Nguồn quan trọng, chủ yếu tạo thành pháp luật hiện hành về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP bao gồm: Pháp lệnh XLVPHC 2002 với trên 50 Nghị định của Chính phủ.. Luận v
Trang 2VƯƠNG TRƯỜNG NAM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÊ xử LÝ
THUỘC THẨM QUYỂN CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60.38.01 r T “
-THƯ V I Ệ N
TRƯỜNG ĐAI HỌC LUẢĨ h à n ô i
P H O N G G V _
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC • • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Trần Minh Hương
HÀ NỘI - 2006
Trang 3O bÌẾL thủn thành eAnt tín, 'xĩìên ÃĨ Ỡ rait Jìưjnh 'Tũư&tựị
@hẳ nhiệm 3Chứ€L 'Tôàttit ehúĩh - OlhỀL nutốe trường, ^ 9«/
họe ẨLuÂt '3Ũ Ễ L (ìtặL @ ẨLnt Ờ *L eáe thầự cỡ giắở- &rưỉfnjQ, (Đại
h ạ e Ẩ tu ã t '7ÔỀL Q tộ i aỎL Ể ổ Ể ĩ t ề n g ngitiềp đã giúp, đ s h jờ à n
thành Mitâềt aăn nÙJf.
^7áe ạJA Muộn, aăn
(Dường, & tưởng, Q latn
Trang 4quyền của Bộ đội biên phòng.
Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc 28 thẩm quyền của Bộ đội biên phòng.
Sự hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi
quyền của Bộ đội biên phòng
Thực trạng chế định xử lý vi phạm hành chính eó
của Bộ đội biên phòng
Trang 53.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ đội biên phòng
Kết luận
Danh muc tài liêu tham khảo
Trang 6BGQG Biên giới quốc gia
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bộ đội biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh trật tự BGQG trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi nhiệm vụ do pháp luật quy định
Bộ đội biên phòng tiến hành các biện pháp tác động có tổ chức trên cơ
sở pháp luật đến các quá trình kinh tế - xã hội và hành vi của cá nhân, tổ chức diễn ra trên địa bàn, lĩnh vực quản lý để duy trì và phát triển các mối quan hệ kinh tế - xã hội và trật tự pháp luật về BGQG, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và TTATXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh BGỌG Như vậy, ỌLNN về BGỌG còn bao hàm cả việc đấu tranh ngăn chặn
và xử lý các VPPL về BGQG, trong đó có VPHC xảy ra trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
Trong giai đoạn hiện nay, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường trong xu thế mở rộng hội nhập quốc tế và khu vực, các hoạt động lưu thông ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển của người, phương tiện, hàng hoá rất
đa dạng, nên tình hình VPHC ngày càng gia tăng, mang tính đa quốc gia và đa dạng, phức tạp cả về đối tượng, địa bàn, lĩnh vực vi phạm Chính vì lẽ đó, đấu tranh phòng ngừa và chống VPHC, góp phần giữ vững an ninh, TTATXH, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước là một nhiệm vụ cấp thiết trong tình hình hiện nay của BĐBP
Pháp lệnh BĐBP 1997 quy định BĐBP được tiến hành hoạt động XLVPHC theo quy định của pháp luật về XLVPHC
Trang 8Pháp luật về XLVPHC quy định về thẩm quyền XLVPHC của BĐBP ở nhiều văn bản khác nhau Nhìn chung, các VBPL quy định về thẩm quyền XLVPHC của BĐBP ngày càng hoàn thiện, phát triển và có sự kế thừa, đáp ứng yêu cầu QLNN, quản lý xã hội Nguồn quan trọng, chủ yếu tạo thành pháp luật hiện hành về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP bao gồm: Pháp lệnh XLVPHC 2002 với trên 50 Nghị định của Chính phủ Ngoài ra, để tiến hành XLVPHC đối với các đối tượng VPHC xảy ra trên địa bàn, lĩnh vực quản lý của BĐBP là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì BĐBP phải căn cứ vào các VBPL về quản lý, bảo vệ BGQG; các hiệp ước, hiệp định
về quy chế biên giới, các ĐUQT có liên quan mà Việt Nam ký kết và gia nhập
Tuy nhiên, qua bốn năm thực hiện, Pháp lệnh XLVPHC 2002 cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu khắc phục Có thể nêu một
số tồn tại chủ yếu như : các quy định trong Pháp lệnh còn thiếu hoặc chung chung, có quy định không rõ ràng, chưa phù hợp; việc ban hành văn bản để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh nhìn chung còn chậm, không ít trường hợp quá chậm, chưa đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện ngay sau khi Pháp lệnh có hiệu lực Mặt khác, nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể hoá Pháp lệnh vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ, chưa kịp thời, các quy định mang
tính chất “vừa thừa lại vừa thiếu ” không ít các hướng dẫn chưa cụ thể hoặc
còn chồng chéo, mâu thuẫn rất khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền khi
áp dụng Hơn nữa, thực tiễn hoạt động XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP chỉ ra vướng mắc, bất hợp lí cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định về những vấn đề liên quan đến nguyên tắc XLVPHC, nguyên tắc xác định thẩm quyền XLVPHC; đối tượng bị XLVPHC; HTXP, các biện pháp KPHQ do VPHC gây ra, các biện pháp ngăn chặn VPHC và đảm bảo việc XLVPHC; thủ tục áp dụng Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP cần được làm rõ nguyên nhân và đưa ra phương hướng, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho BĐBP tiến hành
Trang 9XLVPHC trên địa bàn KVBG, cửa khẩu và vùng biển đảm bảo đúng đối tượng, đúng hành vi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG.
Xuất phát từ những lý do trên, Tôi chọn Đề tài: “Hoàn thiện pháp luật
về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP” làm luận văn thạc sỹ luật học, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về QLNN về BGQG nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ BGQG của BĐBP
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về lý luận cũng như thực tiễn vấn đề “Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính” đã và đang được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học Các tác giả đều xem xét vấn đề này dưới góc độ riêng của mình Chẳng hạn như công trình khoa học: “Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn”, Luận án phó tiến sĩ luật học của Vũ Thư năm 1995; “Hoàn thiện các quy định pháp luật về hình thức XPHC”, Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Trọng Bình năm 2000; “Thẩm quyền XLVPHC”, Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Thuỷ năm 2001; “Một số vấn đề vi phạm và XLVPHC trong lĩnh vực quản
lý, sử dụng đất đai”, Luận văn thạc sỹ luật học của Trịnh Mai Huyền năm 2002; “Hoàn thiện pháp luật về XLHC với người chưa thành niên”, Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Ngọc Bích năm 2003; Các bài viết trên Tạp chí Luật học như: “Bàn về XLVPHC” của PTS Trần Minh Hương số 4/1999;
“Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC” bài viết của ThS, Lê Vương Long số tháng 9/2003; “Về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt VPHC” bài viết của ThS Trần Thị Hiền số tháng 9/2003; “Thủ tục xử phạt VPHC” bài viết của ThS Bùi Thị Đào số tháng 9/2003; bài viết của TS Trần Minh Hương: “Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL về XLVPHC” , số 5/2005; “Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 - những vấn đề đặt ra cho công tác xử phạt VPHC ở đồn Biên phòng” bài viết của Vương Trường Nam số 2/2003, Thông tin khoa học, Học viện Biên phòng
Trang 10Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở mức độ khác nhau về VPHC và XLVPHC Nội dung nghiên cứu đề cập đến những vấn đề như chế tài hành chính, thẩm quyền XLVPHC, HTXP, thủ tục xử phạt, có rất nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện pháp luật về XLVPHC là cơ sở lý luận và thực tiễn tiến tới xây dựng Bộ luật XLVPHC Trong Nghị quyết của Quốc hội số 49/2005/NQ- QH11 ngày 19/11/2005 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006
có nội dung xây dựng dự án Bộ luật XLVPHC trong 11 dự án luật trong chương trình chuẩn bị Điều đó chứng tỏ rằng vấn đề XLVPHC trong tình hình hiện nay đã và đang được quan tâm nghiên cứu Song cho đến nay chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật và hoạt động XLVPHCtrong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP Tuy nhiên, vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một luận văn cao học không cho phép giải quyết mọi vấn đề Cho nên, luận văn chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề cơ bản về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử
Đồng thời tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp khác nhưthống kê, so sánh, điều tra khảo sát, phân tích, tổng hợp khi nghiên cứu đề tài này
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trang 11- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm sáng tỏ lý luận
và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP Từ đó, phân tích quan điểm, phương hướng và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
- Để thực hiện mục đích đó luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
+ Đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
+ Phân tích quan điểm, phương hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
6 Những kết quả nghiên cứu mói của Luận văn
- Những đóng góp của luận văn:
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về việc hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP Luận văn có một số điểm mới chủ yếu sau đây:
+ Luận văn đã phân tích lý giải đưa ra định nghĩa “khái niệm vi phạm hành chính” nhằm bổ sung cho sự khiếm khuyết trong Pháp lệnh và là cơ sở
để xây dựng các khái niệm: “vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP”, “xử lý VPHC” và “xử lý VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP”;
+ Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP góp phần nâng cao nhận thức lý luận về XLVPHC của BĐBP;
+ Luận văn phân tích một cách toàn diện thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP;
Trang 12+ Luận văn phân tích quan điểm, phương hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về XLVPHC của BĐBP;
+ Những kết luận rút ra từ thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về XLVPHC của BĐBP còn là căn cứ thực tiễn xác đáng để hình thành phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về QLNN về BGQG của BĐBP
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
+ Những kết quả nghiên cứu đề tài đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật về XLVPHC và hoàn thiện pháp luật về QLNN về BGQG Đồng thời luận văn còn là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng và ban hành các nghị định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP, góp phần xây dựng dự án Bộ luật XLVPHC Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy, cho học viên trong Học viện Biên phòng và các trường trung học của BĐBP
+ Những kết quả nghiên cứu và các quan điểm, kiến nghị trong luận văn
sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả thực tiễn XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo, luận văn có 3 chương
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Chương 2 Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Trang 131.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một loại VPPL xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, nhưng số lượng nhiều và có xu hướng ngày càng gia tăng, VPHC đang gây tổn hại không nhỏ cho trật tự, kỷ cương xã hội, sự ổn định và phát triển của các QHXH, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Và cũng cần thấy rằng, nếu đấu tranh với các VPHC ít hiệu quả thì sẽ dẫn tới tình hình VPHC và tội phạm tăng về số lượng và tính chất, mức độ Vì thế, đấu tranh với các VPHC là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra trước Đảng, Nhà nước và toàn xã hội [31, tr 1 ]
Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của VPHC, đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa VPHC với TPHS và các VPPL khác, đồng thời cũng để xác định một hành vi nào đó là VPHC, tạo cơ sở để quy định, xử lý cũng như đấu tranh một cách có hiệu quả đối với các VPHC, cần thiết phải đưa ra một định nghĩa chính thức về VPHC Mặc dù khái niệm VPHC mới chỉ khái quát về VPHC, song lại rất cần phải có và có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động áp dụng pháp luật về XLVPHC [33, tr.6] Như vậy, việc đưa ra định nghĩa VPHC trong pháp luật thực định là cần thiết cho nhận thức pháp luật nói chung và có tính hữu ích cho quá trinh áp dụng xử lý các VPHC xảy ra trên thực tế nói riêng Trước hết đối với người dân, họ cũng cần phải biết VPHC có các dấu hiệu nào để tự đánh giá các hoạt động thực tế của mình, hoặc xem xét, so sánh hành vi với chủ thể khác khi cần thiết Trong trường
Trang 14khi giải quyết các vụ việc cụ thể cần chỉ rõ cho đương sự hiểu hành vi nào của
họ là VPHC, được quy định tại các văn bản QPPL nào và theo đó phải xử lý ra sao Hơn nữa, việc XLVPHC đơn thuần chỉ quan tâm tính thực định của pháp luật thì sẽ gặp nhiều trở ngại về mặt nhận thức khi các quy định pháp luật đó
có sự thay đổi [21, tr.34] Mặt khác, nhìn từ khía cạnh lịch sử khái niệm “vi phạm hành chính” đã tồn tại trong đời sống pháp lý ở nước ta từ rất lâu Tuy nhiên, việc định nghĩa khái niệm này luôn có những ý kiến khác nhau giữa tư duy khoa học pháp lý và tư duy pháp luật thực định Trong hệ thống pháp luật thực định của nước ta khái niệm “phạm pháp vi cảnh”, một khái niệm tương ứng, cùng phản ánh bản chất hiện tượng với khái niệm “vi phạm hành chính”
đã được định nghĩa trong Điều lệ Xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ tại Điều 2: “Những hành vi xâm phạm đến TTATXH mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh” [41, tr.6], nhưng “vi phạm hành chính” chỉ được định nghĩa chính thức trong Pháp
lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989, Điều 1: “Vi phạm hành chính là hành
vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách c ố ỷ hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc Q LN N mà không phải là TPHS và theo quy định của pháp luật phải bị XPHC Khái niệm này phần nào đã chỉ ra được các dấu hiệu của VPHC như hành vi có lỗi, xâm phạm các quy tắc QLNN, không phải là tội phạm và bị XPHC Có ý kiến cho rằng, việc xác định khách thể VPHC là các quy tắc QLNN dẫn đến chỗ nó có thể được hiểu là khách thể của vi phạm kỷ luật và không bao gồm được các QHXH liên quan đến sở hữu nhà nước, các quyền tự
do và lợi ích hợp pháp của công dân [32, tr 138] Ý kiến khác lại cho rằng, điểm thiếu ở định nghĩa này là dấu hiệu năng lực TNHC của chủ thể và điểm không chính xác khi cho rằng xâm hại các quy tắc QLNN [21, tr.35] Theo
Trang 15chúng tôi, việc xác định khách thể VPHC là các quy tắc QLNN là không chính xác, mà cần phải chỉ rõ những QHXH bị VPHC xâm phạm là khách thể VPHC Vì đã là VPPL thì đều xâm phạm quy tắc QLNN, chứ không riêng gì VPHC Hơn nữa, quy tắc QLNN có rất nhiều và do nhiều chủ thể đưa ra trong
đó có cả các chủ thể không có chức năng quản lý hành chính Do đó, không phải mọi quy tắc QLNN đều là QPPL và cũng không phải xâm phạm các quy tắc đó đều là VPHC Pháp lệnh XLVPHC 1995 tại khoản 2 Điều 1 đã định nghĩa VPHC một cách gián tiếp, nhưng vẫn không khắc phục được điểm thiếu chính xác của định nghĩa VPHC theo Pháp lệnh Xử phạt VPHC 1989, theo đó
“Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện có hành vi
cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy tắc QLNN mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị XPHC” Trong Pháp lệnh XLVPHC 2002, VPHC cũng được định nghĩa một cách gián tiếp tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây được gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý,
vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị XPHC” So với Pháp lệnh Xử phạt VPHC
1989 và pháp lệnh XLVPHC 1995 thì Pháp lệnh XLVPHC 2002 đã nêu lên
được tính trái pháp luật của hành vi vi phạm là " xâm phạm các quy định
của pháp luật về Q LN N Một số quy định tại các điều như: Điều 6 (về đối tượng bị XLVPHC), Điều 7 (về xử lý người chưa thành niên VPHC), Điều 9 (về tình tiết tăng nặng) đã bổ sung một số điểm về mặt chủ quan, chủ thể của VPHC nhưng chưa giải quyết toàn bộ Còn nhiều yếu tố cấu thành VPHC như: yếu tố bất hành vi, yếu tố lỗi, mặt khách quan, mặt chủ quan của vi phạm và ranh giới VPHC với tội phạm chưa được quy định rõ Đó là hạn chế của Pháp lệnh khi chưa đưa ra một định nghĩa chung về VPHC với các yếu tố cấu thành của nó, theo chúng tôi thì việc khôi phục lại định nghĩa VPHC và thêm các điểm làm rõ mặt khách quan, chủ quan của VPHC là rất cần thiết Việc Pháp lệnh mở rộng phạm vi điều chỉnh đến cả việc xử lý những hành vi VPPL về an ninh, TTATXH nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mà những
Trang 16hành vi này xét về mặt cấu thành thì không phải là VPHC, đã dẫn đến rối rắm
và lẫn lộn trong việc thể hiện [16, tr.23], xuất phát từ quy định của luật thực
định, có tác giả đã đưa ra khái niệm VPHC: “Vi phạm hành chính là hành vỉ
vi phạm các quy định của pháp luật về Q LN N, do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cô'ỷ hoặc vô ý, nhưng không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị XPHC hoặc bị áp dụng các biện pháp XLHC khác” [11,
tr.12] Việc không đưa ra định nghĩa về VPHC, theo chúng tôi là thể hiện bước “thụt lùi” của Pháp lệnh XLVPHC 1995, 2002 so với Pháp lệnh x ử phạt VPHC 1989 Để đảm bảo tính thống nhất của pháp chế và hiệu lực của pháp luật thì bản thân Pháp lệnh XLVPHC phải quy định rõ ràng về hành vi VPHC
