Đe xây dựng được nền công vụ chính quy, hiện đại với đội ngũ công chức vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động t
Trang 2B ộ T ư PHÁP B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
PHÒNG DOC 12Ì11 _ _
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC • • • •
Trang 3Lời cảm ơn
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Hồng Thái về sự hướng dẫn tận tình của thầy trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn này.
Tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện quỷ báu của các thầy, các cô trong Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Luật Hà Nội
và Các thầy cô tham gia giảng dạy, truyền bá kiến thức để tác giả đến được với buoi Bảo vệ Luận văn Thạc sỹ.
Qua đây, tác giả cũng xin được cảm ơn sự động viên, giúp đỡ và đóng góp ỷ kiến của Th.s Trần Thị Hương Trang củng bạn bè, đồng nghiệp - những người hiện đang công tác tại các cấp bộ ngành ở Trung ưong và địa phưong.
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực Bối cảnh đó vừa là điều kiện thuận lợi vừa là thách thức to lớn đối với yêu cầu hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa nền công vụ của nước nhà
Nó đòi hỏi đội ngũ công chức phải có đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực, trình độ chuyên môn ở một tầm cao mới đủ để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên thực tế, chất lượng công chức của ta chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ công chức bị trì trệ, thiếu tính nhạy bén, yếu kém về năng lực để thực hiện nhiệm vụ Một bộ phận công chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về lối sống; hoặc
né tránh, thiếu bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực Một số công chức nhà nước, chưa thực sự lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, làm thước đo chủ yếu nhất cho mức độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình Quan hệ của họ với nhân dân thậm chí còn mang dấu ấn cai trị theo kiểu ban phát, thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng Từ đó, dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhân dân và lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước và nhân dân giao phó để nhận hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêu chuẩn đích thực của người “công bộc của nhân dân”, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng Thực trạng của những khuyết, nhược điểm của công chức trên đây có phần do
Trang 5khắc với bản thân, không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng mình Cơ chế quản
lý, kiếm tra, giám sát của tổ chức và thủ trưởng trực tiếp cũng như cúa nhân dân đôi với hoạt động của công chức còn hạn chế, chưa thường xuyên, nghiêm túc
và thiếu đồng bộ Việc xử lý các vi phạm của công chức chưa nghiêm đã dẫn đến hạn chế kết quả răn đe, giáo dục
Đe xây dựng được nền công vụ chính quy, hiện đại với đội ngũ công chức vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân: một mặt phải chú trọng nghiên cứu, khảo sát, gắn bó với thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội nói chung và đội ngũ công chức nhà nước nói riêng ; phải tích cực nghiên cứu lý luận, trước hết là nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vị trí, vai trò người cán bộ cách mạng cũng như yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ công chức Mặt khác, cần thiết phải xây dựng hệ thống văn bản pháp luật chặt chẽ, cơ chế để đảm bảo việc tuân thủ, nhằm thực hiện các quy định pháp luật công chức có hiệu quả.Trên cơ sở đó, xác định hệ thống các yêu cầu, tiêu chuấn của công chức đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Đồng thời, phải tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy, hiện đại của các nước trong khu vực và trên thế giới
Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đang là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ riêng của công cuộc cải cách hành chính mà của cả sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước Do đó, việc nghiên cứu đề tài
pháp luật về “Xây dựng đội ngũ công chức trong tiến trình cải cách hành
chính ỏ' Viêt Nam hiên nay - những vấn đề lý luân và thưc tiễn ” là hết sức• • V o %l • •
Cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế cải cách hành chính nhà nước
Trang 62 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐÊ TÀI
Công tác xây dựng đội ngũ công chức đã giành được sự quan tâm của đông đảo các nhà quản lý và nhà khoa học Nhiều công trình, đề tài nghiên cứu
có nội dung nghiên cứu về xây dựng đội ngũ công chức như: “Các giải pháp thúc đẩy xây dựng đội ngũ công chức” của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến với nội dung phân tích tiến trình xây dựng đội ngũ công chức ở nước ta những năm qua, nêu lên những mặt được cũng như hạn chế, thiếu sót, những nguyên nhân cản trở đối với tiến trình này và kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy xây dựng đội ngũ công chức ở nước ta trong thời gian tới “Hành chính học và Xây dựng đội ngũ công chức”, “v ề nền hành chính nhà nước Việt Nam, những kinh nghiệm xây dựng và phát triển” do GS,TS Vũ Huy Từ làm chủ biên đưa ra các mối quan hệ của xây dựng đội ngũ công chức trên phương diện lý thuyết cơ bản của xây dựng đội ngũ công chức; GS.TS Nguyễn Duy Gia với “Cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta”; Đe tài 91-98-039 của Học viện Hành chính Quốc gia do GS TS Nguyễn Duy Gia làm chủ nhiệm: “Cải cách bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam” ; GS Đoàn Trọng Truyến với “Tổng quan về cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam” Chương “Công vụ và quản lý nhân sự trong hệ thống hành chính nhà nước” trong cuốn “Nhập môn Hành chính Nhà nước” của PGS.TS Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu; GS.TS Trần Ngọc Hiên với “Cải cách chương trình đào tạo cho các loại đối tượng công chức” ; “Chương Quy chế pháp lý hành chính của cán bộ, công chức”trong Giáo trình Luật Hành Chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội của TS Trần Minh Hương v.v
Ngoài ra, xây dựng đội ngũ công chức còn được nghiên cứu, tìm hiêu qua các bài viết, công trình trên các báo, tạp chí góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm nội dung của đề tài này
Các công trình nghiên cứu đó đề cập đến nhiều phương diện kiến thức về
Trang 7tìm hiếu lĩnh vực này Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa toàn diện và đầy
đủ, dưới góc độ luật học
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học nghiên cứu về xây dựng đội ngũ công chức, tác giả đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn; đánh giá, nhận định vai trò của pháp luật đối với công tác xây dựng đội ngũ công chức hiện nay, thực tiễn việc xây dựng công chức ở Việt Nam dưới góc độ luật học, trong đó tập trung phân tích, đánh giá các nội dung cơ bản của công tác xây dựng đội ngũ công chức qua hệ thống các văn bản pháp luật, phân tích những bài học kinh nghiệm và kiến nghị những giải pháp đế nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng đội ngũ công chức
Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định do yêu cầu nghiên cứu ở cấp độ thạc
sỳ luật học, nên không phải tất cả các khía cạnh của đề tài đều được tiếp cập và giải quyết một cách thoả đáng Những vấn đề đó sẽ được giải quyết ở một công trình nghiên cửu toàn diện, với yêu cầu cao hơn
Phương pháp luận được sử dụng để thực hiện luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin
Các phương pháp cụ thể được tác giả áp dụng trong quá trình thực hiện luận văn là phân tích, tống hợp, đánh giá, so sánh, thống kê, khảo sát
5 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA VIỆC NGHIÊN CÚXJ ĐỀ TÀI
5.1 Mục đích:
Trang 8Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn ban hành
và áp dụng hệ thống văn bản pháp luật trong công tác xây dựng đội ngũ công
chức Trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả
xây dựng đội ngũ công chức, đóng góp trực tiếp cho chương trình tổng thể xây
dựng đội ngũ công chức hiện nay Luận văn cũng kiến nghị một số nội dung cơ
bản cho định hướng xây dựng công chức đến năm 2020 để đáp ứng yêu cầu cải
cách tổng thể nền hành chính của Việt Nam khi cơ bản trở thành một nước công
nghiệp hóa
5.2 Nhiêm vu• •
Căn cứ mục đích đã đề ra, các nhiệm vụ cụ thể được dự kiến như sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ
công chức Đặc biệt, cơ sở lý luận hành chính học kết hợp với chức năng điều
chỉnh pháp lý cho công tác xây dựng đội ngũ công chức hiện nay
- Phân tích, đánh giá chương trình xây dựng đội ngũ công chức hiện nay
và thực tiễn triển khai được điều chỉnh bởi nền tảng pháp lý với những ưu điểm
cần được phát huy và hạn chế cần khắc phục
- Xây dựng các đề xuất nâng cao hiệu quả xây dựng đội ngũ công chức
giai đoạn hiện nay, kiến nghị một số nội dung cơ bản định hướng hoàn thiện cơ
sở pháp lý cho công tác xây dựng đội ngũ công chức
Nếu nghiên cứu thành công luận văn có thể có những đóng góp sau:
công chức Những đánh giá thiết thực và tổng luận mới, toàn diện về vai trò của
Trang 9pháp luật đôi với chương trình xây dựng đội ngũ công chức giai đoạn hiện nay, quá trình thực hiện chương trình trong những năm qua.
