Tính cáp thiết của vấn để: ở các nước đang phát triển, công chứng là một thể chế lâu đời, góp phần rất quan trọng vào việc lành mạnh hóa và giữ ổn định quan hệ xã hội, phònc ngừa các tra
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯPHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯPHÁP
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯPHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
THAC SĨ LUÂT HOC
Người hướng dẫn khoa học:
PTS Hoàng Thê Liên
Hà Nội -1998
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời nói đ ầ u 4
Chương I: M ột sô vấn đề lý luận về công chứng 1.1 Khái niệm công chứng 9
1.1.1 Ý nghĩa pháp lý của văn bản công chứng 12
1.1.2 Vai trò của công chứng trong đòi sốns xã h ộ i 13
1.1.3 Hình thức vãn bản và thủ tục công chứng 15
1.1.4 Các việc công chứng 18
1.1.5 Các trường phái công chứng ưên thế giói 21
1.1.6 Vấn đề trách nhiệm của công ch ứ n g 29
1.2 Khái quát lịch sử phát triển của công chứng giao dịch về tài sản ở Việt N a m 31
1.2.1 Tổ chức công chứng thời Pháp thuộc 31
1.2.2 Tổ chức công chứng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1945 - 1991 33
1.2.3 Hoạt động công chứng ở Việt Nam từ 1991 đến nay 36
Chương II: Thực trạng hoạt động công chứng một số giao dịch về tài sản ở Việt Nam 2.1 Về các văn bản quy định tổ chức và hoạt động công chứng 49 2.2 Thực trạng công chứng các giao dịch tài sản ở Việt N a m 51
2.2.1 Công chứng hợp đổng mua bán nhà ở 51
2.2.2 Công chứng quan hệ thế chấp tài sản 65
2.2.3 Công chứng vốn khi thành lập doanh nghiệp 77
Trang 6Chương III: Một sô đánh giá về các quy định pháp luật hiện hành
về cóng chứng ỏ nước ta và đề xuất giải pháp hoàn thiện về công chứng các giao dịch về tài sản.
3.1 Xác định bản chất của hành vi công chứng và giá trị pháp
lý của văn bản công chứng 813.1.1 Bản chất của hành vi côns ch ứ n g 813.1.2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứ ng 84
3.2 Vấn đề phạm vi các việc cônc chứng và nội dung công
chứng từng loại việc 853.2.1 Phạm vi công chứng của các phòng công chứng nhà nước
theo quy định điều 18 Nghị định 31/CP 863.2.2 Nội dung công chứns theo Nghị định 3 1/CP và hướng dẫn
Thông tư 1411/TT-CC 88
Danh mục tài ỉiệu tham k h ả o 96
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cáp thiết của vấn để:
ở các nước đang phát triển, công chứng là một thể chế lâu đời, góp phần rất quan trọng vào việc lành mạnh hóa và giữ ổn định quan hệ xã hội, phònc ngừa các tranh chấp xẩy ra
ở nước ta, chuyển sang cơ chê thị trường với sự tham gia của nhiêu thành phần kinh tế thì công chứng là hoạt động hỗ trợ tích cực về mặt pháp
lý để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ dân sự, kinh
tê và thương mại Với tư cách là người quản lý xã hội, Nhà nước cũng rât cần sự hiện diện của công chứng để góp phần đưa quan hệ xã hội từ tự phát thành lành mạnh, ổn định và văn minh Nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của hoạt động công chứno;, Nhà nước ta đã rất quan tâm đên
tổ chức và hoạt động của cổng chứng, đã ban hành nhiều văn bản quy định
về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước 1 :ên thực tẽ, hoạt động của công chứng Nhà nước đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân và bảo đảm pháp chê XHCN trong đời sống xã hội
Tuy nhiên, trong quy định của pháp luật cũng như trong tổ chức và hoạt động thực tế của công chứng Nhà nước cũng còn bộc lộ nhiều sự bất cáp cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc và bài bản đê trên cơ sơ đó
có những kiến nghị góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động cua công chứng Nhà nước
Hơn nữa, mặc dù Nhà nước ta rất quan tâm đến tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước, nhưng phải nói rằng, đây là một lĩnh vực hoạt động mới mẻ, một hoạt động trực tiếp liên quan đến lợi ích của nhân dân; nhân dân cũng như các cơ quan Nhà nước nhận thức chưa đầy đủ vê công chứng Nhà nước, có nhiều than phiền về thủ tuc của hoạt động này \ ân đê
Trang 8đặt ra là cần nghiên cứu để làm rõ vai trò, ý nchĩa thực tiễn lớn lao của công chứng Nhà nước, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về công chứng, về tổ chức hoạt động của công chứng, rút ra mặt được, mặt chưa được của hoạt động công chứng Đó là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Theo tinh thần đó, chúng tôi chọn đề tài " Một sô vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản ở Việt Nam " làm đề tài luận án cao học Luật Chọn đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu một cách bài bản, có hệ thống
về pháp luật công chứng Nhà nước cũng như hoạt động công chứng các giao dịch về tài sản ỏ' nước ta trong thời gian qua Trên cơ sở đó, có một số
đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước nói chung và hoạt động công chứng các giao dịch về tài sản nói riêng
2 Tình hình nshiên cứu khoa hoc về tổ chức và hoat đông của công chứng:
Trên thế giới, nhất là ở Cộng hoà Pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của công chứng, ở Việt Nam ta, công chứng là vấn đề còn tương đối mới mẻ, do đó có rất ít công trình khoa học nghiên cứu về công chứng Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy có một số công trình lớn sau đây:
• Đề tài cấp Bộ " Cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức, hoạt động công chứng ở Việt Nam " mã số 92 - 98 - 224, năm 1993, do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý thực hiện
• Đề tài khoa học cấp thành phố: " Xây dựng và hoàn thiện công tác công chứng Nhà nước trên địa bàn thành phố Hà n ộ i ", năm 1994 do
Sở Tư pháp thành phố Hà Nội thực hiện
Trang 9• Sô thông tin chuyên để về cônc chứnc do Viên nghién cứu khoa học pháp ly - Bộ tư pháp xuất bản năm 1995 Tronc đó, chủ yếu là giới thiệu kinh nghiệm tổ chức và hoạt độnc cônc chứnc của Cộng hoà Pháp, cộng hoà Ba lan, CHLB Đức, Vương quốc Anh, cộng hoà Singapo và liên đoàn công chứng quốc tế hệ La tinh
Ngoài những công trình khoa học lớn như nêu ở trên, trong tạp chí dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp cũng đăng nhiều bài nghiên cứu về công chứng Nhà nước Các bài nghiên cứu này chủ yếu giới thiệu về tổ chức và hoạt động của cồng chứng Nhà nước ở nước ta từ năm 1991 đến nay
Trên cơ sỏ' ké thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận án của chúng tôi thực hiện sự nghiên cứu sâu, rộng và có hệ thống hơn Mục tiêu mà chúng tôi mong muốn đạt được là đánh giá được thực trạng tổ chức và hoạt động của côns; chứnc ỏ' nuớc ta ĩ ừ trước đếr) nay, phân tích rõ những mặt ưu điểm, làm rõ nhữns mặt còn hạn chế của công chứng Nhà nước ở nước ta Điều quan trọng hơn cả là chúng tôi muốn góp một số suy nghĩ của mình vào việc tiếp tục hoàn thiện chế định cônơ chứng Nhà nước đáp ứng nhu cầu công chứng ngày càng cao của nhà nước
ta, nhất là đối với hoạt động công chứng các giao dịch về tài sản
3 Đóng góp của luân án nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu toàn diện về pháp luật về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước Trong đó, có một số đóng góp quan trọng sau đây:
• Làm rõ khái niệm của công chứng, giá trị của văn bằng côngchứng
• Làm rõ một số kinh nghiệm của các nước trong tổ chức và hoạt động của công chứng
Trang 10• Đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt độne của côns chứn.c nhà nước trên cơ sở Nghị định 45/HĐBT năm 1991 và Nghị định 31/CP năm 1996 về công chứng tài sản.
• Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định cống chứng Nhà nước ỏ' nước ta về công chứng tài sản
4 Phương pháp nghiên cứu của luân án:
Đề tài nghiên cứu thuộc khoa học xã hội Vì vậy, luận án sử dụng các biện pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội Tuy nhiên, vì đây là một đề tài mang tính tổng kết thực tiễn, nên chúng tôi sử dụng nhiều đến các biện pháp phân tích đánh giá, tổng hợp và so sánh Với các phương pháp đó, chúng tôi muốn vừa làm rõ được thực trạng, vừa làm rõ những nét đặc thù của tổ chức và hoạt động cônc chứng ỏ' nước ta và làm rõ phương hướng cần tiếp tục hoàn thiện
5 Kết cau của luân án:
Để đáp ứng các yêu cầu nêu trên của đề tài, luân án của chúng tôi có
bố cục gồm 03 chương như sau:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về công chứng
- Chương II: Thực trạng hoạt động công chứng một số giao dịch về
tài sản
- Chương III; Một số đánh giá các quy định Pháp luật hiện hành về công chứng ở nước ta và đề xuất giải pháp hoàn thiện về công chứng tài sản
Trong quá trình hoàn thành luận án, chúng tối nhận được sự giúp đỡ tích cực của các vụ, phòng của Bộ Tư pháp, của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, của trường Đai học luật Hà nội, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Hoàng Thế Liên, PTS, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học
Trang 11pháp lý Chúng tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các giúp đõ' sâu sắc đó.
Chúng tôi tin rằng, luận án còn nhiều khiếm khuyết, rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo của các thầy, các bạn đổng nghiệp
Trang 12ơ Vương quốc Anh, luật công chứng quy định: " côns chứng viên là công chức đươc bổ nhiêm Công chứng viên thưc hiên các hành vi soạn thảo, chứng nhận hoặc xác nhận chứng thư và các giấy tờ khác bao gồm việc chuyển nhượng bất động sản và các tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản "
Theo điều 6 của Dụ số 43 ngày 29/11/1954 của chính quyền Sài Gòn thì chưởng khế có nhiộm vụ:
- Lập tất cả những văn kiện và khế ước mà những đương sự trước các Tòa án bó buộc phải làm;
- Lập những văn kiện và khế ước mà các đương sự này muốn cho có tính cách công chứng, như các văn kiện do công quyền lập ra;
- Xác định niên hiệu những văn kiện và khế ước ấy;
(l) Khái niệm này gẩn như nguyên khái niệm về luâi côn g chứng của luậl công chứng ngày 25 tháng gió nãm X I/1800.
Trang 13- Quản thủ những văn kiện này;
- Lấy các bản sao đại tự và toàn sao;
Qua các khái niệm nêu trên, chúng ta thấy, mặc dù cách thể hiện có điểm còn khác nhau nhưng bản chất về khái niệm công chứng thì giống nhau Đó là hành vi tạo lập nên một văn bằng chứng cứ (công chứng thư) có giá trị pháp lý cao hơn các văn bản khác, bởi vì nó mang dấu ấn của công quyền và được bảo đảm bằng trách nhiệm đặc biệt của công chứng viên là một công chức do Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện chức năng công chứng Những chứng cứ bằng văn bản do công chứng tạo lập ra là đáng tincậy còn bởi chúng được công chứng viên lưu giữ, bảo quản tuyệt đối antoàn, bí mật và khi có yêu cầu thì đích thân công chứng viên cung cấp
ở Việt Nam, trong thời kỳ Pháp thuộc, thuật ngữ chưởng khế (người giữ các văn bản) được sử dụng với nội dung giống như công chứng sau này Thuật ngữ " Công chứng " được chính thức sử dụng thay cho " chưởng khế
" khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập Nghị định ngày 01/10/1945 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
bổ nhiệm ông Vũ Phí Vỹ làm công chứng viên tại Hà Nội Sau đó thuật ngữ công chứng được sử dụng trong Nghị định 143/HĐBT ngày 20/11/1981, Nghị định 38/CP ngày 04/06/1993 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp
Vậy theo pháp luật Việt Nam thì công chứng là gì? Đây không phải
là tranh luận về học thuật, mà vấn đề là ở chỗ, có làm rõ đựơc khái niệm công chứng thì mới có căn cứ để xác nhận việc gì cần công chứng, việc gì không cần công chứng Để có thể đưa ra một định nghĩa pháp lý về công chứng, trước hết cần làm rõ hai vấn đề cơ bản sau đây
- Mục đích của công chứng
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Trang 14Thực ra hai vấn đề cơ bản này được nêu trong điều 1 của Nghị định 45/HĐBT ngày 27/02/1991 và Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước: " Công chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng là giá trị chứng cứ
Hai vấn đề nêu trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất Tính xác thực của văn bản là tiêu chuẩn quan trọng đưa lại giá trị chứng cứ cho văn bản Nhưng không phải mọi trưòng hợp tính xác thực được công nhận là có giá trị chứng cứ Trong trường hợp này, điểm quan trọng cần lưu ý là tính xác thực của văn bản đã được chứng nhận bằng hành
vi công chứng và do đó được công nhân là chứng cứ Tính chất đặc biệt của hành vi công chứng là ở chỗ đó Nói văn bản công chứng có giá trị chứng
cứ không có nghĩa là thu hẹp phạm vi hiệu lực của vãn bản đó Giá trị chứng cứ nói ở đây là theo nghĩa rộng, tức là không phải chỉ trong trình tự
tố tụng mà cả các trình tự khác Nhưng kể cả ữong trình tự tố tụng, văn bản công chứng cũng được coi là có giá trị chứng cứ, thậm chí trong một số trường hợp nó là chứng cứ bất khả phản bác
(2) Đ iều 1 của N ghị định số 45/H Đ B T và của Nghị định sô' 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước.
Trang 151.1.1 Ý nghĩa pháp lý của văn bản công chứng:
Văn bản được làm thủ tục công chứng có ý nghĩa pháp lý đặc biệt, khác rất nhiều so với các văn bản không được công chứng Nhìn một cách tổng quát, ở bất kỳ nước nào, một văn bản công chứng đều có ý nghĩa chung như sau:
- Ngày, tháng, năm lập văn bản được coi như chính xác không thể bị đem ra tranh cãi;
- Trước các Tòa án, văn bản công chứng là những chứng cứ hoàn toàn được tin cậy về những điều mà các đương sự đã thỏa thuận được ghi trong văn bản
Tuy nhiên, ở các nước có hệ thống pháp luật khác nhau, thì ngoài ý nghĩa pháp lý giống nhau, văn bản công chứng còn được coi trọng ở mức
độ khác nhau Chẳng hạn: các nước theo hệ thống luật dân sự coi văn bản công chứng có giá trị như văn bản của chính quyền Họp đồng được công chứng có hiệu lực bắt buộc thực hiện như phán quyết của Tòa án Trong khi đó, các nước theo hệ thống luât án lê chỉ coi vãn bản công chứng đơn thuần có giá trị chứng cứ ở mức độ cao (3)
Ở Việt Nam, vãn bản công chứng được coi có giá trị chứng cứ Điều
1 của Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 02 năm 1991 quy định: " Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ " K ế thừa quy định này điều 1 của Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 05 năm 1996 phát triển thêm: " Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bô là vô hiệu
(3) Xem thêm đề tài cấp Bộ (cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chúc và hoạt động công chứng ờ V iệt Nam mã số 92 - 98 - 224, do V iện nghiên cứu khoa học thức hiện năm 1993.
