Lý do chọn đề tài:Hiện nay, cơ chế thị trường đang từng bước thay thế cơ chế tập chung quan liêu bao cấp trong lĩnh vực lao động việc làm. Đất nước Việt Nam ta sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn. Nền kinh tế hội nhập ngày càng phát triển với thế giới, tiếp cận được nền kinh tế tri thức, đời sống nhân dân ngày càng thay đổi nhiều hơn. Từ ngày kinh tế đất nước ta đổi mới, chuyển từ kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên đất nước cũng có nhiều sự thay đổi. Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Việt Nam là một nước có dân số trẻ, lực lượng lao động khá nhiều, do đó nhu cầu việc làm là rất cấp bách. Hơn nữa nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, tất cả những điều đó tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội, một trong những sự tác động đó là sự lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ nhất là đối với sinh viên. Mỗi sinh viên thấy được cần lựa chọn cho mình một ngành nghề, một mục đích cụ thể để hướng tới một cách tích cực chủ động. Làm gì? Làm ở đâu? Và làm như thế nào? Đó luôn luôn là những câu hỏi đặt ra cho mỗi sinh viên trước khi chọn con đường mình sẽ đi. Thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào sự lựa chọn của mỗi người. Chính từ những lý do đó, em đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, phân tích thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay”. Để đạt được mục tiêu, bài viết của em bao gồm các nội dung sau:Chương 1: Phần nội dung:I.Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩaII.Thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nayIII.Bối cảnh kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quan điểm chọn nghề của sinh viên Việt Nam hiện nayChương 2: Kết luận và một số giải pháp lựa chọn nghề nghiệpChương 1: Phần nội dungI. Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa1. Những nội dung cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa:Một là, cần phải nâng cao trình độ dân trí, hình thành đội ngũ trí thức của xã hội mới. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trí tuệ khoa học và cách mạng là yếu tố quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và đây là nhu cầu cấp bách, lâu dài của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộiHai là, xây dựng con người mới phát triển toàn diện. Bởi lẽ, con người là sản phẩm của lịch sử, nhưng chính hoạt động của con người đã sáng tạo ra lịch sử. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, trong mọi thời đại, sự hình thành và phát triển con người luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội. Mỗi giai cấp cầm quyền của mỗi thời kỳ khác nhau khi đã ý thức được về xã hội mà mình tạo dựng, thì trước tiên giai cấp đó phải quan tâm đến việc xây dựng con người. Và con người mới xã hội chủ nghĩa được xây dựng là Con người phát triển toàn diện.Ba là, xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa. Lối sống là dấu hiệu biểu thị sự khác biệt giữa những cộng đồng loài người. Như ta đã biết, lối sống là tổng thể các hình thái hoạt động của con người, phản ánh điều kiện vật chất, tinh thần và xã hội của con người; là sản phẩm tất yếu của một hình thái kinh tế xã hội và có tác động đến hình thái kinh tế xã hội. Và lối sống mới xã hội chủ nghĩa là một đặc trưng có tính nguyên tắc của xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng lối sống mới tất yếu trở thành một nội dung của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.Bốn là, xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa. Gia đình là một hình thức cộng đồng đặc biệt, ở đó con người chung sống với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Quan hệ tình cảm tâm lý (hôn nhân) và quan hệ huyết thống (cha, mẹ và con cái…) là hai mối quan hệ cơ bản của cộng đồng gia đình. Việc xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa trở thành một nội dung quan trọng của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa so với các nền văn hóa trước2. Để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, cần phải thực hiện các phương thức cơ bản sau đây:Thứ nhất, giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống tinh thần của xã hội. Quá trình tư tưởng diễn ra không ngừng cùng với quá trình sản xuất vật chất. Trong đời sống văn hóa tinh thần, quá trình đó diễn ra với tất cả tính đa dạng, phức tạp của nó. Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân thông qua sự lãnh đạo của đảng cộng sản và quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhằm xây dựng và phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Do đó, giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống tinh thần xã hội là phương thức quan trọng để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Đây là phương thức cơ bản để giữ vững cơ bản để giữ vững đặc trưng, bản chất của nền văn hóa đóThứ hai, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản và vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động văn hóa. Phương thức này có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Là sự bảo đảm về chính trị, tư tưởng để nền văn hóa xây dựng trên nền tảng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đi đúng quỹ đạo và mục tiêu xác định. Đảng lãnh đạo xây dựng nền văn hóa bằng cương lĩnh, đường lối, chính sách văn hóa của mình và sự lãnh đạo của đảng phải được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật, chính sách. Thứ ba, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa theo phương thức kết hợp giữa việc kế thừa những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa nhân loại. Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa không hình thành từ hư vô, trái lại nó được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị VH dân tộc ( là nền móng và trên cơ sở đó tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đây được coi là phương thức nhằm xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phong phú, đa dạng. Thứ tư, tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào các hoạt động và sáng tạo văn hóa. Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động đã trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của quần chúng, đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải tổ chức nhiều phong trào nhằm lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia vào các hoạt động và sáng tạo văn hóa.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
Chương 1: Phần nội dung 3
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa 3
1 Những nội dung cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa: 3
2 Để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, cần phải thực hiện các phương thức cơ bản sau đây: 4
II Thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay 5
1 Quan điểm chọn nghề của sinh viên 5
2 Thực trạng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường 8
3 Quan điểm, mục tiêu thành công của sinh viên 11
4 Vậy trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, con người xã hội chủ nghĩa đi theo hướng nào 11
Chương 2: Kết luận và một số giải pháp lựa chọn nghề nghiệp 13
1 Kết luận 13
2 Một số giải pháp lựa chọn nghề nghiệp 13
a Với bản thân 13
b Với gia đình 14
c Với nhà trường 16
1
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, cơ chế thị trường đang từng bước thay thế cơ chế tập chung quan liêu bao cấp trong lĩnh vực lao động việc làm Đất nước Việt Nam ta sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn Nền kinh tế hội nhập ngày càng phát triển với thế giới, tiếp cận được nền kinh tế tri thức, đời sống nhân dân ngày càng thay đổi nhiều hơn Từ ngày kinh tế đất nước ta đổi mới, chuyển từ kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên đất nước cũng có nhiều sự thay đổi Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo Việt Nam là một nước có dân số trẻ, lực lượng lao động khá nhiều, do đó nhu cầu việc làm là rất cấp bách Hơn nữa nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, tất cả những điều đó tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội, một trong những sự tác động đó là sự lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ nhất là đối với sinh viên Mỗi sinh viên thấy được cần lựa chọn cho mình một ngành nghề, một mục đích cụ thể để hướng tới một cách tích cực chủ động Làm gì? Làm ở đâu? Và làm như thế nào? Đó luôn luôn là những câu hỏi đặt ra cho mỗi sinh viên trước khi chọn con đường mình sẽ đi Thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào sự lựa chọn của
mỗi người Chính từ những lý do đó, em đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin về nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, phân tích thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay”
Để đạt được mục tiêu, bài viết của em bao gồm các nội dung sau:
Chương 1: Phần nội dung:
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa
xã hội chủ nghĩa
II Thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay
III Bối cảnh kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quan điểm chọn nghề của sinh viên Việt Nam hiện nay
Chương 2: Kết luận và một số giải pháp lựa chọn nghề nghiệp
Chương 1: Phần nội dung
Trang 3I Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
1 Những nội dung cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa:
