1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự trong cơ chế thị trường ở việt nam

92 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 7,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống pháp luật XHCN, các ngành luật có tính độc lập với nhau, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay không thể xác định được ranh giới bất di, bất dịch giữa các ngành luật đặc biệt

Trang 1

í CHẼ THỈ TRƯỜNG đ,VỈ£I.Ni

I

CAN THAC S Í L Ư Â T H O í* ■>

H Ấ NÓI - i g y g

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TU PHAP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Vũ T hị T u ấ t

MÓI QUẠN HỆ GIỮA LUẬT KINH TÊ VÀ LUẬT DÂN s ự

TRONG C ơ CHẼ THỊ TRƯỜNG Ồ VIỆT NẰM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Người hướng dẫn: PTS Hoàng Thế Liên

Viện trưởng Viện NCKH Pháp lý - Bộ Tư pháp

HÀ NỘI - 1998

L

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CH Ư Ơ N G I: MỘT s ố VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỂ h i ệ n

TÍNH ĐẶC THÙ TRONG M ố i QUAN HỆ GIŨÀ LUẬT

DÂN S ự VÀ LUẬT ICINH TẾ

1 Khái quát chung về luật dân sự, luật kinh tẽ

1.1 Khái quát chung về luật dân sự Việt Nam

1.2 Khái quát về luật kinh tế

2 Đặc trưng có tính lịch sử trong quan hệ giữa luật

dân sụ và luật kinh tẽ

3 Cơ c h ế kinh tê thị trường và vấn đề đặt ra trong

môi quan hệ giũa luật dân sụ và luật kinh tẽ

3.1 Cơ chế kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu cần tăng

cường vai trò của pháp luật

I3.2 Cơ c h ế kinh tế mới châm ngòi cho cuộc tranh luận

khoa học mới về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật

kinh tế

3.3 Luật kinh tế trong cơ chế mới theo quan điểm

chính thống hiện nay

CHƯƠNG II: TÍNH CHAT VÀ NỘI DUNG CỦA M ố i

ỌUAN HỆ GIỮA LUẬT DÂN S ự V À LUẬT KINH T Ế

í Tính chất của mối quan hệ này

2 Sụ tưưng đồng và sụ khác biệt giũa luật dân sụ và

Trang

4

88

9 14 17

Trang 4

luật kinh tẽ 4 2

2.1 Sự tương đồng giữa luật dân sự và luật kinh tế 4^

2.2 Sự khác biệt giữa luật dân sự và luật kinh tê £^Q

3 Sự tác động qua lại giữa luật dân sự và luật kinh té 5 3

3.1 Sự tác động của luật dân sự đối với luật kinh tế ^

3.2 Sự tác động của luật kinh tế đối với luật dân sự 74

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ MỘT s ổ KIÊN NGHỊ 78

t

I

3

Trang 5

PHẨN MỞ ĐẨU

1 T ín h cấp thiết của đề tài

Sự ra đời của Nhà nước và pháp luật là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Cả phương diện lý luận và thực tiễn đều khảng định lằng một xã hội muôn tồn tại và phát triển đều cần đến pháp luật như một công cụ quản lý hữu hiệu nhất Đặc biệt ở nước ta việc quản lý xã hội bằng pháp luật

và không ngừng tăng cường pháp chê XHCN đã trở thành một nguyễn tắc hiến định

Quan hệ giữa con người với con người là mối quan hệ xã hội nhiều mặt và rất phức tạp, đòi hỏi sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau Tuy mỗi ngành luật có đổi tượng, phạm vi

và phương pháp điều chỉnh riêng nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, trong đó, giữa luật dân sự và luật kinh tế có mối quan hệ đặc biệt với nhiều nét đặc trưng cần được nghiên cứu để làm rõ

Trong khoa học pháp lý ở các nước XHCN, không có vấn

đề nào được tranh luận sôi nổi, lâu dài và tốn kém như vấn đề mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế

Ở nước ta, trong thời kỳ bao cấp, về lý luận cũng như thực tiễn lập pháp, vấn đề về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh

tẽ, không được thảo luận một cách gay gắt như ở các nước Đông

âu Luật kinh tế có đối tượng điều chỉnh riêng, đặc thù, do đó I1Ó

là một ngành luật độc lập Ngày nay, khi nền kinh tế nước ta đả

có nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường thì những vấn đề về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế đòi hỏi cần

có sự nghiên cứu góp phần giải quyết tốt mối quan hệ này

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các quan hệ do luật kinh tẽ điều chỉnh có sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố: yếu tố

4

Trang 6

tài sản và yếu tô tổ chức kê hoạch Do đó chúng khác hẳn với quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh Chuyển sang cơ chê thị trường, Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô đối với các hoạt động kinh tế Các quan hệ tài sản trong luật kinh tế và luật dân sự gần gũi với nhau Chúng đều là những quan hệ hàng hoá tiền tệ được thiết lập dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng giữa các chủ thế và nhằm thoả mãn lợi ích cho các chủ thể trên cơ sở phù hợp vói lợi ích của Nhà nước, của xã hội Vì vậy việc xác định đối tượng điều chinh của mỗi ngành luật là khó khăn và không ít những tranh luận về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế xay ra trong giới khoa học pháp lý.

Thực tiễn xét xử nước ta trong thời gian qua cũng cho thấy, ranh giới giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự rất khó xác định, đặc biệt là những tranh chấp phát sinh từ hợp đổng Trước tình hình đó đã có nhiều đương sự có tranh chấp hợp đồng nhưng không biết khởi kiện ở Toà án nào Giữa toà dân sự và toà kinh tế cũng nảy sinh tranh chấp về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp

về hợp đồng Điều đó dẫn đến tình trạng việc giải quyết tranh chấp bị kéo dài, không được giải quyết dứt điểm Thực trạng đó đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu để làm rõ mổi quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế Vì những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh

dạn chọn vấn đề “m ôi quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tê trong cơ chê th ị trường ở Việt N am ” làm đề tài cho luận án tốt

2 M u c đích nghiên cứu;

Hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta có hai ngành luật liên quan mật thiết với nhau, đó là luật dân sự và luật kinh tế Các vãn kiện của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đều nhấn mạnh về sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện hai ngành luật này để tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thống nhất cho hoạt động của các công dân và doanh nghiệp Việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế nhầm tìm ra những cơ sở

lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống

5

Trang 7

pháp luật nói chung, luật dân sự và luật kinh tế nói riêng Mục đích của luận án là làm sáng tỏ mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế, đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần xây dựng mối quan hệ hợp lý giữa luật dân sự và luật kinh tế phù hợp với thực tế và xu hướng phát triển kinh tế xã hội ở nước ta.

3 P hương pháp nghiên cứu,

Vì đây là đề tài thuộc khoa học xã hội nên chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội để giải' quyết vấn đề đặt ra Đồng thời, tính chuyên sâu của đề tài đòi hỏi phải sử dụng cả các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp,

hệ thống hoá, so sánh Có như vậy chúng tôi mới có thể thực hiện tốt các yêu cầu do đề tài đặt ra

4. Đ ỏ n g góp củ a bàn luân án.

Luận án góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật dân

sự luật kinh tế, đưa ra những kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật trong kinh doanh Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần tạo ra cái nhìn tổng thể, khách quan và khoa học về sự phát triển của mối quan hộ giữa luật dân sự và luật kinh tế Trên cơ sở

đó, luận án sẽ kiến giải một số biện pháp cụ thể để hoàn thiện mối quan hệ giữa hai ngành luật quan trọng này

6

Trang 8

Chương III: Kết luận và một số kiến nghị.

* *

*

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ đầy tinh thần trách nhiệm của các giáo viên thuộc khoa cao học trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Hoàng Thế Liên, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cửa mình đối với những sự giúp đỡ đó

7

Trang 9

CHƯƠNG I ,

MỘT S Ố VẪN ĐỂ LÝ LUẬN THỂ HIỆN TÍNH ĐẶC THÙ TRONG M ố i QUAN HÊ GIŨA

LÍIẬT DÂN S ự VÀ LUẬT KINH TỀ

í

1 K hái uiỉát ch u n g về L u â t D ân sư, L uât Kinh tế.

Ở bất kỳ quốc gia nào, pháp luật cũng đều là công cụ chủ yếu để Nhà nước quản lý xã hội Vì thế, các Nhà nước đều rất quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện để đảm bảo cho việc ổn định và phát triển xã hội Tuy vậy, quan niệm về cấu trúc của hệ thống pháp luật ở các quốc gia

là khác nhau Sự khác nhau đó có tính khách quan và khoa học của nó, bởi nó được xây dựng trong những điều kiện lịch sử cụ thể và bắt rễ từ hạ tầng cơ sở của quốc gia mình

