về thương mại diện tủ
tử cho phù hợp, các nước chậm trễ trong vấn đề này sẽ có thể bị loại dần ra khỏi các hoạt động thương mại quốc tế
Trên bình diện quốc tế, các diễn đàn và tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), UNTAD, đã có nhiều cuộc họp để bàn về tăng cường hiệu quả thương mại và
hỗ trợ kinh doanh, trong đó để cập đến sự cần thiết xem xét hơn nữa các vấn
đề liên quan tới thương mại điện tử và sự quan trọng của một khung pháp lý phù hợp Vào tháng 12/97, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đề nghị UNTAD
và các cơ quan có liên quan khác trong Liên hợp quốc hỗ trợ các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển cũng như các nước đang chuyển đổi trong vấn đề này
Việt Nam cũng là một trong những nước mới xúc tiến nghiên cứu về thương mại điện tử Vấn đề Thương mại điện tử đã được đưa ra thảo luận trong một số cuộc họp ở Việt Nam như Cuộc “Hội thảo về phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam” do Bộ Thương mại tổ chức vào tháng 3 /1 9 9 9 , cuộc họp về thương mại điện tử do Tổng cục Bưu điện tổ chức vào tháng 6/1999
Thương mại điện tử là một trong những vấn đề mới đối với Việt Nam
và việc xây dựng khung pháp lý cho Thương mại điện tử ở Việt Nam là chủ đề mới được đề cập Với lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về Thương mại điện tử” cho Bản luận án tốt nghiệp cao học Luật của mình
Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quan hệ giao dịch thương mại, các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại truyền thống, những vấn đề khó khăn sẽ gặp phải khi tiến hành các giao dịch thương mại truyền thống thông qua các phương tiện điện tử và môi trường mạng máy tính, sự ảnh hưởng, chi phối của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành đối với việc xây dựng pháp luật về thương mại điện tử, luận án làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại điện tử
Trang 8M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p lỷ ưề th ươ n g mại điện tủ
Để đạt được mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những quan điểm về thương mại điện tử, giao dịch thương mại cũng như thực tiễn sử dụng các phương tiện điện tử để tiến hành các giao dịch thương mại hiện nay và các vấn đề pháp lý đặt ra đối với thương mại điện tử
- Nghiên cứu những kinh nghiệm của pháp luật các nước cũng như các tổ chức quốc tế về xây dựng pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử và khả năng vận dụng các quy định quốc tế
- Nghiên cứu một số vấn đề pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt nam liên quan tới giao dịch thương mại điện tử để từ đó đưa ra những kiến nghị hướng xây dựng pháp luật về thương mại điện tử và các nguyên tắc trong việc xây dựng khung pháp luật cho thương mại điện tử ở Việt Nam
4 Đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề pháp lý trong thương mại điện tử liên quan tới nhiều chế đính pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau Trong khuôn khổ một bản luận án thạc sĩ và với một đề tài mới, bao trùm nhiều lĩnh vực và nhiều vấn đề, với khả năng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn nhiều hạn chế, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ tiếp cận ban đầu và đưa ra đề xuất về các giải pháp trước mắt, chite thể đi sâu vào toàn bộ các vấn đề liên quan
Bản luận án không nhằm cung cấp một tập hợp tất cả các vấn đề pháp
lý liên quan tới thương mại điện tử mà chỉ nhằm giới thiệu về thương mại điện
tử và nghiên cứu một số vấn đề pháp lý đặt ra khi tiến hành các giao dịch thương mại điện tử Bản Luận án cũng cung cấp những bước phát triển của việc xây dựng khung pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử trên bình diện quốc tế hiện nay đồng thời xem xét những vấn đề pháp lý được coi là những trở ngại cho việc sử dụng các phương tiện điện tử trong hoạt động thương mại Trên cơ sở những phân tích về các giải pháp nêu ra trong Luật Mẫu về Thương mại Điện tử của uỷ ban Luật thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc
và xu hướng lập pháp ở một số nước trên thế giới cũng như nghiên cứu về các quy định hiện hành trong chế đính luật hợp đồng, các quy định về quản lý
và sự dụng Internet của Việt nam, Luận án cũng đưa ra một số gợi ý và đề
Trang 9M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p ỉỷ uề th ươ n g mại d iệ n tử
xuất một vài vấn đề chủ yếu liên quan đến việc xây dụng khung pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử ở Việt Nam mà cụ thể là nhữỉig vấn đề về hợp đồng, vể chứng cứ, trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng và về siêu thị
ảo Trong số những vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong thương mại điện
tử thì đây là bốn vấn đề mà chúng tôi cho là bức xúc nhất đối với đất nước ta khi xây dựng và áp dụng pháp luật về thương mại điện tử
5 Cơ sỏ phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, phát huy hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế với xu hướng hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và toàn cầu Phương pháp luận để nghiên cứư và thực hiện luận án này là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứu, thực hiện luận
án gồm phương pháp tổng hợp, phân tích, lịch sử và liên hệ so sánh Phương pháp phân tích và liên hệ so sánh được sử dụng nhằm làm rõ khái niệm về thương mại điện tử, sự khác biệt của thương mại điện tử với thương mại truyền thống và các vấn đề pháp lý nảy sinh khi sử dụng các quy đính pháp luật hiện hành điều chỉnh giao dịch thương mại điện tử Hai phương pháp nêu trên cũng được sử dụng trong việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng pháp luật về thương mại điện tử ở các quốc gia và quốc tế Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hoá nhằm đưa ra các kết luận và khuyến nghị của luận án Phương pháp sơ đồ cũng được sử dụng để thể hiện
rõ mối quan hệ giữa các bên trong một giao dịch thương mại điện tử
Trang 10M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý về thương mại điện tủ
6 B ố cục của Luận án.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Bản luận án được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương II: Pháp luật về thương mại điện tử ở một số nước
Chương III: Thương mại điện tử ở Việt Nam
Thương mại điện tử thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều chuyên ngành luật khác nhau và là vấn đề mới phát triển với tốc độ nhanh ở nước ta Để thực hiện luận án này, chúng tôi đã tiến hành xử lý một khối lượng lớn các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật liên quan Tuy nhiên do điều kiện về thời gian, luận án không thể tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà giáo, nhà nghiên cứu, và các bạn bè, đồng nghiệp quan tâm để luận án được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của PGS., PTS LêHồng Hạnh; cảm ơn các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi nhũhg kiến thứcquý báu trong quá trình đào tạo tại Trường Đại học Luật Hà nội; cảm ơn bạn
bè, đồng nghiệp đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu liên quan để tôi hoàn thành luận án này
Hà nội, ngày 11 tháng 11 năm 1999
Vũ Hải Anh
Trang 11M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p /ý về th ươ n g mại diện tử
Ngày nay, chúng ta lại đang đứng trước một cuộc cách mạng khác đó
là cuộc cách mạng về công nghệ thông tin Sự phát minh ra máy vi tính, việc kết nối các máy vi tính với nhau thành các mạng và sự ra đời của Internet1 đã
có những tác động lớn tới cuộc sống và làm thay đổi hoàn toàn cách thức làm việc, học hành và giao tiếp với nhau, tức là làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của con người trên thế giới
Ví dụ giờ đây các sinh viên và thầy giáo có thể truy nhập vào các kho thông tin dữ liệu hoặc thư viện của các trường đại học khác nhau trên thế giới
từ chính lớp học của mình; các bác sĩ có thể chẩn đoán cho các bệnh nhân từ một khu vực rất xa xôi hẻo lánh mà không cần phải rời khỏi bệnh viện của mình; người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới có thể tìm thấy những đồ mình cần mua như quần áo, sách báo, phim ảnh và đặt mua chúng ngay từ nhà mình mà không phải đi tới cửa hàng
Cùng với việc làm thay đổi cuộc sống của con người, các phương tiện thông tin điện tử và đặc biệt là Internet cũng làm thay đổi cách thức tiến hành
1 Internet là một mạng lưới các máy tính kết nối với nhau sử dụng giao thức Internet (Internet Protocol) thể trao đổi thông tin liên lạc qua lại Nói một cách đơn giản hơn, thuật ngữ “Internet” được
sử dụng để chỉ tất cả các mạng dữ liệu và hàng trăm các ứng dụng khác như World Wide Web và thư điện tử trên các mạng đó.
