1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân

84 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 626,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG KIM

CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ BẰNG BIỆN PHÁP TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG KIM

CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ BẰNG BIỆN PHÁP TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan luận văn thạc sỹ: "Cưỡng chế thi hành án dân sự bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh" là do chính em thực hiện

Các tài liệu, các dẫn chứng số liệu được sử dụng nghiên cứu luận văn

do em tự tìm hiểu bằng kinh nghiệm trong nghề nghiệp và đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu của một luận văn khoa học

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 02 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Đình Hoàng Kim

Trang 4

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo – TS Nguyễn Am Hiểu đã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành tốt luận văn này trong thời gian qua

Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này

Em xin chân thành cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 02 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Đình Hoàng Kim

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ

TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành án Error! Bookmark not defined

1.2 Cưỡng chế tài sản là tiền của người phải thi hành ánError! Bookmark not defined

1.3 Cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành ánError! Bookmark not defined

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ

VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN THEO PHÁP

LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH Error! Bookmark not defined

2.1 Tổng quan tình hình kinh tế, chính trị xã hội của quận Bình Tân, thành phố

Hồ Chí Minh và những lợi thế của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của

người phải thi hành án từ thực tiễn của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 32

2.2 Thực trạng thụ lý, ban hành quyết định về thi hành án trong cưỡng chế trừ

vào thu nhập của người phải thi hành án Error! Bookmark not defined

2.3 Thực trạng xác định nguồn thu nhập của người phải thi hành ánError! Bookmark not defined

2.4 Thực trạng thực hiện cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành

án trong thi hành án dân sự từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí

Minh Error! Bookmark not defined

2.5 Thực trạng thanh toán tiền thi hành án sau khi đã ban hành quyết định

cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành ánError! Bookmark not defined

2.6 Những kết quả đạt được, nguyên nhân, khó khăn trong việc áp dụng biện

pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành ánError! Bookmark not defined

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ VÀO THU

NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁNError! Bookmark not

Trang 6

defined

3.1 Sự cần thiết khách quan cho việc hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế trừ

vào thu nhập của người phải thi hành án trong Thi hành án dân sựError! Bookmark not defined

3.2 Một số giải pháp hỗ trợ, nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế

trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong Thi hành án dân sựError! Bookmark not defined

3.3 Một số định hướng và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về

cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong Thi hành án dân

sự 67

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thực tế, phán quyết của Tòa án là những quyết định nằm trên giấy và không thể thực sự có hiệu lực nếu không được thi hành đầy đủ và hiệu quả trong quá trình thi hành án Thi hành án dân sự là là công cụ khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại Mặt khác đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế Hiệu quả của hoạt động thi hành

án có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi Do đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được sử dụng Cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động thường xuyên được thực hiện trong công tác thi hành án dân sự, khi các bản

án, quyết định không được tự nguyện thi hành Tuy hoạt động cưỡng chế không phải là lựa chọn đầu tiên được áp dụng trong hoạt động thi hành án nhưng lại có vai trò rất quan trọng Hiệu quả cưỡng chế ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành án

Trong các nghĩa vụ thi hành án thì nghĩa vụ trả tiền là phổ biến nhất Nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ quan hệ hợp đồng (mua bán, chuyễn nhượng,vay nợ ) hoặc ngoài hợp đồng (bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng…) Trong thực tế, với việc mở rộng các hình thức thanh toán trong các giao dịch dân sự, giao dịch thương mại…; cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, một

bộ phận người dân có thu nhập khá cao và ổn định nhất là những đối tượng làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, chủ các cơ sở sản uất kinh doanh Tài sản của cá nhân không chỉ là các vật dụng, nhà ở, phương tiện Mà nhiều người dân có tiền, vàng thường không giữ tại nhà mà họ có thể gửi ngân

Trang 8

hàng, mở tài khoản… tại các tổ chức tín dụng, kho bạc, mua cổ phếu trái phiếu, hoặc đầu tư kinh doanh

Trong các quan hệ vay mượn, làm ăn, kinh doanh với nhau không phải lúc nào các bên đối tác cũng thực hiện tốt việc trả nợ cho nhau Một số trường hợp do gặp rủi ro trong kinh doanh nên mất khả năng thanh toán, một số khác lại có ý định chiếm dụng vốn của đối tác nên đã không thực hiện đúng nghĩa

vụ trong hợp đồng, trong khế ước vay mượn dẫn đến việc tranh chấp và khởi kiện ra tòa để yêu cầu giải quyết tranh chấp Loại vụ việc này chiếm số lượng lớn việc phải thi hành

Từ thực tế này, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung một

số điều năm 2014 quy định về các viện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền đa dạng nhất và cũng chiếm dung lương lớn nhất trong chương IV, trong

đó cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thường ít phức tạp hơn so với các biện pháp kê biện xử lý tài sản của người phải thi hành án

Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều nguồn lực của xã hội, nhu cầu phát triển kinh tế từ cá nhân, tổ chức ngày càng tăng cao Chính vì thế các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trả tiền cũng không ngừng gia tăng (năm 2018, tổng số thụ lý việc thi hành án của đơn vị là 6853 việc, số tiền là: 1.684 tỷ đồng, loại án liên quan đến nghĩa vụ trả tiền chiếm hơn 90% trên tổng số việc và tiền phải giải quyết) [15,tr.1]