Một là, cần phải nâng cao trình độ dân trí, hình thành đội ngũ trí thức của xã hội mới Điều này có ảnh hưởng tích cực đến tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Trí tuệ khoa học và cách mạng là yếu tố quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Và đây là nhu cầu cấp bách, lâu dài của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hai là, xây dựng con người mới phát triển toàn diện Bởi lẽ, con người là sản phẩm của lịch
sử, nhưng chính hoạt động của con người đã sáng tạo ra lịch sử Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, trong mọi thời đại, sự hình thành và phát triển con người luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội Mỗi giai cấp cầm quyền của mỗi thời kỳ khác nhau khi đã ý thức được về
xã hội mà mình tạo dựng, thì trước tiên giai cấp đó phải quan tâm đến việc xây dựng con người
Và con người mới xã hội chủ nghĩa được xây dựng là Con người phát triển toàn diện
Ba là, xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa Lối sống là dấu hiệu biểu thị sự khác biệt giữa những cộng đồng loài người Như ta đã biết, lối sống là tổng thể các hình thái hoạt động của con người, phản ánh điều kiện vật chất, tinh thần và xã hội của con người; là sản phẩm tất yếu của một hình thái kinh tế - xã hội và có tác động đến hình thái kinh tế - xã hội Và lối sống mới xã hội chủ nghĩa là một đặc trưng có tính nguyên tắc của xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng lối sống mới tất yếu trở thành một nội dung của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Bốn là, xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa Gia đình là một hình thức cộng đồng đặc biệt, ở đó con người chung sống với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân
và quan hệ huyết thống Quan hệ tình cảm tâm lý (hôn nhân) và quan hệ huyết thống (cha, mẹ
và con cái…) là hai mối quan hệ cơ bản của cộng đồng gia đình Việc xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa trở thành một nội dung quan trọng của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa so với các nền văn hóa trước
2 Để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, cần phải thực hiện các phương thức cơ bản sau đây:
3
Trang 4Thứ nhất, giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống tinh thần của xã hội Quá trình tư tưởng diễn ra không ngừng cùng với quá trình sản xuất vật chất Trong đời sống văn hóa tinh thần, quá trình đó diễn ra với tất cả tính đa dạng, phức tạp của nó Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân thông qua sự lãnh đạo của đảng cộng sản và quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhằm xây dựng và phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội Do đó, giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống tinh thần xã hội là phương thức quan trọng để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Đây là phương thức cơ bản để giữ vững
cơ bản để giữ vững đặc trưng, bản chất của nền văn hóa đó
Thứ hai, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản và vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động văn hóa Phương thức này có tính nguyên tắc, là nhân
tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Là sự bảo đảm về chính trị, tư tưởng để nền văn hóa xây dựng trên nền tảng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đi đúng quỹ đạo và mục tiêu xác định Đảng lãnh đạo xây dựng nền văn hóa bằng cương lĩnh, đường lối, chính sách văn hóa của mình và sự lãnh đạo của đảng phải được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật, chính sách
Thứ ba, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa theo phương thức kết hợp giữa việc kế thừa những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa nhân loại Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa không hình thành từ hư vô, trái lại nó được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị VH dân tộc ( là nền móng và trên cơ sở đó tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đây được coi là phương thức nhằm xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phong phú, đa dạng
Thứ tư, tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào các hoạt động và sáng tạo văn hóa Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động đã trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Tuy nhiên, để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của quần chúng, đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải
tổ chức nhiều phong trào nhằm lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia vào các hoạt động và sáng tạo văn hóa
Trang 5Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà.