Trang 16Với việc chứng nhận tính xác thực của các họp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, Nhà nước đã sử dụng các biện pháp tác động tích cực vào việc quản lý các giao dịch, góp phần phòng ngừa, hạn chế cao nhât các tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho các giao dịch, bảo đảm trật tự kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tức là, Nhà nước ta không thụ động để các tranh chấp xẩy ra mới tìm cách giải quyết
mà phải chủ động kiểm tra tính xác thực của các văn bản thông qua hoạt động công chứng Để có giá trị chứng cứ, văn bản công chứng chứng thực phải là những gì có thật Điều 9 Bộ luật Dân sự quy định " Nếu một bên cho rằng bên kia khồng trung thực thì phải có chứng cứ Vì vậy, để công chứng một họp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thê chấp tài sản thì đương sự phải xuất trình các loại giấy tờ cần thiết có liên quan đến tài sản ơồm: Giấy chứng nhận quyền sỏ' hữu tài sản, giấy chứng minh thư nhân dán Sau này, nếu có tranh chấp xẩy ra thì những giao dịch đã được công chứng có giá trị như một bằng chứng để chứng minh sự việc đó là có thật Trong tinh thần đó, ở nhiều nước trên thẽ giới hoạt động của công chứng viên được coi như hoạt động của thẩm phán khi không có tranh chấp, cũng
vì lẽ đó công chứng viên được coi là " thẩm phán phòng ngừa Do đó, không thể dễ dàng hoặc tùy tiện hủy bỏ văn bản công chứng Văn bản công chứng chỉ có thể bị bác bỏ trong những trường hợp có căn cứ rõ ràng và do
Tòa dân sự tuyên theo một thủ tục nhất định.
1.1.2 Vai trò của công chứng trong đời sống xã hội:
Bằng cách tạo nên và cung cấp những chứng cứ đáng tin cậy và không thể phản bác trong các quan hệ dân sự, thương mại (đặc biệt là các quan hệ về tài sản) công chứng đã tạo ra một sự bảo đảm an toàn pháp lý cho công dân, tổ chức khi họ tham gia các quan hệ đó Đây là một biện pháp hữu hiệu và ít tốn kém nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, đăc biêt là trong xã hội có nhiều thành phần kinh tế,
Trang 17nhiều hình thức sở hữu, trong đó sỏ hữu tư nhán được pháp luật cồng nhận
và bảo vệ
Công chứng còn có vai trò rất quan trọng trong việc phòng ngừa và hạn chế những tranh chấp, kiện tụng trong xã hội Sự đáng tin cậy và không thể phản bác của văn bản công chứng buộc công dân phải tự nguyện thi hành những nghĩa vụ và giúp họ đương nhiên được hưởng những quyền lợi
mà văn bản công chứng đã xác nhận, mà không phải nhờ đến sự phán xét của Tòa án ở những nước có hoạt động công chứng chặt chẽ và phát triển, những vụ tranh chấp, kiện cáo về dân sự giảm đi đáng kể
Khi yêu cầu công chứng, công dân còn được tư vấn để xử sự đúng pháp luật, giúp họ dễ dàn xếp, hòa giải với nhau những mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ ở các nước có nền công chứng phát triển, đặc biệt các nước theo hệ thống luật án lệ, vai trò tư vấn của công chứng ngày càng được coi trọng và mở rộng
Với chức năng và vai trò nêu trên, công chứng được coi là một trong các hoạt động bổ trợ tư pháp, với nghĩa hẹp là hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Toà án, và với nghĩa rộng là hỗ ượ (góp phần) vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội
Để tồn tại và phát triển, con người phải có những mối quan hệ với nhau trong các lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, nhu cầu về sản xuất kinh doanh hay các nhu cầu chính trị - xã hội khác Các quan hệ tài sản là một trong những quan hệ được hình thành sớm và phổ biến trong lịch sử phát triển xã hội loài nguời Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đa thành phần đã làm cho các mối quan
hệ giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức và giữa tổ chức với tổ chức phát triển cao, nhất là các quan hệ giao dịch về tài sản Nếu các giao dịch thiếu sự hướng dẫn, kiểm soát và quản lý của Nhà nước rất dễ dẫn đến lộn xộn, nhiều vi phạm và tranh tụng sẽ xẩy ra, gây không ít khó
Trang 18khăn thiột hại cho cồng dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước Với chức năng vốn có của mình, Nhà nước tiến hành quản lý các giao dịch theo quy định của pháp luật, do đó cần có sự hoạt động của công chứng để phục vụ việc quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, như công chứng hợp đồng mua bán tàn sản (hợp đồng mua bán nhà ở) công chứng tài sản thế chấp, công chứn^ vốn bằng hiện vật cho chủ doanh nghiệp tư nhân xin thành lập doanh nghiệp , đồng thời giúp đỡ pháp lý cho công dân và các tổ chức tham gia các siao dịch về tài sản được an toàn theo sự hướng dẫn và quy định của pháp luật.
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, trong nền kinh tế thị trường, mọi công dân tổ chức đều rất cần đến công chứng để bảo đảm độ an toàn, độ tin cậy cao của các quan hệ kinh tế, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ vốn rất phức tạp Công chứng Nhà nước góp phần tích cực phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, phòng ngừa tranh chấp, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp, góp phần tăng cường pháp chế XHCN Nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu khách quan về sự có mặt của công chứng Vì vậy, ưong Bộ luật Dân sự đã có tới 29 điều có quy định liên quan tới cơ quan công chứng với tính cách là một tổ chức có tính chất Nhà nước
Trang 19v ề hình thức, các văn bản phải:
- Ghi tên công chứng viên và tên văn phòng công chứng, tên, họ, tư cách và chô ở của các đương sự và các nhân chứng, ngày, tháng, năm lập vàn bản;
- Viết tay hoặc đánh máy bằng loại mực không phai, viết liền làm một văn bản, chữ viết phải rõ ràng, không viết tắt, không viết chữ chồng lên nhau, không viết xen giữa hai dòng chữ, không để khoảng cách trắng Bản đánh máy phải là bản gốc, không do giấy than đánh ra Các số tiền, ngày, tháng, năm phải viết bằng chữ
- Đương sự, nhân chứng, công chứng viên phải cùng ký tên; phải ghi chú đã đọc văn bản cho mọi người nghe Nêu vãn bản không được viết bằng tay, thì đương sự, nhân chứng và công chứng viên phải ký duứi mỗi trang
- Những chữ thêm phải ghi vào bên lề, mọi người phải ký tên hoặc
ký tăt dưới các chữ đó Phải tính sỗ chữ đã gạch bỏ ra lề hoặc dưới ván bản
Văn bản lập ra không tuân thủ các quy định trên thì bị coi là vô hiệu Nếu không có chữ ký của những người tham dự, thì văn bản chỉ có giá trị như một tư chứng thư