Trong thực tiễn thi hành án, không phải mọi trường hợp người phải thi hành án đều tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình Mặc dù người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục, có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án, cố tình tìm mọi cách tránh né, trì hoãn Số lượng việc yêu cầu ngày càng tăng, kéo theo giá trị phải thi hành là rất lớn nên đòi hỏi các cơ quan Thi hành án dân sự không chỉ trên phạm vi cả nước

Trang 9

nói chung và quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh phải luôn quan tâm, có các giải pháp hợp lý để thi hành có hiệu quả, để bảo đảm được quyền lợi cho người được thi hành và người phải thi hành án

Vì những lẽ trên tác giả chọn đề tài: "Cưỡng chế thi hành án dân sự

bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh" làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đối với các đề tà liên quan đến các biện pháp cưỡng chế trong thi hành

án dân sự trước đó đã được một số tác giả nghiên cứu quan tâm, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau thông qua các Luận văn, bài viết như:

- Luận văn Thạc sỹ: “ Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là

bất động sản của ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của Đỗ Thanh Huyền,

năm 2011 Luận văn này chủ yếu làm rõ thực trạng pháp luật của vấn đề xử

lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trên cơ sở có so sánh và đối chiếu với pháp luật nước ngoài về vấn đề này, từ đó tìm ra vướng mắc và khó khăn Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật, đề xuất các phương hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

- Luận văn thạc Sỹ:“ Thế chấp tài sản – biện pháp đảm bảo tiền vay

qua thực tiễn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam” của

Bùi Thị Nga, năm 2014 Luận văn này chủ yếu làm rõ các vấn đề lý luận về thế chấp tài sản: khái niệm, đặc điểm, vai trò, thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật Việt Nam, có so sánh với pháp luật quốc tế

- Luận văn thạc sỹ:“ Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, của Phan

Huy Hiếu, khoa Luật đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012 Luận văn này phân

Trang 10

tích, đánh giá những quy định của Luật Thi hành án dân sự về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, khảo sát tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành trong thực tiễn, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Ngoài ra có một số tạp chí cũng có bài viết về việc cưỡng chế, xử lý đối

với tài sản giao dịch bảo đảm để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng như : “Nghị

định về giao dịch bảo đảm – một số vấn đề cần được quan tâm” của Đỗ Hồng

Thái đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 9 năm 2007 “Một số giải pháp xử lý nợ

xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam” của Nguyễn Hoài

Phương đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật online ngày 04/6/2017, tác giả phân tích bản chất và hậu quả của nợ xấu trong các Ngân hàng thương mại và đưa ra một số giải pháp cho việc xử lý nợ xấu trong Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Các bài nghiên cứu trước đây chủ yếu bàn về cưỡng chế và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng và các tổ chức tín dụng ở góc độ bao quát, thường chọn gọn tài sản là bất động sản Các nghiên cứu về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án còn rất ít,chỉ dừng ở tiểu luận, bình luận hoặc nêu tình huống và giải quyết tình huống…

Chưa có nghiên cứu biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án tại quận Bình Tân thành phố Hồ Chí Minh, vì thế đề tài mong muốn nêu lên thực tế quá trình thi hành án để được cái nhìn khách quan và toàn diện tại chính nơi tác giả công tác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu chi tiết cơ sở pháp lý, trình tự thủ tục của quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc phát sinh trong trong quá trình áp

Trang 11

dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, qua

đó đưa ra các đề xuất, hướng hoàn thiện pháp luật để góp phần cho việc áp

dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án ngày

càng có hiệu quả, chất lượng, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, thông qua đó tìm ra những hạn chế, bất cập của những quy định pháp luật hiện hành

Nghiên cứu dựa trên một số tình huống cụ thể, thực tế trong áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án để chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thi hành, đưa ra các kiến nghị, các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, và đặc biệt phương pháp phân tích các vụ việc thực tiễn tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh từ những dữ liệu chính tác giã đã thu thập trong thời gian làm việc tại cơ quan thi hành án quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật về Thi hành án dân sự liên quan đến việc cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong Thi hành án dân sự Kết quả nghiên

Trang 12

cứu đề tài phục vụ cho công tác Thi hành án dân sự ở địa phương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung trong việc tổ chức biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được nhanh chóng, giúp các tổ chức,

cá nhân được thi hành án bảo vệ được quyền lợi của họ, đồng thời bảo vệ

quyền lợi của người có nghĩa vụ phải thi hành án

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, thì phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu

nhập của người phải thi hành án trong Thi hành án dân sự theo pháp luật Việt

Nam

Chương 2: Thực trạng áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập

của người phải thi hành án trong thi hành hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp

luật về cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong Thi hành

án dân sự

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG THI

HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành án

1.1.1 Khái niệm

Cưỡng chế Nhà nước là dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức thực hiện hoặc không thực hiên một công việc nhất định trái với ý muốn của họ Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý Nhà nước và là phương pháp thường xuyên được áp dụng trong quản lý Nhà nước Cưỡng chế Nhà nước có nhiều lĩnh vực như: Cưỡng chế hành chính, hình sự, dân sự, thi hành

án dân sự Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 không định nghĩa biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhưng khoản 2 Điều 9 luật

thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: “người phải thi

hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”.[23, tr3] Theo đó, người phải thi

hành án sẽ phải tự nguyện thi hành án khi có điều kiện Nếu không thực hiện thì người có thẩm quyền thi hành án tiến hành cưỡng chế Theo pháp luật hiện hành thì người có thẩm quyền trực tiếp thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế bao gồm chấp hành viên và thừa phát lại, sau đây gọi chung là người có thẩm quyền thi hành án Như vậy có thể hiểu khái niệm về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền thi hành án do chấp hành viên hoặc thừa phát lại quyết định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành

án mà không tự nguyện thi hành

Trang 14

Thứ hai, người phải thi hành án có điêu kiện thi hành án nhưng không

tự nguyện thi hành án và người có thẩm quyền thi hành án đã xác minh và khẳng định là người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành án

Thứ ba, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án mà người thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện hoặc chưa hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án được quy định tại khoản 2 Điều 45 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 Từ những điều kiện trên, cho thấy biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ được áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và có thái độ, hành vi không tự nguyện thi hành mặc dù

có điều kiện thi hành án Có điều kiện thi hành án được hiểu là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; Tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án Tuy nhiên, trong quá trình tác nghiệp, người có thẩm quyền thi hành án cần chú ý về việc

áp dụng thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định, thông báo hợp lệ được quy định tại Điều 39, 40, 41, 42 và Điều 45 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014.[23, tr 25]

1.1.3 Ý nghĩa của cưỡng chế thi hành án

Trước hết, như đã phân tích, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành

Trang 15

án đối với người phải thi hành án có điều kiện thi hành án như không tự nguyện thi hành nhằm buộc họ chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình theo nội dung bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Bảo vệ quyền lợi của người có quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Qua đó, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức xã hội và của công dân

Ngoài ra, biện pháp cưỡng chế thi hành án mang quyền lực nhà nước, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án ảnh hưởng đến tài sản, uy tín của người phải thi hành án Thế nên, cưỡng chế thi hành án phần nào thể hiện tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa đối với người phải thi hành án cố tình trì hoãn việc thi hành án Qua đó, khuyến khích các đương sự tự nguyện thi hành án; góp phần nâng cao tính tự giác, ý thức chấp hành, tôn trọng pháp luật của người phải thi hành án nói riêng và của công dân nói chung

1.1.4 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế

Trong qúa trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên có quyền lựa chọn

và áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Toà án Tuy nhiên để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải đảm bảo các điều kiện sau:

Trước hết, phải xác định việc cưỡng chế chỉ được tiến hành đối với

người phải thi hành án phải thực hiện hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án

Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án Có điều kiện

thi hành án có thể được hiểu là người phải thi hành án có tài sản, có thu nhập,

có tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc… khi phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền Còn khi phải thực hiện nghĩa vụ trả lại nhà hoặc vật, mà nhà hoặc vật đó vẫn tồn tại và đang do người phải thi hành án quản lý đúng như quyết định

Trang 16

của Toà án

Thứ ba, khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án do chấp hành viên ấn

định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình, hoặc chưa hết thời gian tự nguyện thi hành án nhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản của người phải thi hành án Thời gian tự nguyện thi hành án mà cơ quan thi hành án ấn định cho đương sự theo quy định pháp luật hiện hành là không qúa 10 ngày kể từ ngày họ được tống đạt quyết định thi hành án

1.1.5 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế

Chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 71 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm

2014 Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nào là do chấp hành viên lựa chọn

và quyết định, tuỳ từng trường hợp cụ thể, phù hợp với nghĩa vụ và điều kiện

cụ thể của người phải thi hành án cũng như tình hình thực tế ở địa phương

Tiếp theo, biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 46 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: Không được tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định:

Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán

Trang 17

tại địa phương như:

- Tết dương lịch (ngày 01 tháng 01 hàng năm);

- Tết nguyên đán;

- Ngày lễ 30 tháng 4 hàng năm;

- Ngày Quốc tế lao động (mồng 01 tháng 5 hàng năm);

- Ngày Quốc khánh (mồng 2 tháng 9 hàng năm);

1.1.6 Hình thức thông báo việc cưỡng chế thi hành án

Để thực hiện việc áp dụng biện pháp cưỡng chế, chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án

Quyết định cưỡng chế thi hành án được sử dụng theo mẫu thống nhất

do Bộ Tư pháp ban hành Thủ tục thông báo quyết định phải chặt chẽ theo đúng thời hạn, hình thức thông báo mà pháp luật quy định, đảm bảo cho người phải thi hành án và những người theo quy định phải được thông báo quyết định cưỡng chế thi hành án phải nhận được thông báo

Ngoài thông báo quyết định cưỡng chế thi hành án, pháp luật quy định trước khi tiến hành cưỡng chế, cơ quan thi hành án ra thông báo cưỡng chế thi hành án với thời hạn, thủ tục chặt chẽ Chấp hành viên phải thực hiện đầy đủ các thủ tục này

Trang 18

1.1.7 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Điều 71 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án mà chấp hành viên có quyền áp dụng sau đây:

1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, do cơ quan Thi hành án áp dụng khi người phải thi hành án có trách nhiệm thi hành nghĩa

vụ trả tiền theo Bản án, Quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, hoặc khoản tiền, giấy tờ có giá tự nguyện thi hành

2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, do cơ quan Thi hành án áp dụng khi người phải thi hành án

có trách nhiệm thi hành nghĩa vụ trả tiền theo Bản án, Quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có thu nhập tương đối

ổn định Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án

và những người theo quy định pháp luật người phải thi hành án có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành

3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang

do người thứ ba giữ, là biện pháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành

án áp dụng khi người phải thi hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành

4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án có tài sản nhưng tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành, tài sản của

Trang 19

người phải thi hành án có thể khai thác được để thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định

5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, do cơ quan thi hành án áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dung trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, đã hết thời gian tự nguyện mà không tự nguyện thi hành

6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, do cơ quan thi hành án áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có trách nhiệm thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi, công việc theo bản án, quyết định của tòa án, đã hết thời gian tự nguyện nhưng không tự nguyện thi hành

1.1.8 So sánh các biện pháp cưỡng chế trong Luật Thi hành án dân sự

Để làm sáng tỏ và rõ nét lên được sự khác biệt cũng như sự giống nhau của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án với các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khác tôi xin đưa ra bảng so sánh dưới đây theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014:

Biện pháp buộc người phải thi hành

án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

Biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

Biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án

Biện pháp

kê biên, xử

lý tài sản của người phải thi hành án, kể

cả tài sản đang do người thứ

ba giữ

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử

lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành

án

Trang 20

có thu nhập tương đối ổn định Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án

và những người theo quy định pháp luật người phải thi hành án

có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng thì khi thực hiện trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Hành vi buộc người phải thi hành án phải trực tiếp thực hiện hoặc không thực hiện

Tài sản, giấy tờ này chưa chắc thuộc sở hữu của người phải thi hành án

Tài sản, này chắc chắn phải thuộc sở hữu của người phải thi hành án

Tài sản, này chắc chắn phải thuộc

sở hữu của người phải thi hành án hoặc người bảo lãnh

Tài sản, tài khoản này chắc chắn phải thuộc

sở hữu của người phải thi hành án

Chấp hành viên

Chấp hành viên

Chấp hành viên

Chấp hành viên

Chấp hành viên

Trang 21

Hết thời gian từ nguyện thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự

Hết thời gian từ nguyện thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự

Hết thời gian từ nguyện thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự

Hết thời gian từ nguyện thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương

sự

Hết thời gian từ nguyện thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự

Người yêu cầu; chấp hành viên phải chịu trách nhiệm nếu xảy ra hậu quả

Người yêu cầu; chấp hành viên phải chịu trách nhiệm nếu xảy ra hậu quả

Người yêu cầu; chấp hành viên phải chịu trách nhiệm nếu xảy ra hậu quả

Người yêu cầu; chấp hành viên phải chịu trách nhiệm nếu xảy ra hậu quả

Người yêu cầu; chấp hành viên phải chịu trách nhiệm nếu xảy ra hậu quả

có nghĩa vụ chuyển cho

cơ quan thi hành án dân

sự số tiền đã

Trường hợp thi hành nghĩa

vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản

án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì

Đối với vật đặc định, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật, giấy tờ, quyền tài sản cho người được

Tài sản của người phải thi hành án

bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức:

Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai

Sau khi ra quyết định

kê biên chấp hành viên tiến hành lập kế hoạch

và dự trù chi phí kê biên, sau đó tiến hành các bước kê biên, thẩm định giá, đấu giá, nếu

Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án hoặc chuyển cho người được thi hành án

Trang 22

khấu trừ để chi trả cho người được thi hành án

Khi có thay đổi về nơi trả thu nhập và mức thu nhập của người phải thi hành án thì cơ quan,

tổ chức, cá nhân đang thực hiện quyết định trừ thu nhập người đó phải thông báo ngay cho

cơ quan thi hành án dân

sự được biết

Sau khi xác minh được nơi trả thu nhập mới của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định khác về việc trừ vào thu

chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền

để người

đó thực hiện nghĩa

vụ thi hành

án Hết thời hạn đã

ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa

vụ thi hành án: Nếu công việc

đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì chấp hành viên giao cho người

có điều

thi hành án;

nếu người

đó không thi hành thì chấp hành viên thu hồi vật, giấy tờ

để trả cho người được thi hành án

Đối với vật cùng loại thì chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản

án, quyết định

Trường hợp vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng, giảm giá trị thì xử

lý theo thỏa thuận của đương sự

Trư ờng hợp giấy tờ không thể thu hồi

thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác;

Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất

mà chưa khai thác thì chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án

ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản

Người khai thác tài sản này phải

đấu giá không thành tiến hành giảm giá tài sản rồi đưa

ra đấu giá tiếp Nếu đấu giá thành tiến hành thông báo việc đấu giá thành thông báo ngày giờ giao tài sản

và tiến hành gia tài sản cho người mua trúng đấu giá

theo quyết định khấu trừ

Trang 23

nhập của người phải thi hành án

kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu

Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì chấp hành viên

đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội không chấp hành

án Đối với nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định người

được nhưng

có thể cấp lại thì chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

ra quyết định hủy giấy tờ đó

và cấp giấy

tờ mới cho người được thi hành án

nộp số tiền thu được

từ việc khai thác tài sản cho

cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết, để cơ quan thi hành án dân sự chi trả tiền cho người được thi hành án

Trang 24

phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản

án, quyết định không được thực hiện thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu

họ khôi phục hiện trạng ban đầu

Trường hợp người

đó vẫn không chấm dứt công việc không

Trang 25

được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội không chấp hành

án

Qua so sánh các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự chúng ta thấy rằng mỗi biện pháp cưỡng chế đều có những tính năng ưu việt riêng và phù hợp với từng hoàn cảnh nhất định Việc lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế nào phụ thuộc vào từng hoàn cảnh, tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương, sự linh hoạt và bản lĩnh, trình độ, kỹ năng của từng chấp hành viên sẽ lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành

án cho phù hợp

Tuy nhiên đối với các khoản phải thi hành có giá trị nhỏ như án phí, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, nghĩa vụ theo định kỳ, nghĩa vụ trợ cấp, cấp dưỡng thì biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành là đơn giản và hiệu quả nhất, do thủ tục tiến hành đơn giản, không cần phải thẩm định giá, bán đấu giá như kê biên tài sản nên thời gian thực hiện

Trang 26

ngắn hơn Công tác xác minh nguồn thu nhập của người phải thi hành án đạc biệt là lương và phụ cấp có phần dễ dàng hơn so với việc xác minh tài khoản

và số dư tài khoản tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng

1.2 Cưỡng chế tài sản là tiền của người phải thi hành án

Quá trình thi hành án, biện pháp cưỡng chế khấu trừ tài khỏan, trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp hữu hiệu nhất, dễ thực hiện nhất Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh tài khỏan tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng… Nếu người phải thi hành

án có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, Chấp hành viên phải trực tiếp đến nơi để yêu cầu Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng cung cấp số liệu cụ thể về tài khỏan của người phải thi hành án đang gửi ở đó họăc soạn thảo văn bản yêu cầu họ cung cấp đầy đủ các thông số cần điều tra, xác minh Trong thực tế áp dụng, Chấp hành viên luôn phải chuẩn bị các văn bản cần thiết như công văn đề nghị cung cấp các thông tin về họat động của tài khỏan doanh nghiệp và khi giao văn bản này, Chấp hành viên đề nghị đại diện tổ chức tín dụng ký nhận ghi rõ ngày, giờ nhận nhằm tránh trường hợp các đơn vị này thông tin cho các tổ chức kinh tế chuyển khỏan số dư hiện có trong tài khoản

Việc xác minh số tài khỏan của doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn

do doanh nghiệp có quyền mở nhiều tài khoản tại nhiều Ngân hàng Do vậy, nếu Chấp hành viên không nắm được số tài khoản cụ thể sẽ rất khó cho việc xác minh số dư tài khoản của doanh nghiệp Khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án biết số liệu đó Thực tế thi hành án cho thấy, khi áp dụng biện pháp khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án thường gặp nhiều vướng mắc do không có sự hợp tác

Trang 27

của người có trách nhiệm, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng

Đã có rất nhiều trường hợp các tổ chức tín dụng từ chối cung cấp số liệu và cho rằng đối tượng cần xác minh không có tài khoản hoặc tiền gửi tại tổ chức của họ Điều này một phần do tâm lý mong muốn giữ quan hệ kinh doanh, khách hàng giữa tổ chức tín dụng, Kho bạc với cơ quan, đơn vị hay cá nhân phải thi hành án Khoản 2, Điều 76 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 đã quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức tín dụng, Kho bạc trong việc phối hợp thực hiện biện pháp cưỡng chế Tuy nhiên, nếu Ngân hàng, tổ chức tín dụng từ chối không cung cấp thông tin (đối với trường hợp Chấp hành viên chỉ nắm được thông tin doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng, không nắm rõ số tài khoản), cơ quan Thi hành án cũng không có bất cứ chế tài nào buộc Ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện

Việc khấu trừ tài khoản doanh nghiệp tưởng chừng đơn giản nhưng khi thực tế áp dụng có muôn vàn vấn đề phát sinh Trong trường hợp doanh nghiệp giải thích không rõ ràng nhằm tránh thực hiện quyết định cưỡng chế của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên không có bất cứ biện pháp nào nhằm khắc phục tình trạng trên Do vậy, để làm sáng tỏ vấn đề này, Chấp hành viên phải nghiên cứu các văn bản cũng như hoạt động dịch vụ ngân hàng

để từ đó có cách thức xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình xác minh

số dư tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng, tổ chức tín dụng Đây cũng

là thách thức đối với bản thân Chấp hành viên phải luôn năng động tìm tòi trong các lĩnh vực liên quan đến “hồ sơ thi hành án” nhằm có hoạt động tác nghiệp phù hợp, đạt hiệu quả cao

Nếu như áp dụng biện pháp khấu trừ tài khỏan của người phải thi hành

án, đối tượng cần xác minh là ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc Nhà nước thì khi tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào tiền, thu hồi giấy

tờ có giá, đối tượng cần xác minh rộng hơn

Trang 28

Trong thực tế hiện nay, các doanh nghiệp tham gia rất nhiều vào họat động đầu tư chứng khoán, nhưng hiện nay vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn việc cưỡng chế thu giữ các loại chứng khoán này Hoặc trường hợp doanh nghiệp đầu tư thu mua loại chứng khoán trên thị trường OTC thì việc cưỡng chế thu hồi các giấy tờ có giá này vẫn còn nhiều bất cập, khó thực hiện được Hoặc trường hợp người phải thi hành án đầu tư vào cổ phiếu loại

có ghi tên, thời hạn chuyển nhượng theo quy định thì việc Chấp hành viên kê biên, xử lý các loại giấy tờ có giá này cũng rất khó khăn hay trường hợp cổ phiếu của những công ty chưa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán (cổ phiếu OTC), Chấp hành viên kê biên nhưng không thể định giá phát mãi hoặc trường hợp những cổ phiếu tùy thuộc mạnh vào độ tăng giảm thị trường việc định giá khởi điểm để bán đấu giá là trường hợp không khả thi bởi lẽ đôi lúc những cổ phiếu này “rớt giá” trầm trọng, nó chỉ còn là một tờ giấy không hơn không kém