và HTXP đối với hành vi đó (giống như Bộ luật Hình sự) Trong điều kiện hiện nay khối lượng VPHC gia tăng, lại luôn thay đổi cần được điều chỉnh và cũng để đảm bảo kịp thời hơn phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước Cho nên, Pháp lệnh mới chỉ xác định VPHC còn chung chung, còn hành
vi VPHC lại dành cho Chính phủ (cơ quan hành pháp) quy định tại các Nghị định Điều này cho đến nay là có thể hiểu được, song trước những đòi hỏi về dân chủ, xây dựng nhà nước về pháp quyền, bảo vệ quyền công dân, và cũng
là để phù hợp với một nguyên tắc hiến định là “Quyền và nghĩa vụ của công
dân do Hiến pháp và luật định”, thì cách làm này cần phải thay đổi [16, tr
23], trong tương lai cần được quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật
có hiệu lực pháp lý cao hơn (có thể là Luật hay Bộ luật XLVPHC)
Một điểm nữa trong khái niệm VPHC mà Pháp lệnh (1989 và 2002) nêu
ra cũng được nhiều nhà khoa học tranh luận đó là ranh giới giữa VPHC và
TPHS " mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
XPHC Theo chúng tôi, việc xác định không phải là tội phạm cần thiết phải đưa vào khái niệm Mặt khác, VPHC ngoài việc bị áp dụng các chế tài xử phạt, còn bị áp dụng các biện pháp chế tài hành chính khác như các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt VPHC, các biện pháp cưỡng chế thi hành QĐXP, nên việc nêu phải bị XPHC trong khái niệm là chưa đầy đủ Một điểm nữa trong khái niệm VPHC mà có nhiều quan điểm khác nhau, đó là xác định
Trang 17tính có năng lực TNHC của chủ thể VPHC, có cần thiết phải được quy định trong khái niệm VPHC không? Cần phải khẳng định, năng lực TNHC là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Như vậy, năng lực TNHC có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi, mà tính có lỗi là đặc điểm của VPHC phải được đưa vào trong khái niệm
VPHC Lỗi được hiểu là “Trạng thái tâm lý của chủ th ể đối với hành vi vi
phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây r a ” [34, tr.501] Trạng thái tâm
lý của con người bao gồm hai yếu tố lí trí và ý chí, là những yếu tố cần thiết
để hợp thành lỗi Trong đó, lí trí phản ánh khả năng nhận thức thực tại khách quan của con người, còn ý chí phản ánh khả năng điều khiển hành vi trên cơ
sở của sự nhận thức đó, đây là những yếu tố cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực TNHC Do đó, khi một người được coi là
có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên phải là người có năng lực TNHC Còn hành vi VPHC của tổ chức thì được thực hiện thông qua hành vi
vi phạm của người đại diện tổ chức đó, nên pháp luật quy định cho tổ chức khi
bị xử phạt VPHC phải tiến hành xác định lỗi của những người nhân danh tổ chức trực tiếp gây ra vi phạm để truy cứu trách nhiệm kỷ kuật, trách nhiệm vật chất, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân Do đó, khi một người được coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực TNHC Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khái niệm thì không cần phải quy định tính có năng lực TNHC vào trong khái niệm VPHC nữa Theo Từ điển Tiếng Việt, “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩa phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và mối liên hệ giữa chúng” [38, tr.491] Vậy nên, việc lựa chọn những đặc điểm nào để đưa vào nội dung của khái niệm VPHC phải đáp ứng về mặt hình thức khái niệm được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm
Trang 18Từ những vấn đề nêu trên có thể quan niệm về vi phạm hành chính như
sau: “Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước, do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách c ố ý
hoặc vô ý, mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật
bị áp dụng c h ế tài hành chính
1.1.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
Vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
phải là VPHC xảy ra ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển, xâm phạm trật tự
QLNN thuộc lĩnh vực mà theo quy định của pháp luật BĐBP có thẩm quyền
xử lý Vì vậy, nó cũng mang đầy đủ đặc điểm của VPHC nói chung, làm cơ sở
để phân biệt với các loại VPPL khác và phải có đặc trưng riêng để phân biệt
với các loại VPHC thuộc thẩm quyền xử lý của chủ thể có thẩm quyền khác
Cho nên, có thể chỉ ra những đặc điểm của VPHC trong các lĩnh vực thuộc
thẩm quyền của BĐBP như sau:
Thứ nhất: VPHC là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của
pháp luật về Q LN N trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Hành vi trái pháp luật được hiểu là hành vi không phù hợp với quy định
của pháp luật, được thể hiện dưới hai hình thức là hành động trái pháp luật và
không hành động trái pháp luật
Hành động trái pháp luật là xử sự tích cực, chủ động của chủ thể vi
phạm như làm một việc mà pháp luật cấm hoặc làm một việc mà pháp luật cho
phép nhưng quá giới hạn
Không hành động trái pháp luật là xử sự thụ động, tiêu cực của chủ thể
vi phạm trong thực hiện những nghĩa vụ, yêu cầu của pháp luật như không làm
một việc mà pháp luật buộc phải làm
Những hành vi trái pháp luật xâm phạm các quy định của pháp luật về
QLNN trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP như các quy định của
pháp luật về QLNN trong lĩnh vực an ninh và TTAXH, hải quan, thương mại,
Trang 19y tế, quốc phòng, văn hoá - thông tin, thì mới là hành vi VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Thứ hai: Hành vi đó do cá nhân, tổ chức thực hiện với lồi c ố ý hoặc vô ý.
Cá nhân và tổ chức là hai loại chủ thể của VPHC Cá nhân khi đạt đến
độ tuổi do pháp luật quy định mà thực hiện hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN trong điều kiện có khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi thì được coi là có lỗi v ề phía tổ chức, chỉ cần có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN là đủ điều kiện để được coi là có lỗi
Lỗi được hiểu một cách thông thường là những sai sót, những điều không đúng trong việc làm, trong ứng xử so với những quy định chung hoặc lẽ phải
Trên phương diện pháp lý, lỗi được xác định là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Đó là tổng thể những nhận thức, tình cảm, ý chí của người vi phạm trong khoảng thời gian thực tế thực hiện vi phạm, được biểu hiện ra bên ngoài thông qua cử chỉ, lời nói, hành động hoặc không hành động vi phạm, làm trái với những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật, thể hiện ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá của người vi phạm đối với hành vi vi phạm của mình Vì vậy, có thể xem lỗi chính là thái độ coi thường pháp luật,
vô trách nhiệm với các lợi ích xã hội của chủ thể vi phạm
Lỗi trong thực hiện VPHC được thể hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý
Trang 20Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi VPPL của mình Khi một người nhận thức được các yêu cầu xử sự cần thiết mà lại lựa chọn và thúc đẩy hành động của mình trái với yêu cầu này thì được coi là có lỗi và phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Thứ ba: Hành vi đố không phải là TPHS.
Có những hành vi xét về bản chất đã luôn là nguy hiểm đáng kể, và được đánh giá ngay là tội phạm như những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, giết người Có những hành vi luôn được pháp luật xác định là VPHC như hút thuốc ở những nơi quy định “Cấm hút thuốc”, không mang theo giấy chứng minh khi đi lại, gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo trong giờ nghỉ đêm của nhân dân (22 giờ đến 5 giờ), Nhưng cũng có những hành vi VPHC mà mặt khách quan tương tự với TPHS
VPHC và tội phạm đều là những hành vi VPPL, đều gây nguy hiểm cho
xã hội Song VPHC được xác định là có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với TPHS, theo khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999 thì “Những hành
vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”
Sở dĩ giữa VPHC và TPHS có sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho
xã hội là do chúng xâm hại đến các QHXH khác nhau về tính chất hoặc tuy cùng xâm hại đến một QHXH song thiệt hại gây ra, thủ đoạn thực hiện, tính chất lỗ i, có sự khác nhau Dựa trên tất cả các yếu tố này, tội phạm được coi
là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao, là đáng kể, còn VPHC
có tính nguy hiểm hạn chế là không đáng kể Nguy hiểm “đáng kể” hay
“không đáng kể” cho xã hội là ranh giới để phân định tội phạm với VPHC và các VPPL khác [19, tr.58]
Mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn của VPHC so với tội phạm chính là tiêu chuẩn vật chất chung có tính nguyên tắc để xác định ranh giới giữa VPHC và tội phạm trong trường hợp biểu hiện bên ngoài của hai loại vi
Trang 21phạm này có sự mô tả giống nhau Ví dụ: như hành vi buôn lậu, gây rối trật tự công cộng, đánh người gây thương tích, chống người thi hành công vụ.