Ở những nước ngoài hệ thống XHCN, hệ thống được phân chia thành các bộ phận tương đối độc lập với nhau, đó là luật công và luật tư Căn cứ để phân định giữa luật công và luật tư là ở mục đích điều chỉnh của pháp luật, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật Luật công (gọi là luật công pháp) nhằm mục đích bảo

vệ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước Các quan hệ do luật công điều chỉnh có ít nhất một bên chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước tham gia, trong đó các chủ thể thường là không bình đẳng với nhau Theo tiêu chí này, luật công gồm có luật Nhà nước, luật tài chính công, luật hành chính, luật công pháp quốc tế Luột tư (gọi là luật tư pháp) điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các cá nhân với nhau, hoặc giữa cá nhân với tổ chức có địa vị pháp lý bình đẳng Mục đích điều chỉnh của luật tư là bảo vệ lợi ích của các cá nhân trong xã hội Theo tiêu chí này, luật tư gồm luột dân

sự, luật bảo hiểm, luật thương mại

Ở các nước XHCN, pháp luật là một hệ thống thống nhất bao gồm nhiều ngành luật độc lập: như luật nhà nước, luật hành chính, luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự Căn cứ để phân

Trang 10

định các ngành luật trong hệ thống pháp luật là dựa vào đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, trong đó đối tượng điều chỉnh là căn cứ quan trọng nhất để phãn định các ngành luật Trong hệ thống pháp luật XHCN, các ngành luật có tính độc lập với nhau, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay không thể xác định được ranh giới bất di, bất dịch giữa các ngành luật đặc biệt là những ngành luật rất gần gũi' với nhau như luật dân sự và luật kinh tế Vì vậy, tính độc lập giữa các ngành luật chỉ có ý nghĩa tương đối Hơn nữa, do tính nhất quán và thống nhất bên trong của hệ thống pháp luật nên giữa các ngành luật có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau troi!£ điều chỉnh các quan hệ xã hội Trên cơ sở quan điểm lý luận như vậy, chúng tôi xin trình bày khái quát chung về luật dân sự, luật kinh tế với tư cách là hai ngành luật độc lập, gẩn gũi nhau nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.1 K h á i quát chung về luât dân sư Viêt Nam.

Luật dân sự Việt Nam được định nghĩa là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá, tiền tệ và một sô các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập và tự định đoạt của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đớ

Các quy phạm pháp luật dân sự được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng điển hình nhất là Bộ luật dân sự có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 1996 gồm 838 điều Đó là Bộ luật lớn nhất nước ta hiện nay điều chỉnh hai mảng quan hệ: quan hệ tài sán và quan hệ nhân thân

Như vậy, luật dân sự điều chinh hai nhóm quan hệ xã hội trong đời sống giao lưu dân sự là quan hệ tài sán và quan hệ nhân , thân

• Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người vói người thông qua tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn liền với một tài sán nào

đó biểu hiện dưới các dạng khác nhau Theo điều 172 Bộ luật dân

9

Trang 11

(q ua n hệ liên quan đ ến ngân sá ch , thuế), m ột s ố quan hệ tài Síìn

giữa các thành viên của gia đình nói chung và quan hệ tài san giữa người lao động và người sử dụng lao động không thuộc đôi tượng điều chỉnh của luật dân sự

Những quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh là quan hệ mang tính chất hàng hoá, tiền tệ phát sinh giữa cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tổ chức nhằm mục đích chủ yếu phục vụ cho việc đáp ứng nhu cầu vật chất của con người

Các quan hệ này thể hiện ý chí của các bên Các bên có quyền tự định đoạt có tham gia hay không tham gia vào quan hệ tài sản Đây là điều kiện đầu tiên để quan hệ tài sản được thiết lập

Quan hệ tài sản còn mang tính chất đền bù tương đương trong trao đổi Mục đích của các chủ thể khi tham gia quan hệ đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định Do vậy, các ầ chủ thể thiết lập quan hệ trao đổi lợi ích một cách ngang bằng Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ tài sản đều mang tính chất đền bù ngang giá Ví dụ: quan hệ tặng cho, thừa kế

Quan hệ tài sản trong luật dân sự bao gồm các quan hệ xã hội liên quan đến quyền sở hữu thông qua việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và các quan hệ hình thành trong quá trình lưu chuyển tài sản giưã các chủ thể

• Quan hệ nhân thân mà luật dân sự điều chỉnh là những quan hệ xã hội về những lợi ích tinh thần gắn với một chủ thể nhất định Các quan hệ này, không mang tính chất tài sản, nghĩa

là không thể tính thành tiền Quyền nhân thân không thể chuyên

10

Trang 12

giao cho người khác, quyền nhân thân có giá trị tuyệt đới của cá nhân nhất định mà mọi người có nghĩa vụ phải tôn trọng.

Quan hệ nhân thân bao gồm quan hệ nhân thân gắn với tài sán và quan hệ nhân thân không gắn với tài sản

Quan hệ nhân thân không gắn với'tài sản là quan hệ xã hội

có thuộc tính gắn liền với đời sống tinh thần của một con người, không thể tách rời khỏi con người đó như quan hệ họ tên, danh

dự, nhân cách, bí mật đời tư

Quan hệ nhân thân gắn vời tài sản chủ yếu là các quan hệ nhân thân gắn với đối tượng sở hữu trí tuệ (sáng tạo và sử dụng tác phẩm, công trình khoa học) Khác với quan hệ nhân thân không mang tính tài sản, loại quan hệ này có đặc điểm thể hiện đạm nét đời sống tinh thần của tác giả

Giá trị tinh thần đó tồn tại độc lập với nhân thân người sáng tạo, có thể chuyển dịch trong giao lưu dân sự và mang lợi ích về mặt tài sản

Mỗi ngành luật có một phương pháp điều chính riêng của

nó Phương pháp điều chỉnh của mỗi ngành luật phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của các quan hệ xã hội do nó điều chính Xuất phat từ bản chất các quan hệ tài sản và quan hệ nhãn thân do luật dân sự điều chính, luật dân sự chủ yếu sử dụng phương pháp bình đẳng, thoả thuận để điều chỉnh các quan hệ đó

Chủ thể của luật dân sự theo quy định của luật dân sự bao gồm pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác

Nội dung của luật dân sự bao gồm các chế định pháp lý về chủ thể, quan hệ dân sự về tài sản, quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, quyền thừa kế, về chuyển quyền sỉr dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, về quan hệ dân sự có yếu tố 1 nước ngoài

11

Trang 13

- Trong chế định về các chủ thể quan hệ dân sự, luật dân sự quy định rõ về điều kiện của các chủ thể, phạm vi tham gia quan

hệ, đại diện của từng loại chủ thể cũng như trách nhiệm tài sán cúa các chủ thể khi tham gia quan hệ

- Tài sản và quyền sở hữu là một chế định trung tủm của luật dân sự ở nước ta cũng như các nước trẽn thế giới Chẽ định này, luật dân sự quy định các vấn đề về tài sản và các loại tài sản; làm rõ khái niệm về quyển sở hữu mà nội dung của nó bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Đặc biệt luật dân sự không chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu mà CÓI1 quy định quyền và nghĩa vụ của những người không phải là chủ

sư hữu

Luật dân sự cũng quy định cụ thể về căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu; các hình thức sở hữu khác nhau và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

- Chế định về nghĩa vụ và hợp đồng dân sự: Trong phần này các quy định về khái niệm nghĩa vụ dân sự; căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chấm dứt nghĩa vụ đân sự

Đặc biệt luật dân sự quy định một cách cụ thể chi tiết các nguyên tắc ký kết hợp đồng dân sự, về đề nghị và chấp thuận hợp đồng, nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự, sửa đổi, chấm dứt hựp đồng dân sự, các loại hợp đồng dân sự, các trường hợp vô hiệu của hợp đổng và trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng

- Thừa kế là một chế định quan trọng trong luật dân sự của hầu hết các nước Chế định thừa kế trong luật dân sự Việt Nam quy định rõ các vấn đề nguyên tắc cơ bản về thừa kế, về người để lại di sản thừa kế và người thừa kế, thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, các hình thức thừa kế bao gồm thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

12

Trang 14

- Chế định về quyền sử dụng đất là m ộ t chê định mới trong luật dân sự Việt Nam Chế định này đưa ra các quy định cụ thể về các cán cứ xác lập quyển sử dụng đất, hình thức chuyển quyền sử dụng đất, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá chuyển quyền sử dụng đất, nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất, hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất, hậu quả của việc chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật và cân cứ chấm dứt quyền sử dụng đất.