thanh niên có thể trở thành người chủ xứng đáng, những con người đủ đức, đủ tài, gánh vác được những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự bản thân họ rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và năng lực chuyên môn, nhà nước luôn tạo điều kiện cho họ được học tập, được sinh hoạt trong tổ chức và hướng dẫn cho họ tập dượt để hoàn thành nhiệm vụ được giao Chính vì vậy, thanh niên cần phải xác định rõ ngành nghề công việc mình dự định và sẽ làm
Để hướng đến nhu cầu hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng vào nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên cũng là một vấn đề xã hội tập hợp nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, em sẽ sử dụng quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phân tích thực trạng này
II Thực trạng quan điểm nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay
1 Quan điểm chọn nghề của sinh viên
Một công việc phù hợp với năng lực và sở thích, đam mê cá nhân sẽ giúp vượt qua được những khó khăn và gắn bó lâu dài với nó cho nên việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai cũng như định hướng nghề nghiệp là điều cần thiết và quan trọng, nhất là với sinh viên Việc lập kế hoạch, định hướng nghề nghiệp cho tương lai một cách hiệu quả luôn đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong việc tạo dựng một sự nghiệp thành công, Bạn hãy đánh giá vị trí công việc hiện tại của bạn, xác định mục tiêu cho sự nghiệp và với kinh nghiệm hiện có mình, cũng như vạch ra một lộ trình tối ưu cho tương lai
Sinh viên chọn nghề như thế nào, căn cứ vào đâu?
a Sinh viên chọn nghề theo đam mê, sở thích, theo cảm tính
Có nhiều phương pháp để phát hiện sở thích, kỹ năng, tính cách, năng khiếu của từng cá
trường hợp mà người sử dụng chọn phương pháp phù hợp nhất
Sinh viên nếu có đam mê, sẽ có định hướng của bản thân, kiên định với ước mơ của mình, luôn chủ động, hăng say phấn đấu rèn luyện và hết lòng về nghề nghiệp mơ ước Mỗi bạn học sinh đều hình thành cho mình một sở thích ngành nghề riêng, những sở thích hình thành trong
Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Hồ Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Chí Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Minh,Toàn Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185tập,NXB Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Chính Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185trị Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185quốc Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185gia Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Hà Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Nội,1996,tr185
Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185 Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Trắc Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185nghiệm Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185nghề Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185nghiệp Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185– Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185UEF Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185– Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Thực Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185hiện Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185bởi Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185đại Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185học Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Kinh Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185tế Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Tài Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185chính
5
Trang 6quá trình sống với nhiều nguyên nhân tác động với nhau Có bạn yêu thích nghề luật sư vì được xem những bộ phim về luật sư cực kỳ hấp dẫn Lại có bạn yêu thích trở thành ca sĩ để trở thành người nổi tiếng Lại có bạn thích theo dạng phong trào từ sự tác động của những bè bạn trong lớp
