Tĩnh dạ tứ Phiên âm: Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương. Dịch nghĩa: Ánh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê cũ. Dịch thơ: Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương.
Trang 2Tĩnh dạ tứ
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
Lý Bạch
Trang 3-Lí Bạch (701- 762) là nhà thơ nổi tiếng đời Đường của Trung
Trang 4- Thuở nhỏ Lí Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng Đến năm 25 tuổi, Lí Bạch xa quê và xa mãi mãi.
- Ở nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần nhìn thấy trăng là nhà
thơ lại nhớ đến quê nhà.
- Đỉnh cao của thơ ca lãng mạn cổ điển Trung Hoa
Trang 8Vọng Nguyệt Hoài Viễn
(Trương Cửu Linh)
Hải thượng sinh minh nguyệt Thiên nhai cộng thử thì Tình nhân oán dao dạ Cánh tịch khởi tương tư Diệt chúc lân quang mãn Phi y giác lộ ti
Bất kham doanh thủ tặng Hoàn tẩm mộng giai kỳ.
Ngắm Trăng Nhớ Người Xa
(Nguyễn Hữu Bổng)
Vầng trăng mọc ở biển khơi, Cùng chung một lúc góc trời soi chung
Đêm xa ai đó sầu mong, Thâu canh ai nhớ, mơ mòng nhớ ai? Tắt đèn yêu bóng nga soi,
Khoác lên chiếc áo đượm mùi sương pha
Khôn đem ánh sáng cho mà, Ngủ đi trong mộng họa là gặp nhau.
Trang 9Dạ Túc Sơn Tự
(Lý Bạch)
Nguy lâu cao bách xích Thủ khả trích tinh thần Bất cảm cao thanh ngữ Khủng kinh thiên thượng nhân.
Đêm ở chùa trên núi
(Ðiệp Luyến Hoa)
Lầu cao dù trăm thước, Tay hái được trăng sao Không dám lời to tiếng, Kinh động đến trời cao
Trang 10Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng (Lý Bạch)
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tuế lâu.
Tại Lầu Hoàng Hạc, tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố)
Bạn từ lầu Hạc lên đường, Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
Trang 13Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
Trang 14Phieõn aõm : Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa th ợng s ơng.
Dũch thụ:
ẹaàu giửụứng aựnh traờng roùi, Ngụừ maởt ủaỏt phuỷ sửụng.
Hai caõu ủaàu:
• Minh nguyệt quang:
Trang 15Cử đầu vọng minh nguyệt,
đt dt đt tt dt
Đê đầu tư cố hương
đt dt đt tt dt
Dịch thơ:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Hai câu cuối:
*Nghệ thuật đối:
- Số lượng chữ: Bằng nhau
- Cấu trúc ngữ pháp: Giống nhau
- Từ loại: Giống nhau
Đê, tư (cúi, nhớ)
Thu mình vào suy nghĩ nội tâm , thốt khỏi thực tại.
Trang 16Nghi (thị sương) → Cử (đầu) → Vọng (minh nguyệt)
→ Các động từ tạo nên sự thống nhất, liền mạch trong cảm xúc.
Phiên âm:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
* Sơ đồ hóa mạch cảm xúc của thi nhân
Trang 18IV Luyện tập
1) So sánh bản dịch thơ với phần phiên âm:
(Ánh sáng) chiếu ở trạng thái tự nhiên của trăng.
Câu 1: -“Quang”:
- “Rọi” :
trữ tình bài thơ trở nên mờ nhạt.
Luồng ánh sáng có chủ đích như ánh trăng tìm đến với nhà thơ
Nhìn ở phía xa với cả tâm hồn bao hàm sự ngưỡng mộ ưu ái.
Câu 3: - “Vọng” :
-“ Nhìn”:
Bản dịch “nhìn” đã giảm một phần độ biểu cảm của câu thơ.
Đưa tầm mắt qua sự vật
Trang 19Nhận xét về hai câu thơ dịch trong
SGK :
Đêm thu trăng sáng như sương
Lí Bạch ngắm cảnh nhớ thương quê
nhà.
- Hai câu thơ dịch nêu tương đối đầy đủ ý bài thơ.
-Nhưng cũng có một số điểm khác với nguyên bản
Trang 20Trước giường ngắm ánh trăng soi, Ngỡ là mặt đất sương rơi nhẹ nhàng Ngẩng đầu thấy ánh trăng vàng, Cúi đầu thương nhớ vô vàn cố hương.
Đầu giường trăng sáng chan hòa ,
Trăng lan mặt đất ngỡ là sương đêm.
Ngẩng đầu trăng toả êm đềm,
Cúi đầu da diết nhớ miền quê xưa.
Trang 21Tình yêu quê hương và trăng của các
tác giả khác
Trang 22VÒ nhµ 1, Häc thuéc lßng phiªn ©m vµ b¶n
dÞch th¬ cña T ¬ng Nh bµi th¬ TÜnh
d¹ tø.
2, S u tÇm hai bµi th¬ cña LÝ B¹ch
3, So¹n bµi: NgÉu nhiªn viÕt nh©n
buæi míi vÒ quª.