Trong thực tế, việc cưỡng chế thu hồi tiền do người thứ ba giữ khó khăn, gặp trở ngại nếu như người thứ ba không hợp tác Khi rơi vào trường hợp này, Chấp hành viên không thể có biện pháp xử lý như kê biên, tài sản của bên thứ ba bởi hiện nay Luật vẫn chưa điều chỉnh vấn đề này

1.3 Cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định Người thi hành án có thu nhập thực tế và không tự nguyện thi hành

Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là đây là biện pháp cưỡng chế dành riêng cho các nhân, tuy trong nội dung luật chỉ quy định chung là người phải thi hành án, mà người phải thi hành án bao gồm cá nhân và pháp nhân Nhưng với việc Luật Thi hành án dân

Trang 29

sự đưa ra khái niệm nhấn mạnh vào tiền lương, tiền lương hưu, tiền công thì chỉ có cá nhân mới được hưởng loại thu nhập này chứ không phải pháp nhân Thu nhập của người phải thi hành án được Luật Thi hành án dân sự quy định bao gồm: tiền lương, tiền lương hưu, tiền công, tiền trợ cấp và các loại thu nhập khác Do các đặc điểm nêu trên nên biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thường được áp dụng đối với các khoản phải thi hành án tiền trợ cấp, các khoản bồi thường liên quan đến nhân thân, án phí, tiền phạt, sung công và các khoản phải thi hành có giá trị nhỏ

Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập được quy định tại Điều 78 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 Giống với đối tượng của biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, đối tượng của biện pháp này cũng là tiền Nhưng thu nhập theo quy định của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập khác với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của biện pháp khấu khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá Theo quy định của pháp luật, tiền bị cưỡng chế là thu nhập của người phải thi hành án gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác

Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện theo thỏa thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án

Mức trừ cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải Thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo

Trang 30

quy định của pháp luật Đối với lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính thì mức đối với tiền lương, bảo hiểm xã hội tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương, bảo hiểm xã hội được hưởng Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật [3, tr 3]

Ngoài ra theo quy định tại điều 11, 12 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014: của Bộ

Tư Pháp- Bộ Tài Chính - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội thì:

Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ban hành quyết định Căn cứ ban hành quyết định Họ tên người phải thi hành án Số tiền phải trừ vào thu nhập Số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận tiền bị khấu trừ Thời hạn thực hiện việc khấu trừ

Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định trừ vào thu nhập

Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải thi hành án có trách nhiệm ký nhận vào danh sách trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng Trường hợp người phải thi hành án cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán [3, tr 3]

1.3.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Trang 31

Để áp dụng biện pháp cưỡng chế này cần phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền (không phải trả vật trừ trường hợp người phải thi hành án, người được thi hành án có thỏa thuận khác theo Điều 114, Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2014) Nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án chình là nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án người phải thi hành án trả một khoản tiền nào đó cho người được thi hành án trong các trường hợp như: bồi thường, trả nợ, cấp dưỡng, thanh toán theo hợp đồng, tiền chênh lệch giá trị tài sản khi chia tài sản, di sản và án phí, phí thi hành án…

– Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, tức là người phải thi hành án có thu nhập tương đối ổn định Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và những người theo quy định pháp luật người phải thi hành án có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng thì khi thực hiện trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Khi đó, người phải thi hành

án phải có khoản tiền tương đối ổn định được nhận hàng tháng như tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và căn cứ vào thu nhập mất sức thực tế hàng tháng của người phải thi hành án Trên cơ sở

đó, Chấp hành viên sẽ quyết định mức khấu trừ phù hợp với thu nhập của người phải thi hành án

– Thứ ba, việc cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án chỉ được áp dụng trong trường hợp pháp luật có quy định Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật thi hành án dân sự, biện pháp cưỡng chế trừ vào thu

nhập của người phải thi hành án có thể áp dụng một cách độc lập:“Theo thỏa

thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản

Trang 32

tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án”,hoặc có thể được áp dụng biện pháp kê biên hoặc

đã áp dụng biện pháp kê biên nhưng tài sản của người thi hành án không đủ

để thi hành

1.3.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Về việc xác minh điều kiện thi hành án

Để trừ vào thu nhập của người phải thi hành án với các điều kiện như

đã phân tích, Chấp hành viên phải xác minh, thu thập của người phải thi hành

án có phải là thu nhập hợp pháp không, nguồn nhập có từ đâu, mức thu nhập

là bao nhiêu, có ổn định không, cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lí thu nhập của người phải thi hành án…

– Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc theo thỏa thuận của các đương sự hoặc bản án, quyết định đã được ấn trừ vào thu nhập hoặc tài sản của người phải thi hành án không lớn thi Chấp hành viên chỉ cần tiến hành xác minh người phải thi hành án co thu nhập thường xuyên hay không Trong trường hợp người phải thi hành án vừa có thu nhập thường xuyên vừa

có các tài sản khác, thì Chấp hành viên được ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án khi người này không tự nguyện thi hành

– Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ khác, nội dụng xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án gồm có hai nội dung: người phải thi hành án không có tài sản nào để thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản đó

có giá trị nhỏ, không đủ để thi hành án và người phải thi hành án có thu nhập thường xuyên