Tuy nhiên, sở thích, ước mơ có thể thay đổi theo thời gian, và bị ảnh hưởng nhiều bởi sự trải nghiệm, mức độ hiểu biết về ngành nghề Khi chọn nghề, các bạn thường chọn nghề trên sự tưởng tượng, mộng mơ những thăng hoa của nghề nghiệp mà lại không để ý nhiều đến
những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua khi theo đuổi nghề dễ dẫn đến việc nhận định
không hết về nghề nghiệp
Trên thực tế, việc chọn ngành nghề phù hợp với sở thích, năng lực bản thân cũng không dễ dàng TS Phạm Tấn Hạ - Phó phòng Đào tạo ĐH KHXHNV (ĐHQG TPHCM) cho biết, đây là điều trăn trở của rất nhiều học sinh trước ngưỡng cửa ĐH Nhiều học sinh thích theo cảm tính, chạy theo phong trào Có trường hợp người nhút nhát, ngại giao tiếp lại thích nghề kinh doanh, PR Vì vậy, có những bạn học đến năm thứ ba, thứ tư ĐH mới nhận ra lựa chọn của mình là sai lầm Có người quyết định chọn lại, học lại Nhưng không phải ai cũng đủ dũng cảm để làm điều đó, đành chấp nhận học rồi ra làm một công việc không phù hợp với năng lực, sở trường của mình, do đó cũng không có nhiều cơ hội phát triển, thăng tiến trong nghề nghiệp
Vì vậy, theo các chuyên gia tư vấn, sở thích chỉ là một phần, quan trọng là chọn ngành học phù hợp với năng lực ThS Phạm Mạnh Hà chia sẻ: Chọn nghề cũng như đi mua quần áo, phải chọn quần áo mình thích và vừa với mình Chọn nghề cũng vậy, trước hết phải là nghề các em yêu thích Nhưng như thế chưa đủ, nghề đó cần phù hợp với các em về năng lực học tập, nhu cầu xã hội Điều quan trọng là sinh viên phải có đam mê với công việc đó TS Lê Thị Thanh Mai - Phó Trưởng ban đào tạo ĐHQG TPHCM - cũng cho biết: Ước mơ sẽ thay đổi theo thời gian, vì vậy các em phải đặt ước mơ với nhu cầu của thị trường, nhu cầu xã hội Có ước mơ, đam mê và quyết tâm thì các em sẽ gặt hái được thành công
b Sinh viên chọn nghề theo định hướng của gia đình
Gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của học sinh sinh viên trong đó có cả vấn đề định hướng, lựa chọn nghề nghiệp của con em Trong gia đình, cha mẹ là
Trang 7người luôn luôn gần gũi, hiểu rõ các em nhất nên cha mẹ có thể biết được hứng thú, năng lực,
sở thích của các em ra sao Cha mẹ là những người đi truớc có nhiều kinh nghiệm thực tế, có sự hiểu biết về thế giới, nghề nghiệp trong xã hội hơn các em Vì vậy các em có sự ảnh hưởng và tin tuởng rất lớn từ cha mẹ trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Hơn nữa trong điều kiện xã hội hiện nay, vấn đề việc làm sau khi ra trường còn phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ và khả năng tài chính của gia đình Điều đó càng khẳng định vai trò quan trọng của gia đình đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh
Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh hưởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sẽ có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trường hợp cha mẹ hiểu rõ năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề trong xã hội… nên hướng cho con mình lựa chọn những nghề phù hợp Mặt tiêu cực là có một bộ phận không nhỏ các bậc phu huynh lại
áp đặt con cái lựa chọn nghề nghiệp theo ý mình Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái từ việc chọn nghề đến lúc tìm việc làm mà hầu như không tính đến hứng thú, năng lực sở trường của các em Điều này đã dẫn đến việc lựa chọn nghề sai lầm của học sinh, hình thành ở các em tính thụ động, ỷ lại vào cha mẹ Và đây cũng là một trong số các nguyên nhân
cơ bản dẫn đến hiện tượng không thành đạt trong nghề, chán nghề, bỏ nghề của các em sau này Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Thực trạng thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT khu vực miền núi đông bắc Việt Nam” Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã chỉ ra rằng: Đa số học sinh đến nói rằng hình thức giúp đỡ của cha mẹ và những người thân trong gia đình đối với việc lựa chọn nghề của các em là định hướng phân tích, khuyên các em nên chọn nghề theo nghề của cha mẹ, hoặc nghề sau khi học xong dễ xin được việc, có thu nhập cao Ngoài ra cha mẹ và người thân trong gia đình còn giúp đỡ các em bằng cách tìm kiếm cho các em những tài liệu, sách báo có liên quan đến nghề Kết quả khảo sát cho thấy có 67,9% số HS lựa chọn nghề nghiệp cho mình do ảnh hưởng của cha mẹ và người thân trong gia đình