b Những đề xuất nhằm phát huy ưu điểm, hạn chế những khiếm khuyết của chương trình xây dựng đội ngũ công chức, định hướng cho xây dựng đội ngũ công chức trên cơ sở phân tích bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện cải cách hành chính ở nước ta và quá trình hình thành, phát triến của pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng đội ngũ công chức
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ công chức
Chương 2: Thực tiễn xây dựng đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ công chức
Trang 10Chương 1
CO SỎ LÝ LUẬN VÊ XÂY DỤNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
1.1 Khái niệm công chức và xây dựng đội ngũ công chức
1.1.1 Khái niệm công chức
Trong khoa học pháp lý và khoa học hành chính khái niệm công chức được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau, tuỳ theo giai đoạn lịch sử, theo góc độ nghiên cứu cũng như cách hiểu ở từng hệ thống pháp luật hay từng quốc gia khấc nhau Nhằm hướng tới việc giải quyết nội dung của đề tài mà luận văn lựa chọn, ở đây tác giả phân tích khái niệm công chức theo hệ thống pháp luật Việt Nam, dưới góc độ nghiên cứu của bản luận văn thạc sĩ trên cơ sở có so sánh, phân tích với khái niệm công chức của thế giới
Khái niệm nhà nước càng trừu tượng bao nhiêu thì khái niệm công chức lại
cụ thể và thực tế bấy nhiêu Xuất phát từ tính chất, mối quan hệ của công chức với nhà nước mà công tác xây dựng đội ngũ công chức rất quan trọng Ở bất cứ quốc gia nào, vấn đề công chức cũng giành được sự quan tâm của nhà nước Và, Việt Nam cũng không là ngoại lệ Sự quan tâm của nhà nước đối với công tác xây dựng đội ngũ công chức ngày càng tăng và cụ thể Điều này thấy rõ qua việc ban hành các văn bản quản lý nhà nước về công chức qua tùng giai đoạn từ Nghị định số 217/CP ngày 8 tháng 6 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ ban hành quy định về chế độ trách nhiệm, chế độ kỷ luật, chế độ bảo vệ của công và chế độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công nhân viên và cơ quan Nhà nước, đến Pháp lệnh Cán bộ Công chức 1998, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh cán bộ công chức 2000, 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Điều này cũng được thể hiện qua quá trình hoàn
Trang 11thiện dần hệ thống cơ quan nhà nước quản lý công chức từ Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đến Bộ Nội vụ bây giờ.
ơ Việt Nam, hệ thống văn bản pháp luật không phân biệt rõ cán bộ và công chức nhà nước do tính đặc thù về chế độ chính trị và xã hội Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo giai đoạn lịch sử
mà nội hàm và ngoại diên của khái niệm này thay đổi Có thời điểm, khái niệm công chức dùng để chỉ những công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ (trừ những trường hợp riêng do Chính phủ quy định) - sắc lệnh 76/SL quy định chế
niệm công chức lại không được nhắc đến, thậm chí bị hoà tan trong khái niệm cán
bộ, viên chức Tình trạng này kéo dài suốt một chặng đường dài của lịch sử đất nước từ năm 1954 đến năm 1991 sau khi Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành với khái niệm: “Công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp Những đối tượng sau đây thuộc phạm vi công chức:
- Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương
- Những người làm việc trong các Đại sứ quán, Lãnh sự quán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
- Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của nhà nước và nhạn lương từ ngân sách
- Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng
Trang 12- Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.
- Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyđịnh.”
Theo đó, Nghị định này đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho việc tuyển chọn đúng, sử dụng hiệu quả các công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức phục vụ nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới
Ngày 26/2/1998 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua và ngày 9/3/1998 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh cán bộ công chức, đánh dấu một bước phát triến mới trong công tác xây dựng đội ngũ công chức Trong pháp lệnh này, khái niệm công chức không tách khỏi khái niệm cán bộ với ranh giới rõ rệt mà được hiểu theo phương pháp loại trừ Đối tượng không phải là cán
bộ (những người do bàu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và những người đưọ'c tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội) được coi là công chức Pháp lệnh này
đã sửa đổi ngày 29/4/2003 Theo đó công chức là:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, ở Trung ương; ở tỉnh, thành phổ trực thuộc Trung ương ; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
•- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Trang 13- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước;
- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bố nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong ủ y ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.”