Trang 12M ộ t s ố khía cạnh p h á p lỷ uề thương mại điện tử
các hoạt động kinh doanh, thương mại Các doanh nghiệp, thương nhân có thể sử dụng Internet như một công cụ đắc lực cho các hoạt động kinh doanh của mình hoặc có thể bắt đầu hoạt động kinh doanh mới một cách dễ dàng hơn thông qua mạng Internet để vươn tới các bạn hàng và người tiêu dùng trên toàn cầu; các giao dịch thương mại mà đối tượng là các phần mềm máy tính, các sản phẩm giải trí, dịch vụ thông tin, tư vấn chuyên ngành, dịch vụ tài chính, giáo dục, khám chữa bệnh, quảng cáo tiếp thị đang gia tăng một cách nhanh chóng thông qua Internet do giảm được chi phí và hỗ trợ được các giao dịch thương mại mới
Trước khi Internet2 ra đời, máy tính cũng đã bắt đầu được sử dụng chocác mục đích thương mại ứng dụng thương mại đầu tiên của máy tính xuất hiện vào những năm 1960 với máy ghi và thanh toán điện tử3 Trong những năm 1970 và 1980, các doanh nghiệp, công ty đã mở rộng úhg dụng tin học trong hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách gửi, nhận các đơn đặt hàng, hoá đơn và thông báo vận chuyển bằng phương thức điện tử qua dịch vụ trao đổi tệp dữ liệu điện tử (EDI)
Việc tiến hành các hoạt động thương mại thông qua các phương tiện điện tử đã được các doanh nghiệp chú trọng phát triển, đặc biệt là thông các các mạng máy tính nội bộ Sau khi Internet ra đời, Thương mại trên Internet bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ đầu nhữhg năm 1990 và có những bước đột biến vào các năm 1996, 1997, 1998 nhờ các lợi ích mà nó mang đến Theo một số dự báo, thương mại thông qua mạng Internet đã đạt con số 80 tỷ đô la
Mỹ trong năm 1998 và sẽ đạt tới con số 330 tỷ đô la Mỹ khi bước sang thế
k ỷ 2 1 4
2 v ề Lịch sử hình thành và phát triển của Internet, đề nghị xem thêm phụ lục I.
3 Electronic Recording Machine - Accounting
4 Xem bài: “Thương mại điện tử - một số vấn đề quan điểm hệ thống", Tùng Hoa, Tạp chí bưu chính Viln thông 8 /1 9 9 9 , Tr 10.
Trang 13M ộ t s ố khía cạnh p h á p lý về thương mại diện tử
Mô hình sau đây sẽ mô tả theo cách đơn giản nhất một giao dịch thương mại diễn ra trên mạng Internet:
Ngưòi mua
Ngân hồng ngưòi mua Ngân hàng n8ưc^ bốn
Qui trình giao dịch mua bán hàng hoá qua Internet diễn ra theo các bước sau:
1 Người bán đưa thông tin về công ty và sản phẩm, hàng hoá của mình lên Internet thông qua một nhà cung cấp dịch vụ Internet;
2 Người mua truy nhập vào Internet và thăm trang web giới thiệu về hàng hoá, sản phẩm của Người bán để lựa chọn
Trang 14M ộ t s ố khía cạ n h p h á p ìý ưề thương mại điện tử
3 Sau khi quyết định mua hàng, Người mua điền các thông tin vào phiếu mua hàng như chủng loại, số lượng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận, các thông tin về người mua (nếu có yêu cầu) theo mẫu đã tạo sẵn trên trang web của người bán Khi đã điền hết các thông tin theo yêu cầu (nói cách khác là hoàn thành đơn đặt hàng), Người mua nhấn nút chấp nhận gửi đơn đặt hàng đĩ Thông thường các trang web được thiết kế với một số các thủ tục xác nhận lại các thông tin và đơn đặt hàng của người bán
4 Thông tin trên được chia làm hai phần Phần đặt hàng được chuyển tới người bán để mua hàng Phần thông tin thanh toán được gửi tới Ngân hàng người mua qua cổng thanh toán chung để thực hiện thủ tục thanh toán
5 Ngân hàng người mua chấp nhận hoặc từ chối thanh toán và gửi mã cấp phép cho ngân hàng người bán, và tiếp theo là thông tin được gửi tới người bán
6 Sau khi thanh toán được chấp nhận, người bán chuyển hàng cho người mua và đồng thời gửi hoá đơn điện tử cho người mua
II KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
(Electronic Commerce _ E-commerce)
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Thương mại Điện tử Tuỳ theo mục đích nghiên cứư người ta có thể hiểu Thương mại điện tử theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
1 Thương mại Điện tử theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử theo nghĩa rộng nhất có thể được hiểu là toàn bộ các giao dịch mang tính thương mại được các bên tham gia thực hiện thông qua các phương tiện điện tử từ điện thoại, telex, íacimile, hệ thống thanh toán
và chuyển tiền điện tử tới các máy tính kết nối với nhau trong một mạng lưới kín hay một mạng lưới mở như Internet
Trang 15M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p ỉỷ uề thương mại điện tủ
Theo Luật Mẫu về Thương mại điện tử của uỷ ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) thì: “Thương mại”5 trong khái niệm Thương mại điện tử được hiểu là mọi vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ; thoả thuận về phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; thiết kế; chuyển nhượng quyền sử dụng (Li xăng); đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh hay sản xuất; vận chuyển hành khách hay hàng hoá bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy phạm vi của Thương mại điện tử là rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động kinh tế, mà không chỉ bao gồm mua bán hàng hoá và dịch vụ, vì mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng nghìn lĩnh vực áp dụng của Thương mại Điện tử”
u ỷ ban Châu Âu đưa ra định nghĩa như sau6: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền số liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh Thương mại Điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật
số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng, và các dịch vụ sau bán hàng (hậu mãi) Thương mại Điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví
dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)
5 Xem Luật Mẫu của UNCITRAL về Thương mại Điện tử, Điều 1.
6 Xem “Sáng kiến của Châu Âu về Thương mại Điện tử”, Phần I - Cuộc cách mạng Thương mại Điện tử.
Trang 16M ộ t s ố khía cạnh p h á p Ịỷ uề th ư ơ n g mại điện tử
Bộ Thương mại Việt Nam cũng đã đưa ra định nghĩa của mình7, theo đó: “Thương mại điện tử là một bộ phận hữu cơ của nền “kinh tế số hoá”, là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là thương mại không giấy tờ) Bên cạnh đó, trong Báo cáo về Thương mại điện tử, Tổng cục Bưu điện lại đưa ra đỊnh nghĩa:'Thương mại điện tử là mọi hình thức giao dịch thương mại trong đó các bên hữu quan tương tác với nhau qua phương tiện điện tử chứ không trao đổi hoặc gặp gỡ trực tiếp”
Như vậy hiểu theo nghĩa rộng thì Thương mại điện tử không chỉ giới hạn trên Internet mà nó bao gồm một loạt các ứng dụng khác như videotext, truyền thông (mua hàng từ xa), và môi trường ngoài mạng (catolo bán hàng trên đĩa CD-ROM), cũng như là các mạng lưới riêng của các công ty (đặc biệt
là trong lĩnh vực ngân hàng) Tuy nhiên, Internet với các giao thức mạng độc lập và sức mạnh của mình sẽ là tập hợp các loại hình thương mại điện tử khác nhau Các mạng lưới máy tính trong công ty sẽ trở thành mạng nội bộ Đồng thời, Internet đang huy động rất nhiều các loại hình Thương mại điện tử kết hợp, ví dụ như thông tin thương mại điện tử trên TV với cơ chế phản hồi trên Internet (đối với việc đặt hàng ngày tức khắc), catolo trên CD-ROM có sự kết nối với Internet (để cập nhật được về nội dung và giá cả), và các trang chủ thương mại với đĩa CD-ROM bổ trợ
2 Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet Đưa ra các khái niệm theo xu hướng này có một số tổ chức quốc tế như: Tổ chức Thương mại thế giới, Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế,
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về thương mại điện tử, theo đó hiểu một cách đơn giản nhất: Thương mại điện tử bao gồm
7 Xem “Khái niệm về Thương mại điện tử” của N.T.P, tạp chí Thông tin Khoa học kỹ thuật và Kinh
tế Bưu điện, sô 5 /1 9 9 9
Trang 17M ộ t s ố khía cạnh p h á p Ịý về th ươ n g mại điện tủ
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet nhưng được giao nhận một cách hữu hình và
cả các sản phẩm được giao nhận như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet8
Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD):
“Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”
Như vậy một cách khái quát nhất theo nghĩa hẹp Thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoai, fax, telex
Từ các định nghĩa trên ta có thể thấy rằng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì Thương mại điện tử gồm tất cả các hoạt động mang tính thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc điện tử từ điện thoại, telex, fax, hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử, Internet Còn hiểu theo nghĩa hẹp nhất hay nói một cách chặt chẽ hơn cả thì thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet
So với các hoạt động thương mại truyền thống thì thương mại điện tử
có rất nhiều điểm khác nhau cơ bản Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là những người đã quen biết nhau từ trước Còn trong thương mại điện tử, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Các giao dịch mang tính thương mại truyền thống được thực hiện với sự phân định rõ
về gianh giới quốc gia trong khi đó thương mại điện tử lại được thực hiện trong một môi trường hay có thể gọi là thị trường phi biên giới Một điểm khác nữa là hầu hết các hoạt động hay giao dịch thương mại điện tử đều có sự
8 X em “T hương m ại Đ iện tử và vai trò của W T O ” của M arc B acchetta, Patrick Low, Aaditya
M attoo, Ludger S ch uknecht, H a n n u W ager và M adelon W ehrens, W TO PUBLICATION,
1 9 9 8 , Tr 1.