Công chứng viên phải giữ lại nguyên bản các văn bản mà họ lập ra Tuy nhiên, một số vàn bản như ủy quyền, có thể làm văn bản chính cấp không phải giữ nguyên bản
o nước ta, pháp luật coi trọng hình thức văn bản công chứng và thủtục công chứng Xét theo góc độ nào đó thì công chứng là một thủ tục, thủtục này là can thiẽt nhăm đảm bảo tính xác thực của văn bản, giấy tờ đượccông chứng Vì vậy, thủ tục công chứng phải rất chặt chẽ, chính xác.Nhưng mặt khác đã là " thủ tục " thì lại hay gây rắc rối, phiền hà Chính vìthế Nghị quyết 38/CP của Chính phủ và Chỉ thị 1106/CT của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp đã rất quan tâm đến viêc cải cách thủ tuc trong lĩnh vưc cônơ
Trang 20chứng Thực tế hiện nay thủ tục công chứng của ta chưa bảo đảm đuợc hai yêu cầu nói trên, tức là: Một mặt phải bảo đảm tính chặt chẽ chính xác của văn bản công chứng, mặt khác phải đon giản, thuận tiện cho dân Nói đến thủ tục thông thường có hai vấn đề quan trọng: Một là các giấy tờ, tài liệu
mà đương sự phải xuất trình có liên quan đến văn bản yêu cầu công chứng, hai là các bước, các khâu tạo lập nên văn bản công chứng, rõ ràng là hai vấn đề này không bao giờ giống nhau đối với các loại việc công chứng khác nhau Ví dụ: Các giấy tờ cần thiết và các bước tiến hành để công chứng một hợp đồng mua bán nhà không giống với công chứng hợp đồng chuyển nhượng hoặc thế chấp quyền sử dụng đất chẳng hạn Như vậy trong một văn bản pháp luật không thể quy định hết các loại thủ tục cụ thể để thực hiện công chứng các việc cụ thể Ở đây vai trò của các văn bản hướng dẫn rất quan trọng Hiện nay, do ta còn thiếu các vãn bản hướng dẫn thủ tục công chứng các việc cụ thể cho nên trong hoạt động công chứng của các địa phương gặp nhiều lúng túng Nhưng dù sao thì các địa phương cũng phải tự mình đặt ra thủ tục để giải quyết và do đó là không đảm bảo tính thống nhất chặt chẽ về thủ tục công chứng trong cả nước
Mặt khác, tuy các giấy tờ cần thiết và các bước để thực hiện công chứng các việc khác nhau thì rất khác nhau nhưng giữa chúng lại có những điểm chung (đặc biệt là giữa các việc trong cùng một nhóm việc công chứng) Chẳng hạn, để công chứng một hợp đồng m ua bán tài sản thì chắc chắn là bên bán bao giờ cũng phải xuất trình giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy tờ cổ giá ưị chứng minh quyền sở hữu đối vói vật đem bán Những điểm chung như thế cho phép chúng ta định ra những nguyên tắc về thủ tục chung của công chứng mà bất kỳ văn bản hướng dẫn thủ tục cụ thể nào cũng không được vi phạm
I TSÍ!J V Ĩ Ị Ĩ Ĩ
T f i [ / » r ; c J 4| ỉ :-; ; í lí/ 7 H * â l
' t , r ~ I *
Trang 211.1.4 Các việc công chứng:
Một vấn đề quan trọng là xác định phạm vi các việc cần công chứng,
ơ các nước, việc lựa chọn việc nào cần được công chứng có sự khác nhau
ở Cộng hòa Pháp, công chứng viên được giao trách nhiệm tiếp nhận các văn bản và hợp đổng mà các bên đương sự phải hoặc muốn được công chứng Tại luật về công chứng chỉ quy định chung như vậy, còn văn bản và hợp đồng nào phải công chứng thì được quy định tại văn bản pháp luật khác Chẳng hạn đối với những loại hợp đổng sau đây bắt buộc phải thực hiện công chứng:
- Hợp đồng cho, biếu bất động sản, loại tài sản có giá trị lớn
- Hợp đồng hôn nhân;
- Hợp đồng cầm cố;
- Tất cả ủy quyền;
- Hợp đồng bán nhà đất xây dựng;
- Hợp đổng cho, biếu có chia sẻ
Kê cả những việc do pháp luật buộc phải công chứng và những việc pháp luật không buộc phải công chứng, trong thực tiễn công chứng ở Pháp
và m ột sô nước, ngưòd ta chia thành 3 nhóm việc công chứng, căn cứ vào nội dung các quan hệ, đó là các nhóm sau đây:
- Nhóm việc công chứng về quan hệ gia đình, gồm hợp đồng hôn nhân, các việc có liên quan đến thừa kế, cho, tặng tài sản trong gia đình v.v
- Nhóm việc về tài sản gồm các hợp đồng chuyển nhượng tài sản, đặc biệt là những hợp đổng mua bán, cho thuê bất động sản w
- Nhóm việc về kinh doanh, về quá trình thành lập doanh nghiệp bao gồm khai trình vốn, điều lệ công ty.v.v
Ở Liên xô (cũ), các việc cần công chứng được liệt kê rất chi tiết cụ thể, bao gồm:
Trang 22- Chứng nhận các giao ước (hợp đồng, di chúc, giấy ủy quyền ).
- Quyết định các biện pháp bảo vệ tài sản thừa kế;
- Cấp giấy chứng nhận quyền thừa kế;
- Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu một phần tài sản trong tài sản chung của vợ chồng;
- Chứng nhận công dân đang ở một nơi nhất định;
- Chứng nhận công dân là người trong ảnh;
- Chứng nhận thòi gian xuất trình giấy tờ;
- Chuyển đơn từ của công dân, của các cơ quan Nhà nước, của các
Xí nghiệp, của các tổ chức, các nông trang tập thể, các hợp tác xã và các tổ chức xã hội khác cho các công dân khác, các cơ quan Nhà nước khác, các
XÍ nghiệp, nông ưang tập thể, các hợp tác xã và các tổ chức xã hội khác
- Nhận gửi tiền trả nợ và Ngân phiếu trả nợ;
- Cấp giấy chứng thực đòi nợ;
- Làm chứng thư cự tuyệt hối phiếu;
- Đưa séc để thanh toán và chứng thực séc chưa được thanh toán;
- Nhận giữ giấy tờ;
- Lập kháng nghị hàng hải;
- Pháp luật Liên xô có thể quy định các việc công chứng khác
Nói chung, việc công chứng liên quan chặt chẽ đến luật dân sự Bộ luật Dân sự là cơ sở pháp lý chủ yếu của hoạt động công chứng Nếu căn
cứ vào tính chất của các quan hệ có thể chia thành 2 nhóm việc công chứng:
Trang 23- Nhóm th ứ nhất: Các việc công chứng mà đương sự muốn được
công chứng hay còn gọi là công chứng tự nguyện Trên cơ sở các việc được quy định một cách khái quát hay cụ thể, khi đương sự yêu cầu thì công chứng viên thực hiện, không được từ chối nếu nội dung công chứng không trái pháp luật
- Nhóm thứ hai: Pháp luật có quy định một số việc bắt buộc phải
thực hiện công chứng, chẳng hạn như quyền sở hữu bất động sản hoặc những việc quan trọng khác
Nếu căn cứ vào nội dung các quan hệ, có thể chia thành 3 nhóm việc công chứng sau đây:
- Những việc công chứng về quan hệ gia đình;
- Những việc công chứng về quan hệ tài sản, đặc biệt là bất độngsản;
- Những việc công chứng có liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh
Xét về lịch sử ra đời và phát triển của công chứng các nước theo hệ
la tinh thì có thể nói rằng công chứng gắn liền với quyền sở hữu tài sản, (mà trước hết là bất động sản) kèm theo đó là các hợp đồng về tài sản chức năng nguyên thủy của công chứng là như vậy v ề sau do thực tế cuộc sống đòi hỏi chức năng công chứng được mở rộng dần Ví dụ từ chỗ công chứng các hợp đồng về bất động sản chuyển sang công chứng cả những loại hợp đồng về động sản, các hợp đồng dân sự, kinh tế khác.v.v Sự mở rộng chức năng của công chứng đã dẫn đến tình hình là đôi khi công chứng làm