Ngoài các quy định trên đây, xác định đối tượng là công chức được gắn với 3 yếu tố cơ bản:
- Sự tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một cương vị thường xuyên trong một công sở nhà nước Có nghĩa công chức là người được lựa chọn, tuyển dụng một cách chu đáo theo một quy trình nhất định và được bổ nhiệm để thực thi công vụ
có tính thường xuyên Tính thường xuyên có nghĩa là ổn định và liên tục Đặc điểm này gắn liền với tính thường xuyên, liên tục của nền hành chính, khác với công việc chính trị có thể thay đổi và gián đoạn Ví dụ: Đại biểu Quốc hội làm theo nhiệm kỳ, còn công chức có thể thực hiện công việc của mình suốt đời nếu không vi phạm pháp luật, kỷ luật Nhà nước
- Được xếp vào ngạch thể hiện tính nghề nghiệp của công chức Đây là dấu hiệu xác nhận người công chức là người làm một việc nhất định trong bộ máy hành chính nhà nước
- Công chức hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp là dấu hiệu để phân biệt công chức với các loại cán bộ khác Ngân sách Nhà nước là quỹ chung
Trang 14của Nhà nước, nguồn của Ngân sách là do nhân dân đóng góp Nhà nước là cơ quan công quyên đại diện cho nhân dân, sử dụng ngân sách để nuôi bộ máy phục
vụ nhân dân
Trên cơ sở quy định của pháp luật về công chức cùng với những phân tích
trên đây, khái niệm công chức có thể được nêu như sau; “Công chức là công
dân Việt Nam được pháp luật thừa nhận đê thực hiện công vụ; được tuyển dụng
và bổ nhiệm giữ một cương vị thường xuyên trong một công sở nhà nước; được xếp vào ngạch và hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp
1.1.2 Khái niệm xây dựng đội ngũ cồng chức
Việc tìm hiểu khái niệm “xây dựng đội ngũ công chức” được dựa trên khái niệm công chức đã xác định ở trên và việc tìm hiểu các khái niệm về “xây dựng” nói chung và các khái niệm có mức độ liên quan nhất định, như “xây dựng bộ máy nhà nước” , “xây dựng cơ chế quản lý công chức”, “xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa” v.v
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “xây dựng” được định nghĩa là “Xây dựng:
1 làm nên, gây dựng nên; 2 tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó, VD: xây dựng đề cương; 3 (thái độ, ý kiến): có tinh thần đóng góp, làm tốt hơn”
Như vậy, xây dựng đội ngũ công chức được hiểu theo nghĩa thứ nhất, mang tính chất gây dựng
Hiện tại khái niệm “xây dựng đội ngũ công chức” chưa được xây dựng và ghi nhận trong một tài liệu chính thức nào Chính vì vậy, qua việc đánh giá một
số các định nghĩa liên quan và từ khái niệm công chức đã được xác định ở trên
có thê định nghĩa “xậy dụng đội ngũ công chứ c”, dưới góc độ pháp lý, là tong
hợp các hoạt động và biện pháp mà nhà nước tiến hành bao gồm ban hành các văn bản pháp luật, tô chức triến khai, giám sát, kiếm tra, đảm bảo thực hiện
Trang 15thời điêm hiện tại; hoạch định chiến lược nguồn nhân lực lâu dài để đáp úng
nhu cầu phát triển của đất nước trong tương lai và nguyện vọng của đông đảo
rrhcĩn dân
1.2 Vai trò của xây dựng đội ngũ công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước.
Đội ngũ công chức là lực lượng lao động xã hội đặc biệt, là nguồn nhân
lực có đặc thù riêng, lao động của họ gắn liền với quyền lực nhà nước, hoặc
phục vụ cho lao động quyền lực nhà nước nhằm mục tiêu cuối cùng là phục vụ
nhân dân Công chức nhà nước phục vụ trong nhiều cơ quan, công sở khác nhau
của bộ máy nhà nước, nhưng là một hệ thống thống nhất đồng bộ, có đặc trưng
nghề nghiệp giống nhau, có mục tiêu thực hiện hoạt động công cụ giống nhau là
phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước Địa vị của họ được xác định trước hết
bằng một quy chế chung đối với mọi công chức, quy chế riêng đối với từng loại
công chức trong các ngành nghề khác nhau Do đó việc xây dựng đội ngũ công chức là công tác thiết yếu nhằm đảm bảo tính thống nhất, phân cấp rõ rệt cũng như sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp chính quyền Vì thế, xây dựng đội ngũ công chức có vai trò hết sức quan trọng trong tổng thể chương trình cải cách hành chính ở nước ta trong giai đoạn này
Trước hết, công chức với khả năng và trình độ được đào tạo sẽ nhận thức đúng và đầy đủ ý nghĩa của cải cách hành chính Trên cơ sở đó, các chương trình hành động và mục tiêu đặt ra sẽ được cụ thể hoá trong tư duy làm việc cũng như cụ thể trong công việc hành chính nhà nước
Công chức là người thiết kế và thực hiện chương trình cải cách hành chính Bản thân đội ngũ công chức rất khó để có thể là một giai cấp đồng nhất,
hệ thống này được tạo nên từ những con người thuộc nhiều tầng lớp và phân biệt nhau về nội bộ theo vùng, chức năng, cấp độ, phương thức nghề nghiệp, và khả năng kỹ thuật Đội ngũ công chức được xem như một công cụ để ảnh hưởng về
Trang 16chính trị và sự vận động của xã hội đi lên Vì có tính chất đa dạng của các loại hình công việc và sự khác biệt trong đội ngũ công chức nên đồng thời phát sinh những khác biệt về lợi ích và cách thức hướng tới những lợi ích này Qua sự phân tích này ta có thể thấy, vai trò của xây dựng đội ngũ công chức là hết sức quan trọng bởi nó quyết định từ nhận thức của đội ngũ công chức, nhận thức để thay đổi, chuyển đổi trong tiến trình cải cách Nhìn từ tong thế xây dựng đội ngũ công chức trong cải cách hành chính được hình dung như sắp xếp lại hệ thống theo tính chất, trình độ và chức năng bên cạnh những lợi ích để phù hợp hơn.
Hơn thế nữa, xây dựng đội ngũ công chức là công tác có vị trí chiến lược cho các chương trình kế tiếp Cải cách hành chính được đặt ra như hoạt động của bất cứ một quốc gia nào Hoạt động đó được hoạch định theo một chiến lược
có tính dài hạn, như một hiện tượng có tính quy luật, có tính phát triển Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển cần thiết hoàn thiện được cơ sở pháp lý nhằm xây dựng nhân tố con người, xây dựng đội ngũ công chức thống nhất, chuyên môn hoá cao để thực hiện chính sách Và cao hơn nữa, đội ngũ công chức đó phải là người hiểu đồng thời tiếp tục thực hiện cũng như hoạch định các chương trình mới phù hợp với quy luật vận động của xã hội, của tình hình phát triển cụ thể của đất nước đặt trong bối cảnh cụ thể của đất nước cũng như tình hình thế giới
Xây dựng đội ngũ công chức là cơ sở đầu tiên và cơ bản cho sự phát triển chung của đất nước Hiện nay, đội ngũ công chức đang được xây dựng cho ngang tầm nhiệm vụ mới Đội ngũ công chức có thể coi là trung tâm của toàn bộ
hệ thống chính trị, của bộ máy nhà nước, của nền hành chính và là của toàn bộ qua trình phát triển Đội ngũ công chức là nhân tố đề ra các cuộc cải cách hành chính và đồng thời cũng thực hiện cải cách hành chính Xây dựng đội ngũ công chức là huy động nỗ lực của đội ngũ này theo phương hướng dự kiến Có thể
Trang 17kiến thức chuyên môn nghề nghiệp có vai trò quyết định trong thành công của công cuộc cải cách hành chính Đe hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, đồng thời phải xây dựng những chuẩn mực về mặt pháp luật, tạo ra một không gian và định hướng cho hoạt động xây dựng con người mới, những công chức nhà nước có chất lượng phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.3 Quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đội ngũ công chức
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ "xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực" và "hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, coi trọng cả năng lực và đạo đức" Do đó, việc tiến hành nghiên cứu các luận cứ khoa học nhằm xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là việc làm hết sức cấp thiết