Các tiêu chuẩn vật chất chung có tính nguyên tắc và bao quát đó được quy định cụ thể trong các VBPL như Bộ luật Hình sự, Thông tư liên ngành của các cơ quan tư pháp ở Trung ương hướng dẫn việc xác định tội phạm và đường lối xét xử Những tiêu chuẩn đó bao gồm:
- Tiêu chuẩn vê định tính;
- Tiêu chuẩn vê định lượng.
Tiêu chuẩn về định tính là những tiêu chí mang tính chất chuẩn mực để xác định tính chất của vi phạm, nó cho biết hành vi đã thực hiện có phải là VPHC hay không Các tiêu chuẩn đó bao gồm: vi phạm lần đầu; đã bị xử phạt VPHC mà còn vi phạm; tái phạm; vi phạm nhiều lần; có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; chống người thi hành công v ụ
Các tiêu chuẩn về định tính cho thấy tính chất, mức độ của vi phạm tương ứng với việc phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định như các tiêu chuẩn về tái phạm, vi phạm nhiều lần, có tổ chức,
có tính chất chuyên nghiệp, chống người thi hành công vụ Các tiêu chuẩn này được sử dụng là những tình tiết tăng nặng TNHC Chính vì vậy, khi quyết định hình thức phạt tiền, trong khi mức phạt tiền thông thường (không có tình tiết tăng nặng) là mức trung bình của khung tiền phạt, thì đối với các VPHC có tình tiết tăng nặng là cao hơn mức trung bình nhưng không vượt quá mức tối
đa của khung tiền phạt
Tiêu chuẩn về định lượng là những tiêu chí mang tính chất chuẩn mực
về lượng của một hệ giá trị tương ứng với một hành vi nhất định nhằm xác định hành vi đó có phải là VPHC hay không Đó là những tiêu chuẩn về số lượng hàng phạm pháp; giá trị hàng phạm pháp; tỷ lệ thương tật gây ra cho nạn nhân;
Trang 22Các tiêu chuẩn về định tính và định lượng có thể được kết hợp chặt chẽ với nhau để xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, là tiêu chí để xác định ranh giới giữa VPHC và tội phạm.
Ví dụ: Hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép qua biên giới hàng hoá (nếu là hàng cấm thì có số lượng không lớn), ngoại tệ, kim khí đá quý có giá trị dưới 100 triệu đồng, mà trước đó chưa bị XPHC hoặc đã bị XPHC nhưng
đã hết thời hạn được coi là chưa bị XPHC là VPHC
Đối với một loại VPHC cụ thể, các tiêu chuẩn về định lượng cũng được đặt ra để xác định tính chất, mức độ của vi phạm làm căn cứ quyết định mức
độ gánh chịu TNHC
Ví dụ: Bộ đội biên phòng có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC được quy định ở khoản 3 Điều 10 của Nghị định số 138/2004/NĐ-CP ngày 17/6/2004 quy định việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực hải quan Nếu người không phải là cư dân biên giới nhưng lợi dụng chính sách về mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới để vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới mà không phải là tội phạm mà tang vật vi phạm có trị giá dưới20.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, nếu tang vật vi phạm có trị giá từ 20.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng
Thứ tư: Hành vi đó bị áp dụng chê' tài hành chính theo quy định của pháp luật.
Chế tài được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước có thể áp dụng nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật [38, tr.150] Chế tài hành chính là biện pháp xử lý đối với cá nhân, pháp nhân, tổ chức xử sự trái pháp luật ở mức độ là VPPL (chưa đến mức là tội phạm) gọi là VPHC, được quy định trong các văn bản QPPL về XLVPHC [26, tr.83] Như vậy, chế tài hành chính bao gồm các HTXP; các biện pháp KPHQ; các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc XPHC, các biện pháp cưỡng chế thi hành QĐXP; các biện pháp chế tài hành chính khác theo quy định của pháp luật
Trang 23Những hành vi trái pháp luật hành chính có thể diễn ra ở hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng không có nghĩa các hành vi đó là VPHC Chỉ những hành vi nào theo quy định của pháp luật bị áp dụng biện pháp chế tài hành chính thì mới là VPHC.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh XLVPHC
2002 quy định: Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt VPHC khi có hành vi VPHC được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ
Các văn bản trên là căn cứ pháp lý để xác định hành vi VPHC, trong đó chỉ có Nghị định của Chính phủ về xử phạt VPHC trên các lĩnh vực QLNN là xác định biện pháp XPHC Do đó, đây chính là cơ sở pháp lý chủ yếu để xác định hành vi VPHC Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, UBND ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện XLVPHC không được quy định hành vi VPHC
và hình thức, mức xử phạt
Tóm lại: Để xác định một hành vi trái pháp luật xảy ra có phải là VPHC hay không, phải xác định được hành vi đó có đủ những đặc điểm là vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN, có lỗi, không phải là tội phạm và bị áp dụng chế tài hành chính
Thứ năm: Hành vi đố xảy ra trên địa bàn, trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP.
Đặc điểm này là cơ sở để xác định thẩm quyền XLVPHC của BĐBP và
để phân định thẩm quyền XLVPHC về địa bàn, lĩnh vực với các chủ thể có thẩm quyền XLVPHC khác Bộ đội biên phòng có thẩm quyền XLVPHC đối với các hành vi VPHC xảy ra trên địa bàn do BĐBP quản lý và những hành vi này được pháp luật quy định trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của BĐBP
THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐA! HOCLÚÂT HÀ NÔI
P H Ỏ N G G V
Trang 24Như vậy, “Vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền
của Bộ đội biên phòng là vi phạm hành chính xảy ra trên địa bàn, trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ đội biên phòng
1.1.3 Xử lý VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
Hiện tượng VPHC diễn ra ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội, đòi hỏi Nhà nước cần có những quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng để xử lý đối với những hành vi VPHC, góp phần vào việc đấu tranh có hiệu quả với VPHC
Có nghĩa là, XLVPHC trở thành một vấn đề khá quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả phòng chống VPHC, lập lại trật tự kỷ cương trong xã hội Song, kể từ năm 1945 đến năm 1995 ở nước ta khổng có VBPL quy định về VPHC nào đề cập đến thuật ngữ “xử lý vi phạm hành chính” Thực tế chỉ ra rằng, việc xử phạt VPHC không phải là biện pháp duy nhất khi XLVPHC, không phải là biện pháp tối ưu nhằm xác lập trật tự quản lý bị phá
vỡ Nếu quan niệm XPHC là XLVPHC và XLVPHC là XPHC, thì dẫn đến việc coi nhẹ các biện pháp cưỡng chế hành chính khác mà chỉ chú trọng biện pháp XPHC của chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật hành chính, dẫn đến hậu quả không đảm bảo mục đích XPHC [33, tr.18] Do vậy, thuật ngữ
“xử lý vi phạm hành chính” đã được ghi nhận trong pháp luật thực định, đảm bảo được tính toàn diện về quy định của pháp luật đối với vấn đề XLVPHC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC (1995, 2002) đều quy định: “xử lý VPHC bao gồm xử phạt VPHC và các biện pháp XLHC khác” Các biện pháp XLHC khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi VPPL về an ninh, TTATXH nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Cho nên, theo chúng tôi thì áp dụng các biện pháp XLHC khác đối với đối tượng VPPL chứ không phải với đối tượng VPHC Xử lý VPHC không chỉ là XPHC nhưng phải
là hoạt động cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC Như vậy, XLVPHC
là hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với cá nhân, tổ chức VPHC, đó là việc áp dụng các chế tài hành chính bao gồm: các HTXP VPHC; các biện pháp KPHQ do VPHC gây ra; các biện pháp ngăn chặn
Trang 25VPHC và đảm bảo việc XLVPHC, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC và các biện pháp chế tài hành chính khác.