- Chế định về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tập trung làm rõ vấn đề về tác giả, người sở hữu tác phẩm, các loại tác phẩm được bảo hộ, tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ, quy định về quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm, thời điểm phát sinh quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả, chuyển giao quyền tác giả và thừa kế quyền tác giả

Trong chế định này còn bao gồm các quy định về quyền sỏ'

hữu công nghiệp, các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà IIƯỚC bảo hộ quyền nghĩa vụ của chủ sở hữu các đối tượng sở hữu

công nghiệp, vấn đề sử dụng quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ

- Chế định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong luật Dãn sự bao gồm các qui định về khái niệm quan hệ dãn sự có yếu tô nước ngoài, vấn đề áp dụng luật Dân sự Việt nam, Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài; nguyên tắc

áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế; cân cứ chọn pháp luật đối với người không quốc tịch hoặc người nước Iigoàị

có nhiều quốc tịch nước ngoài; năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sư của người nước ngoài; năng lực pháp luật dân

sự của pháp nhân nước ngoài cũng như các vấn đề về quyền sở hữu tài sản; hợp đồng dân sự; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và chuyển eiiio công nghệ

13

Trang 15

Như vậy, luật dân sự là một ngành luạt độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan

hệ nhân thân có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội Bàng các qui định của mình luật dân sự xây dựng các chuẩn mực pháp

lý cho tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ dân sự; hạn chẽ tranh chấp tiẽu cực trong các quan hệ dân sự, làm lành mạnh các quan

hệ xã hội; góp phần giải phóng sức sản xuất, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư sống và làm việc theo pháp luật vì sự nghiệp phát triển đất nước, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh

1.2 K h ái quát về lu ât kỉnh tế.

ở các nước tư bản nói chung không hình thành nên một cơ

sở lý lưận thống nhất về luật kinh tế Luật kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ, bao gồm nhiều bộ phận như: luật thương mại, luật hợp đồng, luật giải quyết tranh chấp kinh tế, luật phá sản, luật giải thể, luật cạnh tranh Nghĩa là ở các nước này không có quan niệm luật kinh tế là một ngành luật, hay một lĩnh vực pháp luật độc lập Từ điển pháp luật Crefields (Cộng hoà liên bang Đức) viết về luật kinh tế như sau: “ Sự phân biệt khái niệm không thống nhất, phần đông quan niệm luật kinh tế là tổng hợp các quy định hạn c h ế và điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp độc lập trong công nghiệp, thương mại, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông và các nghề tự do (nhiều ít là quan niệm chính sách kinh tế) Thuộc luật kinh tế đặc biệt phải kể đến việc cho phép hành nghề (tự do hành nghề, nghề tự do, quy c h ế hành nghề, quy chế nghề thủ công) và lĩnh vực điều chỉnh kinh tế của Nhà nước (điều tiết Nhà nước, trật tự thị trường, luật giá cả) và khuyến khích kinh

tê (bao cấp) Nhoài ra Luật kinh tế còn bao gồm luật chông cạnh tranh, luật các tổ chức kinh tế (phòng, hiệp hội) cũng như lĩnh vực kinh tế ngoại thương”

Tuy không có quan niệm thống nhất về luật kinh tê nhưng các học giả tư sản khi nghiên cứu Luật kinh tế thường đề cạp chủ yẻu hai vấn đề: xét cho cùng, lịch sử khoa học Luật kinh tế ỏ' các

14

Trang 16

nirớc tư bản chủ yếu là lịch sử nghiên cứu về hai xu hướng, đỏ là

xu hướng tự do hoá kinh tế và xu hướng tãng cường sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Hai xu hướng này vừa

có tính chất độc lập với nhau nhưng đồng thời nằm trong sự thống nhất như một quy luật của tự nhiên

Phải nói rằng, khái niêm luât kinh tế là sản nhắm riêng cổ của chủ nghĩa xã hỏi Lý luận và thực tiễn của luột kinh tế phát triển mạnh cùng nhịp độ với sự phát triển của nền kinh tê được quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp cao độ

Với quan điểm tiến nhanh lẽn chủ nghĩa xã hội, các nước XHCN (trước đây) đều chủ trương thực hiện cuộc cách mạng quan hệ sản xuất mà mục tiêu cơ bản là xoá bỏ các hình thức sở hữu phi XHCN, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu XHCN dưới hai hình thức: sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể Thậm chí sở hữu tập thể cũng được coi chỉ là hình thức sở hữu quá độ đê chuyển lên hình thức sở hữu toàn dân Từ đó nền kinh tế quốc dân không được thừa nhận là một nền sản xuất hàng hoá, là một liền kinh tế hiện vạt và xã hội hoá trực tiếp trên cơ sở kế hoạch hoá tập trung cao độ Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô được hoà vào làm một, nằm trong tay Nhà nước XHCN Nhà nước XHCN vừa là trung tâm quyền lực chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất

và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất của xã hội, vì vậy, vừa là người chỉ huy, vừa là người trực tiếp tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh

Nhà nước thành lập các tổ chức kinh tế để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời lãnh đạo và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh đó theo kế hoạch chặt chẽ, chi tiết

và thống nhất Trong điều kiện như vậy, quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế XHCN vói nhau và với cơ quan quản lý Nhà nước trong lãnh đạo nền kinh tế là quan hệ đặc biệt, khác biệt với các quan hệ xã hội khác Sự khác biệt đó thể hiện ở chỗ, các quan hệ kinh tễ đó hàm chứa trong mình sự thống nhất của hai yếu tố: yếu

tô tổ chức kế hoạch (quan hệ dọc) và yếu tố tài sản (quan hệ

15

Trang 17

ngang - quan hệ hàng hoá tiền tệ) Quan hệ dọc thể hiện chủ yêu trong quá trình kẽ hoạch hoá, không chỉ mang tính chất hanh chính và tổ chức, mà yếu tố tài sản vẫn luôn luôn tồn tại Bỏ'i lẽ, đối tượng của quan hệ kế hoạch hoá là sản xuất kinh doanh, kì vốn, là lưu thông phân phối, phân chia lợi nhuận với những chi tiêư rất cụ thể Còn quan hệ ngang là quan hệ phát sinh giữa các đơn vị kinh tế trên cơ sở, trong khuôn khổ và nhằm thực hiên kê hoạch hoá của Nhà nước Chẳng hạn, hợp đồng kinh tê là đặc trưng của quan hệ ngang (quan hệ hàng hoá - tiền tệ) Nhung, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hợp đồng kinh tế không được thực hiện theo đúng nghĩa đích thực cua I1Ó là tự do khế ước, mà là hợp đổng kế hoạch, ký kết và thực hiện hợp đồng kinh

tế là một kỷ luật Nhà nước Ký vói ai? Mua bán cái gì? Với giá bao nhiêu? đều đã được Nhà nước quy định trong chỉ tiêu kê hoạch Như vạy, hành vi giao dịch hợp đổng không còn đơn thuần

là hành vi dân sự mà mang cả yếu tố tổ chức kế hoạch và có tính chất mệnh lệnh hành chính

Thực tế cho thấy, luật kinh tế ở các nước XHCN ra đời và được thừa nhận là một ngành luật độc lộp khi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã đạt được một trình độ nhất định, mà ở thời điểm đó yếu tố tổ chức kế hoạch và yếu tố tài sản trong quan hệ kinh tế đạt được sự thống nhất cao Nó không còn chấp nhộn sự tác động của hai ngành luật khác nhau (luật dân sự điều chính quan hệ tài sản, luật hành chính điều chỉnh quan hệ tổ chức kế hoạch) vào những quan hệ kinh tế có sự thống nhất của hai yếu tố

đó nữa, mà yêu cẩu sự ra đời của một ngành luật mói: Luât kinh

tế Đó cũng là một trong những lý do lý giải tại sao cùng một co chê quản lý kinh tế mà sự ra đời của luật kinh tế ỏ' các nước XHCN (trước đây) lại ở các thời điểm khác nhau Ngành luật

kinh tế được thừa nhận là một ngành luật độc lập ở Liên Xô vào nám 1965, ở Cộng hoà dân chủ Đức vào năm 1960, ở Tiệp Khắc

vào năm 1965, ở Việt Nam vào những năm 1970

Vì vậy, Luật kinh tế trong cơ chế tập trung quan liêu bao càp đưực định nghĩa là một tổng hợp các quy phạm pháp luạt, thể

16

Trang 18

hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, điều

chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức kinh tế XÍ]\!N, các cơ quan

quản lý kinh tẽ phát sinh trong quá trình thực hiện chức nãng quản lý kinh tế của Nhà nước và trong quá trình thực hiện các

hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở Luật

kinh tế bảo đảm sự thống nhất giữa k ế hoạch hoá trung ương và việc thực hiện k ế hoạch của các tổ chức kinh tế XHCN

Luật kinh tế theo nghĩa đó có các đặc điểm để phân biệt với các ngành luật khác nhất là với luật dân sự như sau:

- Đối tượng điều chỉnh là quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý kinh tế hàm chứa trong đó sự thống ‘ nhất của hai yếu tố: yếu tố tổ chức k ế hoạch và yếu tô tài sản

- Chủ thể là các tổ chức kinh tế XHCN, các cơ quan quản lý

kinh tế

- Phương pháp điều chỉnh: kết hợp phương pháp minh lệnh,

phương pháp thoả thuận và phương pháp hướng dẫn

Vậy, luật kinh tế trong điều kiện cảa nền kinh tế thị trường

có gì mới so với luật kinh tế trong CƯ c h ế tập trung quan liêu bao

cấp? Đây là một vấn đề cần tiệp tục nghiên cứu và lý giải Ở mức

độ khái quát nhất, có thể khẳng định rằng, 1) đối tượng điểu chỉnh của luật kinh tế càng ngày càng được 1Ì1Ở rộng, bao gồm nhiều nhóm quan hệ xã hội giữa các doanh nghiệp với nhau và với cơ quan quản lý nhà nước phát sinh từ yêu cầu sản xuất kinh doanh; 2) chủ thể của luật kinh tế phong phú và đa dạng hơn so với trước, có thể nói đó là những doanh nghiệp được thành lập một cách hợp phảp theo quy định của pháp luẠt hiện hành, các cá nhân được Nhà nước cho phép kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước; 3) phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế mềm dẻo, linh hoạt và phù hợp với yêu cầu của các nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do k h ế ước, dân chủ và bình đẳng trong hoạt động sản xuât kinh doanh (các phần sau sẽ phân tích cụ thể về vấn để này)

; i i , -i: , ;

LA ẦU

17

Trang 19

2 Đ ă c tru n g c ỏ tính lich sừ tr o n g q u a n hê giữ a íu â t d ân su

Hệ thống lý luận về ngành luật kinh tế đựoc hình thành ở

các nước xã hội chủ nghĩa trong cơ c h ế kinh tế k ế hoạch hoá tập trung Nó được xây dựng trên cơ sở hệ thống lý luận về chủ nghĩa-

xã hội, về quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước

Đ ông Au trước đây Tuy nhiên luật kinh tế ra đòi không phải sau khi có Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà lịch sử hình thành luật kinh

tế là cả một quá trình đấu tranh hết sức gay gắt của các trường

phái luật dân sự và luật hành chính ở Liên Xô.