Trang 18M ộ t s ố khía cạnh p h á p ìỷ về th ươ n g mại diện tử
tham gia của ít nhất ba chủ thể trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng
Ngay giữa thương mại điện tử truyền thống với thương mại điện tử trên mạng mở Internet cũng có những điểm khác biệt Đối với thương mại điện tử truyền thống thì mạng lưới là một phương tiện để trao đổi dữ liệu; còn đối với thương mại điện tử trên Internet thì mạng lưới chính là thị trường Do vậy vấn
đề pháp lý đặt ra là phải xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong một thị trường ảo dựa trên các mạng lưới máy tính và thiết bị điện tử Các giao dịch thương mại điện tử truyền thống được điều chỉnh bởi các quy định trong các ngành luật riêng biệt và đã được ghi nhận một phần trong pháp luật quốc gia cũng những pháp luật quốc tế, còn thương mại điện
tử trên các mạng lưới mở cần có sự kết hợp và thống nhất các quy định của nhiều ngành luật khác nhau
Đến nay, Thương mại Điện tử không còn là hiện tượng mới nữa Trong nhiều năm vừa qua, các công ty đã trao đổi với nhau số liệu kinh doanh qua rất nhiều mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu là qua các phương tiện viễn thông Tuy nhiên hiện nay có một sự thay đổi đáng kể và mở rộng nhanh chóng do sự phát triển của Internet Cho đến thời điểm cách đây vài ba năm thì việc trao đổi thông tin qua các phương tiện điện tử không chỉ còn giới hạn trong quan hệ giữa các doanh nghiệp, công ty với nhau nữa, Thương mại điện
tử đang mở rộng nhanh chóng sang các trang web về các hoạt động thương mại đa đạng trên phạm vi toàn cầu với số lượng người tham gia tăng nhanh chưa từng có Những người tham gia có thể là các cá nhân, các doanh nghiệp, những người đã biết và những người chưa biết nhau bao giờ trên các mạng lưới mở toàn cầu như là Internet
Về mặt pháp lý, các hoạt động thương mại được các bên tham gia thực hiện bằng các phương tiện điện tử khác ngoài mạng Internet như điện thoại, fax, telex đã được ghi nhận và quy định trong pháp luật của các nước cũng như của các điều ước quốc tế Vấn đề đặt ra hiện nay là việc điều chỉnh các hoạt động thương mại thực hiện thông qua các mạng lưới mở như Internet
Trang 19Một số khía cạnh pháp /ý về thương mại điện tử
III PHÂN LOẠI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ:
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta phân loại thương mại điện tử theo một số yếu tố như dựa vào chủ thể tham gia, các giai đoạn của một giao dịch Hiện nay có các cách phân loại sau:
1 Theo chủ th ể tham gia:
Nếu dựà trên yếu tố chủ thể tham gia vào giao dịch thương mại điện tử, chúng ta có thể phân chia thành 3 nhóm giao dịch chính sau đây:
- Giữa khu vực kinh doanh với kinh doanh
- Giữa khu vực kinh doanh với tiêu dùng
- Giữa các chính phủ/cơ quan công quyền - Doanh nghiệp/người dân
1.1 Thương mại điện tử trong khu vực kinh doanh
Đây là các giao dịch giữa các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh vớỉ nhau thông qua các phương tiện diện tử Hiện nay Thương mại điện tử trong khu vực này phát triển mạnh mẽ nhất Lý do để các doanh nghiệp lựa chọn phương thức giao dịch này không gì khác ngoài các lợi ích mà thương mại điện tử đem lại được nêu tại phần trên Những giao dịch kiểu này đã được các doanh nghiệp thực hiện từ cách đây khá lâu khi Internet chưa ra đời thông qua điện thoại, fax, các mạng lưới chuyên dùng giữa các bạn hàng quen biết nhau hay ngay trong nội bộ các doanh nghiệp Nhưng ngày nay thương mại điện tử trong khu vực này không chỉ còn giói hạn trong nội bộ doanh nghiệp hay các mạng chuyên dùng mà đã mở rộng đáng kể thông qua mạng Internet.
1.2 Thương mại điện tử giữa khu vực doanh nghiệp, kinh doanh uà người tiêu dùng:
Các hoạt động thương mại điện tử thuộc loại này thường tập trung vào việc mua bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tới người tiêu dùng Đó có thể là mua bán hàng trực tiếp giữa người tiêu dùng với các nhà sản xuất nhưhg cũng có thể thông qua các nhà trung gian như các siêu thị ảo.
THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HOCLỤẬT HÀ NỘI 17
Trang 20M ộ t s ố khía cạ n h p h á p lỷ uề th ươ n g mại đ iệ n tủ
Thương mại điện tử phục vụ người tiêu dùng đã xuất hiện từ nhiều năm trước dưới dạng bán hàng từ xa, hoặc dịch vụ ngân hàng từ xa Những quan
hệ này trước đây được điều chỉnh bởi từng ngành luật riêng biệt và không khác nhiều so với hình thức thương mại tiêu dùng truyền thống Tuy nhiên, hiện nay Thương mại điện tử tiêu dùng đang phát triển một cách mạnh mẽ nhất nhờ có sự bùng nổ của Internet và các ứng dụng của nó
1.3 Chính phủ/cơ quan quản \ỷ nhà nước - Doanh nghiệp/ người dân:
Thông qua việc cung cấp các dịch vụ công chứng, mã hoá, chứng thực cho các bên trong các giao dịch thực hiện qua phương tiện điện tử, các cơ quan quản lý nhà nước/ cơ quan công quyền có thể là một bên thứ ba trong các giao dịch thương mại điện tử Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng có thể sử dụng các phương tiện điện tử để thực hiện các chức năng hiện nay của mình như việc nhận hồ sơ, cấp xác nhận, giấy phép, thu thuế và
lệ phí
2 Thương mại điện tử trực tiếp và thương mại điện tử gián tiếp:
Một giao dịch thương mại điện tử sẽ được tiến hành qua ba giai đoạn chính như sau:
- Giai đoạn tìm kiếm (đối tác, khách hàng, hàng hoá, sản phẩm hay dịch vụ .)