Trong các hoạt động trên thì xử phạt VPHC là một trong những hoạt động quan trọng nhất, có ý nghĩa to lớn trong đấu tranh với VPHC, có tác dụng trực tiếp củng cố, tăng cường trật tự QLNN Thực chất XPHC là việc áp dụng các chế tài hành chính có tính chất trừng phạt do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành đối với cá nhân, tổ chức VPHC theo quy định của pháp luật
Từ việc phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm XLVPHC như sau:
“Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng c h ế hành chính mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành
áp dụng các c h ế tài hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Theo quy định của pháp luật, BĐBP là một trong những chủ thể có thẩm quyền tiến hành áp dụng các chế tài hành chính theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với các cá nhân, tổ chức VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
Như vậy, “Xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm
quyền của Bộ đội biên phòng là hoạt động cưỡng c h ế hành chính mang tính quyền lực nhà nước do các cá nhân có thẩm quyền trong các cấp Bộ đội biên phòng tiến hành áp dụng các c h ế tài hành chính theo quyền hạn, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ đội biên phòng
Hoạt động XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP trước hết là hoạt động cưỡng chế hành chính mang tính quyền lực nhà nước do các chức danh có thẩm quyền XLVPHC trong các cấp BĐBP tiến hành và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước Kết quả của hoạt động này được thể hiện bằng việc ra các quyết định áp dụng pháp luật trong XLVPHC và tổ chức thi hành các quyết định đó của các chức danh có thẩm quyền XLVPHC trong các cấp BĐBP
Trang 26Thứ hai, hoạt động XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của
BĐBP là hoạt động áp dụng pháp luật (áp dụng các chế tài hành chính) theo
quyền hạn, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Thứ ba, đối tượng tác động của hoạt động XLVPHC trong các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền của BĐBP là tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hành vi VPHC
trên địa bàn, trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP Đối tượng
VPHC thuộc thẩm quyền xử lý của BĐBP rất đa dạng thường là cư dân
KVBG, cư dân biên giới của các nước láng giềng, người nước thứ ba và người
không quốc tịch
Thứ tư, mục đích của hoạt động XLVPHC là nhằm truy cứu TNHC đối
với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC, buộc họ phải gánh chịu các chế
tài hành chính tương xứng với tính chất, mức độ đối với VPHC đã gây ra, khôi
phục lại trật tự QLNN đã bị VPHC xâm hại Như vậy, VPHC là cơ sở phát
sinh hoạt động XLVPHC
1.2 Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
1.2.1 Căn cứ xác định thẩm quyền XLVPHC của BĐBP
Thẩm quyền được hiểu là quyền xem xét để kết luận và định đoạt
những vấn đề theo pháp luật [38, tr.922] Tại khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh
XLVPHC 2002 ghi rõ: “Việc XLVPHC phải do người có thẩm quyền tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật” Nghĩa là, việc áp dụng các HTXP
VPHC, các biện pháp KPHQ, các biện pháp XLHC khác; các biện pháp ngăn
chặn và đảm bảo việc XLVPHC; các biện pháp cưỡng chế thi hành QĐXP
phải do chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật
Nguyên tắc này đã xác định cơ sở pháp lý của phạm vi thẩm quyền XLVPHC
Thẩm quyền XLVPHC được hiểu là quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan nhà
nước, người có thẩm quyền tiến hành XLVPHC theo những thủ tục, trong
phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật [33, tr.23]
Trang 27Như vậy, thẩm quyền XLVPHC của BĐBP là quyền hạn và nghĩa vụ của người có thẩm quyền tiến hành XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP theo quy định của pháp luật.
Nghĩa là, thẩm quyền XLVPHC của BĐBP là tổng th ể các quyền và
nghĩa vụ của các chức danh có thẩm quyền trong các cấp BĐBP trong việc thực hiện những thủ tục cần thiết và áp dụng các biện pháp ngăn chặn VPHC
và đảm bảo việc XLVPHC nhằm quyết định áp dụng và thực thi có hiệu quả các HTXP VPHC và các biện pháp KPHQ đối với cá nhân, tổ chức VPHC trên địa bàn, trong lĩnh vực quản lý của BĐBP.
Từ việc lý giải trên, theo chúng tôi căn cứ để phân định thẩm quyền XLVPHC của BĐBP với các chủ thể có thẩm quyền XLVPHC khác như Lực lượng Công an, Hải quan, Kiểm Lâm, Cảnh sát biển là:
- Lĩnh vực quản lý của BĐBP;
- Địa bàn quản lý của BĐBP;
- Đối tượng VPHC.
định Khi thực hiện thẩm quyền, BĐBP phải căn cứ vào pháp luật, đó là cơ sở pháp lý cho hành vi công vụ của các chức danh có thẩm quyền trong các cấp BĐBP tiến hành XLVPHC Những VBPL hiện hành quy định thẩm quyền XLVPHC của BĐBP bao gồm có Pháp lệnh BĐBP 1997, Pháp lệnh XLVPHC
2002, các nghị định của Chính phủ về xử phạt VPHC trên các lĩnh vực QLNN
và các văn bản của các Bộ, Ngành có liên quan Ngoài ra, BĐBP khi tiến hành XLVPHC còn dựa trên các ĐUQT mà Việt Nam ký kết và gia nhập với các nước láng giềng hoặc các nước hữu quan về quản lý bảo vệ BGQG Trong đó, Pháp lệnh XLVPHC 2002 là văn bản quan trọng nhất quyết định địa vị pháp lý của BĐBP trong XLVPHC Vi phạm hành chính có thể xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực trong QLNN và thuộc thẩm quyền xử phạt của rất nhiều chủ thể Pháp luật quy định thẩm quyền xử phạt VPHC dựa theo thẩm quyền quản lý
Trang 28nhằm tạo điều kiện để việc xử phạt VPHC tiến hành nhanh chóng, kịp thời và
chính xác Cho nên, BĐBP chỉ có thẩm quyền XLVPHC trong một số lĩnh vực
QLNN nhất định Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BĐBP
trong từng giai đoạn cách mạng pháp luật quy định cho BĐBP có thẩm quyền
XLVPHC trong những lĩnh vực QLNN cụ thể nào “Lĩnh vực” hiểu một cách
khái quát là phạm vi hoạt động, phân biệt với các phạm vi hoạt động khác
trong xã hội [38, tr.571] Trong QLNN căn cứ vào tính chất, phạm vi hoạt
động có thể phân biệt thành các lĩnh vực QLNN khác nhau như các lĩnh vực:
an ninh và TTATXH; quốc phòng; thương mại; hải quan; văn hoá - thông
tin; Như vậy, “Lĩnh vực” trong luận văn được hiểu là các lĩnh vực Q LN N
được quy định tại từng Nghị định của Chính phủ về xử phạt VPHC Pháp lệnh
XLVPHC hiện hành chỉ mới quy định mức phạt tiền tối đa áp dụng đối với
hành vi VPHC trong các lĩnh vực (Điều 14), nhưng Pháp lệnh chưa quy định
rõ những lĩnh vực QLNN cho từng chủ thể có thẩm quyền XLVPHC, điều này
gây khó khăn cho chính những chủ thể có thẩm quyển XLVPHC Khi phát
hiện hành vi VPHC, các chủ thể có thẩm quyền XLVPHC lại cần xác định
hành vi VPHC đó có thuộc lĩnh vực mà mình có thẩm quyền xử lý hay không
Việc này, có thể dẫn đến việc “đùn đẩy” trách nhiệm giữa các chủ thể có thẩm
quyền mà không nâng cao được hiệu quả đấu tranh với VPHC một cách kịp
thời
Thứ hai, việc xác định thẩm quyền XLVPHC của BĐBP còn phải căn cứ
vào địa bàn quản lý của BĐBP Theo Từ điển Tiếng Việt, địa bàn được hiểu
theo nghĩa, đó là khu vực (phần đất đai, trời biển có giới hạn rõ ràng, được
vạch ra dựa trên những tính chất, đặc điểm chung nào đó), trong mối quan hệ
với những hoạt động tiến hành ở đó [38, tr.314,513] Khu vực biên giới là bộ
phận lãnh thổ quốc gia nhất định tiếp giáp BGQG, có quy chế riêng do cơ
quan có thẩm quyền Nhà nước quy định để bảo vệ BGQG [36, tr.12] Tại Điều
6 Luật BGQG 2003 “khu vực biên giới ” được giải thích rõ, bao gồm:
- Khu vực biên giới đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa
giới hành chính trùng hợp với BGQG trên đất liền;
Trang 29- Khu vực biên giới trên biển tính từ BGQG trên biển vào hết địa giới
hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo;
- Khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc BGQG có
chiều rộng mười kilômét tính từ BGQG trở vào
Tại Điều 2 Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14/3/2005 về Quy chế
cửa khẩu biên giới đất liền ghi rõ: “Cửa khẩu biên giới đất liền bao gồm: cửa
khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường
bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa trong KVBG theo Hiệp định về Quy chế
biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam với Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại BGQG”