Mặc dù còn phải tiếp tục nghiên cứu về nhằm hình thành các quan điểm cũng như các nguyên tắc chỉ đạo của công tác xây dựng đội ngũ công chức phục
vụ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân; Trong điều kiện hiện nay, xây dựng đội ngũ công chức nhất thiết phải đứng trên trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại và các nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng hình mẫu công chức “công bộc của nhân dân”
Vì vậy, tất yếu phải hình thành một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của công chức, trong đó xác định rõ quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi công vụ của họ Chế độ công vụ phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những quyền lợi thỏa đáng đi kèm với những đòi hỏi khắt khe về khả năng chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của công chức Đồng thời, cần xây dựng thể chế - cơ chế quản lý công chức phù họp với nền
Trang 18hành chính hiện đại, được thể hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật về công chức, công vụ
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân,
vì dân thống nhất lãnh đạo công tác quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước trong quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là rất quan trọng Từ lâu, vấn đề công chức đã được xác định là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của đất nước ; là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Vì vậy, vấn đề đổi mới và thể chế hóa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có ý nghĩa hết sức quan trọng vừa là nhu cầu cấp bách hiện nay Thực hiện quản lý công chức bằng pháp luật, công chức dù ở cấp nào đều phải gương mẫu chấp hành pháp luật nhà nước Có công được khen thưởng, có tội bị xử phạt theo luật, bất kể người đó là ai, ở cương vị công tác nào Không cho phép một cá nhân hoặc tổ chức nào được lợi dụng chức quyền để bao che,
1.4 Cơ sở xây dựng và những nội dung cơ bản của công tác xây dựng đội ngũ công chức giai đoạn hiện nay
1.4.1 Cơ sở xây dựng đội ngũ công chức
Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền lý luận tiềm tàng
về công tác xây dựng đội ngũ công chức Trong đó hám chứa quan điêm rõ ràng
là muốn xây dựng Nhà nước mạnh, phải có nền hành chính mạnh, mà trong đó phải có một nền công vụ độc lập với một đội ngũ công chức hết sức trung thành với tổ quốc, với nhân dân và đây là yếu tố thành bại của cách mạng
Trang 19động kinh tế xã hội được vận hành theo cơ chế tập trung bao cấp, hệ thong luật pháp chưa được xây dựng hoàn chỉnh Vì vậy, khi nền kinh tế đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đội ngũ công chức đã bộc lộ những bất cập trên nhiều lĩnh vực như thiếu kiến thức về hành chính và pháp luật, bỡ ngỡ trước sự phát triển nhanh chóna của kinh tế thị trường, lúng túng trong hội nhập quốc tế
và thiếu năng động trong phục vụ lợi ích nhân dân Không những thế, một bộ phận không nhỏ công chức đã lạm dụng quyền lực, chức vụ, tham nhũng, sách nhiễu và ức hiếp dân chúng Trước tình hình đó, Đảng ta đã chủ trương: để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tiến hành cải cách hành chính, một trong những nội dung quan trọng của cải cách hành chính là xây dựng đội ngũ công chức
Trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên tính đặc thù của thực tiễn xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác này, ngay từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ công hoà 2/9/1945 đến nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng đến công tác này được thể hiện bởi một hệ thống văn bản pháp luật hành chính về công chức Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 76/SL quy định chế dộ công chức Đây là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh lĩnh vực xây dựng đội ngũ công chức ở nước ta Do điều kiện hoàn cảnh của đất nước, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tuyển dụng đúng, sử dụng có hiệu quả các công chức làm việc trong các có quan nhà nước, từng bước xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày 25/5/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức Nhà nước Ngày 26/2/1998 đứng trước yêu cầu cấp bách chuẩn hoá đội ngũ công chức, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua và ngày 9/3/1998 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh công chức, đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về công chức Pháp lệnh này đến nay đã được sửa đổi, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003 Cùng với tiến trình cải cách hành chính,
Trang 20Việt Nam đang hướng tới xây dựng Luật công vụ nhậ
1.4.2.Nội dung công tác xây dựng đội ngũ công chức
Yêu cầu và đòi hỏi của công tác xây dựng đội ngũ công chức trong tổng thể chương trình cải cách hành chính là phải xác định được những nội dung cơ bản Nội dung này là cơ sở nhằm tìm kiếm những cơ sở lý luận phù hợp, đồng thời sẽ giúp hoạch định các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể cho công tác này Nội dung của chương trình xây dựng đội ngũ công chức bao gồm:
Thứ nhất, quản lý công chức là nội dung rất quan trọng trong chương
trình xây dựng đội ngũ công chức Nội dung này bao gồm các hoạt động Quản
lý số lượng, chất lượng đội ngũ công chức nhà nước; Đánh giá và nhận xét về số lượng và chất lượng phân theo các loại A, B, C; Cơ cấu công chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; Công tác hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực quản lý công chức; Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch; Các công tác quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, khen thưởng, kỷ
công chức; Công tác tinh giản biên chế công chức trong cơ quan nhà nước; Đánh giá về đổi mới quản lý công chức trong mỗi giai đoạn cụ thể, khẳng định năng lực quản lý công chức của các cấp chính quyền địa phương từ trung ương đến địa phương trong qúa trình đổi mới Những ưu điểm chính trong công tác quản lý công chức, những tồn tại, nguyên nhân.v.v
Trang 21Thứ hai, bên cạnh nội dung quản lý công chức là nội dung đào tạo, bồi divỡng công chức Qua đó, đội ngũ công chức sẽ thường xuyên được nâng cao
nhận thức và năng lực góp phần phát huy hiệu quả công tác, triển khai tốt các chương trình, các hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực cũng như cải cách hành chính Nội dung này bao gồm các hoạt động tập huấn cho các đổi tượng công chức nhằm trang bị và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ; sát hạch phẩm chất đạo đức, năng lực, tính cần cù, thành tích trong công tác
Thứ ba, tiền lương và các chế độ, chỉnh sách đãi ngộ cũng là nội dung
mang tính quyết định của công tác xây dựng đội ngũ công chức Nội dung này nhằm mục tiêu tạo tâm lý yên tâm cho công chức khi phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, điều tiết cái chung và cái riêng, lợi ích cá nhân và lợi ích của đất nước Đặc biệt khi đất nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường thì cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ phải thường xuyên thích ứng với điều kiện sinh hoạt cũng như tiến bộ về mặt xã hội Nội dung này bao gồm các hoạt động cải cách hệ thống thang, bảng lương, điều chỉnh bội số và hệ số tiền lương trong các thang, bảng lương, sửa đổi, bổ sung các chế độ phụ cấp theo ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn v.v , đánh giá công tác cải cách tiền lương đối với công chức, xác định tồn tại cần khắc phục, nguyên nhân của những tồn tại đó nhằm xây dựng phương hướng, kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn phát triển