Thời kỳ đầu, để thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) của

Lê Nin, năm 1922 Bộ luật dân sự Nga đã ra đời Bộ luật này thừa nhộn và bảo vệ khu vực lưu thông dân sự trong đó có tư nhàn tham gia, nhưng bắt buộc họ phải phục tùng lợi ích tối cao của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Tuy nhiên, vào lúc đó

Bộ luật dân sự 1922 không điều chỉnh các quan hệ kinh tế có sự tham gia của các tổ chức kinh tế quốc doanh Trứơc tình hình dó, nãm 1924 cơ quan lộp pháp Nga đã phải bổ sung vào luật dân 4ự qui định "sự tham gia của các cơ quan, xí nghiệp trong lưu thông dân sự sẽ được qui định trong điều lệ đặc biệt" Như vậy, Bộ luật dân sự Nga đã mở đường cho sự hình thành và phát triển một hệ

18

Trang 20

thống hoá các qui phạm riêng biệt áp dụng trong khu vực kinh tê quốc doanh Trên thực tế đã xuất hiện nhiều văn bản pháp luạt điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nguyên tắc kế hoạch Như vậy, đối với các hoạt động kinh tế thời kỳ này được phân ra làm hai mảng do hai ngành luật điều chỉnh Lưật dân sự điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong khu vực kinh tê tư nhân và giữa các thành phần kinh tê vói nhau Luật hành chính - kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bởi kinh

tế kế hoạch và trật tự cấp trên, cấp dưới Quan điểm này được nhà khoa học nổi tiếng đương thòi Xtuttrơca nghiên cứu đưa ra vào những năm cuối thập kỷ 20

Khi chính sách kinh tế mới chấm dứt cũng là khi xoá bỏ hoàn toàn khu vực kinh tế tư nhân, thì Xtuttrơca khẳng định không còn mảnh đất tồn tại cho ngành luật dân sự với tĩnh chất là công cụ điều chỉnh pháp lý những hoạt động kinh tế tư nhân Khi

đó chí cồn tồn tại ngành luật kinh tế (hay còn gọi là hành chính kinh tế) ỉàm nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong đòi sống kinh tế của đất nước Quan điểm này đã được củng cô và phát triển trong khoa học và thực tiễn pháp lý Khi mô hình kinh

tẽ kế hoạch hoá tập trung cao độ ngày càng được định hình rõ nét Tuy nhiên, qưan điểm này còn hạn chế là phủ nhận bản chất hàng hoá tiền tệ của các quan hệ kinh tế trong chủ nghĩa xã hội, coi nhẹ vai trò của công dân với tư cách ỉà chủ thể của dân luật và đánh giá thấp ý nghĩa của quyền sở hữu cá nhân của công đtân Quan điểm này bị đánh đổ khi hiến pháp 1936 của Liên Xô ra đùi với sự đề cao và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân Xô Viết Lúc này luật dân sự trở lại vị trí độc tôn để điều chính thống ; nhất các quan hệ tài sán, bên cạnh đó luật hành chính được phát triển để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động kế hoạch hoá nền kinh tế của Nhà nước Tuy quan niệm cực đoan về luật kinh tế do Xtuttrơca đưa ra bị đánh đổ nhưng I1Ó để lại một dấu ấn quan trọng vì có giá trị trên con đường phát triển khoa h ọ c pháp lý Nó để lại một kết luận quan trọng về sự cần thiết phái

19

Trang 21

xây dựng một ngành luật mới, phù hợp với bán chất và yêu cầu cần quản lý kinh tẽ theo kiểu xã hội chủ nghĩa và có biên giới với ngành luật dân sự truyền thống.

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Liên Xô bước vào thời kỳ phục hồi và phát triển kinh tế Công cuộc xây dựng kinh tế đã đặt khoa học pháp lý trước yêu cầu phát triển mới Khoa học pháp lý hành chính ngày càng làm rõ đặc tính của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước, đòi hỏi phải tách ra một nhóm các qui phạm của luật hành chính coi như một bộ phận độc lập, một nhóm của luật hành chính là hành chính kinh tế Các nhà dân luật cho rằng, các quan

hệ tài sản giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa có đặc điểm là kết hợp sự.lãnh đạo tập trung, theo kế hoạch của Nhà nước với sự độẹ lập của các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cần phải qui định và hoàn thiện một chế định riêng về nghĩa vụ kinh tế và hợp đồng kinh tế để đưa vào bổ sung cho Bộ luật dân sự Các nhà khoa học pháp lý đại diện cho trường phái luật kinh tế đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng hẳn một ngành luật mới độc lập để điều chỉnh tốt hơn những quan hệ kinh tế Bởi các quan hệ kinh tế trong điều kiện mới này trong bản thân chúng có mối liên hệ hữu

cơ giữa việc kế hoạch hoá tập trung của Nhà nước với việc kinh doanh độc lập của các chủ thể sản xuất kinh doanh xã hội chủ nghĩa Luật dân sự được hiểu theo nghĩa truyền thống không thể tồn tại trong điều kiện mới Bởi lẽ, những vấn đề như đất đai, lao động, hôn nhân và gia đình không còn là đối tượng của ngành luật dân sự truyền thống Mặt khác, mặc dù có mang yếu tố tài sán nhưng các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức XHCN đã hoàn toàn khác biệt với các quan hệ tài sản có công dân tham gia Nên cần phải tách các quan hệ kinh tế do luật dân sự điều chỉnh trước đây thành đối tượng điều chỉnh của ngành luật mới (luật kinh tế) Hơn nữa cơ cấu sở hữu trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thay đổi mà luật dân sự không thể điều chính được bán chất các quan hệ tài sản cũng như thay đổi Những quan hệ tài

S;ÍI1 do công dân tham gia gắn liền với sở hữu tư nhân được hình

Trang 22

thành trên cơ sở của phân phối theo lao động và thoả mãn nhu cđu sinh hoạt Còn các quan hệ tài sản hình thành trong lưu thông kinh tế của các tổ chức kinh tê xã hội chủ nghĩa là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Việc điều chỉnh cấc quan hệ đó phái khác các quan hệ tiêu dùng Các nhà luật kinh tế cũng khẳng định không thể dùng luật hành chính để điều chính các quan hệ pháp

lý về tổ chức và kế hoạch hoá nền kinh tế quổc dân Vì vậy, cần phải kết hợp những quan hệ mang tính tổ chức kế hoạch và tài sán thành nhóm quan hệ được điều chỉnh thống nhất bởi luật kinh tế Quan niệm như vậy của các nhà luật kinh tế đã bị trường phái dân luật cổ điển và hành chính phản bác Kết quả là cùng với việc Xô viết tối cao Liên xô thông qua những nguyên tắc cơ bản cùa luật dân sự Liên Xô và các nước Cộng hoà ngày 6/12/1961, thì lý luận

về luật kinh tế tạm thòi bị thất bại Dân luật truyền thống lại nổi lên như một ngành luật tổng hợp điểu chỉnh cả những quan hệ lưu thông kinh tế trong khu vực kinh tế Nhà nước

Nãm 1965, Liên Xô bước vào công cuộc cải cách kinh tế, xây dựng hệ thống mới về kế hoạch hoá và kích thích kinh tế Tinh hình đó lại đua hệ thống lý luận về Luật kinh tế vào hoàn

cánh phát triển mới Các nhà khoa học pháp lý khẳng định rằng cẩn có ngành Luật kinh tế với tư cách là ngành luật độc lạp để điều chỉnh hai loại quan hệ kinh tế cơ bản là quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

và các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện các

hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở.

• Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ sở hữu XHCN Nhà nước là người đại diện cho sở hữu toàn dân, cho nên Nhà nước phải can thiệp trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị CO' sở Nhà nước xã hội chủ nghĩa có chức năng kinh tế Để thực hiện chức năng này, Nhà nước lập ra các tổ chức kinh tế và các cư quan quản lý kinh tế để tiến hành các lioạt động san xuất kinh doanh, đồng thời điều hành và quản lý các hoạt động kinh doanh

đó Toàn bộ các hoạt động kinh doanh được Nhà nước thống nhất

21

Trang 23

chỉ huy, các đơn vi kinh tẽ là các bộ phận cơ sở để thực hiện các chức năng kinh tế của Nhà nước và chịu sự chỉ huy của các co' quan quản lý Nhà nước Đổng thời để khắc phục một phần tình trạng quản lý theo kiểu hành chính bao cấp, cần phải kết hợp phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế trong lãnh đạo

và quản lý kinh tế Chĩnh vì vậy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, và trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước đã hoà nhập thành một lĩnh vực thống nhất không thể phân tách Trong các quan hệ kinh tế (quan hệ dọc và quan hệ ngang) đều chứa đựng hai yếu tố cơ bủn gắn bó chặt chẽ với nhau là yếu tố tổ chức

kế hoạch và yếu tố tài sản Vì vậy phương pháp điều chỉnh của luật hành chính hoặc phương pháp điều chỉnh của luật dân sự đều không thể tự điều chỉnh được các quan hệ kinh tế trong điều kiện, mới mà cần có ngành luật mới là luật kinh tế vói tư cách là một ngành luật độc lập điều chỉnh các quan hệ đó

Trước đòi hỏi từ thực tiễn của cuộc cải cách kinh tế năm

1965 và những cuộc cải cách kinh tế sau này được khởi xướng từ những năm 70, lý luận về luật kinh tế ở Liên Xô có điều kiện và khả năng phát triển Trên thực tế, luật kinh tế được cống nhận là một ngành luật độc lập ở Liên Xô và ờ hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa vào thập kỷ 70

• Ở Việt nam, luật kinh tế cũng ra đời và phát triển trong cơ chế

kế hoạch hoá tập trung Nó chịu sự ảnh hưởng chủ yếu của khoa học pháp lý Xô Viết cũng như khoa học pháp lý của các nước Đông Au Sự tiếp nhận khoa học pháp lý trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam mang tính hệ thống và hoàn toàn khách quan vì tất ;

cá các nước xã hội chủ nghĩa ỉúc đó đều xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất Hơn nữa,

lý luận kinh tế được truyền bá vào Việt Nam khi mà toàn bộ hệ thống khoa học pháp lý còn rất non trẻ Trong khi đó, luật kinh tế

ứ Liẽn Xô và các nước Đông Âu đang thắng thế và trở thành một ngành luật độc lộp Sự tiếp thu một cách thụ động khoa học pháp

lý về luật kinh tế Xô Viết ở Việt Nam CÒ11 có nguồn gốc từ chính lioàn cảnh kinh tẽ xã hội Việt nam Trong điều kiện lịch sử, khi

Trang 24

Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa hình thành Việt Nam vẫn là một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nền thưong mại còn kém cỏi, giao lưu kinh tẽ so vói xã hội tư sản nói chung chưa có gì Ngoài ra, tình trạng chiến tranh kéo dài liên miên cũng ảnh hưởng rất nhiều đến

sự phát triển luật kinh tế Việc tuân thủ mệnh lệnh trong chiến tranh tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của cơ chê kế hoạch hoá tập trung nói chung và luật kinh tế của cơ chế đó nói riêng Chính vì vậy, việc du nhập lý luận luật kinh tế của Liên Xô

và các nước Đông âu vào Việt Nam rất dễ dàng và luật kinh tế ỏ' Việt Nam đã được công nhộn một cách tự nhiên là một ngành luật độc lập Như vậy, có thể nói rằng luật kinh tế là một ngành luật độc lập, nó ra đời dựa trên nền tảng của các quan hệ kinh tế , xã hội, xã hội chủ nghĩa; nó bắt nguồn từ chế độ công hữu về tư liệu sán xuất và cơ chế kế hoạch hoá tập trung Đổng thời, luât kinh tế

là ngành luât đươc tách ra từ luât dân sư truyền thống Bởi theo lý luận truyền thống luật dân sự là một ngành luật trong hệ thông pháp luật có đổi tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi tài sản dựa trên nguyên tắc tự định đoạt bình đẳng về mặt pháp lý và chịu trách nhiệm vật chất của các bên tham gia quan hệ đó Cá tiên phương diện lý luận và thực tiễn các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh không có sự phân biệt quan hệ tài sản phát sinh trong lĩnh vực tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh Trong cơ chế

kế hoạch hoá tập trung các quan hệ tài sản được phân thành hai loại quan hệ tài sản phát sinh giữa công dân với nhau và giữa công dân với tổ chức nhằm mục đích tiêu dùng, I1Ó phát sinh hoàn toàn dựa trên ý chí của các bên, những quan hệ tài sản này được coi là các quan hệ dân sự thuần tuý do luật dân sự điều chỉnh Các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát sinh giữa các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ sán xuất kinh doanh theo chí tiêu pháp lệnh của Nhà nước Các quan hệ tài sán này hoàn toàn mang ý nghĩa kinh tê thường có giá trị lớn và phải đặt dưới sự chi phối, kiểm soát trực tiếp của Nhà nước Các quan hệ tài sản này do luật kinh tế điều chính Như vậy, các quan

Trang 25

hệ tài sản trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung do hai ngành luật độc lập điều chỉnh là luật dân sự và luật kinh tế.

• Xét về mặt lịch sử, luật dân sự có trước luật thương mại, luật- kinh tế Điều đó thật dễ hiểu bởi con người không phải sau khi xuất hiện đã biết kinh doanh Kinh doanh với tư cách là một nghề được thực hiện bởi các doanh gia với tư cách là một đẳng cấp xã hội mãi sau này mới xuất hiện

• Xét dưới góc độ luật thực định, luật thương mại thường được ban hành sau luật dân sự c ổ luật La Mã cách đây hơn 2000 năm (Luật XII Bảng năm 449 TCN) đã có những định chế dân sự quy định những vấn đề về hợp đồng, tài sản, thừa kế, hôn nhân gia đình Trong khi đó, mầm mông của luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh (Luật thương mại), nếu lấy thời điểm sớm nhất cũng mới xuất hiện ở thế kỷ 13 Nhưng về mật lộp pháp, luật thương mại chí được khẳng định như một ngành luật kể từ khi một số quốc gia bắt đầu thực hiện việc pháp điển hoá Đặc biệt nhất là ỏ' Pháp, dưới triều Vua Luýt- Víc XIV, ông vua này đã cho ra đòi hai đạo dụ quan trọng là dụ về thương mại (1673) và dụ về hàng hải (1681) Các Bộ luật thương mại lớn sau đó mói được xây dựng

ở một sô nước có nền kinh tế thị trưòng phát triển mà ở đó vừa có Luật dãn sự vừa có Luật thương mại thì Luật dân sự bao giờ cũng có trước Chẳng hạn ở Pháp, Bộ luật dân sự được ban hành vào năm 1804, còn Bộ luật thương mại được ban hành vào năm 1807; ở Đức, Bộ luật dân sự được ban hành vào năm 1896,

Bộ luật thương mại được ban hành vào năm 1897

Ớ nước ta, danh từ dân luật được dùng từ khi ban hành cúc

Bộ luật lớn như Dân luật giản yếu năm 1883 ở Nam Bộ, Dân 1 uột Bắc kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 Trong khi

dó, Bộ luật thương mại được ban hành sớm nhất ở Việt Nam là

Bộ luật thương mại Trung phần năm 1942

Tóm lai, từ sự phân tích các khía cạnh lịch sử nêu trên,

24

Trang 26

chứng ta có thể thấy, trong mối quan hệ giữa Luật dân sự và Luật

kinh tế có các đặc trưng sau đây:

- Luật dân sự ra đời trước Luật kinh tế

- Luật kinh tế ra đời và phát triển mạnh trong thòi kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung; cơ c h ế kế hoạch càng

phát triển thì sự phân biệt giữa Luật dân sự và Luật kinh tế càng

1 Cơ chẽ kỉnh tẽ thi trường và ván đề đăt ra trung mối

quan hẻ giũa luât dân su và L u ât kinh tế.

3.1 C ơ c h ế kinh tê thi trường đài ra yêu cầu cần tăng cường vai

trò của pháp luât.

Điều 15 - Hiến pháp 1992 của nước ta quy định : “ Nhà

nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo CO'

chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng

XHCN ”

Theo quy định trên có hai khái niệm cẩn làm rõ Đó là:

• Cơ chế thị trưòng Cơ chế là một khái niệm dùng để chỉ quy

luật vận hành của một hệ thống Bất kỳ một sự vật, hiện tượng,

quá trình kinh tế xà hội trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư

duy cũng có thể được hình dung là một hệ thống cấu thành từ các

yếu tố có xu hướng trái ngược nhau nhưng làm tiền đề cho nhau

tổn tại Chính sự tác động giữa hai yếu tô này là nguyên nhân,

nguồn gốc động lực cho sự vận hành của hệ thống Vậy cơ chế la

khái niệm dùng để chỉ sự tương tác giữa các yếu tô kết thành hệ

thông mà nhờ đó hệ thống có thể hoạt động

Trong lĩnh vực kinh tế, cơ chế kinh tê là tổng thể các yếu tô

có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực dẫn

dắt nền kinh tế phát triển Cơ chế kinh tế mang tính khách quan

vốn có của một nền kinh tế Mỗi một nền kinh tê đều có một cơ

chế đặc trưng của 11Ó Ví dụ: Cơ chế kế hoạch hoá cao độ, cơ chế

25

i

Trang 27

thị trường.

Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường trong môi tnrờng cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận Nhân tố cơ ban của

cơ chế thị trường là cung- cầu và giá cả thị trường

• Nói đến “có sự quản lý Nhà nước" là nói đến cơ chế quản lý

Rõ ràng là một nền kinh tế chỉ có thể phát triển theo một khuynh hướng mong muốn khi có một cơ chế quản lý phù hợp Cơ chế

đó, một mặt tuân thủ các yêu cầu của quy luật kinh tê khách quan, mặt khác phải có được một hệ thống các công cụ kinh tế và chính sách quản lý kinh tế thích hợp Vì vậy, cơ chế quản lý kinh

tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó Nhà nưóc tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định

Khái niệm này bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:

+ Cơ chế kinh tế là phương thức tự vận động của nền kinh

tế, là biểu tượng của nhân tố khách quan

+ Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước nhằm định hướng nền kinh tế, nó mang tính chất chủ quan

+ Nhà nước tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế chứ không tác động trực tiêp vào nền kinh tế Tuy nhiên, dù là tác ; động trực tiếp hay gián tiếp, có phương hướng đúng hay sai thì mối tác động của Nhà nước đều nhanh chậm, ít nhiều làni thay đổi trạng thái kinh tế

Phân tích khái lược như vậy để chúng ta thấy rõ rằng, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường là cần thiết, nhưng phủi

có sự quản lý của Nhà nước để bảo đảm tính định hưóìig XHCN của nền kinh tế

Điều 26, Hiến pháp 1992 của nước ta quy định: "Nhà nưức thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế

26

Trang 28

hoạch, chính sách " Như vậy, trong các công cụ mà Nhà nưót ta

sử dụng để quản lý nền kinh tế, pháp luật được để lên hàng đẩu

và là công cụ không thể thiếu được của Nhà nước Xin đi sâu lý giải vấn đề này

Cả lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng, nền kinh tê nào cũng cần đến vai trò quản lý của Nhà nước Với bản chất "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", vai trò quản lý kinh tẽ của Nhà nước ta lại càng to lớn Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tê diễn ra hết sức phức tạp về quan hệ kinh tê với

sự đa dạng về chủ thể, về lợi ích, về hình thức pháp ]ý Dù phức tạp thế nào đi nữa, sự quản lý của Nhà nước cũng phải báo đảm một nền kinh tế có tính tổ chức cao, ổn định công bằng và có định hướng rõ rệt Những yêu cầu đặt ra đối với một nền kinh tê thể hiện trước hết ở tính được điều chỉnh và trật tự của những quan hệ kinh tế phức tạp, hạn chế và loại trừ mọi sự tuỳ tiện, đề cao trách nhiệm và kỷ luật của các bên tham gia quan hệ kinh tế Muốn vậy sự quản lý của Nhà nước phải nhằm tạo lập những cân đối chung, điều tiết thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động kinh doanh, xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề xã hội theo tinh thần tất cả từ con người và vì con người, quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên của đất nước

Đồng thời thực tiễn cũng đã khẳng định rằng, sự quán lý của Nhà nước đối với nền kinh tế chỉ có thể được thực hiện và I phát huy đầy đủ nhất, có hiệu quả nhất khi được xác lộp dưới một hình thức pháp luật nhất định và được đảm bảo thực hiện bởi một

cơ chê pháp luật thích hợp Ở đây pháp luật được Nhà nước sử dụng như một công cụ hiệu nghiệm và không thể thay thế được tiong việc quản lý nền kinh tế Sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ kinh tế đem lại cho sự quản lý của Nhà nước những khả năng và những thực tế trong một phạm vi rộng lớn việc thực thi các chính sách của mình

Và ngày nay, thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường

27

Trang 29

hàng trăm năm qua cung cấp cho chúng ta đầy đủ cơ sở đế nói rang, phán luât dã trở thành mốt bố phân cấu thành của cơ chẻ quản lý kinh tế Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế thị trường, thì nền kinh tế thị trường không thể vận hành trôi chảy được Một khi pháp luật

bị đặt ra ngoài quá trình cải cách kinh tế hoậc không được chú trọng đúng với tầm quan trọng của nó thì cải cách kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường sẽ rơi vào tình trạng lộn xộn và đi đến thất bại Ớ đây, pháp luật đóng vai trò đảm bảo việc chuyển nền kinh tế thị trường từ trạng thái tự phát kém tổ chức sang một thị trường văn minh Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý thuận tiện cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tê cao Tiêu chí cơ bán nhất để đánh giá pháp luật đó đúng đắn hay không, chính là sự phát triển phồn vinh của nền kinh tê thị trường văn minh Vai trò

đó của pháp luật được quy định trước hết bởi những yêu cầu khách quan do chính nền kinh tế thị trường đặt ra, sau nữa bởi những giá trị xã hội của pháp luật trong việc bảo đảm tính tổ chức, trật tự và kỷ luật cao của một nền kinh tế Và trong điều kiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, giá trị xã hội của pháp luật lại càng to lớn

3.2 Cơ chê kỉnh tê mới châm Ì 12ÒÌ cho cuôc tranh luản khoa

hoc m ới về m ối quan hê ưiữa lỉiât dân sư và luât kinh tế.

Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều yêu cầu mới Đó là việc báo đảm dân chủ trong hoạt động kinh tế, sự bình đẳng và cùng

cỏ lợi giữa các thành phần kinh tẽ trong hợp tác và cạnh tranh, thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh của cồng dân Yêu cầu trực tiếp đặt ra là Nhà nước không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh củn các thành phần kinh

tế, mà bàng các chính sách và pháp luật nhằm tạo lập một môi trường lành mạnh, một hành lang pháp ]ý vững chắc để các quan

hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đưực xây dựng và thực hiện trên

28

Trang 30

co' sỏ' nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình theo pháp luật Đồng thời, pháp luật của Nhà nước phải là cơ sở tin cậy để duy trì và bảo điíin cạnh tranh lành mạnh Những yêu cầu đó đòi hỏi phải đổi mới quan niệm về luật kinh tế cho phù hợp Từ yêu cầu đó đã nổ ra cuộc tranh luận khoa học mới về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế.

I

Có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng khái quát lại, có hai quan điểm chính như sau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì quan hệ kinh tế và quan

hệ dân sự trong điều kiện của nền kinh tế thị trường không còn khác nhau nữa, nên không cần tách thành hai ngành luật nữa mà nên chỉ để một ngành luật điều chính cả hai quan hệ kinh tê lẫn dân sự Tuy nhiên trong Bộ luật dân sự đã có tính đến những đặc thù của quan hệ kinh tế Quan điểm này phù hợp với một trong những xu hướng trên thếgiới về việc giải quyết mối quan hệ giữa Luật Dân sự và Luật Thương mại

- Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù quan hệ dân sự và quan hệ kinh tế thống nhất với nhau ở tĩnh chất hàng hoá tiền tệ, nhưng chúng không đồng nhất với nhau, mà có những đặc tĩnh khác Iihau Do dó, cần phải tiếp tục củng cố và đổi mới luật kinh

tế trong nền kinh tế thị trường Quan điểm thứ hai này là phù hợp, được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn sau đãy:

a) Luật kinh tế điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo qui định của pháp luật nước ta,

kinh doa nh là v iệ c thực hiện mộ t, m ộ t s ô h o ặ c tất c ả c á c c ô n g

(loạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (xem Điều 3 Luật công ty ngày 21 tháng 12 Iiăni 1990) Như vậy, khác với mục đích của hành vi dân sự, mục đích của hành vi kinh

Chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh phải là doanh

29

Trang 31

nghiệp, tức là những cá nhân hay tổ chức được Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận nhằm mục đích chủ yếu là hoạt động kinh doanh Điều đó có nghĩa là không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia vào quá trình kinh doanh và thực hiên hành vi kinh doanh Chí những cá nhân và tổ chức cô đủ điều kiện về tài sản, về chuyên môn và về tinh thần mới có thể được Nhà nước cho phép hoạt động kinh doanh Vì vậy, điều kiện quan trọng hàng đầu là các cá nhân và tổ chức đó phải được thành lập một cách hợp pháp

và lấy kinh doanh làm nghề nghiệp chính của mình

b) Trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam, luật kinh tế chiếm vị trí quan trọng Ớ giai đoạn đầu của thòi kỳ pháp thuộc, người pháp đã sử dụng luật thương mại của họ đê điều chỉnh các quan hệ kinh doanh ở nước ta Đến năm 1942, Triều đình Huê đã ban hành Bộ luật thương mại áp dụng trên lãnh thổ miền Trung Sau khi dành được độc lập, nước ta lại được phân chia làm hai miền: Nam và Bắc Ớ miền Nam, trong một giai đoạn nhất đinh vẫn áp dụng Bộ luật thương mại Pháp và Bộ luật thương mại Trung phần Cho đến năm 1972, Nhà nước Việt Nam cộng hoà mới ban hành Bộ luật thương mại cùng ngày với Bộ luật dân sự Ớ miền Bắc, trong suốt quá trình phát triển của đất nước luật kinh tế luôn luôn tồn tại và phát triển song song vói luật dân

sự Chẳng hạn, chúng ta có hai Pháp lệnh về hai loại hợp đồng khác nhau Đó là Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 Tương ứng với hai loại quan hệ pháp luật khác nhau đó là loại cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh, đó là Toà án dân sự giải quyết tranh chấp dân sự và trọng tài kinh tế giải quyết các tranh chấp kinh tế Toà án kinh tế, trọng tài kinh tế giải quyết các tranh châ'p kinh tế Nghĩa là luật kinh tế đã

cỏ một lịch sử phát triển lâu dài ở nước ta và đã ăn sâu vào nhạn thức của cán bộ và nhân dân ta Vì vậy, việc kế thừa và phát triển luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường có nhiều thuận lợi

c) Khác với giao dich dân sự, hoạt động sản xuất kinh doanh đặt ra nhiều yêu cầu mới mà bản thân luật dân sự khỏ có