cả những việc có tính chất thị thực hành chính Có lẽ do chức năng chủ yếu
của công chứng là như vậy cho nên thời Pháp thuộc ở Việt Nam ta dùng từ
" Chưởng k h ế " tức là người lập và giữ các khế ước
Theo pháp luật hiện hành của nước ta hiện nay thì chúng ta có thể phân chia các nhóm việc cần công chứng sau đây:
Trang 24Nhỏm th ứ nhát: Chứn? nhận hợp đồng kinh tế, hợp đồng bán đấu
giá bất động sản, hợp đồng giữ tài sản, hợp đồng dân sự có yếu tố nước
ngoài; chứng nhận biên bản của hội đồng định giá tài sản bằng hiện vật
đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp tư nhân; chứng nhận việc trình kháng
nghị hàng hải
Nhóm th ứ hai: Chứng nhận các việc theo quy định của pháp luật
phải được công chứng
Nhỏm thứ ba: Chứng nhận theo yêu cầu của đương sự các việc mà
pháp luật giao cho công chứng chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền chứng thực (4)
Trong các nhóm nêu trên, chúng ta thấy nhóm các vấn đề vần tài sản
chiếm một vị trí quan trọng Trên thực tế, nhóm công việc này cũng chiếm
tỷ lệ cao nhất Ưong công chứng
1.1.5 Các trường phái công chứng trên thế giới:
Tuy chức năng, mục đích như nhau, nhưng nếu xét về các khía cạnh
cụ thể như quan niệm về các việc công chứng, về ý nghĩa pháp lý của văn
bản công chứng, về tổ chức công chứng, thì trên thế giới hiện nay có hai
trường phái công chứng
T h ứ nh ất, đỏ là trường phái công chứng của các nước thuộc hộ
thống pháp luật dân sự (bao gồm các nước lục địa Châu âu, Châu phi và
một số nước chịu ảnh hưởng của hệ thống luật la tinh), có những đặc điểm
nổi bật sau đây:
- Nội dung, trình tự, thủ tục công chứng được quy định cụ thể và chặt chẽ;
Trang 25- Phạm vi các việc cống chứng được pháp luật giới hạn (theo việc cụ thể hoặc theo nhóm việc);
- Ý nghĩa pháp lý của văn bản công chứng rất cao Nếu không có sự kiện cáo về sự khách quan, đúng đắn của công chứng viên khi lập văn bản công chứng thì họp đồng được coi như một phán quyết của Tòa án, buộc các bên phải thi hành Bởi vậy người ta gọi công chứng viên là " Thẩm phán về họp đồng
- Công chứng viên là công chức do Nhà nước bổ nhiệm Tuy vậy tổ chức công chứng có thể là cơ quan Nhà nước, có thể là tổ chức hành nghề
tự do, do đó công chứng viên có thể là viên chức trong bộ máy Nhà nước,
có thể là người được Nhà nước bổ nhiệm nhưng hành nghề tự do (không phải là viên chức Nhà nước) Trong cả hai trường hợp công chứng viên đều phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm
Trong trường phái công chứng của các nước thuộc hệ thống pháp luật dân sự, thì công chứng của Cộng hòa Pháp là điển hình Vì vậy, để thấy rõ hơn trường phái công chứng này, chúng tôi xin lấy công chứng của Cộng hòa Pháp làm ví dụ
ở Cộng hòa Pháp, có hai hình thức tổ chức công chứng:
- Văn phòng công chứng tập thể, trong đó có nhiều công chứng viên; công chứng viên hoạt động nhân danh văn phòng công chứng chứ không được nhân danh cá nhân;
- Văn phòng công chứng chỉ có một công chứng viên
Việc lập các văn phòng công chứng do Bộ Trưởng Tư pháp quyết định và kiểm soát trên cơ sở các tiêu chuẩn về kinh tế, dân số và địa lý
Người có thể được bổ nhiệm công chứng viên phải có các điều kiệnsau:
- Là công dân Pháp
Trang 26- Chưa bị án hình sự vể các tội do có hành vi trái với danh dư, tính trung thực và lối sống lành mạnh hoặc bị thi hành kỷ luật hành chính như cách chức, xóa tên, bãi miễn;
- Không bị phá sản, vỡ nợ
- Có bằng cao học luật hoặc một bằng có giá ưị tương đương được cấp theo quy định liên Bộ giữa Bộ Trưởng Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Đại học
- Được đào tạo chuyên ngành công chứng và thi đỗ bằng thi tuyển công chứng viên hoặc có bằng cao học chuyên ngành công chứng
Công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm thêm chức năng thẩm phán, công tố viên, luật sư, thư ký Tòa Tuy nhiên, công chứng viên có thể kiêm nhiệm giảng dạy ở khoa luật, trường đại học hoặc các trường pháp lý khác và cũng có thể tham gia các hội dân
sự hoạt động không vì mục đích kiếm lợi nhuận Công chứng viên không được trực tiếp hoặc thông qua một người trung sian thực hiện kinh doanh, thương mại, không được tham gia quản lý các công ty vô danh, công ty trách nhiệm hữu hạn
Công chứng viên được bổ nhiệm bằng Nghị định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp - có hình thức bổ nhiệm là:
+ Bổ nhiệm theo kế vị:
Sau khi công chứng viên của một văn phòng công chứng phải ngừng hoạt động vì bị chết hoặc nghỉ hưu, ngưòi ứng cử danh sách, bổ nhiệm công chứng viên để kế vị công chứng viên, đó là người thuộc hàng thừa kế của người để lại văn phòng công chứng, phải có đơn gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp Đơn được chuyển cho ông biện lý bên cạnh Tòa rộng quyền nơi đặt trụ sở của văn phòng công chứng kèm theo hồ sơ và cam kết giữa người ứng cử với công chứng viên hoặc với người có quyền hợp pháp đối với phòng đó Ong biện lý lấy ý kiến nhận xét của trung tâm đào tạo công
Trang 27chứng viên về tư cách, khả năng hành nghề và tài chính của người được để nghị bô nhiệm Trong vòng 45 ngày nếu đủ tiêu chuẩn, ông biện lý có ý kiến bằng văn bản và chuyển hồ sơ cho Bộ trưởng BộTư pháp.
+ Bổ nhiệm công chứng viên để lập văn phòng công chứng mới
Theo đề nghị của ủy ban tuyển chọn (do Hội đồng công chứng khu vực chỉ định) Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên bằng Nghị định để lập văn phòng mói Hồ sơ của từng ứng cử viên được gửi cho ông biện lý bên cạnh tòa rộng quyền nơi đã đặt văn phòng công chứng Sau khi lấy ý kiến của Hội đồng xét tư cách và ý kiến của hội đồng công chứng khu vực, ông biện lý có ý kiến bằng văn bản và gửi cùng hồ sơ lên Bộ trưởng
Trong vòng một tháng kể từ khi có Nghị định bổ nhiệm công chứng viên phải tuyên thệ tại tòa rộng quyền và chỉ được hoạt động theo chức năng sau ngày tuyên thệ Trước khi hoạt động công chứng viên phải đãng
ký chữ ký và chữ ký tắt tại tòa rộng quyền noi đặt trụ sở của văn phòng
Để quản lý các công chứng viên của các văn phòng công chứng nêu
tren, ơ câp tinh thanh lập một phòng quản lý công chứng bảo đảm viêc duy trì hoạt động và kỷ luật giữa các công chứng viên của các văn phòng công chứng trong phạm vi từng tỉnh
Trang 28ơ cấp tòa thượng thẩm thành lập Hội đồng công chứng khu vực để quản lý các phòng quản lý công chứng.