Thứ tư, để đội ngủ công chức có chất lượng, nội dung nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công chức cũng cần được quan tâm Ngay từ khi
thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phải làm sao cho tất cả công chức từ Chính phủ đến làng xã đều là công bộc của nhân dân, đều phải tận tụy phục vụ nhân dân Người luôn nhấn mạnh và khẳng định, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của công chức; và đòi hỏi mỗi người, nhất là người cán bộ cách mạng, phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó
Trang 22Chương 2
T H ựC TIỄN XÂY D ựN G ĐỘI NGỦ CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Quản lý công chức
2.1.1 Pháp luật về quản lý công chức
Đe thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010, ngày 29 tháng 4 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 69/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước giai đoạn 1 (2003-2005) Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước giai đoạn 1 (2003- 2005), có mục tiêu chung là Xây dựng đội ngũ công chức hành chính có số lượng, cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từng bước tiến tới chuyên nghiệp, hiện đại; có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực thi hành công vụ, tân tuỵ phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân
Các mục tiêu cụ thể được đặt ra là: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế xây dựng, quản lý công chức nhà nước, cơ chế hoạt động công vụ phù hợp với yêu cầu mục tiêu của nền hành chính hiện đại; Xác định tiêu chuẩn, chức danh ngạch công chức cho từng lĩnh vực Công chức được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ, kỹ năng thực hành theo yêu cầu nghề nghiệp của từng loại công chức, biết sử dụng máy vi tính và ngoại ngữ trong hoạt động công vụ Từng bước cải tiến công tác quản lý hồ sơ nhằm hiện đại hoá công tác quản lý công chức Áp dụng rộng rãi Công nghệ thông tin và các công cụ quản lý hiện đại khác trong việc quản lý đội ngũ công chức Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cơ sở vững mạnh, có năng lực tổ chức, công tâm với nhiệm vụ, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân;
Trang 23nâng cao trách nhiệm công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, và đạo đức công vụ của công chức.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản lý đội ngũ công chức là triển khai thực hiện Pháp lệnh Công chức sau khi dược sửa đôi bố sung; nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để chuẩn
bị xây dựng luật Công vụ
Pháp lệnh Công chức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1 tháng 5 năm 1998, là văn bản pháp qui quan trọng để nhà nước ta xây dựng và quản lý đội ngũ công chức Qua 5 năm thực hiện Pháp lệnh, cùng với sự phát triển của nền hành chính và cải cách hành chính, nhiều nội dung của Pháp lệnh đã phát huy tích cực trong xây dựng và quản lý đội ngũ công chức nhưng mặt khác thực tiễn cũng đã đòi hỏi phải có những đổi mới đế phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và cải cách hành chính Thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW VII khoá 8 và Nghị quyết Hội nghị TW 5, Hội nghị TW6 khoá 9, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lênh Công chức được
Ưỷ ban thường vụ đã thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2003, và có hiệu lực thi hành vào ngày 1 tháne 7 năm 2003 Pháp lệnh này đã phân biệt rõ đối tượng công chức làm việc trong các cơ quan nhà nuớc với công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước; Bổ sung cán bộ chuyên trách và cán bộ chuyên môn ở xã phường thị trấn là đối tương điều chỉnh cuả Pháp lệnh; quy định về chế độ công chức dự bị; đổi mới quản lý biên ché và công tác tuyển dụng công chức
Để triển khai thực hiện Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Công chức năm 2003, hệ thống các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện để hoàn thiện khung pháp lý cho quản lý, đội ngũ công chức đã được xây dựng Kết quả cho ra đời các cơ sở pháp lý quan trọng sau:
Trang 24Nghị định số 115/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ công chức dự bị;
Nghị định số 1 16/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyên dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các đơn vị
sự nghiệp của nhà nước;
Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan nhà nước;
Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về công chức xã, phường thị trấn;
Chính phủ về việc xử lý kỷ luật công chức;
Nghị định số 54/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ về chế độ thôi việc, chế độ bồi thường chi phí đào tạo đối với công chức
Nghị định 121/2006/ND-CP ngay 23/10/1006 Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước
Bên cạnh đó là hệ thống các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Nghị định nói trên và tổ chức hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra thực hiện
Trang 252.1.2 Thực tiễn quản lý cồng chức
Với việc xây dựng, ban hành văn bản nói trên, hệ thống thể chế quản lý công chức đã từng bước được hoàn thiện; sửa đối bố sung kịp thời các vướng mắc trong thực tiễn; khẳc phục được những tồn tại trong các văn bản và quản lý công chức trước đây; Đen nay, về cơ bản, những văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lênh Công chức, đã khá đầy đủ, theo tinh thần đổi mới cụ thể là:
về đổi mới cơ chế bổ nhiệm công chức lãnh đạo:
Thực hiện chủ trương nâng cao chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ công chức lãnh đạo, Bộ Nội vụ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19 tháng 2 năm 2003 về Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm công chức lãnh đạo Tại Quyết định này
đã quy định chế độ bổ nhiệm có thời hạn, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức và miễn nhiệm đối với công chức lãnh đạo Qua đó chủ trương bổ nhiệm có thời hạn của Đảng được thể chế hoá Những người không đảm đương được vị trí chức danh đang giữ thì không thực hiện bổ nhiệm lại và được bố trí công tác khác phù hợp
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra việc thực hiện công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với công chức lãnh đạo ở các cơ bộ, tỉnh cũng được tăng cường để công tác này trở thành nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo các cấp
Tuyến dụng:
Căn cứ vào các nội dung sửa đổi của Pháp lệnh công chức, Nghị định số 115/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về chế độ công chức dự bị; Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 quy định chế độ tuyển dụng, sử dụng và quản
Trang 26lý cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước; Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan nhà nước, các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Nghị định này cũng được ban hành Các nội dung đổi mới cơ chế tuyển dụng thể hiện
sự đổi mới và phân cấp theo tinh thần phân định giữa công chức và viên chức,
và thực hiện chế độ công chức dự bị cụ thể như sau:
công chức trước đây, tập trung quyền tuyển dụng về cấp Bộ và tỉnh, bổ sung thêm việc thực hiện chế độ công chức dự bị 24 tháng đối với tất cả những người được tuyển dụng mà chưa là công chức và một số loại đối tượng được miễn thực hiện chế độ công chức dự bị
- Tuyển dụng viên chức: Phân cấp cho Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp lập kế hoạch tuyển dụng, trình cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt, sau khi được phê duyệt thì tiến hành tuyển dụng theo quy trình quy định chung Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp có thẩm quyền ký hợp đồng làm việc lần đầu, hợp đồng làm việc đặc biệt, họp đồng làm việc có thời hạn và không có thời hạn đối với người được tuyển dụng Hiện nay các bộ tỉnh đang khẩn trương phân cấp từng bước việc tuyển dụng viên chức cho các đơn vị sự nghiệp, trước mắt cho các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ, thuộc tỉnh
- Các trường hợp đặc biệt: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có quyền quyết định tuyển dụng trực tiếp công chức có trình độ học vấn cao (Thạc sỹ, Tiến sỹ) mà không nhất thiết phải theo đúng, đủ trình tự thủ tục quy định
Nâng ngạch:
Trang 27Việc nâng ngạch hiện nay phải thông qua kỳ thi nâng ngạch Ngoài ra có những trường hợp được thực hiện đặc biệt như Người được bổ nhiệm giữ chức
vụ Thứ trưởng và tương đương thì đương nhiên được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên cao cấp; Người được Phong Giáo sư thì được bổ nhiệm vào ngạch Giáo sư; người được phong Phó giáo sư thì được bổ nhiệm vào ngạch Phó giáo
sư - giảng viên chính; Người đến tuổi nghỉ hưu, khi đã có thông báo nghỉ hưu, nếu đủ tiêu chuẩn ngạch trên, giữ lương bậc cuối của ngạch đang hưởng thì được xem xét, có thê bô nhiệm lên ngạch trên; Người ở ngạch có trình độ đào tạo thấp, được cơ quan cử đi đào tạo, sau khi tốt nghiệp, được cơ quan xếp vị trí công tác phù hợp thì được xem xét bổ nhiệm vào ngạch cán sự, ngạch tương đương ngạch cán sự hoặc ngạch chuyên viên, ngach tương đương ngạch chuyên viên
Phân cấp giải quyết nâng ngạch từ chuyên viên chính và tương đương trở xuống do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ưỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
Nâng ngạch từ ngạch chuyên viên chính và tương đương lên ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định
Các bộ được phân công quản lý ngạch công chức chuyên ngành tô chức thi nâng ngạch công chức, ngạch viên chức chuyên ngành từ ngạch tương đương chuyên viên chính lên ngạch tương đương ngạch chuyên viên cao cấp; Bộ Nội
vụ tô chức thi nâng ngạch công chức hành chính từ ngạch chuyên viên chính và ngạch tương đương chuyên viên chính lên ngạch Chuyên viên cao cấp
Công tác xây dựng chức danh tiêu chuẩn
Hệ thống chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ được ban hành từ năm 1993 đến nay, là tiêu chuẩn định hướng để xây dựng và chuẩn hoá về chất lượng đối với đội ngũ công chức theo ngạch và theo chức danh Hệ thống chức danh và
Trang 28tiêu chuẩn này đã ban hành được hơn 10 năm, nhiều chức danh mới được hình thành, cũng có một số chức danh cũ nay không còn tồn tại Tiêu chuẩn của chức danh cũng đã có nhiều thay đổi, một số ngạch trước kia chỉ yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp, nay đã gần như đại học hoá, một số ngành trước đây chỉ đào tạo
trình độ ngoại ngữ bây giờ yêu cầu cũng cao hơn, công chức dự bị, công chức, viên chức được tuyển dụng hiện nay, đã có trình độ ngoại ngữ cao hơn Trong những năm qua, hệ thống tiêu chuẩn chức danh các ngạch công chức đã ban hành cũng đã được rà soát đánh giá lại, kiến nghị sửa đổi những tiêu chuẩn chức danh không còn phù hợp với yêu cầu, tình hình thực tiễn xây dựng phát triển đội ngũ công chức, xây dựng chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức mới nhằm dần hoàn thiện được một hệ thống tiêu chuẩn chức danh các ngạch công chức,viên chức tương đối đầy đủ, rõ ràng, góp phần cho việc quản lý, xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong giai đoạn hiện nay theo cơ chế mới Bộ Nội vụ đã ban hành các Quyết định về chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch mới, và điều chỉnh chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ của một số ngạch, ban hành tiêu chuẩn các chức danh công chức, viên chức lãnh đạo thuộc các ngành Kiểm sát, ngành Y tế, ngành Văn hóa thông tin; ngành quản lý thị trường; ngành Kiểm lâm; ngành Dự trữ quốc gia, ngành Ngân hàng Nhà nước Các Bộ, địa phương căn cứ vào các tiêu chuẩn chung của ngạch của chức danh, ngạch, đã cụ thể hoá tiêu chuẩn đổi với công chức của mình
về phản công, phân cấp quản lý công chức
Việc phân công, phân cấp, quản lý công chức được thể hiện trên Pháp lệnh công chức và các văn bản hướng dẫn, theo đó Chính phủ đã mở rộng và trao thêm nhiều thẩm quyền quản lý đội ngũ công chức cho các Bộ, ngành và địa phương Đáng chú ý là Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
Trang 29được Chính phủ giao quản lý ngạch công chức chuyên ngành có nhiều nhiệm vụ
và thẩm quyền hơn trong việc thực hiện xây dựng đội ngũ công chức chuyên ngành của mình như tiêu chuẩn chức danh; quy định nội dung và tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch, xây dựng chế độ chính sách và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức chuyên ngành Để thực hiện cơ chế mới trong việc quản lý viên chức sự nghiệp, các Bộ được phân công quản lý các ngạch chuyên ngành đang tích cực tập trung phân cấp quản lý đối với việc quản lý viên chức, đặc biệt chú trọng phân cấp quản lý viên chức ngành Giáo dục, đào tạo và Y tế Các Bộ, các tỉnh đang khẩn trương thực hiện phân cấp quản lý trong Bộ và tỉnh mình
Công tác đảnh giá
Đánh giá công chức, viên chức được thực hiện theo nhiệm kỳ, và vào dịp cuối năm công tác, tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức cùng với các tiêu chí về chính trị tư tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, và đạo đức tác phong
Bo sung và hoàn thiện chế độ kỷ luật và chế độ thôi việc đối với công chức:
Qua quá trình thực hiện chế độ kỷ luật và chế độ thôi việc đối với công chức từ năm 1998 đến 2003 đã cho thấy có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị trong quản lý công chức Việc đổi mới cơ chế và phân cấp quản lý công chức, viên chức, nhất
là thực hiện hình thức hợp đồng làm việc đối với viên chức sự nghiệp khi tiến hành tuyển dụng đã đặt ra sự cần thiết phải sửa đổi Nghị định 97/1998/NĐ-CP
và Nghị định số 96/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chế độ kỷ luật và chế độ thôi việc đối với công chức, viên chức Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17 tháng 3 năm 2005 về việc xử lý kỷ luật công chức; Nghị định số 54/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4/
Trang 30năm 2005 về chế độ thôi việc, chế độ bồi thường chi phí đào tạo đối với công chức Nội dung đổi mới của các chế độ quy định tại các Nghị định này được thể hiện:
v ề chế độ kỷ luật: Đã hệ thống hóa lại các qui định chung liên quan đến việc xem xét xử lý kỷ luật công chức: các trường hợp phải bị xử lý kỷ luật, chưa xem xét xử lý kỷ luật và những trường hợp không áp dụng hình thức kỷ luật; các nguyên tắc phải quán triệt và tuân thủ khi xử lý kỷ luật công chức; việc khiếu nại, khởi kiện và giải quyết các khiếu nại kỷ luật Làm rõ được các vấn đề về thời hiệu xử lý kỷ luật, trách nhiệm của người được giao thẩm quyền không xử