c Sinh viên chọn trường dưới tác động của xã hội, lợi ích kinh tế, xu thế của thị trường:
Sinh viên thường chọn: Nghề có thu nhập cao; Nghề “hot”; Nghề được đánh giá dễ xin việc Gần đây, báo chí nói nhiều về việc có hơn 200,000 cử nhân thất nghiệp mỗi năm, thủ khoa thất nghiệp, học thạc sỹ vì…thất nghiệp Trong khi đó nhà tuyển dụng đỏ mắt tìm người tài Có
7
Trang 8phải thật sự “nhân tài như lá mùa thu”, hiếm có khó tìm? Ngành nghề hot có thể hiểu nôm na là một ngành đang ăn nên làm ra trong xã hội, sinh viên ra trường có thể xin việc ngay với mức lương cao Đối với những sinh viên đi du học, ngành nghề hot là ngành nước bạn đang cần, ra trường dễ tìm việc hay xa hơn là dễ định cư
Việc báo chí đăng tải liên tục những thông tin thị trường đầy hứa hẹn trong ngắn hạn dễ đẩy phụ huynh và học sinh vào tư duy ngành hot Không xem xét 10 năm sau ngành này sẽ ra sao hay học sinh có năng khiếu và yêu thích đặc biệt ngành này hay không
Một ví dụ điển hình là ngành ngân hàng, cách đây 10 năm đây là ngành nghề hot tại Việt Nam Nhiều phụ huynh khuyến khích con thi vào ngành này vì triển vọng nghề nghiệp hấp dẫn Nhưng khoảng 6 năm sau, thị trường ngân hàng có nhiều biến động, nhu cầu nhân lực giảm, mức lương thưởng không còn tốt như trước Nhiều bạn trẻ bỏ nghề hoặc thất nghiệp Chỉ một
số bạn thật sực tâm huyết và giỏi chuyên môn mới tiếp tục trụ lại và phát triển Vì vậy xu hướng chọn ngành nghề cứ đua chọn ngành hot là thật sự nguy hiểm
2 Thực trạng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
Việc làm sau khi tốt nghiệp luôn là vấn đề bức xúc không chỉ đối với bản thân sinh viên mà
cả đối với gia đình, nhà trường và xã hội Có một việc làm đúng với ngành nghề đào tạo luôn là
mơ ước của hầu hết không chỉ đối với các sinh viên tốt nghiệp ra trường mà ngay cả đối với các
em còn ngồi trên ghế giảng đường đại học
Thực trạng chung
Thực trạng chung là phần lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp và ổn định, do chưa định hướng đúng mức về nghề nghiệp – việc làm, vì một số sinh viên chọn ngành học chưa phù hợp năng lực, sở trường và xu hướng phát triển thị trường lao động Mặt khác, các doanh nghiệp rất quan tâm tuyển chọn đối với sinh viên tốt nghiệp về kiến thức ngoại ngữ, khả năng hợp tác, kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, những hiểu biết về môi trường văn hóa doanh nghiệp và tác phong làm việc công nghiệp Sự hạn chế lớn của sinh viên khi ra trường, đa số chưa định hướng được cụ thể để chọn một ngành chuyên môn phù hợp với khả năng, đồng thời, do hệ thống thông tin thị trường lao động; hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm thành phố chưa cập nhật kịp thời để gắn kết sinh viên và doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Trang 9Theo khảo sát của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM thuộc Sở lao động – thương binh và xã hội TP.HCM về nhu cầu tìm việc làm của trên 200.000 sinh viên từ năm 2010 - 2016, có khoảng 80% sinh viên sau khi tốt nghiệp là tìm được việc làm, còn 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm, phải chuyển đổi ngành học hoặc làm những công việc thấp hơn trình độ đào tạo Trong tổng số sinh viên tìm được việc làm, chỉ có 50% là có việc làm phù hợp năng lực và phát triển tốt, 50% vẫn phải làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp; việc làm chưa thật sự ổn định và có thể phải chuyển việc làm khác Nổi cộm nhất của thị trường lao động hiện nay và những năm tới đó là nguồn nhân lực có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn giỏi vẫn không đủ đáp ứng thị trường lao động Điều này cũng đồng nghĩa, một bộ phận nhân lực phải thất nghiệp và khó tìm được việc làm ổn định nếu chưa đủ điều kiện nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn và khả năng thích nghi thực tế thị trường lao động