Trong phạm vi cả nước thành lập Hội đồng công chứng tối cao để đại diện cho toàn ngành công chứng bên cạnh các cơ quan chính quyền và đặt bên cạnh Bộ truởng Bộ Tư pháp
T hú hai, đó là trường phái công chứng của các nước theo hệ thống luật án lệ Do ảnh hưởng của hệ thống luật án lệ, nên công chứng ở các nước này cũng mang tính chất mềm dẻo và linh hoạt hơn, với những đặc điểm nổi bật sau đây:
- Pháp luật không quy định chi tiết, chặt chẽ về công chứng;
- Các việc công chứng không bó hẹp trong một phạm vi rõ ràng
- Văn bản công chứns chỉ có giá trị chứns cứ, chứ không có hiệu lực buộc các bên có liên quan phải thực hiện;
- Công chứng là một nghề tự do hoàn toàn, tương tự như nghề luật sư; luật sư có thể vừa là công chứng viên
Trong trường phái công chứng của các nước theo hệ thống pháp luật
án lệ, thì công chứng của Vương quốc Anh là điển hình Vì vậy, để thấy rõ hơn đặc điểm của trường phái công chứng này, chúng tôi xin lấy công chứng của Vương Quốc Anh làm ví dụ:
ở Vương Quốc Anh, công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm, công chứng viên thực hiện hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác bao gồm chuyển nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân, ở Anh, Xứ Wales; các nước khác thuộc cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài, bao giờ cũng có yêu cầu phải chứng nhận hoặc xác nhận các văn bản giao dịch; soạn thảo di chúc hoặc các giấy tờ liên quan đên di chúc, soạn thảo kháng nghị hàng hải về sự cố xẩy ra đối với tàu và
Trang 29hàng hóa trên tầu trong thời gian tầu đi trên biển Khi thực hiện nhiệm vụ
công chứng, công chứng viên sử dụng con dấu của mình
Theo quy định của pháp luật Vương Quốc Anh, công chứng viên có
đầy đủ thẩm quyền là người: Có chứng chỉ hành nghề luật sư, được quyền
tham gia Tòa án giáo hội của Tổng giám mục địa phận Camtebury theo
quy định của giáo hoàng, có chứng chỉ hành nghề công chứng do Tòa án
giáo hội cấp theo quy định của Giáo hoàng Do đó, nếu luật sư đồng thời
làm công chứng viên thì cần có một chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ này
phải được đãng ký tại vãn phòng Giáo hoàng
Việc công nhận công chứng viên ở Anh chỉ những người đã tuyên
thệ - được công nhận và tuyển dụng vào Tòa án ở Anh và xứ Wales mói
được phép hành nghề công chứng viên hoặc thực hiện các việc công chứng
Người nào với danh nghĩa của mình hoặc của ngươi khác hành nghề
công chứng trái phép nhằm mục đích thu lợi thì bị phạt tiền đến 100 bảng
Anh
Người nào tuy có chứng chỉ hành nghề, nhưng không đủ tiêu chuẩn
mà vẫn soạn thảo các giấy tờ liên quan đến tài sản kiện tụng, di chúc nhằm
mục đích thu lợi thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật
về Luật sư năm 1974
Người nào hành nghề công chứng không có chứng chỉ thì được coi là
không đủ tiêu chuẩn theo quy định của luật về luật sư năm 1974
Việc công chứng viên không xin cấp chứng chỉ hành nghề mới
không ảnh hưởng đến công việc tập sự
Công chứng viên được làm những việc sau:
- Soạn thảo các giấy tờ pháp lý Công chứng viên có quyền soạn thảo chứng thư, hợp đồng và di chúc liên quan đến bất động sản và tài sản cá
Trang 30nhân tại Anh và Xứ Wales, soạn thảo chứng thư và các giấy tờ khác sử
dụng ở nước ngoài theo cộng đồng Anh và các quốc gia khác theo hình
thức và ngôn ngữ phù hợp với pháp luật nơi các giấy tờ trên sẽ được sử
dụng; xác minh, chứng thực và chứng nhận bằng con dấu của mình việc
thực hiện chứng thư, hợp đồng, giấy ủy quyền và các giấy tờ khác; soạn
thảo văn bản về thế chấp hàng hải, khế ước thanh toán nợ và các giấy tờ
thương mại khác, dịch và thẩm tra bản dịch các giấy tờ từ tiếng nước ngoài
sang tiếng Anh và ngược lại
- Nhận, thanh toán các hối phiếu Công chứng viên thường được thuê thay mặt khách hàng nhận hoăc thanh toán các hối phiếu trong và ngoài
nước
Thông thường thư ký của công chứng viên trực tiếp thực hiện việc
nhận và thanh toán hối phiếu
Trường hợp hối phiếu không được chấp nhận thanh toán, công chứng
viên ghi sự việc đó vào hối phiếu, sau đó viết, ký đóng dấu kháng nghị của
mình Chi phí cho công việc này được thanh toán như đối với trường hợp
đền bù thiệt hại
Kháng nghị hàng hải: Soạn thảo kháng nghị hàng hải là một việc làm
công chứng quan trọng Mục đích của kháng nghị hàng hải là: Miễn hoặc
giảm trách nhiệm của thuyền trưởng, thủy thủ hoặc ngưcri khác có liên
quan trong trường hợp xẩy ra tai nạn đối với tầu và hàng hóa khi tầu đi trên
biển; hoặc những sự kiện khác cần phải được công chứng
Nội dung của kháng nghị hàng hải được ghi vào sổ công chứng viên,
đề ngày, tên tầu, tên thuyền trưởng, hải trình của tầu và nguyên nhân thiệt
hại Giấy tờ đã được công chứng là bản tường trình đầy đủ tất cả sự kiện
xác thực liên quan đến tai nạn, đâm va, thảm họa hoặc trở ngại đối vói tầu
và hàng hóa ưên tầu
Trang 31Thông thường các kháng nghị hàng hải được lập đều có liên quan
đên hành VI cua những người có quan hê kinh doanh hoăc có nghĩa vu đối
với tầu và hàng hóa trên tầu để đưa vào hổ sơ tất cả các sự kiện đã được
côns; chứnc
Các kháng nghị hàng hải được gửi đến các cơ quan bảo hiểm nhà
định giá và các thương gia để xác định mức độ thiệt hại theo chế độ bảo
hiểm hàng hải, cũng như giải quyết tranh chấp giữa chủ tầu và chủ hàng và
nhằm các mục đích thương mại khác
- Nhận thanh toán trái phiêu: Nhằm mục đích tăng vốn, các quốc gia hoặc công ty nước ngoài đã phát hành một sô lượng cổ phiếu lớn được mua
lại trong thời gian quy định Khi phát hành cổ phiếu công chứng viên
thường được thuê để thực hiện việc mua bán cổ phiếu đó Công chứng viên
nhận số lượng cổ phiếu đã được thanh toán
Tô chức lê tuyên thệ: Từ thời xa xưa, các công chứng viên đã và
đang thực hiện quyên làm lê cho tuyên thê Trong công viêc hàng ngày
công chứng viên soạn thảo hoặc tiếp nhận các bản khai có tuyên thệ về
những mục đích khác nhau Công chứng viên được quyền lấy lời khai có
tính chất pháp lý thay cho những lời tuyên thệ trực tiếp Trường hợp đặc
biệt họ có thể lấy lời khai, lời thề và các văn bản khai có tuyên thệ liên
quan đến tiền dán tem hoặc các lệ phí khác Công chứng viên còn có thể
lấy lời khai đối với các việc liên quan đến các khoản nợ khi một trong các
bên cư tru tại Anh, Băc ai - len hoặc liên quan đến bất động sản ở các nước
phụ thuộc Anh
Công chứng viên có thể lấy lời khai của nhân chứng về chúc thư, di
chúc và các giấy tờ khác để xác định hiệu lực pháp lý của các giấy tờ đó
Trong một số trường hợp nhất định, ngãn hàng Nhà nước Anh cũng chấp
nhận một lời khai được thực hiện trước mặt công chứng viên