30

Trang 32

thể đáp ứng được Chẳng hạn như:

- Trong quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, họ phái quyết định nhanh chóng; do đó những qui định pháp luật áp dụng cho họ phải đơn giản; việc chứng minh trong các hợp đồng cần dể dàng, và trong trường hợp có tranh chấp thì cần có một cơ quan tài phán chuyên trách thông thạo việc và xét xử theo sự việc ít công thức nặng nề

- Những quan hệ giao dịch trong kinh doanh rất cần được thực hiện nghiêm ngặt Một chủ ngân hàng cho một doanh nhân vay thì phải cầm chắc sẽ được trả vào đúng kỳ hạn (vì vậy, cần có luật hối đoái) Và khi một doanh nghiệp bị thất bại trong công việc thì cần áp dụng một trình tự tố tụng cương quyết (vì vạy phái

có luật về việc thanh lý tài sản và thanh toán tư pháp)

- Tính công khai trong lĩnh vực kinh doanh là một yêu Cíìu

Làm sao để các bên trong quan hệ với nhau có thể dễ dàng được biết tình hình tài chính, các khoản tín dụng của nhau (do đó có thế thức đăng ký kinh doanh, có chê độ đăng báo các vãn bản thành lập công ty, các vụ bán, thế chấp những cơ sở kinh doanh)

Ngoài ra phần lớn các nưóc có nền kinh tế thị trường phát triển vẫn tiếp tục duy trì và phát triển luật thương mại hoặc luật kinh dọanh bên cạnh luật dân sự Điều đó nói lên rằng, với việc đổi mới và phát triển luật kinh tế, chúng ta cũng đang nằm trong

xu hưóng chung của thời đại, từng bước làm cho hệ thống pháp luật của Việt nam phù hợp vói luật thương mại và tập quán thương mại quốc tế

Tóm lai, những lập luận ở trên nhằm đi đến khẳng định sự cần thiết phải duy trì và phát triển luật kinh tế như một ngành luật độc lộp trong hệ thống pháp luật Việt nam Nhưng, vấn đề lớn đặt

ra ở đây là luật kinh tế trong điều kiện của nền kinh tế thị trường được đổi mới như thế nào? Hiện nay CÒỈ1 có quan niệm khác nhau

về vấĩi đề này

31

Trang 33

3.3 L u ât kinh t ế trong cơ c h ế m ói theo quan điểm chính thòng hiên nay.

Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế với tư cách là một ngành luật độc lập được xác định là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành các tổ chức kinh doanh, quá trình hoạt động, quá trình phá sản và giải thể doanh nghiệp Với đối tượng điều chỉnh như vậy, luật kinh tế theo quan điểm thống trị hiện nay được cấu thành bởi 4 chế định pháp luật quan trọng l à 1:

a) Pháp luật vê chủ th ể kỉnh doanh.

Kinh doanh là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận của những chủ thể nhất định Không có hoạt động kinh doang nào mà lại không gắn liền với một cá nhân hay một tổ chức nào đó Vì vậy, vấn đề chủ thể kinh doanh đương nhiên phải trở thành lĩnh vực pháp luật đầu tiên của luật kinh tế Lĩnh vực pháp luật này có nhiệm vụ qui định tất cả những vấn đề liên quan đến việc thành lập, đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp cũng có những quyền và nghĩa 1

vụ pháp lý m à các doanh nghiệp có được với tư cách là những người sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thương trường

Trên thực tế, năm 1987 đến nay, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản về tổ chức các loại hình doanh nghiệp sau đây: ’

- Luật đấu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và 1996)

- Luật công ty nãm 1990 (được sửa đổi năm 1994)

- Luật doang nghiệp tư nhân năm 1990 (được sửa đổi vàonăm 1994)

- Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 ,

- Luật hợp tác xã năm 1996

1 X em g iá o trình LuẠl kinh lẻ cù a trường Đ ạ i học LuẠl Ilà N ộ i, ÌIÍUII 19%

32

Trang 34

- Nghị định số 66/HĐBT ngày 3/2/1992 về cá nhân và nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định.

Nhìn từ góc độ lập pháp, mặc dù chỉ trong thời gian ngắn,

Nhà nưóc ta đã xây dựng cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ và toàn

diện cho sự ra đời và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bảo đảm cho công dân

thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình

b) Pháp luật về hợp dồng kinh tế.

Các doanh nghiệp muốn sản xuất, cung ứng dịch vụ, tất yếu

phải tham gia các quan hệ kinh tế với nhau Hình thức pháp lý

của các quan hệ trao đổi đó là hợp đồng kinh tế Nhà nước, vói tư ’ cách là người quản lý nền kinh tế phải tạo môi trường pháp lý cho

việc ký kết và thực hiện các hợp đồng đó được tiến hành một cách

trôi chảy, thông suốt Chính vì vậy, pháp luật hợp đồng kinh tế

phải trở thành lĩnh vực cấu thành quan trọng thứ bai của luật kinh

tế

Nhiệm vụ cơ bản của lĩnh vực pháp luật này là qui định ai

là chủ thể hợp đồng kinh tế, những nguyên tắc khi thực hiện hợp

dồng phải tuãn thủ, những nội dung, hình thức mà mỗi sự thoả

thuận giữa các doanh nghiệp phải thoả mãn cũng như các hình

thức trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm hợp đổng phải gánh chịu

trước bên đối tác của mình và trước Nhà nước

Ớ các nước cớ nền kinh tế thị trường phát triển không có sự

phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, vì cho rằng

rất khó phân biệt sự khác nhau giữa quan hệ dãn sự và quan hệ > kinh tế Mặt khác, về mục đích đặt ra, các quan hệ này có thể

khác nhau nhưng chúng lại giống nhau về tính chất pháp lý mà

qua đây là chủ yếu thiết lập quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các

bên Vì vậy ở các nước này chỉ có luật hợp đồng với các nguyên

tắc chung và có nhiều loại hợp đồng chuyên biệt như hợp đồng

mua bán, hợp đổng thuê, hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng

Trong quá trình phát triển kinh tế còn xuột hiện nhiều loại hợp

33

Trang 35

đồng mới như hợp đồng Leassing, hợp đồng Factoring

ở Việt nam hiện nay vẫn còn tổn tại hai loại hợp đồng cơ bản là hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tê năm

1989 và hợp đồng dân sự theo Bộ luật dân sư năm 1995 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/1996 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm

1989 về cơ bản được xây dựng theo những nguyên tắc của cơ chế quản lý kinh tế đó là sự thoả thuận theo ý chĩ trong việc ký kết hợp đồng, mặc dù vậy chỉ mới sau 7 năm thực hiện nó đã bộc lộ một sô nhược điểm rất đáng lưu ý:

- Thứ nhất, các văn bản khác đã mở rộng chủ thế được quyền tham gia vào các hoạt động kinh tế nhưng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế lại không điều chỉnh Ví dụ, các hợp đồng giữa các bến nước ngoài được ký kết ở Việt nam hoặc các hợp đồng giữa những người kinh doanh theo Nghị định sô 66 - HĐBT ngày 2/3/1992v.v không được coi là hợp đồng kinh tế

- Thứ hai, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định tất cả hợp đồng kinh tế phải ký bàng văn bản là không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi mà công nghệ thông tin đã được hiện đại hoá, đa dạng hoá gấp nhiều lần so với thời điểm ban hành Pháp lệnh

- Thứ ba, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành trước

Bộ luật dân sự nên nhiều qui định hiện nay không theo các nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng mà Bộ luật dân sự đã thừa nhận

- Thứ tư, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đi quá sâu vào chi tiẽt nội dung của hợp đồng, điều đó dẫn tới hạn chế quyền tự do định đoạt, tự do kết ước trong nền kinh tế thị trường và trái vói nguyẽn tắc mềm dẻo trong hoạt động kinh tế

Một đặc điểm đáng lưu ý về thực trạng pháp luật hợp đổng kinh tế cần phải kể đến là Việt nam chưa tham gia công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế các hàng hoá (Công

34

Trang 36

ưức Viên năm 1980) - United Nation Convention OI1 Contracts foi International sale of goods (Vienna, 1980) Có thể nói đây là một công ước rất quan trọng trong xu hướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế trên thế giới cũng như đối với việc thực hiện chính sách kinh tế mở.