Để áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp tiến hành xác minh điều kiện thi hành

án của người phải thi hành án Khi xác minh về thu nhập của người phải thi

Trang 33

hành án, Chấp hành viên cần tập trung vào xác định: tổng số tiền thu nhập hàng tháng là bao nhiêu, trong đó xác định tiền lương, tiền công, tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động là bao nhiêu, và khoản thu nhập hợp pháp khác nếu có; đồng thời xác minh ai là người đang trực tiếp quản lí các nguồn thu nhập đó; thời gian người phải thi hành án nhận được các khoản thu nhập trên

Việc xác minh thu nhập của người phải thi hành án thương do Chấp hành viên tiến hành trực tiếp tại nơi người phải thi hành án làm việc (cơ quan,

tổ chức, xí nghiệp…) hoặc nơi sinh sống, cư trú, nơi đang kí hộ khẩu thường trú của người phải thi hành án đã nghỉ hưu hay mất sức lao động Chấp hành viên cũng có thể xác minh bằng hình thức gửi văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí thu nhập của người phải thi hành án cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến thu nhập đảm bảo thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Trong trường hợp người phải thi hành án có mức lương hoặc mức thu nhập thấp chỉ để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và gia đình; không có tài sản nào khác tại thời điểm xác minh hoặc tuy có tài sản nhưng tài sản có giá trị nhỏ không đủ để thi hành án, thì Chấp hành viên đề nghị với trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định chưa có điều kiện thi hành

án theo Điều 44a Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014

Ra quyết định và thi hành quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí thu nhập của người phải thi hành

Trang 34

án thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành án để thi hành

án Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp

và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập phải có nhiệm vụ thực hiện quyết định đó theo đúng nội dung đã quyết định

Sau khi khấu trừ thu nhập, cơ quan, tổ chức, cá nhân nêu trên có nghĩa

vụ chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự số tiền đã khấu trừ để chi trả cho người được thi hành án Khi có thay đổi về nơi trả thu nhập và mức thu nhập của người phải thi hành án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang thực hiện quyết định trừ thu nhập người đó phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân

sự được biết Sau khi xác minh được nơi trả thu nhập mới của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định khác về việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Về thu nhập bị khấu trừ và mức khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong bốn biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được quy định tại khoản 2 Điều 71

và Điều 78 Luật thi hành án dân sự 2008 yêu cầu cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, bảo hểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác chuyển cho cơ quan thi hành án hoặc người được thi hành án một phần hay toàn bộ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền Các thu nhập của người phải thi hành án được xác định như sau:

Tiền lương là khoản thu nhập cho cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – tổ chức chính trị xã hội, được trả từ hệ

Trang 35

thống kế toán tài vụ của cơ quan, từ ngân sách nhà nước, tổ chức nơi cán bộ, công chức đang làm việc, công tác Ngoài mức lương chính cán bộ, công chức còn có thể có phụ cấp như phụ cấp chức vụ, phụ cấp nghề nghiệp, phụ cấp vùng miền….[3, tr 2]

Tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động là khoản tiền cho cán bộ, công chức đã làm việc trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – chính trị

xã hội sau khi đã có đủ năm công tác và đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc theo quy định của pháp luật hộ được hưởng chế độ hưu trí hoặc mất sức lao động Khoản tiền này được nhận từ ngân sách nhà nước Thông thường khoản tiền này do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lí và chi trả cho người nghỉ hưu, mất sức lao động

Tiền công là khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động theo sự thỏa thuận hoặc theo hợp đồng lao động Khái niệm tiền công có nội hàm rộng hơn và bao hàm cả tiền lương

Các thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là khoản thu nhập của người phải thi hành án ngoài khoản tiền lương, do các cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức đang quản lí thu nhập chi trả thêm cho người lao động như tiền thưởng hàng tháng, phụ cấp chức

vụ, phụ cấp độc hại, phụ cấp vùng – miền… Riêng những thu nhập của người phải thi hành án được coi là hợp pháp như tài sản được tặng cho, tài sản có do thừa kế hoặc do trúng xổ số kiến thiết, hứa thưởng… thì Chấp hành viên không được áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

mà phải lựa chọn biện pháp thu hồi tiền để thi hành án vì đó là những khoản thu nhập hợp pháp nhưng không thường xuyên của người phải thi hành án

Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và những người phụ thuộc của người phải thi hành án theo quy định pháp luật thì mức trừ vào thu nhập của người phải thi hành án phải phù hợp với tỉ lệ pháp

Trang 36

luật có quy định Cụ thể:

– Mức trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động quy định mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác Theo đó, khi áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án khi họ phải có thu nhập tương đối ổn định được nhận hàng tháng, từ đó Chấp hành viên sẽ tính toán

và quyết định trừ nhưng không quá 30% tổng số tiền người phải thi hành án được nhận hàng tháng.[3, tr 3]

– Mức trừ vào thu nhập hợp pháp khác: Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Như vậy, đối với những khoản thu nhập khác không phải là tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động thì mức khấu trừ không bắt buộc phải thấp hơn hoặc bằng 30% tổng số tiền thu nhập được nhận hàng tháng Theo đó, mức khấu trừ trong trường hợp này phụ thuộc vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án Mức trừ này

có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động của người phải thi hành án [18, tr 3]

án Do đó, các biện pháp này cần phải được pháp luật quy định một cách chặt chẽ, rõ ràng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