Làm trái ngành
Tình trạng sinh viên sau khi ra trường, đặc biệt phải kể đến việc làm trái ngành Chiều 10/1,
tại hội thảo Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc giải quyết việc làm cho sinh
viên sau tốt nghiệp, đại biểu dẫn chứng 60% sinh viên trên cả nước khi ra trường không làm
đúng ngành được đào tạo, nhiều người học xong đi làm công nhân hoặc phổ biến là chạy xe ôm
liệu thống kê cho thấy, tại các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học một thời gian dài vẫn rơi vào tình trạng thất nghiệp nên tìm đến cách giải quyết
“cứu lửa” là làm nhân viên phục vụ bán thời gian tại các cửa hàng tiện lợi để có tiền trang trải cuộc sống Thậm chí nhiều bạn còn làm những công việc không đòi hỏi trình độ đại học ở các khu công nghiệp cao như lắp ráp linh kiện điện tử, công nhân may… và phổ biến nhất hiện nay
là làm “xe ôm công nghệ” cho các hãng Uber hoặc Grab
Họ cho rằng với bằng cấp ấy thì phải làm những việc to tác lớn lao, đây chính là suy nghĩ làm cho họ xa rời thực tế, ảo tưởng về năng lực của bản thân Đến khi tìm được một công việc tốt thì họ lại không biết cách nắm bắt, điều đó làm cho họ đi từ thất nghiệp này tới thất nghiệp khác
Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185 Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185Đại Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185kỷ Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185nguyên Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185– Hồ Chí Minh,Toàn tập,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội,1996,tr185dkn.tv
9
Trang 10Chấp nhận làm việc trái ngành để kiếm thêm thu nhập, để tích lũy kinh nghiệm sống là điều cần thiết Tuy nhiên hãy luôn nhớ rằng mục đích của quá trình làm trái nghề chỉ là lấy ngắn nuôi dài, chỉ là giải pháp tình thế Phải luôn trao dồi những gì mình đã được học, phải luôn cập nhật thông tin tuyển dụng Từ đó nắm bắt mọi cơ hội để tìm được công việc mà mình yêu thích, đừng để công việc phụ ru ngủ bạn, nếu không sẽ rất khó để chúng ta bắt đầu lại từ đầu
Thất nghiệp
Làm đúng ngành nghề mình muốn hay làm trái ngành, đều là tình trạng nổi trội của sinh viên sau khi ra trường, nhưng có điều đáng lưu ý để tâm hơn cả, là tình trạng thất nghiệp Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên, 70% SV Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay là việc làm Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% SV tốt nghiệp ĐH-CĐ ra trường không có việc làm, 37% SV có việc làm nhưng đa số làm trái nghề
Gần đây, một cuộc khảo sát được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Chính sách thuộc trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu SV thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006 đến 2010) của 3 trường ĐH lớn: ĐHQG Hà Nội,
cho biết chưa tìm được việc làm, trong đó 46,5% cho biết đã từng xin việc nhưng không thành công, 42,9% lựa chọn một giải pháp an toàn là… tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác Những số liệu trên cho thấy sự khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm của SV mới ra trường Với tấm bằng CĐ, ĐH trên tay nhiều SV không thể tìm được những việc làm ổn định cho bản thân
Thực tế khi học ngành tốt và trường tốt nhưng không chịu khó học hành, rèn luyện kĩ năng, học hỏi kinh nghiệm thì khi ra sẽ lúng túng khi tiếp cận với công việc Trong khi xã hội ngày càng đòi hỏi người thực sự có khả năng làm việc hiệu quả, có chất lượng thì tất yếu những người không có khả năng sẽ bị xã hội tự đào thải
3 Quan điểm, mục tiêu thành công của sinh viên
Chúng ta đã nghe rất nhiều, nói rất nhiều về “thành công” Tuy nhiên, công thức THÀNH CÔNG của những người thành công trên thế giới lại không hề giống nhau Với người này thành công là được làm công việc mình yêu thích? Với người khác thành công là việc đạt được những thành tích, những chiến thắng trong công việc, sự nghiệp hay đơn giản là việc vượt qua được