Việc ban hành Bộ luật dãn sự năm 1995 và Luật thương mại

1997 đã đật ra vấn đề cần phải xem lại vị trí, nội dung Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

c) Pháp luật vể giải quyết tranh chấp kinh tẻ

Trong hoạt động kinh doanh không ở đâu và không bao giò' lại không xảy ra các tranh chấp vi phạm Nói cách khác, tranh chấp và vi phạm đã trở thành một tất yếu khách quan trong mọi nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta Vì vậy, điều dĩ nhiên

là Nhà nước phải thành lập ra các tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế như Toà án, trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa những nhà kinh doanh Giải quyết tranh chấp kinh tế trong giai đoạn hiện nay đã trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng có tác dụmg thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất mr<ớc

Chính vì vậy giải quyết tranh chấp kinh tế phải trở thành lĩnh vực quàn trọng thứ ba của Luật kinh tế Lĩnh vực pháp luật này có nhiệm vụ tạo môi trường pháp lý cho việc tổ chức cũng như hoạt động của các loại hình giải quyết tranh chấp như Toà án kinh tế, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, các trung tâm trọng tài phi Chính phủ khác và các hình thức hoà giải, thương lượng

Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, hầu hết pháp luật các nước không có sự phân biệt giữa tranh chấp kinh tế

và tranh chấp dân sự Một sô nước có Luật thương mại phát triển sớm như Pháp và Đức có phân biệt giữa Luật thương mại và luật dân sự thì có phân biệt tranh chấp thương mại và tranh chấp dân

35

Trang 37

Ở Việt nam, khái niệm tranh chấp kinh tế cũng không được định nghĩa trực tiếp trong pháp luật Nó chỉ được hiểu thông qua các qui định thẩm quyền của các cơ quan tài phán kinh tế về các vụ việc cụ thể như thẩm quyền của trọng tài kinh tế Nhà nước trước đây, thẩm quyền của Toà án nhân dân, thẩm quyền của trọng tài kinh tế (phi Chính phủ) hiện nay.

Qua mười năm đổi mới, trong lìng vực giải quyết tranh chấp kinh tế, Nhà nước đã tạo ra một mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế Cũng như ở các nước, về pháp luật cũng như trong

thực tế, ở Việt nam hiện nay đang tồn tại nhiều hình thức giai

quyết tranh chấp knh tế, tìr kết quả nghiên cứu cho thấy các hình thức chủ yếu sau đây:

do hợp đồng và tự do định đoạt của các bên Các bên tự đưa ra giải pháp và tự thoả hiệp với nhau để giải quyết các bất đổng Đay

là hình thức giải quyết các tranh chấp được các nhà kinh doanh

ưa chuộng vì nó không phiền hà, tốn kém, không gây ra quan hệ xấu trong kinh doanh Bất kỳ nhà kinh doanh Việt nam nào cũng tìm giải pháp thương lượng trước khi tìm một giải pháp khác

Mặc dù vậy, không phải thương lượng không có các yếu điểm Nhất là trong điều kiện Việt nam mới ở thời kỳ đầu cúa

36

Trang 38

kinh tê thị trưòng, doanh nghiệp Nhà nước lại chiếm tỷ trọng rât lớn trong nền kinh tế Việc giải quyết tranh chấp khép kín này dễ gây ra các hiện tượng tiêu cực giữa các doanh nghiệp Nhà nước Hoạt động thương lượng ở Việt Nam cho đến nay hoàn toàn mang tính chất tự phát, theo truyền thống, chưa có sự nghiên cứu

có tính chất hệ thống để tổng kết về lý luận về thương lượng

- Hoà g iải

Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba bằng cách thuyết phục để các bên chấm dứt các xung đột, bất hoà Từ điển tiếng Việt định nghĩa "Hoà giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách

ổn thoả" Từ điển luật học Anh - Mỹ của Black định nghĩa "Hoà giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng

tư, trong đó hoà giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một thoả thuận"

Điểm khác nhau cơ bản vói thương lượng là khi hoà giải có bên thứ ba làm trung gian giúp đỡ các bên để tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp Nói chung hoà giải cũng là hình thức giải quyết

tranh chấp không chính thức do các bên tự lựa chọn vậy, I 1Ó

được áp dụng rất phổ biến, đặc biệt ở các nước chụi ảnh hưởng của phật giáo, nho giáo và các xã hội theo truyền thống tự quản làng xã ở Việt nam

Mặc dù hoà giải được nhãn dân và Nhà nứơc ghi nhận là phương pháp giải quyết tranh chấp có hiệu qủa và rất được ưa chuộng, nhưng trong thực tế, chúng ta lại thiếu sự nghiên cứu I1Ó

một cách hệ thống, đặc biệt là, hoà giải ngoài thủ tục tố tụng để đưa ra các lý thuyết, mô hình về hoà giải nổi tiếng như qui trình hoà giải Polberg - Taylor, trung tâm hoà giải Bắc Kinh, Qui tác hoà giải không bắt buộc của ICC Qui tắc hoà giải của

IN C ITR A L

Ở Việt nam hiện nay, hoà giải có thể thức trong thủ tục tô tụng (Toà án, trọng tài) hoặc không theo thủ tục bắt buộc nào

37

Trang 39

Hoà giải không theo thủ tục là việc các bên mời bất kỳ một bên thứ ba là trung gian để cùng đàm phán thương lượng Hai bên

tự trình bày các quan niệm, ý kiến của mình, người hoà giai hướng các bên xoá bỏ bất đồng tiến tới một thoả thuận

Hoà giải trong thủ tục tố tụng được tiến hành khi một trong các bên đã có đơn kịên đến Toà án hoặc trọng tài yêu cầu giải quyết tranh chấp Hoà giải trong thủ tục tố tụng là thủ tục bắt buộc đối với cả Toà án và trọng tài chí xét xử, giải quyết nếu đã tiến hành hoà giải mà không thành

-Trọng tài

Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp được các nhà kinh đoanh trong nền kinh tế thị trường ưa chuộng Hầu hết các tranh chấp kinh tế thương mại trên thế giới được giải quyết theo con đường trọng tài nếu thương lượng và hoà giải không , thành Ớ Việt nam, đây là loại hình giải thể tranh chấp còn non trẻ Tuy vậy, khung pháp luật cơ bản đã bắt đầu được hình thành.

Các văn bản pháp luật về trọng tài Phi chính phủ ở Việt nam hiện nay bao gồm:

1.Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (Ban hành kèm theo quyết định số 204 - TTg ngày 20/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm trọng tài quốc tê Việt nam)

2.Quyết định số 114 - TTg ngày 16/7/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam

3 Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt

4 Thông tư sô 02 - PLDSKT ngày 3/1/1995 của Bộ tư pháp

38

Trang 40

hướng dẫn thi hành một sô điểm của Nghị định 1 16/CP.

5 Quyết định số 453 - QĐ/CTN của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam về việc tham gia công ước New

york năm 1985 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài

nước ngoài

Hệ thống các văn bản pháp luật về trọng tài phi Chính phũ

theo chúng tôi có đặc điểm chủ yếu đáng chú ý sau đây:

Thứ nhất, có điều không mấy hợp lý là đối với cùng một

quan hệ xã hôi có tính tập trung như nhau nhưng pháp luật đã ra

hai mặt bằng pháp lý khác nhau đó là Nghị định 1 16-CP ngày

5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài phi Chính phủ

Trung tâm trọng tài quốc tế lại hoạt động theo Quyết định 204-

TTg ngày 20/4/1993 Điều đó càng trở nên mâu thuẫn khi mỏ'

rộng thẩm quyền của trung tâm trọng tài quốc tế theo Quyết định

sô 114-TTg ngày 16/2/1996 để trung tâm trọng tài quốc tế được

giải quyết các tranh chấp kinh tế trong nước

Thứ hai, việc qui đinh thẩm quyền của trọng tài kinh tế phi

Chính phủ ở Việt Nam chưa dựa trên các đậc trưng cơ bản của

trọng tài phi Chính phủ, là trọng tài chỉ có thể được tổ chức trên

cơ sở có sự thoả thuận Nguyên tắc này được thể hiện hầu hết

trong pháp luật về trọng tài trên thế giới Việc qui định chặt chẽ

về thẩm quyền sẽ hạn chế quyền tự do hợp đồng và tự do định

đoạt của người kinh doanh

Thứ ba, trọng tài viên của Trung tâm trọng tài quốc tế do

phòng thương mại công nghiệp Việt nam công nhộn Các trọng

tài viên của trung tủm trọng tài kinh tế theo Nghị định sô 1 16-

CP ngày 5/9/1994 do Bộ tư pháp công nhận Như vây là có một

loại trọng tài viên do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công

nhộn, có loại trọng tài viên do một tổ chức không phái là cơ quan

Nhà nước mà do một tổ chức xã hội công nhộn

Thứ tư, quyết định của trung tâm trọng tài quốc tế là chung

39

Ngày đăng: 11/04/2020, 07:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w