Trang 37

đồng thời phải bảo đảm được hiệu quả của công tác thi hành án dân sự Trong thực tế, khi áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Chấp hành viên luôn phải cân nhắc kĩ lưỡng, tính toán mức khấu trừ để bảo đảm cuộc sống cho người phải thi hành án và phải tuân thủ triệt để trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra Nhìn chung, hiện nay Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn đã quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, Tuy nhiên hiện nay biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án chưa được người dân và xã hội quan tâm đúng mức, công tác xã hội hóa Thi hành án dân sự từng bước được hình thành, trong đó Chế định Thừa phát lại ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân lựa chọn, tuy nhiên bước đầu chưa phát huy được hiệu quả, chưa chia sẽ được nhiều công việc của Cơ quan Thi hành án dân sự

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH 2.1 Tổng quan tình hình kinh tế, chính trị xã hội của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh và những lợi thế của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án từ thực tiễn của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

Bình Tân là quận ven của Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên

cơ sở Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, được chia tách từ huyện Bình Chánh cũ, với diện tích tự nhiên 5.188,67 hecta, gồm 3 xã: Tân Tạo, Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông và Thị trấn An Lạc Lúc mới thành lập quận có 10 phường (An Lạc, An Lạc A, Tân Tạo, Tân Tạo A, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị Đông B, Bình Hưng Hòa, Bình Hưng Hòa A, Bình Hưng Hòa B), 121 khu phố với 50.823 hộ dân, 3.311.514 nhân khẩu, trong đó chỉ có khoảng 30% người dân có hộ khẩu thường trú, còn lại khoảng 70% là tạm trú Địa giới hành chính quận Bình Tân: Đông giáp các quận 6, 8, Tân Phú; Tây giáp huyện Bình Chánh; Nam giáp quận 8; Bắc giáp quận 12 và huyện Hóc Môn Quận Bình Tân rộng thứ 3

ở Thành phố Hồ Chí Minh (sau quận 9 và 12) Đây là quận đông dân nhất Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở Việt Nam Trên địa bàn quận Bình Tân

có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91,27% so với tổng số dân, dân tộc Hoa chiếm 8,45%, còn lại là các dân tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường, Nùng, người nước ngoài… Tôn giáo có phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo… trong

đó phật giáo chiếm 27,26% trong tổng số dân có theo đạo

Trang 39

Quận Bình Tân có tốc độ đô thi hoá diễn ra khá nhanh, hầu như các phường không còn đất nông nghiệp Hiện nay nhiều mặt kinh tế xã hội của quận phát triển nhanh theo hướng đô thị Trên địa bàn quận Bình Tân hiện có hai khu công nghiệp do Ban quản lý các khu công nghiệp thành phố quản lý là khu công nghiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc (Văn phòng ban quản

lý đặt tại phường Bình Hưng Hoà) Riêng khu công nghiệp giày da POUYUEN là khu công nghiệp 100% vốn nước ngoài chuyên sản xuất giày

da, diện tích 58 hecta [25,tr.1] thường xuyên diễn ra các cuộc biểu tình và đình công do đó tình hình án ninh trật tự tương đối phức tạp nên lượng án kinh tế, tranh chấp nhà đất, vay tín chấp và các án về phạm pháp hình sự chiếm số lượng rất lớn Số lượng hồ sơ thụ lý và giá trị phải thi hành lớn và tăng dần qua các năm Theo số liệu thống kê của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân thì năm 2016 của chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân thì tổng số thụ lý là 6.530 việc, với số tiền là 1.350 tỷ đồng [11,tr.1], năm 2017 của chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân thì tổng số thụ lý là 7.030 việc, với số tiền là 1.418 tỷ đồng [12,tr.1], năm 2018 của chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân thì tổng số thụ lý là 6.853 việc, với số tiền là 1.684 tỷ đồng.[13,tr.1]

Do địa bàn rộng, dân cư đông đúc nhiều thành phần, trình độ dân trí còn thấp, tình hình an ninh tương đối phức tạp, lượng hồ sơ thụ lý khá nhiều, bên cạnh đó hồ sơ thi hành án tồn động qua các năm còn rất nhều, ngoài ra Bình Tân là quận mới thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Bình Chánh cũ nên địa chỉ của người phải thi hành án phần lớn là địa chỉ cũ, địa chỉ không rõ ràng và rất khó xác định địa chỉ mới của người phải thi hành án nên công tác thi hành

án dân sự trên địa bàn quận Bình Tân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với phần án phí, các khoản phải thi hành nhỏ, các khoản nộp ngân sách nhà nước, nghĩa vụ trợ cấp, cấp dưỡng chiếm tỷ lệ khá lớn

Trang 40

Với thời gian xác minh tương đối ngắn, thủ tục tiến hành đơn giản, chi phí thực hiện việc cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thấp hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác nên việc cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong những giải pháp khá hiệu quả để giải quyết lượng án tồn và đặc biệt là các hồ sơ thi hành án các khoản phải thi hành nhỏ, các khoản nộp ngân sách nhà nước, nghĩa vụ trợ cấp, cấp dưỡng Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án cũng có những hạn chế nhất định

2.2 Thực trạng thụ lý, ban hành quyết định về thi hành án trong cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Điều kiện thụ lý và ban hành quyết định về thi hành án là những bản

án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung nam 2014 bao gồm: Bản án, Quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản,

án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử

lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại có hiệu lực pháp luật, Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

Ngày đăng: 10/04/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w