- Giai đoạn đặt hàng và thanh toán
- Giai đoạn giao nhận hàng hoá/dịch vụ
Nếu phân biệt theo các giai đoạn tiến hành một giao dịch thì Thươngmại điện gồm hai loại chủ yếu: Thương mại điện tử trực tiếp và thương mạiđiện tử gián tiếp
khâu trong giao dịch thương mại trên các phương tiện điện tử hoặc qua các phương thức điện tử và bên cạnh đó là một số khâu còn lại của giao dịch vẫn phải thực hiện theo phương thức truyền thống như việc giao nhận qua các kênh phân phối hoặc qua các dịch vụ bưu chính hay các nhà vận chuyển
Trang 21M ộ t s ố khía cạnh p h á p lý ưề th ươ n g mại diện tủ
thương mại Thương mại điện tử gián tiếp thường được thực hiện với các hàng
hoá hữu hình
hàng hoá và dịch vụ vô hình trên mạng ví dụ như phần mềm máy tính, các
chương trình giải trí, hoặc cung cấp thông tin trên phạm vi toàn cầu Toàn bộ
các giai đoạn từ khâu tìm kiếm cho tới khi giao nhận và thanh toán đều được
thực hiện trên mạng máy tính
Thương mại điện tử gián tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài
khác, như hiệu quả của hệ thống phương tiện giao thông vận tải Thương mại
điện tử trực tiếp cho phép thực hiện các giao dịch điện tử từ đầu tới cuối qua
biên giới về mặt địa lý, khai thác được toàn bộ tiềm năng của thị trường toàn
cầu Tuy nhiên ta có thể nhận thấy rõ ràng rằng thương mại điện tử dù dưới
hình thức trực tiếp hay gián tiếp đều mang đến những cơ hội nhất định cho
các chủ thể tham gia, đặc biệt là các doanh nghiệp và người tiêu dùng
CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Thương mại điện tử thực sự là một thị trường đang phát triển Trong
môi trường chuyển động và thay đổi nhanh chóng ta có thể thấy rõ sự tác
động của nó tới cuộc sống của con người, tới sự phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia và của toàn thế giới Thương mại điện tử mang đến cho các công
ty/doanh nghiệp cũng như cho người tiêu dùng những lợi ích và cơ hội đáng
kể
1 Những thuận lợi:
Mang đặc tính của một thị trường mở toàn cầu, Thương mại điện tử sẽ
có nhiều thuận lợi để phát triển vì nó mang đến những cơ hội to lớn cho nền
kinh tế thế giới nói chung và kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Với các lợi
thế về mặt giá cả, thời gian, thương mại điện tử đang là hình thức được cả các
doanh nghiệp và người tiêu dùng lựa chọn để thay thế cho các hình thức
Trang 22M ộ t s ố khía cạ n h p h á p /ý về thương mại diện tử
thương mại truyền thống Ta có thể điểm qua một số lợi ích mà thương mại điện tử mang đến như sau:
- G óp phần thay đổi nền kinh tế: Trước tiên là thương mại điên tử
có thể góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh thế, rút ngắn khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giảm bớt các khâu trung gian, phân phối trong các hoạt động thương mại truyền thống Thương mại điện tử có thể cải tiến cách thức quản lý các hoạt động và giao dịch thương mại cũng như sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế Nó mang lại khả năng hồi đáp nhanh chóng, độ tin cậy cao và tất nhiên là giảm chi phí Thương mại điện tử giảm thiểu các hạn chế tham gia thị trường, mở rộng thị trường hiện có và tạo nên các lĩnh vực kinh doanh mới đặc biệt là trong lĩnh vực hàng hoá vô hình
Như vậy có thể thấy rõ sự tăng trưởng của thương mại điện tử sẽ dẫn tới những thay đổi cơ bản về mặt cơ cấu nền kinh tế Và nếu xét dưới khía cạnh pháp lý, những thay đổi về cơ cấu kinh tế cũng sẽ dẫn đến những thay đổi về hệ thống pháp luật
- Tạo k h ả năng tham gia thi trưòng toàn cầu: Thương mại điện
tử cho phép tất cả mọi người cùng tham gia, từ các cá nhân tới các tập đoàn
đa quốc gia, từ khu vực đô thị tới những vùng xa xôi hẻo lánh, từ những nước phát triển tới những nước đang phát triển, cho phép phát triển các hình thức thương mại giữa các cá nhân, những người sử dụng có thể tự có được nhữhg thu nhập nho nhỏ từ các nội dung mà họ đưa lên các trang chủ Ví dụ như một học sinh lập trình được một trò chơi có thể tạo nên một trang web cho riêng mình để rao bán sản phẩm trò chơi đó của mình Thương mại điện tử tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi tham gia vào thị trường
- Tạo cò hội kinh doanh m ối, sản phẩm, hàng hoá dịch vụ mối
Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành Ví dụ như các nhà trung gian ảo được thiết lập để cung cấp các dịch vụ gia tăng giá trị - như môi giới, tìm kiếm và làm trọng tài cho giới kinh doanh và người tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành cung cấp hàng hoá dịch vụ thông qua mạng lưới máy tính
Trang 23M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý ưề th ư ơ n g mại điện tử
khách hàng/người tiêu dùng với người bán/nhà cung cấp cũng đã được cải
thiện thông qua các hình thức của thương mại điện tử Người tiêu dùng sẽ
được hưởng lợi khi họ có được nhiều sự lựa chọn hơn qua việc so sách về giá
cả, về phương thức giao hàng, thanh toán
Về bản chất, thương mại điện tử mang tính xuyên quốc gia và nó
khuyến khích việc đặt hàng cũng như giao nhận hàng hoá và dịch vụ qua biên
giới Như vậy Thương mại điện tử sẽ trực tiếp tác động tới môi trường cạnh
tranh toàn cầu Ngược lại, thị trường toàn cầu cũng tạo điều kiện cho thương
mại điện tử phát triển ở nhiều lĩnh vực kinh doanh mới với hàng tỉ người tiêu
dùng
Tại Việt Nam, Thương mại điện tử mới chỉ bắt đầu được để ý tới trong
một hai năm gần đây Tuy nhiên Thương mại điện tử đã và đang mang tới
những khích lệ đáng kể cho những người đã tham gia và nhũhg người mới
tham gia vào thị trường này Các doanh nghiệp của Việt Nam đang ngày
càng biết tận dụng các cơ hội kinh doanh trên mạng để mở rộng hoạt động
và tăng doanh thu Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là những đơn vị biết
tự huy động các nguồn vốn cho mình thông qua các cơ hội do những trang
chủ trên mạng Internet mang đến mà trước đây chưa từng có để xâm nhập
vào thị trường toàn cầu
Công ty dệt Thành Công tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong
những doanh nghiệp Việt Nam áp dụng thành công phương thức kinh doanh
mới mẻ này Công ty đã khai trương trang web đầu tiên của mình vào năm
1997 thông qua Công ty Phương Nam (một đơn vị cung cấp dịch vụ internet)
để giới thiệu về sản phẩm và năng lực của công ty cũng như các đơn vị thành
viên Kết quả là tới cuối năm 1998, Công ty đã có được năm khách hàng
thay vi trước đây chỉ có một Doanh thu của Công ty đã tăng từ 700-800
ngàn đô la Mỹ lên 3 triệu đô la Mỹ9
9 T h e o “V ietnam E conom ic N ew s”, s ố 15, ngày 1 2 - 1 8 / 4 / 1 9 9 9 trang 14.
Trang 24M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý về th ươ n g mại điện tử
2 Những khó khăn:
Cùng với những cơ hội và các thuận lợi, thương mại điện tử cũng mang đến những thách thức và khó khăn cần được tháo gỡ trong đó có những khó khăn chủ yếu sau:
- Về mặt kỹ thuật công nghệ: nhu cầu về một cơ sở hạ tầng viễn thông đủ năng lực để hỗ trợ cho sự phát triển của thương mại điện tử, vấn đề xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển mạng Internet cũng như những giải pháp đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của thương mại điện tử
- Về mặt thương mại: yêu cầu về một hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử an toàn và phổ biến được đặt lên hàng đầu, bên cạnh đó là hệ thống thuế công bằng và hữư hiệu, cũng là nhữhg vấn đề đặt ra cho các nước mong muốn phát triển thương mại điện tử, đặc biệt là Việt Nam khi mà thói quen thanh toán vẫn phổ biến là sử dụng tiền mặt
- Về mặt pháp lý: Một trong những khó khăn thách thức trước mắt
cần được giải quyết ngay đó là xây dựng một khung pháp luật cho các hoạt động thương mại tiến hành thông qua các phương tiện điện tử và đặc biệt là thông qua mạng Internet Khung pháp luật này sẽ được áp dụng để điều chỉnh chung cho các hoạt động thương mại nói chung và giao dịch thương mại điện tử nói riêng, không phân biết nhằm mục đích tiêu dùng hay kinh doanh
- Về văn hoá xã hội: Thói quen tiêu dùng của người, Ngôn ngữ sử dụng trên Internet chủ yếu là bằng Tiếng Anh và điều này có thể làm hạn chế
sự phát triển của thương mại điện tử; Sự lo ngại về ảnh hưởng đối với đạo đức, chính trị xã hội thông qua những nội dung được đưa lên trên mạng
Trong những thách thức và khó khăn nêu trên, việc xây dựng khung pháp luật là một trong những yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử Khi xây dựng khung pháp luật cho thương mại điện tử, có thể mỗi quốc gia có một cách tiếp cận riêng hoặc áp dụng nhiều biện pháp lập pháp khác nhau như: sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc
Trang 25M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý uề th ươ n g mại diện tủ
ban hành mới Tuy nhiên để làm tốt được điều nay thì tất cả đều phải tìm ra được những vướng mắc cũng như các trở ngại của các quy định pháp luật hiện hành khi chúng được áp dụng để điều chỉnh những quan hệ thương mại thực hiện theo phương thức mới - Thương maị điện tử
V NHỮNG VẤN ĐỂ PHÁP LÝ TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠIĐIỆN TỬ
Để xây dựng được một khung pháp luật điều chỉnh các giao dịch thương mại điện tử hoàn thiện thì cần phải giải quyết được hàng loạt vấn đề pháp lý đặt ra trong các giao dịch theo phương thức này khi áp dụng các quy định pháp luật hiện hành để điều chỉnh chúng Như đã nêu trong Lời mở đầu
về phạm vi nghiên cứu, phần sau đây chỉ đề cập tới các vấn đề pháp lý đặt ra đối với các giao dịch thương mại thực hiện thông qua mạng Internet
Các vấn đề được coi là trở ngại và khó khăn về mặt pháp lý cho sự phát triển của thương mại điện tử chủ yếu tập trung vào:
- An toàn và đảm bảo độ tin cậy cho các giao dịch
- Đảm bảo bí mật đối với thông tin của người sử dụng
- Luật hợp đồng: trong đó có các vấn đề về hình thức hợp đồng, chứng cứ, thời gian địa điểm giao kết hợp đồng
- Quyền sở hữu trí tuệ
- Bảo về người tiêu dùng
- Thuế và hải quan
- Giải quyết tranh chấp
- Trách nhiệm của bên thứ ba trong giao dịch (Nhà cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ kết nối, dịch vụ chứng thực, xác nhận .)