Trang 321.1.6 Vãn đề trách nhiệm của công chứng:
Tất cả các nước có thể chế công chứng đều quy định về trách nhiệm của công chứng Tùy theo công chứng viên là người làm nghề tự do hay là viên chức trong bộ máy Nhà nước, mà việc xác định trách nhiệm công chứng khác nhau
- Đối với công chứng là nghề tự do, công chứng viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho đương sự do lỗi của công chứng viên gây ra khi thực hiện công chứng, vừa phải chịu trách nhiệm kỷ luật (trách nhiệm
kỷ luật do hiệp hội công chứng xem xét và quyết định) Công chứng viên phải nộp một khoản tiền, ký quỹ hoặc phải mua bảo hiểm ưách nhiệm nghề nghiệp để bảo đảm bồi thường thiệt hại cho đương sự
- Đối với công chứng Nhà nước tức là Nhà nước đứng ra làm công chứng thì Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự về những lỗi do công chứng viên phạm phải khi hành sự hay những công việc họ được giao phó vì nhiệm vụ công chứng của họ Được coi là lỗi về công vụ tất cả những lỗi do công chứng viên đã phạm do vô ý ừong khi thi hành công vụ Cũng được coi như là lỗi về công vụ sự gian dối mà công chứng viên phạm phải Trách nhiệm vật chất của Nhà nước đối với người thứ ba hay đương sự bị tổn thất sẽ được bảo đảm bằng một quỹ riêng gọi là " quỹ bảo đảm mở tại Ngân khố Quỹ này được lập bằng cách trích một tỷ lệ nhất định của sô lệ phí và tiền thu được trong mỗi tháng Còn công chứng viên, vì là viên chức ăn lương Nhà nước, nên phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước theo luật hành chính
ở Việt Nam, công chứng viên là viên chức Nhà nước do Bộ Tư pháp
bô nhiệm ' Công chứng viên, các nhân viên khác của phòng công chứng Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phải đảm bảo công minh đúng pháp luật, có trách nhiệm giữ bí mật về người đến yêu cầu công chứng, nội dung công chứng, những sự việc mà mình được biết có liên quan đến hoạt
Trang 33đỏng nghề nghiệp của người đến yêu cầu cônc chứng trừ trường hợp pháp luậl c ó quy định khác " (5).
Là viên chức trong Nhà nước có nhiệm vụ như vậy, khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho người khác, thì theo quy định của điều 623 của Bộ luật Dân sự, phòng công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người
bị thiệt hại Sau đó phòng công chứng có trách nhiệm yêu cầu công chứng viên phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu công chứng viên đó có lỗi trong khi thi hành công vụ
Ngoài ra, công chứng viên còn có thể phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự đối với lỗi của mình khi thi hành công vụ Điều
35 của Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 quy định
Công dân, tô chức có quyền khiêu nại vói trưởng phòng công chứng về việc từ chối thực hiện công chứng hoăc về nôi dung công chứng mà công chứng viên đã thực hiện và có quyền tô cáo hành vi công chứng trái pháp luật Tiếp đó, điều 36 của Nghị định nêu trên quy định: " Người nào vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ về công chứng thì tùy theo mức độ nặng hoặc nhẹ mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự nếu gây thiệt hại về vật chất thì phải bổi thường
Qua đó, chúng ta thấy Nhà nước ta rất nghiếm khắc xử lý đối với những công chứng viên vi phạm pháp luật trong công chứng Quy định buộc công chứng viên phải đề cao trách nhiệm của mình trong thi hành nhiệm vụ công chứng
Nghị đinh 31/C P ngày 18 tháng 05 năm 1996 về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước.
Trang 341.2 Khái quát lich sử phát triển của công chứng giao dỉch về tài sản ỏ’ Viẽt Nam:
1.2.1 Tổ chức công chứng thời Pháp thuộc:
Trước thời Pháp thuộc (Từ thời phong kiến triều Nguyễn trở về trước) ỏ Việt Nam ta không có tổ chức công chứng với tư cách là một thiết chẽ độc lập Thời kỳ Pháp thuộc, tổ chức công chứng ở nước ta được thiết lập bởi săc lệnh ngày 24 tháng tám năm 1931 của Tổng thống cộng hòa Pháp và được áp dụng bởi Quyết định ngày 07 tháng rìitiơi một năm 1931 của viên toàn quyền đông dương Nhìn một cách khái quát thì tổ chức công chứng tại Việt Nam thời Pháp thuộc phòng theo các nguyên tắc tổ chức công chứng tại Pháp
Theo điều 1 của sắc lệnh ngày 24 tháng tám năm 1931 thì cóiig chứng viên (tức chưởng khế) là người thực hành công vụ để tiếp nhận tất cả các văn bản, hợp đồng mà trong đó những người âu và tương tự, có thể biện
hộ tại các Tòa án Pháp bắt buộc hoặc muốn có tính chất của một công chứng chứng thư Công chứng viên (chưởng khế) chịu trách nhiệm bảo đảm cập nhật các văn bản và hợp đổng, lưu giữ, bảo quản chúng và cấp bản sao
Ngoài ra chưởng khế có thể thi hành cùng những quyền hạn đó đối với người bản xứ thuộc thẩm quyền của họ, biện hộ hoặc không biện hộ tại các tòa án Pháp
Trong trường hợp đó, các quy định pháp luật và các tập quán bản xứ vẫn áp dụng tại các văn bản và hợp đồng nói trên, ngoại trừ khi các phần đã tuyên bố rõ ràng là muốn đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Pháp quốc Tuy nhiên, những người địa phương bảo tồn khả năng chính thức hóa các vàn bản của họ bằng cách chứng nhận theo tập quán bởi các nhà chức trách bản xứ đủ tư cách về việc đó
Trang 35Theo điều 1 của sắc lệnh nsàv 24 tháng tám năm 1931 nêu trên thì thiết chế công chứng (chưởng khế) được thiết lập ỏ' Đông dương và Việt Nam nói riêng lúc ấy là nhằm phục vụ cho người âu và " tương tự " có thể biện hộ tại Tòa án Pháp Còn đối với người Việt Nam nói riêng không bắt buộc phải tuân theo những quy định về chưởng khế của sắc lệnh này
N shĩa là họ có thể lập các văn bản, hợp đồng bằng cách theo phong tục tập quán Việt Nam hoặc theo quy định của sắc lệnh về chưởng khế nói trên Chính vì vậy mà theo sắc lệnh chưởng khế phải là người có quốc tịch Pháp, và trên thực tế số lượng phònơ chưởng khế trên toàn cõi Việt Nam lúc bấy giờ có rất ít (ba phòng)
Theo Sắc lệnh nêu ưên thì văn bản, hợp đồng đã được công chứng có giá trị pháp lý như sau:
- Ngày, tháng, năm lập văn bản được coi là hoàn toàn chính xác
- Trưóc các Tòa án, các văn bản, hợp đồng đã được công chứng là những chứng cứ hoàn toàn được tin cậy về các điều mà đương sự đã thỏa thuận được ghi ưong văn bản đó
- Công chứng viên cấp cho đương sự bản sao đại tự hoặc bản toàn sao các văn bản đã lập Bản sao đại tự có hiệu lực thi hành như một bản án của Tòa án
Do những tính chất pháp lý nêu trên của văn bản công chứng nên sắc lệnh năm 1931 đã quy định khá chặt chẽ các vấn đề:
- Quy chế công chứng viên;
- Hình thức của văn bản công chứng;
- Sổ sách công chứng viên phải lưu giữ;
Trang 36- Công chứng viên không hưởng lương nhưng được thu lệ phí và thù lao do Nhà nước ấn định;