Trách nhiệm quản lý, bảo vệ BGQG và KVBG, cửa khẩu của BĐBP được ghi nhận tại Luật BGQG 2003 và cụ thể hoá tại Điều 19 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 Quy định chi tiết thi hành Luật BGQG như sau: “Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách chủ trì phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan, các địa phương trong hoạt đông quản lý, bảo vệ BGQG, giữ gìn an ninh, TTATXH ở KVBG”
Từ đó, tác giả xác định trong luận văn “Địa bàn quản lý ” của BĐBP
bao gồm: KVBG trên đất liền, KVBG trên biển (trong đó có đảo, quần đảo) và vùng biển (không nằm trong KVBG trên biển như trên các vùng biển, thềm lục địa của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và vùng đánh cá chung Vịnh Bắc
Bộ), sau đây gọi là khu vực biên giới, cửa khẩu và vùng biển Hiện nay, Chính
phủ cần ban hành Quy chế quản lý đối với KVBG trên không Nghĩa là, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao BĐBP có thẩm quyền tiến hành XLVPHC đối với các VPHC xảy ra ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển Tuy nhiên, các VPHC xảy ra trên địa bàn quản lý của BĐBP gồm các VPHC xâm phạm đến trật tự QLNN trong các lĩnh vực và do nhiều chủ thể khác nhau có thẩm quyền tiến hành xử lý như lực lượng Công an, Hải quan, cảnh sát biển, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Vì vậy, BĐBP chỉ tiến hành XLVPHC đối với những VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền,
Trang 30trên địa bàn quản lý của BĐBP (hoặc VPHC có thể xảy ra ở nhiều nơi khác nhau, nhưng do BĐBP phát hiện trên địa bàn mình quản lý) Đối với những VPHC thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan khác hay trường hợp đối tượng vi phạm thực hiện nhiều hành vi VPHC thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau, cả trường hợp cá nhân thực hiện hành vi VPPL trong lĩnh vực an ninh, TTATXH mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mà BĐBP phát hiện thì tiến hành những thủ tục pháp lý ban đầu và chuyển cho cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Tại Điều 2 Pháp lệnh XLVPHC 2002 quy định: Chính phủ là chủ thể duy nhất có thẩm quy định hành vi VPHC, HTXP, biện pháp KPHQ đối với từng hành vi trong các lĩnh vực QLNN và chế độ áp dụng các biện pháp XLHC khác Chính phủ thực hiện thẩm quyền này bằng việc ban hành các Nghị định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLNN và các nghị định quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác Nhưng thực tế, trong một số Nghị đinh Chính phủ còn quy định giới hạn về địa bàn quản lý của BĐBP Cụ thể, Nghị định của Chính phủ số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 Quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Điều 20 có ghi: Đối với công trình thủy lợi nằm tại khu vực cấm vùng biên giới thì thẩm quyền xử phạt VPHC do BĐBP thực hiện theo quy định của Nghị định này và Điều 32 của Pháp lệnh XLVPHC 2002 Khu vực cấm vùng biên giới là khu vực nằm trong KVBG, vậy theo quy định trên thì đối với công trình thủy lợi nằm trong KVBG - địa bàn quản lý của BĐBP, nhưng không nằm tại khu vực cấm vùng biên giới thì BĐBP không có thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm Theo chúng tôi, nếu Chính phủ trao quyền XLVPHC cho BĐBP, thì không nên giới hạn địa bàn quản lý của BĐBP Hơn nữa, trong trường hợp cư dân biên giới thuộc địa bàn các đồn Biên phòng quản lý, công dân của của các nước láng giềng, các tổ chức, cá nhân khác mà VPHC trong địa bàn BĐBP quản lý thì chủ thể có khả năng phát hiện và ngăn chặn, xử lý có hiệu quả nhất
đó là BĐBP Trường hợp đối tượng vi phạm do BĐBP phát hiện, thực hiện nhiều hành vi thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau, thì BĐBP tham
Trang 31mưu cho UBND cấp có thẩm quyền xử lý Từ đó, chúng tôi cho rằng đối tượng
VPHC cũng là một trong những căn cứ cơ bản xác định thẩm quyền XLVPHC
của BĐBP
Như vậy, lĩnh vực và địa bàn quản lý, đối tượng vi phạm là ba căn cứ
chủ yếu, có mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành thể
thống nhất không th ể tách dời, là căn cứ xác định thẩm quyền XLVPHC của
BĐBP.
1.2.2 Vai trò của hoạt động XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP trong QLNN vê BGQG
Quản lý nhà nước về BGQG do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện dựa trên cơ sở pháp luật quốc gia và ĐUQT do các cơ quan hữu quan xây dựng
nên nhằm bảo vệ sự ổn định và bất khả xâm phạm BGQG, lãnh thổ quốc gia, bảo vệ
chủ quyền quốc gia, bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp của quốc gia, của cơ quan, tổ
chức và cá nhân của quốc gia [24, tr.14] Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt,
chuyên trách quản lý bảo vệ BGQG, có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường BGQG, hệ
thống dấu hiệu mốc quốc giới; đấu tranh ngăn chặn các hành vi xâm phạm lãnh thổ
BGQG, vượt biên, vượt biển, nhập cư, cư trú trái phép, khai thác trộm tài nguyên và
những hành vi khác xâm phạm đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh trật tự, gây
hại đến môi trường ở KVBG; chủ trì phối họp vófi các ngành, địa phương trong hoạt
động quản lý, bảo vệ BGQG và duy trì an ninh, TTATXH ở KVBG trên đất liền,
trên biển, các hải đảo và các cửa khẩu Như vậy, hoạt động đấu tranh và xử lý có
hiệu quả các VPPL trong đó có VPHC trong KVBG, vùng biển và tại các cửa khẩu
có ý nghĩa quan trọng trong QLNN về BGQG
- Thứ nhất, XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP trong Q LN N vê BGQG là biện pháp giáo dục nâng cao ý thức vê chủ quyền
quốc gia.
Chủ quyền quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong QLNN về
BGQG Từ việc đàm phán, thoả thuận, ký kết ĐUQT về BGQG cho đến việc
phân định biên giới trên thực địa, ban hành VBPL quốc gia về những vấn đề
Trang 32liên quan đến BGQG và thực hiện pháp luật về BGQG đều nhằm mục đích bảo
vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ sự toàn vẹn và bất khả xâm phạm lãnh thổ quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia, của cơ quan tổ chức và cá nhân công dân [24, tr.16] Vì vậy, việc BĐBP phát hiện kịp thời và xử lý kiên quyết, triệt để mọi VPPL nói chung, VPHC nói riêng ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập và duy trì trật tự QLNN
về BGQG, có tác dụng tích cực trong phòng ngừa và chống VPPL, giáo dục cho nhân dân ở KVBG ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện các quy tắc của cuộc sống cộng đồng, khắc phục tâm lý trong dân chúng hiện nay là “Vi phạm pháp luật mà không bị xử lý” [37, tr.15] Tính đúng đắn, hiệu quả của hoạt động XLVPHC của BĐBP được thể hiện bằng việc BĐBP tiến hành XLVPHC đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm làm cho cá nhân, tổ chức
bị áp dụng các chế tài hành chính khi xử lý và những người có mặt hiểu sâu sắc và
rõ ràng hơn pháp luật được áp dụng để giải quyết vi phạm, cả quy định về nội dung
và quy định về thủ tục, giúp họ hình thành cảm xúc về sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, củng cố lòng tin và thái độ tôn trọng đối với pháp luật, tôn trọng cơ quan chức trách, giúp họ định hướng hành vi phù hợp với pháp luật, dịnh hướng dư luận xã hội, nhờ đó có tác dụng phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng VPHC [36, tr.49] Việc tổ chức thực hiện đúng đắn pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP có tác dụng giáo dục pháp luật không chỉ với người vi phạm mà có ý nghĩa giáo dục răn đe với mọi người, tạo được niềm tin tưởng vào pháp luật, vào người thừa hành công vụ, từ đó hình thành động cơ, hành vi đúng pháp luật Xử lý VPHC của BĐBP không chỉ đảm bảo yêu cầu về pháp luật, mà còn đảm bảo yêu cầu về chính trị, đối ngoại của Đảng, Nhà nước Khi xử lý BĐBP phải nắm vững chính sách dân tộc, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, xử lý có lý, có tình
sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ của đồng bào KVBG và nhân dân KVBG nước láng giềng, tăng cường mối quan hệ hoà bình hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới Chính điều đó, đã giáo dục nâng cao ý thức chủ quyền quốc gia của nhân dân KVBG nói riêng và mọi công dân trong xã hội nói chung, mọi người có nghĩa vụ đấu tranh ngăn chặn với các VPPL, tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật,
Trang 33CÓ nghĩa vụ tham gia bảo vệ BGQG, đảm bảo an ninh biên giới và TTATXH ở
KVBG, cửa khẩu và vùng biển
- Thứ hai, XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP trong Q LN N về BGQG là biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không đ ể xảy ra
tội phạm ở KVBG và qua lại biên giới.