Trang 26M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý uề thương mại điện tử
1 Sự an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch thương mại điện tử
An toàn và đáng tin cậy là các yếu tố mà ngưởi sử dụng Internet và các phương tiện điện tử cân nhắc để quyết định lựa chọn phương thức hiện các giao dịch thương mại Nếu người sử dụng Internet không tin rằng các thông tin về giao dịch của họ được đảm bảo an toàn, không bị sửa đổi, tránh khỏi những hành động truy nhập vào thông tin đó một cách trái phép thì họ sẽ không sử dụng thương mại điện tử
Để đảm bảo được điều này, chúng ta cần có một cơ sờ hạ tầng viễn thông an toàn và đáng tin cậy để phục vụ cho các hệ thống thông tin trên đó, kèm theo là các phương tiện bảo vệ hữu hiệu các thông tin này nhằm bảo vệ các dữ liệu tránh khỏi việc sử dụng trái phép, cùng với một hành lang pháp lý đầy đủ định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia và chính bản thân người
sử dụng cũng phải học được cách tự bảo vệ mình qua các biện pháp kỹ thuật
Mã hoá chính là một trong các công cụ để đảm bảo sự an toàn cho các giao dịch thương mại điện tử Tuy nhiên việc sử dụng phương thức mã hoá có thể đặt ra một số vấn đề về mặt pháp lý như bọn tội phạm có thể dùng biện pháp này để gây khó khăn cho các cơ quan tư pháp khi muốn lấy thông tin liên quan tới các vi phạm hay tội phạm, hay chính các công cụ mã hoá cũng
có thể gây khó khăn cho chính người sử dụng chúng khi mà họ quên mất cách giải mã và như vậy thi có thể sẽ mất đi những thông tin quan trọng10
Sử dụng mã hoá trong giao dịch thương mại điện tử tuy chủ yếu dựa trên các giải pháp vể mặt kỹ thuật nhưng cũng cần được điều chỉnh bằng pháp luật để đảm bảo cho người sử dụng bảo vệ được các thông tin của mình đồng thời cũng cho phép các cơ quan nhà nước trong những trường hợp cần thiết có thể truy nhập vào các thông tin này phục vụ cho hoạt động quản lý của mình Đây chính là yếu tố tạo nên sự tin cậy về độ an toàn của thương mại trên internet
10 X em "A F ram ew o rk for Global Electronic C om m erce", P resident William J C linton, p h ần
C ác vấn đề p h á p lý.
Trang 27M ộ t s ố khía cạnh p h á p ìỷ về th ươ n g mại điện tử
2 Đảm bảo bí mật cho thông tin cá nhân của người sử dụng:
Thông tin về cá nhân của một người được pháp luật tất cả các nước tôn trọng Các cá nhân đều có quyền được đảm bảo bí mật các thông tin về đời tư của mình Pháp luật Việt nam cũng đã ghi nhận quyền này tại Điều 34 Bộ Luật dân sự Các quyền này cần phải được đảm bảo trong thương mại điện tử
Khi thực hiện các giao dịch trong môi trường mạng máy tính, Internet, các chủ thể tham gia giao dịch đó thường được yêu cầu phải khai báo các thông tin về cá nhân mình do đặc điểm của loại giao dịch này là các chủ thể thường không quen biết nhau trước Các thông tin này rất dễ bị một bên thứ
ba lấy để sử dụng cho các mục đích của họ, có thể chỉ là để gửi các quảng cáo, thực hiện việc khảo sát thị trường nhưng thường là không được phép của người có thông tin liên quan Do vậy pháp luật cần quy định rõ nghĩa vụ của các bên tham gia trong giao dịch thương mại điện tử đối với các thông tin của mỗi chủ thể
3 Bảo vệ người tiêu dùng
Quan hệ giữa các bên chủ thể trong giao dịch thương mại điện tử là sự gặp gỡ từ xa, có thể đã biết nhau hoặc chưa bao giờ gặp nhau Đặc điểm này của thương mại điện tử có thể mang đến nhữhg rủi ro cho các chủ thể tham gia giao dịch đặc biệt là đối với người tiêu dùng, người luôn được coi là bên yếu thế hơn trong các giao dịch
ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều có các quy định
riêng bảo vệ người tiêu dùng Mới đây Việt nam cũng đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng11 Tuy nhiên với những tính chất của thương mại điện tử như không gặp gỡ trực tiếp giữa các bên chủ thể, một thị trường
mở toàn cầu, có sự tham gia của một bên thứ ba thì pháp luật của từng quốc gia riêng biệt sẽ không đủ và không thể áp dụng cho tất cả các giao dịch mà người cung cấp hàng hoá - dịch vụ và người tiêu dùng lại ở những vùng thẩm quyền tài phán khác nhau
11 P h á p lệnh B ảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được u ỷ b an T hư ờng vụ Q uốc hội b an h à n h ngày 2 7 / 4 / 1 9 9 9 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 / 1 0 / 1 9 9 9
Trang 28M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý về th ươ n g mại diện tử
4 Các vẫn đề về luật hợp đổng:
Luật hợp đồng là một trong những vấn đề vướng mắc và gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của thương mại điện tử Có rất nhiều vấn đề đặt ra liên quan tới Luật hợp đồng khi áp dụng đối với các giao dịch thương mại điện tử như: chữ ký, hình thức văn bản, bản gốc, thời gian và đja điểm giao kết hợp đồng, giá trị hiệu lực của hợp đồng
Theo pháp luật, hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự nhất trí
về các điều kiện với nhau trừ một số loại hợp đồng cần được thực hiện thông qua một số thủ tục mà pháp luật yêu cầu ví dụ như: hợp đồng viết, công chứng, đăng ký Như vậy, theo quy đính của hầu hết các hệ thống phát luật trên thế giới cũng như của Việt nam12 hợp đồng có thể được giao kết miệng hoặc bằng văn bản Do đó các hợp đồng được giao kết qua các phương tiện thông tin điện tử cũng phải được công nhận về mặt giá trị pháp lý
Tuy vậy, khi áp dụng các yêu cầu của pháp luật về hợp đồng vào các giao dịch thương mại điện tử thì có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét và cũng xuất hiện nhữhg khó khăn, đặc biệt là đối với các yêu cầu về hình thức văn bản, về chữ kỹ, về bản gốc, về giá trị chứng cứ, thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng
Yêu cầu về hình thức "Văn bản" (viết)
Hầu hết pháp luật các nước và các công ước quốc tế đều chứa đựng các quy đính yêu cầu một số giao dịch nhất định phải được thực hiện bằng văn bản hoặc một số thông tin nhất đính phải thể hiện dưới hình thức văn bản
Hình thức văn bản được yêu cầu với rất nhiều lý do khác nhau như: đối tượng của giao dịch là tài sản có đăng ký Nếu như yêu cầu này là điều kiện
để một hợp đồng có giá trị về mặt pháp lý thì việc không tuân theo quy định
đó sẽ làm cho giao dịch này trở thành vô hiệu
12 Điều 1 3 3 và Điều 4 0 0 Bộ Luật D ân sự, Điều 4 9 Luật T hương mại.