lý kỷ luật công chức vi phạm trong thời hiệu quy định; vị trí, vai trò và nguyên tắc làm việc của Hội đồng kỷ luật, thư ký Hội đồng kỷ luật; sửa đổi số lượng và thành phần Hội đồng kỷ luật; Quy định cụ thể và rõ ràng quy trình, trình tự xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức vi phạm, thời hạn và trách nhiệm ra quyết định kỷ luật; việc chấm dứt hiệu lực của Quyết định kỷ luật Như vậy đã góp phần chuẩn hóa việc xử lý kỷ luật đối với công chức, giảm bớt những khiếu nại, thắc mắc sau khi xét kỷ luật
về chế độ thôi việc: Do đổi mới hình thức tuyển dụng viên chức thông qua hình thức ký hợp đồng làm việc nên các quy định về giải quyết chế độ thôi việc đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với cơ chế mới Đồng thời qua 5 năm thực hiện chế độ thôi việc quy định tại Nghị định số 96/1998/NĐ-CP ngày 17/11/2998 thì nhiều điểm liên quan đến quy trình, thủ tục và cách tính trợ cấp thôi việc cũng cần được bổ sung cho hoàn thiện hơn
Công tác hướng dân, kiếm tra
Phối họp với các Bộ được giao quản lý ngạch chuyên ngành hướng dẫn thực hiện việc quản lý công chức, viên chức chuyên ngành, tăng cưòng công tác
Trang 31kiểm tra việc thực hiện các quy định đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Qua công tác hướng dẫn, kiểm tra, đã có tác dụng đôn đốc việc thực hiện các quy định mới trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp; hướng dẫn giải thích những vấn đề về quản lý công chức còn chưa rõ ở các đơn vị, kịp thời phát hiện những tồn tại để uốn nắn
và nhắc nhở các cơ quan thực hiện đúng các quy định, đồng thời phát hiện những vấn đề moiưid để kịp thời điều chỉnh sủa đổi cho phù hợp với thực tiễn
Đe nâng cao hiệu quả công tác quản lý công chức, cần phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý như xây dựng và ban hành quy chế quản lý
hồ sơ công chức áp dung thống nhất trong hệ thống hành chính; thiết kế để hoàn thiện nội dung hồ sơ, thống nhất quy cách, tính pháp lý của hồ sơ công chức; nâng cao năng lực, nghiệp vụ đổi với công chức làm công tác quản lý công chức; nâng cấp, hiện đại hoá trang bị và phương tiện quản lý công chức; Nghiên cứu các nôi dung quy định khai trong hồ sơ công chức và các tiêu chí thông tin khai trong hồ sơ công chức để đưa ra danh mục nội dung, tiêu chí thông tin thống nhất cần thiết của hồ sơ công chức; Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý, lữu trữ, bảo quản và khai thác hồ sơ công chức để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng công tác lưu trữ, bảo quản và khai thác hồ sơ công chức trong thời gian tới Trong đó, có đánh giá công tác quản lý hồ sơ công chức của Bộ Nội vụ và ngành tổ chức nhà nước
Việc hiện đại hoá công cụ quản lý công chức tập trung chủ yếu trên lĩnh vực tin học hoá quản lý công chức và tạo lập cơ sở dữ liệu công chức và quản lý
hồ sơ công chức Các báo cáo đánh giá về: hệ thống các văn bản quy định của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý hồ sơ công chức hiện hành; nội dung hồ
sơ, các tiêu chí thông tin của hồ sơ; thực trạng công tác lưu trữ hồ sơ, bảo quản
và khai thác hồ sơ, thực trạng trang thiết bị quản lý và lưu trữ hồ sơ đã nêu được
Trang 32tông quan vê thực trạng công cụ quản lý công chức hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực tể, các mẫu hồ sơ cán bộ, mẫu biểu báo cáo định kỳ về công tác quản lý cán bộ chưa được thống nhất và đặc biệt là phương tiện giúp cho công tác quản lý công chức vẫn còn lạc hậu; trình độ đội ngũ làm công tác quản lý hồ
sơ công chức chưa thật sự có chuyên môn sâu, chưa đồng đều, chưa được tiếp cận với các phương tiện quản lý nhân sự hiện đại
Bên cạnh các hoạt động đó, tổng điều tra đội ngũ công chức hành chính
và công chức xã phường thị trấn cũng được tiến hành nhằm xác định được số lượng, chất lượng đội ngũ công chức hành chính và công chức xã phường thị trấn; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin quốc gia về công chức; đánh giá tình hình công tác đào tạo bồi dưỡng công chức, trên cơ sở đó xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng đối với từng loại công chức
Thông qua điều tra đội ngũ công chức và công chức xã phường thị trấn, kết hợp với điều tra xã hội học, các kết quả điều tra, số liệu điều tra sẽ giúp cho việc đánh giá được thực trạng tình hình quản lý công chức của nhà nước ta và của các bộ, địa phương, làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, đào tạo bồi dưỡng và đối mới công tác quản lý
Phương án Tổng điều tra, xây dựng kế hoạch Tổng điều tra và xây dựng các mẫu biểu, phiếu điều tra, gồm: 2 loại phiếu (Phiếu công chức hành chính và Phiếu công chức cơ sở để điều tra và lấy thông tin đến từng người của khoảng500.000 công chức hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương và công chức cơ sở cấp xã của địa phương) Nội dung của 2 loại phiếu này gồm các tiêu chí cần thiết của một bản tóm tắt lý lịch công chức, do công chức tự khai, được
cơ quan quản lý xác nhận và lưu tại các cấp quản lý và Bộ Nội vụ và được nhập vào làm cơ sở dữ liệu quản lý đội ngũ công chức toàn quốc;
Trang 3314 Mau biểu thống kê, báo cáo về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức hành chính, 27 mẫu biểu thống kê, báo cáo về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn, 9 loại phiếu điều tra xã hội học đã được xây dựng để chuẩn bị bước vào cuộc Tổng điều tra đối với khoảng 500.000 công chức hành chính và công chức xã, phường, thị trấn trên cả nước vào thời điểm 0 giờ ngày 10 tháng 11 năm 2005 Ngoài ra, còn điều tra xã hội học với khoảng với 86.000 đối tượng là: công chức hành chính và công chức xã, phường, thị trấn; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; các chuyên gia tổ chức cán bộ; người dân
để lấy ý kiến đánh giá về thực trạng thể chế quản lý đội ngũ công chức nước ta hiện nay; đánh giá về công chức hành chính cũng như công chức cơ sở; xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại công chức, kết hợp với phiếu công chức làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức; đánh giá về trình độ công nghệ thông tin đối với những công chức làm về công nghệ thông tin trong công tác quản lý cán bộ, đánh giá về thực trạng công
cụ quản lý hồ sơ công chức, đánh giá về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hồ sơ công chức để làm cơ sở cho việc đổi mới công
cụ quản lý công chức
Xây dựng phần mềm quản lý công chức, hành chính và phần mềm quản lý công chức xã phường, thị trấn, các phần mềm để tổng hợp, phân tích kết quả các phiếu điều tra xã hội học
Một số nội dung của công tác tổng điều tra sẽ được tiếp tục thực hiện trong trong thời gian tới đó là công tác tổng họp các báo cáo phân tích kết quả tổng điều tra; Hoàn thiện phần mềm, tổ chức nhập dữ liệu công chức hành chính
và cán bộ xã, phường, thị trấn vào hệ thống để tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ
sở dữ liệu về công chức, phục vụ cho công tác quản lý đội ngũ công chức
2.1.3 Những tồn tại trong công tác quản lý đội ngũ công chức.
Trang 34Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý công chức là hết sức cần thiết Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực này chưa được hoàn thiện và kiện toàn Hệ thống Văn bản pháp luật đó không những chưa ràng buộc người công chức trong việc phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân mà còn thiếu tính cụ thế.