Địa bàn KVBG là nơi trực tiếp giao lưu, quan hệ đối ngoại với các nước
láng giềng, là nơi sinh sống của đại đa số các dân tộc thiểu số, rất đa dạng về
tôn giáo và các mối quan hệ Khu vực biên giới, vùng biển và khu vực cửa
khẩu cũng là nơi các thế lực thù địch, băng nhóm tội phạm có tổ chức lợi dụng
địa hình, dân cư, tôn giáo, để hoạt động gây mất ổn định an ninh, chính trị
của đất nước [10, tr.26] Chính vì vậy, việc đấu tranh có hiệu quả đối với các
VPPL đặc biệt là TPHS ở KVBG, khu vực cửa khẩu và vùng biển góp phần giữ
vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an
ninh, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG của
BĐBP Các VPPL xảy ra ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển - địa bàn quản lý
của BĐBP chủ yếu là VPHC và TPHS
Vi phạm hành chính và TPHS đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội,
xâm phạm các QHXH được pháp luật quy định và bảo vệ Trong trường hợp
VPHC và tội phạm xâm phạm đến các QHXH cùng loại, thì để xác định ranh
giới giữa VPHC với TPHS phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi vi phạm Điều đó chứng tỏ rằng VPHC có thể chuyển hoá
thành TPHS nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời Trong
Bộ luật Hình sự 1999 có tới 65 điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt
hành chính” [19, tr 198-202] (trong đó có 05 điều luật thuộc quyền hạn điều
tra của BĐBP) để phân biệt với VPHC Như vậy, hoạt động XLVPHC trong
các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP được tiến hành đúng đắn có hiệu
quả là biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra tội phạm ở KVBG
và qua lại biên giới
Trang 34Chương 2
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỂ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÁC LĨNH v ự c THUỘC
THẨM QUYỂN CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về XLVPHC trong các
lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP gắn liền với sự ra đời và trưởng thành
của lực lượng Công an nhân dân vũ trang (tiền thân của BĐBP ngày nay) và sự
phát triển các quy định của pháp luật về XLVPHC Vì vậy, theo quan điểm
của chúng tôi, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về XLVPHC
trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP chia thành Ậ giai đoạn sau:
- Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1977:
Ngày 03/3/1959, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số
100/TTg thành lập lực lượng “Công an nhân dân vũ trang” (nay là Bộ đội
biên phòng) đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an Nhiệm vụ của lực lượng
Công an nhân dân vũ trang là trấn áp bọn phản cách mạng trong nước và bọn
phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta và những phần tử phá
hoại khác, luôn luôn sẵn sàng cùng Quân đội nhân dân, dân quân du kích và
nhân dân chiến đấu để bảo vệ an ninh nội địa, biên giới, giới tuyến, bờ biển,
bảo vệ an ninh các thành phố, thị xã, các cơ quan, cơ sở kinh tế văn hoá quan
trọng [9, tr 146] Trong giai đoạn này lực lượng BĐBP mới được thành lập
nhiệm vụ cơ bản được xác định là bảo vệ trị an biên giới, giới tuyến, bờ biển
bằng biện pháp chính trị và nghiệp vụ là chủ yếu (biện pháp pháp luật được
xác định là thứ yếu) Hơn nữa, khi mới ra đời Nhà nước chưa có thể có ngay
đầy đủ hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về XLVPHC nói riêng Để
bảo vệ nền độc lập của đất nước, đấu tranh với các VPPL, giữ gìn TTATXH,
Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 quy định tạm thời giữ
Trang 35các luật lệ của chế độ cũ ở Bắc - Trung - Nam Bộ cho đến khi ban hành được những quy định mới, trên tinh thần chỉ được thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà [29, tr.29] Các quy định của pháp luật về xử lý VPPL cả về hình sự và hành chính trong giai đoạn này đều nằm rải rác trong nhiều văn bản riêng lẻ và không có quy định riêng về thẩm quyền xử lý VPPL cho BĐBP (lực lượng Công an nhân dân vũ trang lúc bấy giờ).
- Giai đoạn từ năm 1977 đến năm 1989:
Ngày 25/7/1977 Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ x ử phạt vi cảnh (ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP), đây là văn bản đầu tiên có tính hệ thống về xử phạt VPHC Mặc dù Điều lệ chỉ quy định về hành vi vi cảnh trong lĩnh vực TTATXH nhưng đã thể hiện sự tiến bộ của pháp luật về XLVPHC [7,
tr 36] Theo đó, việc xử lý những hành vi xâm phạm đến TTATXH mà bị coi
là phạm pháp vi cảnh thì có thể bị xử lý bằng các hình thức: cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đồng đến 10 đồng, phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày, phạt giam từ 1 ngày đến 3 ngày Quyền hạn xử phạt vi cảnh của BĐBP lần đầu tiên được quy định một cách rất hạn chế và chung chung tại Điều 26: “Cán bộ, chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ quản lý TTATXH được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đồng đến 3 đồng” Theo Quyết định số 412/CP của Hội đồng Chính phủ, từ ngày 10/10/1979 lực lượng Công an nhân dân vũ trang thuộc Bộ Nội vụ chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc phòng Theo đó BĐBP thuộc lực lượng của Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ: Phòng thủ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở bất cứ quy mô nào của kẻ thù, bảo vệ biên giới, bờ biển, hải đảo, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Còn Lực lượng của Bộ Nội vụ có nhiệm vụ cơ bản thường xuyên là giữ gìn an ninh chính trị và TTATXH [9, tr.147] Nghĩa là, BĐBP không có quyền hạn xử phạt vi cảnh vì không còn là lực lượng trực thuộc Bộ Nội vụ Ngày 31/5/1988, Ban chấp hành Trung ương đã ra Chỉ thị số 41/CT-
TW chuyển giao lực lượng BĐBP từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ v ề nhiệm vụ BĐBP được Bộ Nội vụ trao quyền quản lý an ninh cửa khẩu (trừ cửa
Trang 36khẩu hàng không) Khi này thẩm quyền xử phạt vi cảnh của BĐBP được thực hiện theo quy định tại Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 100/HĐBT ngày 06/7/1985 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ x ử phạt vi cảnh, theo đó: cán bộ, chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ quản lý TTATXH được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 đồng đến 30 đồng.