Trang 29M ộ t s ố khía cạ n h p h á p lý về th ươ n g mại điện tủ
Mặt khác, nếu hình thức văn bản được yêu cầu nhằm mục đích chứng
cứ thì việc không có văn bản nói chung sẽ không ảnh hưởng tới giá trị pháp
lý của hợp đồng nhưng lại ảnh hưởng tới khả năng bảo vệ lợi ích của các bên khi có tranh chấp
Như vậy quy định hình thức văn bản là điều kiện có giá trị pháp lý cho các giao dịch thương mại là một trở ngại đối với sự phát triển của thương mại điện tử Các tệp dữ liệu điện tử sẽ không thể được sử dụng để hoàn tất một giao dịch hợp pháp khi nào mà quy định này vẫn còn chưa được sửa đổi cho phù hợp
Các công ước quốc tế được thông qua trong những năm gần đây không chứa đựng các quy định yêu cầu bắt buộc về hình thức, như yêu cầu về hình thức “văn bản” hoặc chữ ký tay Công ước của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, 1980, đặc biệt quy định “một hợp đồng mua bán không cần phải được giao kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhân chứng.”13 Một số công ước như Quy tắc Hăm Buốc (Hamburg) và Công ước vận chuyển đa phương thức quy định một khái niệm mở và rất đa diện về “văn bản” gồm cả telegram và telex14 Tương tự như vậy, theo Công ước của UNIDROIT về Bao tiêu nợ Quốc tế, 1988, khái niệm “thông báo bằng văn bản” gồm nhưng không giới hạn bởi: telegram, telex và bất kỳ hình thức viễn thông nào có thể được tái chế bản dưới dạng hữu hình15
Tuy nhiên pháp luật trong nước cũng như pháp luật quốc tế thường dẫn chiếu “văn bản” hoặc “tài liệu” mà không đưa ra một định nghĩa về thuật
13 Đ iều 11 Tuy nhiên C ông ước cho p h é p các nước th à n h viên (ký kết) được đlte ra những quy đính khác với những quy định n ày c h o các h ợ p đồ n g liên quan tới lãnh th ổ của m ình bằng cách tuyên b ố là tất cả các h ợ p đồ n g phải được th ể hiện bằng văn bản X em điều 12
Trang 30M ộ t s ố khía cạ n h p h á p ìý uề th ươ n g mại diện tử
ngữ này Trong trường hợp đó, giả thiết rằng một văn bản tài liệu do người soạn thảo tạo nên như là một dạng thể hiện duy nhất có thể16
Một số nước đã ban hành hoặc đang trong quá trình chuẩn bị các quy định pháp luật để tạo điều kiện cho thương mại điện tử bằng cách loại bỏ những yêu cầu về hình thức trong pháp luật của nước mình ví dụ như Luật Mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL
Yêu cầu về chữ ký
Chữ ký hoặc các hình thức chứng thực khác là yêu cầu phổ biến để tạo nên đặc điểm của bên kỹ kết và ràng buộc họ với nội dung của tài liệu Hình thức chứng thực phổ biến nhất theo yêu cầu của pháp luật là chữ ký tay Tuy nhiên, hiện nay ngày càng nhiều hệ thống pháp luật quốc gia và các công ước quốc tế cho phép chữ kỹ được thực hiện dưới dạng chứng thực khác như dán tem, đột lỗ hoặc fax, hoặc bằng phương tiện điện tử
Trong thương mại quốc tế, các quy định về chữ ký đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển công nghệ thông tin Ví dụ Quy tắc Hambourg nêu “chữ ký trên vận đơn có thể là viết tay, in trên fax, đột lỗ, dán tem, bằng kỹ hiệu, hoặc bằng bất kỳ phương tiện hoá học hay điện tử, nếu không trái với pháp luật của nước nơi phát hành vận đơn”17 Công ước về Trách nhiệm của Nhà khai thác cảng vận chuyển lại có cách tiếp cận khác,
nó cho phép chữ kỹ theo yêu cầu được thể hiện dưới dạng “chữ ký tay”, bản fax hoặc một dạng chứtìg thực tương đương của nó thực hiện bằng phương tiện điện tử18
Các cuộc nghiên cứu do nhiều tổ chức như UNCITRAL và uỷ Ban Châu Âu thực hiện đã chỉ rõ rằng những yêu cầu về mặt pháp lý đối với chữ
16 X em tài liệu của EC E về “N hững khía c ạn h p h á p lý của EDI: X em xét về Khái niệm “V ăn
b ả n ”, “ch ữ ký” và “tài liệu” n êu trong C ông ước và T h o ả th u ận Đ a phương về T hư ơng mại quốc t ế ’, T R A D E /W P 4 /R 1 0 9 6 , 7 / 1 9 9 4 , p h ầ n 1 1 3 ”
17 Đ iều 14 (3) C ô n g ước vận chuyển đa phương thức chứa đựng m ột điều khoản về nh ận
d ạng (xem điều 5 (3)).
18 Đ iều 4 (4) C ô n g ước T rách nhiệm của N hà khai th ác cảng vận chuyển.
Trang 31M ộ t s ố khía cạnh p h á p lỷ ưề thương mại điện tử
ký trên tài liệu được sử dụng trong thương mại quốc tế được coi là trở ngại chính cho sự phát triển thương mại điện tử Thực tế là yêu cầu này liên quan chặt chẽ với việc sử dụng tài liệu trên giấy tờ truyền thống và chính bản thân
nó đã tạo nên rào cản cho việc sử dụng phương tiện điện tử trong các hoạt động thương mại
Do vậy, các nước cũng như các tổ chức thương mại quốc tế đã có các
cố gắng nhằm khuyến khích xoá bỏ yêu cầu bắt buộc trong pháp luật quốc gia và quốc tế đối với chữ ký tay Một số các tổ chức đã khuyến nghị “các chính phủ và các tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm về các thoả thuận đa phương nghiên cứu quy định quốc gia và quốc tế thể hiện các yêu cầu đối với chữ kỹ trên các tài liệu cần thiết trong thương mại quốc tế và xem xét việc sửa đổi những quy định này để các thông tin chứa đựng trong đó có thể được chuẩn bị và truyền đi bằng các phương tiện điện tử hoặc phương thức truyền
dữ liệu tự động khác, và các yêu cầu về chữ ký có thể được đáp ứng qua việc chứng thực có bảo đảm bằng các phương tiện sử dụng trong truyền dẫn”19
Vấn đề chữ ký đã dành được sự quan tâm của rất nhiều các tổ chức chuyên môn về công nghệ kỹ thuật cũng như các cơ quan lập pháp Đến nay
đã có một số các giải pháp được đưa ra để tháo gỡ vấn đề này như: chữ ký điện tử hay còn gọi là chữ ký số hoá Nhiều nước đã thừa nhận chữ kỹ điện tử
và quy đính vào luật pháp nước mình thành một đạo luật riêng biệt hoặc là bổ sung các điều khoản quy định về loại hình chữ ký mới này
Về vân đề bản gốc:
Yêu cầu về một thông tin hay tài liệu nhất định được thể hiện dưới dạng ban đầu cũng là một trở ngại cho sự phát triển của thương mại điện tử Thêm vào đó, khái niệm “văn bản”, ”chữ ký”, ”bản gốc” có mối quan hệ chặt chẽ Bản gốc có thể được yêu cầu để đảm bảo tính nguyên vẹn của một tài liệu và thông tin được thể hiện trong một tài liệu đã không bị thay đổi Đối với các tài liệu về quyền sở hữu và giấy tờ có giá, như vận đơn, khi quyền đi liền với việc chiếm hữu tài liệu đó, thì điều cơ bản là đảm bảo được rằng bản gốc ở
trong tay của người có quyền sở hữu hàng hoá thể hiện trong đó
19 K huyến nghị s ố 14, E C E /T R A D E /2 0 0 , T R A D E /W P 4 /T N F 6 3
Trang 32M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý uề th ươ n g mại điện tủ
Trong môi trường điện tử, con người có thể tạo nên sự khác biệt giữa bản gốc và bản sao “Nếu một tệp dữ liệu được truyền từ một máy tính này tới
một máy tính khác thì một chuỗi ký hiệu có thể được gọi là bản gốc, và sự khác nhau giữa một bản gốc và một bản sao là không thể phân biệt được”20 Điều quan trọng là một tệp dữ liệu được một người cụ thể tạo ra đã không bị thay đổi; hay nói cách khác, điều cơ bản là sự nguyên vẹn và tính chính xác của tệp dữ liệu Hàng loạt các vấn đề kỹ thuật hiện có (ví dụ như kỹ thuật về chữ ký kỹ thuật số) đang được sử dụng để khẳng định sự nguyên vẹn và tính chính xác của tệp dữ liệu
Về thời gian và đia điểm giao kết hóp đổng:
Thời gian giao kết hợp đồng được coi là một trong những yếu tố để xác định thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng khi không có sự thoả thuận của các bên trong một giao dịch thương mại truyền thống Trong môi trường mạng máy tính, các bên trong giao dịch thương mại trực tuyến không trực tiếp gặp gỡ nhau mà giữa các bên thường có một khoảng cách nhất định và hơn nữà không đòi hỏi các bên phải quen biết nhau từ trước
Địa điểm giao kết hợp đồng lại là một trong những căn cứ cũng có thể được sử dụng để xác định luật điều chỉnh cho một giao dịch Trong giao dịch thương mại điện tử, các bên tiếp xúc với nhau trong môi trường ảo, do vậy nếu xác đính đ|a điểm giao kết hơp đồng theo các quy định hiện hành thì trong rất nhiều trường hợp sẽ không hoàn toàn phù hợp vì địa chỉ trên Internet không thể hiện được nơi CƯ trú hay nơi có trụ sở của các bên Đi đến đâu, dù ở bất kỳ nước nào mọi người đều có thể truy nhập vào Internet và thực hiện các giao dịch
Như vậy vấn đề đặt ra là cần phải có những quy định cụ thể giúp cho các chủ thể trong một quan hệ giao dịch xác định thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng khi không thoả thuận trước hoặc không thoả thuận được với nhau Và những quy định này cần được xem xét và xây dựng trên cơ sở có sự thống nhất trên phạm vi toàn cầu
;’° TED1S, P h ầ n II, “B áo cáo về C hứng thực, lưu giữ và s ử dụng m ã trong EDI”, tập 1,
1 9 9 5 , trang 10.