Qua các quy chế pháp lý, người công chức chưa xác định, ý thức được hoạt động của mình, dẫn đến chưa nhìn nhận rõ trách nhiệm của mình là phục vụ Nhà nước và nhân dân để giữ gìn phẩm chất, tận tụy với nhân dân, hết mình với công vụ Ngược lại, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý công chức chưa phản ánh lòng tin của Nhà nước, của nhân dân gửi gắm vào đội ngũ công chức
Dưới góc độ pháp lý, hành vi của công chức chưa hoàn toàn được kiểm soát và điều chỉnh, hiện tượng lạm dụng thẩm quyền sách nhiễu nhân dân, thoái hóa biến chất vẫn còn tồn tại do thiếu căn cứ cụ thể để xử lý công chức vi phạm
Không những thế, phương thức hoạt động, trách nhiệm của công chức khi thi hành công vụ chưa được cụ thể hoá, chưa phân định rõ thẩm quyền của các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước nói chung và công chức nói riêng; Quy chế làm việc thiếu tính chặt chẽ, chuyên nghiệp
Mặt khác, trong quá trình xây dựng quy chế pháp lý cho công tác quản lý công chức còn thiếu những đảm bảo cho những nội dung này đi vào đời sống xã hội nói chung cũng như hoạt động của công chức nói riêng, trong đó có nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
2.2 Đào tạo, bồi dưõng công chức
2.2.1 Pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Trang 35ngũ công chức Đê thực hiện nội dung này, việc xây dựng và hoàn thiện các
quan trọng Hiện tại, Quy chế thẩm định chương trình, giáo trình, tài liệu đàotạo, bồi dưỡng công chức; Quy chế đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công chức quản lý doanh nghiệp; Quy chế cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bàng nguồn ngân sách nhà nước Các quy chế về c ấ p và quản lý chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng; Quy định về tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ giảng viên về quản lý nhà nước; Quy chế hoạt động của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Quy chế về đào tạo, bồi dưỡng trưởng thôn, ấp, bản, tổ trưởng tổ dân phố đã được xây dựng và ban hành và đang được hoàn thiện Ngoài ra, các quy định khác có liên quan đến công tác đào tạo bồi dưỡng công chức cũng được kết họp vào nội dung của các văn bản về phân cấp quản lý như : v ấ n đề định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức xã, phường, thị trấn đến 2010 đã được đưa vào nội dung của văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định 03/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức xã, phường, thị trấn đến 2010; các vấn đề về tổ chức hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cũng được đưa vào nội dung các văn bản hướng dẫn tổ chức bộ phận quản lý đào tạo bồi dưỡng trong Vụ Tổ chức cán bộ các bộ, và Sở Nội vụ các tỉnh và văn bản hướng dẫn tổ chức hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức các bộ
Kết quả rõ nét trong công tác này là sự chỉ đạo của Chính phủ xây dựng
và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh công chức sửa đổi ngày 29/4/2003, trong đó có 3 nội dung mới quan trọng là:
- Có chế định về đội ngũ công chức xã;
- Có chế định về công chức dự bị;
- Tách rõ công chức hành chính với viên chức sự nghiệp
Trang 362.2.2 Thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng công chức
Trên cơ sở các hệ thống các căn cứ pháp lý được xây dựng, các chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng đã được chuấn hoá cùng với cải tiến phương pháp đào tạo, bồi dường Ban hành các chương trình: Chương trình khung và tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức dự bị; Chương trình bồi dưỡng giảng viên quản lý nhà nước Triển khai xây dựng: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn các ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên; Chương trình khung và tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cán sự; Chương trình bồi dưỡng theo chức danh Giám đốc sở, Chủ tịch xã; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đào tạo; Phương pháp sư phạm hành chính
Song song với công tác xây dựng và chuẩn hóa chương trình, giáo trình đào tạo, công tác khảo sát, đánh giá về thực trạng chất lượng công tác đào tạo bồi dương công chức và công tác giám sát đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng được tiến hành để có cơ sở xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá
về công tác đào tạo bồi dưỡng công chức:
Kết quả cụ thể công tác đào tạo bồi dưỡng công chức giai đoạn 2001-2005
đã đạt được như sau: Khoảng 2.510.000 lượt người được đào tạo bồi dưỡng, trong đó có 407.000 lượt công chức đuợc đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị,894.000 lượt người được đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước,1.076.000 lượt người được đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn; 37.000 lượt người được được đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ và gần 96.000 lượt người được đào tạo bồi dưỡng kến thức về tin học
Ngoài ra còn có gần 292.000 đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng hoạt động; có khoảng 50.000 lượt người được bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 37Như vậy đã có khoảng 2.852.000 lượt người được đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ trong giai đoạn 2001-2005.
Kết quả việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra: Khung pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã được xây dựng, về cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của giai đoạn hiên tại; Chương trình, nội dung đầo tạo bồi dưỡng đã và đang được hoàn thiện từng bước, tuy nhiên mới hoàn thành chương trình khung Giáo trình của từng chương trình đang được xây dựng mới, và hoàn thiện từng bước Phương thức đào tạo, bồi dưỡng cho công chức theo ngạch và theo chức vụ bắt đầu được cải tiến, tuy nhiên cách dạy và cách học thì vẫn chưa cải tiến được bao nhiêu Đến hết giai đoạn 1 của chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010, về cơ bản, 100% công chức hành chính được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêu chuẩn ngạch, 70% cán bộ chuyên trách, cán bộ chuyên môn ở cơ sở xã, phường, thị trấn được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêu chuẩn; Chất lượng đội ngũ giảng viên chuyên ngành về quản lý Nhà nước, cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ chuyên gia đàu ngành làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách được nâng lên một bước
Mở các khoá đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức và theo các ngạch là chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và các ngạch tương đương Nâng cao ý thức trách nhiệm của công chức trong việc phục
Trang 38biên kêt quả, các lóp tập huấn được triển khai tại Trung ương cũng như địa phương nhằm trang bị kiến thức cho đội ngũ công chức này góp phần triển khai
có hiệu quả công tác ở địa phương
2.2.3 Những tồn tại Đào tạo, bồi dưỡng công chức
Công tác tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng công chức có vị trí hết sức quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ công chức suốt chiều dài của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, qua thực tiễn, công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cho thấy còn nhiều tồn tại của công tác này cần thiết phải
Hơn nữa, nội dung đào tạo, bồi dưỡng thiếu cập nhật những tiến bộ của nhân loại trong lĩnh vực công nghệ quản lý nhà nước Bên cạnh đó, phương pháp đào tạo và bồi dưỡng công chức không năng động, linh hoạt và hữu hiệu, còn diễn ra tình trạng đào tạo máy móc, đối phó dẫn đến công chức được đào tạo cũng mang tính chất đối phó, thích nghi Và như vậy, công tác quản lý hành chính Nhà nước chưa thể đạt hiệu quả cao khi : Công chức không đạt tiêu chuẩn chức danh và thiếu đi đảm bảo về các yếu tố kỹ thuật
2.3 Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