- Giai đoạn từ năm 1989 đến nay:
Pháp luật là sự mô hình hoá những nhu cầu khách quan, điển hình và phổ biến trong xã hội Vì vậy, khi tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải có sự thay đổi tương ứng [25, tr.9] Trong bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước có nhiều sự thay đổi, thì Điều lệ Xử phạt vi cảnh không còn phù hợp với đòi hỏi của cuộc đấu tranh với các VPPL phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Vì thế cần phải có một văn bản mới quy định về xử phạt VPHC và ngày 30/11/1989 Pháp lệnh x ử phạt VPHC được Hội đồng Nhà nước ban hành là VBPL có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay, quy định khá toàn diện về xử phạt VPHC Thẩm quyền
xử phạt VPHC của BĐBP lần đầu tiên chính thức được quy định tại Điều 19, theo đó: Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng Việc phạt tiền trên 20.000 đồng đến 50.000 đồng phải do Thủ trưởng trực tiếp của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ quyết định; Chỉ huy đơn vị BĐBP được áp dụng tất cả các hình thức phạt và biện pháp cưỡng chế khác theo quy định tại Pháp lệnh này và phạt tiền đến 200.000 đồng Việc quy định về thẩm quyền xử phạt VPHC của BĐBP trong Pháp lệnh này vẫn còn chung chung, gây khó khăn cho các cấp BĐBP khi áp dụng trong thực tiễn Pháp lệnh Xử phạt VPHC 1989 chỉ tồn tại đến năm 1995, sở dĩ Pháp lệnh này chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn là do điều kiện kinh tế - xã hội đã
hình mới, giữ vững an ninh, TTATXH, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao hiệu lực QLNN, ngày 06/7/1995, Pháp lệnh XLVPHC 1995 được ban hành thay thế Pháp lệnh Xử phạt VPHC 1989 Pháp lệnh XLVPHC 1995 đã khắc phục được việc quy định chung chung về các chức danh có thẩm quyền XPHC
Trang 37trong các cấp BĐBP Tại Điều 29 Pháp lệnh XLVPHC 1995 ghi nhận: Chiến
sĩ BĐBP đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng; Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng, buộc bồi thường thiệt hại do VPHC gây ra đến 500.000 đồng; Chỉ huy trưởng Tiểu khu Biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn Biên phòng, Trưởng Đồn Biên phòng có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 đồng, tước quyền giấy phép trong các lĩnh vực, phạm vi thuộc thẩm quyền, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC và áp dụng các biện pháp KPHQ được quy định tại khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh này Ngày 08/8/1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 11/TW về xây dựng BĐBP trong thời kỳ mới, theo Nghị quyết này BĐBP được chuyển giao
từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng Bộ Quốc phòng đã xây dựng Dự án Pháp lệnh BĐBP, ngày 28/3/1997 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh BĐBP và Chủ tịch nước đã ký Lệnh Công bố ngày 07/4/1997 Pháp lệnh BĐBP đã ghi nhận thẩm quyền XLVPHC của BĐBP
Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đấu tranh với VPHC nói chung, các VPHC nói riêng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã đề
ra nhiều chủ trương, biện pháp, trong đó có một giải pháp quan trọng và là cơ
sở cho các giải pháp khác đó là đổi mới, hoàn thiện pháp luật về XLVPHC với những nội dung cơ bản là tăng cường thẩm quyền cho các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn (trong đó có BĐBP)
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, Nhà nước, ngày 02/7/2002 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh XLVPHC 2002 để thay thế Pháp lệnh XLVPHC 1995 Trong văn bản này đã quy định cụ thể thẩm quyền XLVPHC của BĐBP tại một điều khoản riêng biệt, không còn quy định chung tại cùng một điều khoản với cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh của Bộ Công an như trước đây Hơn nữa, trên cơ sở đánh giá đúng vị trí, vai trò của BĐBP trong đấu tranh phòng, chống VPHC ở KVBG, cửa khẩu và vùng biển, Chính
phủ đã mở rộng thẩm quyền xử phạt của BĐBP ở nhiều lĩnh vực QLNN Đồng
thời, với sự gia tăng thẩm quyền xử phạt theo Pháp lệnh XLVPHC 2002,
Trang 38BĐBP còn có quyền xử phạt đối với nhiều hành vi VPHC mà trước đây không
được trao thẩm quyền
2.2 Thực trạng chê định XLVPHC có liên quan đến thẩm quyền XLVPHC của BĐBP
Tìhứ nhất, nguyên tắc xác định thẩm quyền của BĐBP.
Trong phần 1.2.1 của luận văn đã chỉ ra ba căn cứ cơ bản để xác định
thẩm quyền của BĐBP là đối tượng VPHC, địa bàn và lĩnh vực quản lý của
BĐBP Như vậy, người có thẩm quyền XLVPHC trong các cấp BĐBP phải là
người đang thi hành công vụ và VPHC được phát hiện phải xảy ra ở KVBG,
cửa khẩu, vùng biển - địa bàn quản lý của BĐBP và hành vi VPHC thuộc lĩnh
vực quản lý của BĐBP Còn nếu hành vi VPHC xảy ra ở địa bàn quản lý của
BĐBP do BĐBP phát hiện, nhưng hành vi đó không thuộc lĩnh vực quản lý của
BĐBP, thì BĐBP không có quyền lập biên bản VPHC, mà chỉ đình chỉ hành vi
vi phạm, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc XLVPHC (nếu có
căn cứ áp dụng) và phải báo với cơ quan có thẩm quyền tới lập biên bản
VPHC để tiến hành chuyển giao Việc quy định hiện hành như vậy, dẫn đến
việc áp dụng thực hiện sẽ rất phức tạp và mất thời gian, làm giảm hiệu quả đấu
tranh phòng, chống VPPL, trong khi đó Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
còn cho phép bất cứ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã [14, tr.20-22]
Để xác định thẩm quyền XLVPHC giữa các chức danh có thẩm quyền
XLVPHC trong các cấp BĐBP phải căn cứ mức tối đa của khung phạt tiền đối
với từng hành vi vi phạm cụ thể chứ không phải căn cứ mức tiền phạt thực tế
áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, đồng thời phải căn cứ vào các
HTXP được quy định áp dụng đối với hành vi vi phạm Đối với trường hợp
nếu một người thực hiện nhiều hành vi VPHC (khoản 3 Điều 42), nếu một
trong các hành vi có hình thức, mức phạt vượt quá thẩm quyền thì chuyển đến
cấp có thẩm quyền xử phạt Trong các cấp BĐBP tất cả các chức danh có thẩm
quyền XLVPHC đều có thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền và cảnh cáo
Trang 39Còn thẩm quyền áp dụng hình thức phạt bổ sung (tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC) và các biện pháp KPHQ được trao cho cấp Trưởng Đồn Biên phòng trở lên.
Thứ hai, thẩm quyền áp dụng các HTXP VPHC và các biện pháp KPHQ của BĐBP.
Theo quy định tại Điều 32 Pháp lệnh XLVPHC 2002, thẩm quyền áp dụng các hình thức XPHC và các biện pháp KPHQ được quy định như sau:
- Những người chỉ được áp dụng HTXP chính bao gồm:
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp không giữ chức vụ đang thi hành công vụ được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp giữ các chức vụ Đội trưởng, Trạm trưởng của Đồn Biên phòng được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng
- Những người được áp dụng HTXP chính kèm theo HTXP bổ sung (tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC) và các biện pháp KPHQ (buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do VPHC gây ra; buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại; các biện pháp khác nếu Chính phủ quy định BĐBP có thẩm quyền) gồm:
+ Trưởng Đồn Biên phòng; Tiểu khu trưởng Tiểu khu Biên phòng; Hải đội trưởng Hải đội Biên phòng được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 10.000.000 đồng
+ Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Biên phòng được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000.000 đồng và chỉ được phạt tiền đến mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực QLNN
Pháp lệnh XLVPHC 2002 bổ sung thêm một HTXP mới đó là trục xuất Trục xuất có thể được áp dụng là HTXP chính hoặc HTXP bổ sung trong từng
Trang 40trường hợp cụ thể đối với người nước ngoài VPHC trên lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Pháp lệnh XLVPHC 2002 trao cho Chính phủ quyền quy định thủ tục trục xuất và Bộ trưởng Bộ Công an quyết định áp dụng HTXP trục xuất Trên thực tế, sau gần bốn năm thực hiện Pháp lệnh Chính phủ mới ban hành Nghị định số 97/2006/NĐ-CP (ngày 10/9/2006) quv định việc áp dụng HTXP trục xuất theo TTHC Điều này gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng (trong đó
có BĐBP) khi xử lý các đối tượng VPHC là người nước ngoài VPHC cần thiết phải áp dụng HTXP trục xuất
Trong các HTXP VPHC nói trên, theo quy định của Pháp lệnh XLVPHC 2002, BĐBP có thẩm quyền áp dụng HTXP chính là cảnh cáo, phạt tiền và HTXP bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC
- Cảnh cáo.
Cảnh cáo là HTXP chính thể hiện sự đánh giá của Nhà nước đối với hành vi VPHC do cá nhân, tổ chức VPHC gây ra cảnh cáo mang tính cưỡng chế nhà nước, nhưng mang nặng ý nghĩa giáo dục
Theo quy định tại Điều 32 Pháp lệnh XLVPHC 2002, các chức danh có thẩm quyền XLVPHC trong các cấp BĐBP đều có thẩm quyền áp dụng HTXP cảnh cáo đối với các VPHC xảy ra trên địa bàn và thuộc lĩnh vực quản lý của mình theo quy định của Chính phủ Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chỉ có chiến
sĩ BĐBP và Đội trưởng các đội công tác, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng là áp dụng HTXP cảnh cáo, còn những chức danh khác (cấp trên) không có điều kiện để áp dụng
Ví dụ: Khoản 1 các điều (Điều 7, 9, 11, 12, 22 và 26) Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh và TTATXH có quy định áp dụng phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng Theo nguyên tắc, những hành vi này thuộc thẩm quyền xử phạt của chiến sĩ