Trang 33M ộ t s ố kh ía cạnh p h á p /ý uề thương mại điện tủ
Luật điều chỉnh:
Liên quan tới Luật điều chỉnh trong thương mại điện tử đã có không ít các ỹ kiến khác nhau Chọn luật điều chỉnh là quyền của các bên tham gia trong quan hệ hợp đồng, tuy nhiên khi thực hiện quyền này các bên đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định của mỗi hệ thống pháp luật có liên quan như luật nơi giao kết, luật nơi thực hiện, luật nơi CƯ trú Với thương mại điện tử , một giao dịch có thể được điều chỉnh bởi rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Có thể lấy ví dụ như: bên mua và bên bán thuộc hai hệ thống luật khác nhau, nhà cung cấp dịch vụ mạng (máy chủ) đặt ở một nước thứ ba, ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán cho hai bên lại nằm ở
những nước khác nhau nữa
Hiện nay có rất nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế cũng như các nước đang phát triển khuyến khích phương thức tự điều chỉnh, tức là sử dụng các quy tắc của một ngành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực đó Phương thức tự điều chỉnh được áp dụng song song với việc ban hành các quy định pháp luật ở mỗi quốc gia Tự điều chỉnh không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mà nó cũng đã được sử dụng trong hoạt động thương mại quốc tế
và một số ngành, lĩnh vực nhất định, đặc biệt là những ngành thường xuyên
có các yếu tố mới như công nghệ thông tin truyền thông điện tử
5 Chứng cứ
Một tệp dữ liệu điện tử trước khi được in ra trên giấy đã được tạo nên trong máy tính và truyền đi từ người gửí tới người nhận Không giống như các chứng cứ trên giấy truyền thống với đặc tính không thể sao chép hoặc thay đổi, đặc tính của tệp dữ liệu là có khả năng sửa chữa được một cách dễ dang
và không để lại dấu vết gì trên đó trừ khi người ta áp dụng một số biện pháp
kỹ thuật như tem thời gian, chữ ký kỹ thuật số Tuy nhiên các giải pháp kỹ thuật lại cũng liên tục phát triển và ngày càng tiến bộ cho nên các biện pháp đảm bảo trước đây rất có thể bị vô hiệu hoá bởi các giải pháp ra đời sau đó
Khả năng được công nhận giá trị về mặt chứng cứ của các thông tin và
dừ liệu điện tử trong thủ tục tố tụng tư pháp và hành chính đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử Một số hệ thống pháp luật
Trang 34M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý về thương mại diện tử
của các nước có các nguyên tắc pháp lý tương đối linh hoạt để đánh giá về khả năng được công nhận là bằng của tệp dữ liệu Bên cạnh đó thì cũng có một số hệ thống pháp luật lại áp dụng những nguyên tắc tương đối chặt chẽ đối giá trị chứng cứ của tệp dữ liệu và trong nhiều trường hợp tệp dữ liệu có khả năng không được chấp nhận như là một chứng cứ trong tố tụng
Để giải quyết vấn đề chứng cứ trong thương mại điện tử áp dụng cho hoạt động thương mại quốc tế, UNCITRAL đã khuyến nghị các chính phủ:
“Xem xét các nguyên tắc pháp lý ảnh hưởng tới việc sử dụng bản ghi máy tính như là chứng cứ trong quá trình tố tụng nhằm xoá bổ những trở ngại không cần thiết đối với việc công nhận chúng, để đảm bảo những nguyên tắc
đó phù hợp với sự phát triển của công nghệ, và để cung cấp các phương tiện thích hợp cho toà án khi đánh giá độ tin cậy của dữ liệu trong các bản ghi.21”
Một số nước đã hoặc đang trong quá trình sửa đổi pháp luật trong nước nhằm cho phép công nhận các chứhg cứ dựa trên phương tiện điện tử, tuy nhiên trong hầu hết các hệ thống pháp luật của các nước chứng cứ điện tử vẫn là vấn đề đang được nghiên cứu và xem xét cùng với các giải pháp về mặt công nghệ
6 Trách nhiệm của các cơ quan trung gian
Trong giao dịch thương mại điện tử, bên cạnh các chủ thể tham gia giống như giao dịch thương mại truyền thống còn có thêm một bên thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực các cơ quan trung gian này đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một giao dịch thương mại điện tử vì họ chính là người chuyển đi hoặc lưu giữ các thông tin, các tệp dữ liệu đồng thời họ có thể cấp các chứng thực xác nhận độ tin cậy và chính xác của người gửi cũng như của tệp dữ liệu
Câu hỏi đặt ra là trách nhiệm của họ được quỵ định như thế nào và được giới hạn tới đâu đối với các thông tin mà họ nhận và gửi cũng như thông tin họ lưu giữ trong máy chủ ?
1 Báo cáo chính thức của Đại hội đồng, Phiên họp thứ 40, Tài liệu số 17 (A /40/17), đoạn 360.
Trang 35M ộ t s ố khía cạnh p h á p ìý về thương mại điện tử
Pháp luật các nước hiện đang tiếp tục xem xét và nghiên cứu vấn đề này để dần dần hình thành nên nguyên tắc chung cho việc phân bổ trách nhiệm cho các nhà cung cấp dịch vụ loại này Tuy nhiên có một điểm chung
là chúng ta không thể bắt họ chịu trách nhiệm đối với những thông tin và nội dung do một bên thứ ba sử dụng dịch vụ mạng do họ cung cấp nhưng nằm ngoài tầm kiểm soát của họ
7 Thuế và hải quan:
Thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu là nguồn thu quan trọng của ngân sách Thu thuế là một trong đặc trứng của Nhà nước Như vậy việc thu thuế mang tính lãnh thổ quốc gia Trong khi đó, thương mại điện tử hay thương mại trên Internet lại mang tính toàn cầu và hầu như không có ranh giới về mặt địa lý trên các mạng thông tin
Trong những năm qua các nước đã phải trải qua các cuộc thương lượng, thậm chí có lúc rất gay gắt để giảm các loại thuế xuất nhập khẩu vì mọi người đều thấy rằng việc giảm thuế sẽ đem lại lợi ích cho bản thân nền kinh tế của các quốc gia và các chủ thể trong đó Đồng thời nó cũng giúp thúc đẩy hoạt động thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu
Đối với các giao dịch thương mại điện tử, việc thu thuế và quản lý xuất nhập khẩu sẽ một trong những thách thức đặt ra cho các quốc gia khi tham gia vào thương mại điện tử Việc thu thuế sẽ trở nên vô cùng khó khăn hay nói có thể nói là không thực hiện được đối với thương mại điện tử trực tiếp khi mà tất cả quá trình giao dịch đều được thực hiện trên các phương tiện điện tử, kể cả việc giao nhận hàng hoá
Các quy định pháp luật về thuế và hải quan hiện hành cũng như phương thức thu thế hiện nay sẽ không thể áp dụng một cách hữu hiệu vào thương mại điện tử được
Một số nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ đã đưa ra quan điểm về một môi trường thương mại điện tử phi quan thuế và sẽ thông qua các tổ chức hoặc diễn đàn quốc tế như WTO, OECD để xây dựng thành
Trang 36M ộ t s ố khía cạnh p h á p /ý ưề thương mại diện tử
nguyên tắc chung mang tính toàn cầu Tuy nhiên điều này sẽ khó được tất cả các nước chấp nhận một cách dễ dàng vì sẽ làm mất đi nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước của rất nhiều quốc gia và quan trọng hơn cả là các sản phẩm và dịch vụ có thể chuyển giao ngay trên môi trường điện tử (ví dụ: các phần mềm máy tính, các chương trình giải trí, âm nhạc, phim ảnh, trò chơi điện tử ) thì lại chủ yếu có xuất xứ từ các nước công nghiệp phát triển với các công nghệ cao Nếu áp dụng môi trường phi quan thuế đối với các sản phẩm và dịch vụ loại này thì người được lợi chính là các nước phát triển
và các doanh nghiệp của họ