- Công chứng viên phải nộp tiền ký quỹ để bảo đảm bồi thường thiệt hại do lỗi vi phạm trong khi thi hành công vụ
- Các công chứng viên phải tuyên thệ; mỗi người phải có con dấu, chữ ký và chữ ký tắt lưu trữ tại phòng lục sự Toà án sơ thẩm giảm hại
- Nói chung, công chứng viên không được kiêm nhiệm mọi công vụkhác
Mô hình tổ chức, hoạt động công chứng trên đây của thời kỳ Pháp thuộc về sau này được sao chép lại gần như nguyên bản bởi Dụ số 43 ngày 29/11/1954 của Bảo Đại và sau này được áp dụng ở Miền nam Việt Nam thời kỳ chế độ Việt Nam cộng hòa Điểm khác cơ bản của đạo dụ 43 so với sắc lệnh ngày 24 tháng tám năm 1931 là ở chỗ công chứng viên được xếp vào ngạch công chức Nhà nước và do đó được hưởng lương và chế độ nghỉ hưu khi về già
1.2.2 Tổ chức công chứng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và
cộng hòa XHCN Việt Nam từ 1945 - 1991:
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Trong hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp của những ngày đầu dựng nước lúc bấy giờ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không làm ngơ trước một thiết chế công chứng cũ của thực dân Pháp để lại và do đó ngày 01 tháng mười năm 1945 (tức một tháng sau khi tuyên bố độc lập 02/09/1945) đương kim Bộ trưởng Tư pháp lúc đó là ông Vũ Trọng Khánh đã ký Nghị định bãi chức vị công chứng viên người Pháp là Deroche đồng thời bổ nhiệm ông Vũ Phí Vỹ - người mang Quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại Hà Nội Trong Nghị định nói trên cũng tuyên bố rằng: Các luật lệ cũ về công chứng viên được thi hành, trừ những khoản không phù hợp vói nền độc lập và chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa ngoài những thay đổi về nhân sự và một sô nguyên tắc hoạt
Trang 37động của công chứng nêu trên, đáng lưu ý về mặt khoa học là lần đầu tiên Nghị định nói trên đã sử dụng thuật ngữ công chứng thay cho thuật ngữ chưởng khế.
Do hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp cho nên trên thực tế hoạt động của phòng công chứng nói ưên hầu như bị tê liệt Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của dân, ngày 15 tháng mười một năm 1945 Chủ tịch Hổ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 59/SL ấn định thể lệ về việc thị thực các giấy tờ trong đó kể cả thị thực các khế ước chuyển dịch bất động sản Tại điều thứ 3 của sắc lệnh 59/SL nói rõ:" Các ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực không đúng về căn cước người đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố Nếu xẩy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thị thực không đúng, công quỹ của làng hay là của thành phố phải bồi thường
Theo Sắc lệnh này quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng các làng và trưởng phố ở thành thị, nay giao cho UBND cấp xã Riêng ở thành thị việc thị thực của ủy ban các phố phải có thêm ƯBND thị
xã chứng nhận Tuy nhiên ủy ban thị thực phải là ủy ban ở nơi trú quán của
một bên đương sự lập khế ước Đối với việc thị thực các giao dịch liên quan đến bất động sản phải là ủy ban nơi có bất động sản đó, nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì giấy tờ làm ra phải do ủy ban các nơi
có bất động sản thị thực Các ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực không đúng về căn cước của đương sự, ngày, tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố Nếu xẩy ra thiệt hại đến tư nhân vì thị thực không đúng, công quỹ của làng hay của thành phố phải bồi thường Việc thị thực được thu một khoản lệ phí theo tỷ lệ từ 0,1% đến 1% Xét về cả nội dung, thủ tục và chủ thể thực hiện thì việc thị thực theo quy định của sắc lệnh 59/SL ngày 15/11/1945 không phải là việc công chứng mà chỉ là một thủ tục hành chính Càng về sau này, việc thị thực chỉ
Trang 38được thực hiện một cách hình thức như xác nhận no;ày, tháng, năm, dịa chỉ thường trú và chữ ký của đương sự.
Đến này 29/2/1952 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký tiếp sắc lệnh số 85/SL ban hành " Thể lệ trước bạ về các việc mua bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất " Theo sắc lệnh này thì văn tự phải đưa ủy ban kháng chiến hành chính xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người mua, bán, cho, nhận
Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, căn cứ vào các quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ
trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư
pháp, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 về công tác công chứng Nhà nước Công tác công chứng Nhà nước của UBND các địa phương đuợc cải tiến và nâng cao chất lượng, đồng thời thành lập phòng công chứng Nhà nước ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết Sau mấy chục năm không tổ chức hoạt động công chứng, thì đây là bước thí điểm cần thiết để rút ra những kinh nghiệm tiếp tục từng bước xây dựng tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta Ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước
Trang 391.2.3 Hoạt động công chứng Việt Nam từ năm 1991 đến nay:
a) Viêc thưc hiên Nghi dinh số' 45/HĐBT về tổ chức và hoat đỏng cống chứng Nhà nước
Thực hiện Nghị định số 45/HĐBT, hầu hết các tỉnh và thành phố trực
thuộc TW đều đã thành lập Phòng công chứng Nhà nước, hiện chỉ ở một
tỉnh và thành phố lớn có đến 2 - 3 Phòng công chứng Nhà nước Nhìn
chung các Phòng công chứng Nhà nước đều hoạt động tích cực, phục vụ
nhu cầu công chứng ngà)' càng tăng của nhân dân trong giao dịch dân sự,
kinh tế
Để giúp chúng ta thẫy rõ hơn về thực trạng của hoạt động công
chứng, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin về hoạt động công chứng ở
Hà nội,Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Nghệ an Đây là 3 địa phương đại
diện cho 3 miền: Bắc - Trung - Nam
Vé hoai đống cống chứng ở Hà n ố i(6)
+ Về kết quả:
Qua tổng kết các việc công chứng đã thực hiện tại phòng công chứng
Nhà nước số I thành phố Hà nội, có thể chia các việc công chứng thành 5
nhóm sau:
Xem kêt quà nghiên cứu của đề tài 1 xây dựng và hoàn thành hóa cỏn g chứng nhà nước trén địa bàn Hà
Nội " Thông Ún khoa học pháp lý số chuyén đề vẻ công chứng 1995 - [rang 18.
Trang 40II - Nhóm việc thuộc lĩnh vực chuyển
dịch quyền sở hữu tài sản (chủ yếu là
bất động sản )
III - Nhóm việc thuộc lĩnh vực SXKD 19 48 218 505 1036
IV - Các việc công chứng khác (ủy
quyền chứng nhận chữ ký giữ giấy tờ) 562 1053 891 749 922
kinh tế, mặt khác do nhận thức ngày càng tăng của nhân dân về quyền lợi
và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân khác