Trong tuyên bố về thương mại điện tử toàn cầu tại Hội nghị Bộ trưởng ngày 2 0 /5 /1 9 9 8 , Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tuyên bố là các thành viên của tổ chức sẽ tiếp tục thông lệ hiện tại là không áp dụng thuế xuất nhập khẩu đối với việc truyền tải theo phương thức điện tử Tuyên bố này sẽ được xem xét ở các kỳ họp sau đó và được quyết định theo nguyên tắc hoàn toàn nhất trí của các thành viên22
8 Giải quyết tranh chấp:
Tranh chấp là điều không thể tránh khỏi trong các giao dịch thương mại Cùng với một cách thức tiến hành giao dịch thương mại mới thuận lợi hơn và nhanh chóng hơn, các tranh chấp cũng sẽ xảy ra nhiều hơn Điều này đòi hổi chúng ta phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp mới đáp ứng được yêu cầu của các chủ thể tham gia vào thương mại điện tử
Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Toà án và các phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống khác như trọng tài sẽ tạo nên không ít những khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp, vi phạm xảy ra liên quan tới các giao dịch thương mại điện tử mang tính không biên giới về mặt địa lý và đa dạng
về chủ thể cũng như hình thức giao dịch, từ những giao dịch có giá trị rất nhổ giữ những người tiêu dùng với nhau tới những giao dịch lớn giữa các công ty hàng đầu, đặc biệt là đối với các giao dịch mang mục đích tiêu dùng cá nhân Bên cạnh đó là vấn đề thi hành các phán quyết và quyết định của các cơ quan
22 X em tài liệu W T /M IN (9 8 )/D E C /2 của H ội nghị Bộ trưởng W TO , 1 8 - 2 0 / 5 / 1 9 9 8
Trang 37Một s ố kh ía cạnh p h á p /ý ưề thương mại diện tủ
giải quyết tranh chấp Các vấn đề liên quan tới giải quyết tranh chấp nêu trên
sẽ những khó khăn không nhổ đối với thương mại điện tử
Với những vấn để pháp lý được đặt ra trên đây, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đang tích cực xây dựng các quy định pháp luật để sửa đổi, bổ sung cũng như ban hành các đạo luật mới nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của thương mại điện tử trong phạm vi mỗi quốc gia cũng như để đáp ứng được các yêu cầu chung mang tính thống nhất trong một môi trường phi biên giới
Trang 38M ộ t s ố khía cạ n h p h á p /ý ưề thương mại điện tử
CHƯƠNG IITHƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
Thương mại điện tử mang đặc điểm phi biên giới quốc gia và vì thế nó tạo
ra một thị trường mở toàn cầu Việc nghiên cứư kinh nghiệm xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh Thương mại điện tử ờ các nước cũng như của các tổ chức quốc tế là rất cần thiết và sẽ giúp cho việc xây dựng khung pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam
Bên cạnh việc khuyến khích xu hướng tự điều chỉnh thì các nước đang rất
nỗ lực để xây dựng một khung pháp luật phù hợp điều chỉnh giao dịch thươngmại điện tử ở phạm vi quốc tế cũng có những cố gắng nhất định để tạo ra những quy định mẫu
I PHÁP LUẬT VỂ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ở MỘT s ố NƯỚC
1 Pháp Luật về Thương mại điện tử ỏ Singapore
Như chúng ta đã biết Singapore là một trung tâm thương mại quốc tế lớn trong khu vực Châu á Thái Bình Dương, là thành viên của Hiệp hội các
(ỊUỐC gia Đông Nam Á (ASEAN) Đồng t h ờ i Singapore cũng l à m ộ t nước c ó
nền công nghệ thông tin phát triển mạnh và đã có ý định trở thành trung tâm
về thương mại điện tử trong khu vực Nghiên cứu và tìm hiểu việc xây dựng khung pháp luật cho Thương mại điện tử của Singapore sẽ mang lại những kinh nghiệm có giá trị cho Việt Nam
Thương mại điện tử ở Singapore đã và đang phát triển một cách mạnh
mẻ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước này Nhận thức được điều đó, cùng với những nỗ lực trong việc nghiên cứu phát triển công nghệ, các giải pháp về mặt kỹ thuật thì Singapore đã xúc
Trang 39Một s ố khía cạnh p h á p /ý về thương mại điện tử
tiến việc xây dựng một khung pháp luật hỗ trợ cho các hoạt động giao dịch thương mại điện tử Một trong những nỗ lực đó là sự ra đời của Luật về giao dịch điện tử năm 1998 (Electronic Transaction Act 1998)
Luật về Giao dịch Điện tử 1998 của Singapore được ban hành nhằm mục đích giải quyết những vướng mắc, khó khăn về mặt pháp lý khi các chủ thể tham gia vào các giao dịch trong một môi trường không giấy tờ và không tiếp xúc trực tiếp với nhau Trong môi trường như vậy đòi hỏi phải có một phương thức công chứng và nhận dạng cá nhân đáng tin cậy để đảm bảo tính đúng đắn và chính xác của các giao dịch này
Luật về Giao dịch Điện tử của Singapore đõ được soạn thảo dựa trên các nguyên tắc:
• Cần phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế và các mô hình quốc tế để cóthể hoà nhập với khung pháp luật thương mại điện tử toàn cầu;
• Cần phải tránh quy định quá chặt chẽ;
• Cần phải linh hoạt và trung lập về mặt công nghệ để theo kịp với môi trường luôn thay đổi; và
• Pháp luật cần phải minh bạch và có khả năng tiên liệu trước
Mục tiêu mà Luật hướng tới ỉà:
ộ Thiết lập một Quy tắc thực hành23 chung để hỗ trợ cho các giao dịch thương mại điện tử;
0 Cung cấp một cơ sở hạ tầng về công chứng;
ộ Cho phép việc nộp đơn/hồ sơ và cấp phép điện tử ở các cơ quan quản lýnhà nước; và
0 Làm rõ trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng đối với nội dung của bên thứ ba
7i Code oí Conduct
Trang 40M ộ t s ố khía cạnh p h á p ỉỷ ưề th ươ n g mại diện tủ
Thiết lậ p m ộ t Quy tắc thực hành chung cho các giao dịch thương mại điên tử:
Để làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong giao dịch, thì cần có một Quy tắc thực hành chung nhằm hỗ trợ cho các giao dịch thương mại điện tử Mục tiêu đầu tiên của Luật là đưa ra những quy tắc thương mại trong đó chứa đựng các tính chất đặc trưng của những quy định mẫu quốc tế, đặc biệt là các quy định của Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử Quy tắc thực hành chung nằm trong Luật về Giao dịch Điện tử của Singapore cũng chứa đựng các điều khoản điều chỉnh việc giao kết hợp đồng qua các
nhận tệp tin điện tử Bên cạnh đó, Đạo luật còn quy đinh về giá trị pháp lý của các bản ghi và chữ ký điện tử cũng như độ an toàn của chúng
Cơ sở hạ tần g v ề công chứng:
Singapore đã và đang xây dựng một cơ sở hạ tầng về công chứng để
hỗ trợ cho việc sử dụng chữ ký điện tử/chữ ký kỹ thuật số Theo đó cơ quan công chứng sẽ xác nhận một mã khoá chứng thực có mối liên hệ với một cá nhân nhất định Một cơ quan công chứng có thể xác minh về một cá nhân nào đó trước khi cấp một chứhg thực dưới dạng Giấy chứng nhận kỹ thuật số Giấy chứng nhận này sau đó có thể được sử dụng để khẳng đính mã khoá chứng thực đó là của người này, cũng như để xác minh chữ ký của người đó
Cơ quan công chứng, với tư cách là nơi để các chủ thể tham gia thương mại điện tử gửi gắm sự tin cậy, cần phải tuân theo một số tiêu chuẩn và điều kiện kiểm soát nhất định Do vậy, cơ quan này sẽ phải tạo được sự tin cậy về dịch vụ công chứng mà họ cung cấp Các quy định trong Luật đã đưa ra một danh mục cấp phép tự nguyện Theo đó, chỉ những cơ quan công chứng được cấp phép và được phê chuẩn mới được hưởng lợi ích theo quy định của Đạo luật về chữ ký điện tử từ những giấy chứng nhận do các cơ quan này phát hành Ngoài ra, nếu các bên tham gia giao dịch đồng ý ràng buộc nhau bởi chữ ký theo những trình tự thủ tục thương mại hợp lý thì có thể được coi là
các trường hợp ngoại lệ